Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.Phát triển năng lực xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục mầm non.
Trang 1VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
-
LẠI THỊ THU HƯỜNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 9 14 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2023
Trang 2VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm chỉ đạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong đó, việc phát triển và hình thành năng lực cho người học là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên và đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong kế hoạch xây dựng Chương trình GDMN mới do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đã thể hiện rõ quan điểm tiếp cận phát triển năng lực và liên thông với Chương trình Giáo dục phổ thông mới Do vậy, để đạt được mục tiêu của Ngành học, cần không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên mầm non (GVMN) Và nhà trường Sư phạm cần tổ chức quá trình đào tạo để sinh viên (SV) mầm non có tay nghề vững vàng và đáp ứng ngày càng cao thực tiễn đổi mới GDMN
Xây dựng môi trường giáo dục nói chung, môi trường vui chơi (MTVC) cho trẻ ở trường mầm non là một năng lực (NL) quan trọng cần hình thành cho SV trong quá trình đào tạo GVMN [9],[10] Có được NL này sẽ giúp SV tự tin khi tổ chức các hoạt động, đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn ở trường mầm non Thông qua rèn luyện kỹ năng xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động, SV hiểu rõ hơn về trẻ MN; từ đó, phát triển thể chất, nhận thức, thẩm mĩ, tình cảm, NL xã hội cho trẻ
Thực tế cho thấy, chương trình đào tạo GVMN của các trường Đại học chưa quan tâm thỏa đáng đến việc phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV; thời lượng dành cho hoạt động này còn ít, chưa có nhiều hoạt động chuyên biệt hướng vào việc phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV Việc đánh giá NL xây dựng MTVC của SV trong quá trình thực hành, thực tập chưa thật chặt chẽ, còn mang tính hình thức
Phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học ngành GDMN là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đào tạo GVMN của các trường Đại học chưa được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu nên những đóng góp về phương diện lý luận còn khá hạn chế
Trang 4Với những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực
xây dựng môi trường vui chơi ở trường mầm non cho sinh viên đại học
sư phạm ngành giáo dục mầm non” nhằm nâng cao NL và phẩm chất
nghề cho GVMN là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo về NL xây dựng môi trường giáo dục ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm xây dựng MTVC với việc phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV đại học sư phạm ngành GDMN
4 Giả thuyết khoa học
Quá trình phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho
SV đại học sư phạm ngành GDMN hiện nay còn tồn tại bất cập về nội dung
và hình thức tổ chức thực hiện Nếu xác định được các NL cụ thể của hoạt động xây dựng MTVC ở trường mầm non và tổ chức cho SV trải nghiệm các hoạt động này thông qua các hình thức đa dạng, thì sẽ phát triển được
NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
5.2 Nghiên cứu thực trạng phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
5.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
5.4 Tổ chức thực nghiệp sư phạm để khẳng định tính hiệu quả và khả thi của một số biện pháp đã đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
NL xây dựng môi trường giáo dục ở trường mầm non bao gồm các
Trang 5nhóm năng lực thành phần, như: NL xây dựng môi trường tổ chức các hoạt động giáo dục, NL xây dựng MTVC, NL xây dựng môi trường giao tiếp ở trường mầm non, Luận án này, tập trung nghiên cứu phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN thông qua trải nghiệm qua môn học, rèn luyện NVSP, trải nghiệm thực tiễn
MN
6.2 Về khách thể và địa bàn nghiên cứu
* Khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng: 234 SV năm thứ tư của Khoa Sư phạm Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (80 SV), Khoa Giáo dục Trường Đại học Vinh (76 SV), Khoa Giáo dục mầm non trường Đại học Sài Gòn (78 SV); 22 GV ngành MN của các trường: Trường ĐHTĐ Hà Nội (8 giảng viên), Đại học Vinh (7 giảng viên) và Trường Đại học Sài Gòn (7 giảng viên)
* Khách thể và địa bàn thực nghiệm: 73 SV hệ đại học ngành GDMN Trường Đại học Thủ đô Hà Nội khóa 2019 – 2023 Khoa Sư phạm Trường ĐHTĐ Hà Nội
7 Các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận mục tiêu; Tiếp cận trải nghiệm;
Tiếp cận phát triển
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Hồi cứu tư liệu ; Khái quát hóa lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phiếu hỏi; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp đàm thoại; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp xử lý thông tin: Toán học thống kê
8 Những đóng góp mới của luận án
8.1 Về mặt lí luận
Bổ sung và hệ thống hóa một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN, bao gồm: các khái niệm Môi trường giáo dục, MTVC trong trường MN… ; Xác định cấu trúc NL xây dựng MTVC ở trường mầm non và biểu hiện của các NL thành phần; Xây dựng một số biện pháp tổ chức hoạt động để phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN qua hoạt động trải nghiệm
Trang 68.2 Về mặt thực tiễn
- Nhận diện được thực trạng (về nhận thức, con đường, nội dung, hình thức, biện pháp …) phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho của SV đại học sư phạm ngành GDMN hiện nay
- Chỉ ra được một số tồn tại và nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên
- Đưa ra được ba nhóm biện pháp phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN Các biện pháp có nhiều yếu tố mới tác động đến các thành tố của NL XDMTVC thông qua việc tổ chức cho SV được trải nghiệm hoạt động xây dựng MTVC ở trường MN
Những đóng góp nêu trên sẽ là tư liệu tham khảo có giá trị cho các nhà quản lí giáo dục, các GV, cán bộ nghiên cứu và SV ở các cơ sở giáo dục đại học sư phạm trong quá trình đào tạo SV đại học sư phạm ngành GDMN, nhằm phát triển ở các em NL xây dựng môi trường giáo dục nói chung, MTVC cho trẻ mầm non nói riêng
9 Luận điểm bảo vệ
9.1 Năng lực xây dựng MTVC là một thành phần quan trọng trong
hệ thống Nl nghề nghiệp của SV đại học sư phạm ngành GDMN Như vậy, ngay từ trong quá trình đào tạo giáo viên, các trường Sư phạm phải hình thành được NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV.
9.2 Để xây dựng MTVC cho trẻ ở trường mầm non, cần hình thành
và phát triển cho SV đại học sư phạm GDMN: NL xác định mục tiêu của HĐVC, đặc điểm trẻ MN; NL lập kế hoạch; NL thực hiện hoạt động xây dựng MTVC: NL quan sát sư phạm, đánh giá điều chỉnh hoạt động xây dựng MTVC của SV
9.3 Phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp là con đường hiệu quả và tối ưu
10 Cấu trúc của luận án gồm: Phần mở đầu, 4 chương và Phần kết luận CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan
1.1.1 Các nghiên cứu về môi trường giáo dục ở các cơ sở mầm non và môi trường vui chơi của trẻ mầm non
Trang 7Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục trong và ngoài nước về vấn đề này theo những hướng sau:
Hiện nay, giáo dục cho trẻ của các nước có nền giáo dục phát triển đều có đặc điểm chung là nội dung các hoạt động được xây dựng theo cách tiếp cận tích hợp Phương pháp giáo dục trẻ đều dựa trên quan điểm hướng vào trẻ, tạo điều kiện thích hợp cho sự phát triển của từng trẻ như Úc, Mỹ,
Anh, Newzealand, Canada… Đặc biệt, mô hình giáo dục High/Scope ra đời
tại Mỹ những năm 1960, được sử dụng cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ, MG và tiểu
học, được xây dựng từ các ý tưởng của Piaget và Dewey Vấn đề trọng tâm
là hiểu biết về trẻ thông qua quá trình quan sát trẻ khi tương tác với mọi người, với nguyên vật liệu và những ý tưởng của trẻ trong môi trường chơi
ở trường mầm non
Hướng nghiên cứu theo tiếp cận tích hợp và phát triển dựa trên quan điểm “giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” Nhà giáo dục luôn quan tâm xây dựng môi trường giáo dục, cụ thể là MTVC lành mạnh, đa dạng, hấp dẫn với trẻ, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ chủ động giao tiếp, chia sẻ và hợp tác cùng nhau như
tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… Nổi bật là phương pháp
giáo dục sớm của Shichida (Nhật Bản), Phương án 0 tuổi của Phùng Đức Toàn (Trung Quốc) đều đề cập đến MTVC đối với giáo dục sớm cho trẻ
Trong giai đoạn hiện nay, lý luận và thực tiễn GDMN Nga vẫn đang hoàn thiện và phát triển, trong đó luôn quan tâm đến MTGD, MTVC của trẻ, một môi trường mà trẻ được tự do hoạt động, kích thích sự sáng tạo, hỗ trợ tối đa để phát triển mọi khả năng của trẻ
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang, Trần Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Mai Chi… đều cho rằng MTGD, MTVC với không gian đã được chuẩn bị là một trong những điều kiện cần thiết để giúp trẻ hình thành “ xã hội trẻ em” trong khi chơi
Mục tiêu GDMN là giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
em vào học lớp Một, môi trường giáo dục, môi trường trẻ chơi là điều kiện, phương tiện cần thiết để đạt được mục tiêu giáo dục đã đặt ra
1.1.2 Những nghiên cứu về môi trường vui chơi cho trẻ ở trường mầm non
Ở Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng MTVC trong trường mầm non trong hoạt động đào
Trang 8tạo SV các trường Sư phạm với các tác giả tiêu biểu như Vưgôtxki, A.N.Lêônchiev, A.P.Uxova, Ph.I.Rucopxkaia, Đ.VMenzerkaia, Makarencô, N.K Crupxkaia, Đ.V Encônhin, E.U Chikhiepva, Xôrôkina, L.Vinogradova, J.A Komenxki, Petxtalogi, A.X Macarenco, L.X Vưgôtxki, Machado, A.A.Xmirnov… đều cho rằng môi trường giáo dục là rất cần thiết và quan trọng trong cuộc sống của đứa trẻ và nhiệm vụ của GV
là tạo ra được môi trường giáo dục thân thiện, gần gũi với trẻ
Tuyển tập các bài viết về GDMN như Judith Colbert về “Thiết kế lớp
học và sự ảnh hưởng của nó đến hành vi của trẻ”, M.N.Paliakopva với bài
“Xây dựng môi trường mang tính phát triển” L.Vinogradova trong bài
“Tạo những điều kiện cần thiết cho hoạt động vui chơi”, Parten (1932) và
Van Alystyne (1933), Johnson, Smith và Connolly (1980); Wachs (1985); Moore (1987); Christie (1988), Johnson (1980), Smith và Connolly (1980),
Bailey và Wolery (1992) , Phương pháp giáo dục High Scope, phương
pháp giáo dục Reggio Emilia …nghiên cứu vai trò của môi trường giáo dục
đối với hành vi chơi của trẻ nhỏ; sự tương tác giữa giáo viên và trẻ; cách bài trí lớp học và các giáo cụ học tập cho rằng môi trường chi phối hành vi chơi của trẻ, đề cập đến thực trang việc trang bị, sắp xếp MTVC tại trường
MN, đưa ra những kinh nghiệm trong trang bị, sắp xếp môi trường đồ chơi,
góc hoạt động cho trẻ ”…
Một số nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ mầm non, đã khẳng định vai trò to lớn của môi trường nhân văn đối với sự phát triển nhân cách của trẻ; Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa (2009), Hoàng Thị Nho, Nguyễn Thị Thu Hiền, Trần Thị Lan Hương, Đinh Văn Vang…
1.1.3 Nghiên cứu về phát triển năng lực xây dựng MTVC
Khi nghiên cứu trong lĩnh vực chuẩn bị cho sinh viên làm công tác thực hành thực tập sư phạm, hình thành và rèn luyện năng lực sư phạm đã trở thành hệ thống lí luận và kinh nghiệm trong đó có năng lực xây dựng môi trường giáo dục, môi trường chơi cho trẻ với những công trình nghiên cứu của N.V.Kuzmina, Ph.N.Gônôbôlin, H.K.Gutsen, Vygotsky; J.Watshon (1926), A.Pojoux (1926), F.Skinner (1963) Parten (1932), Alystyne (1933), Smith và Connolly (1980),
Các phương pháp giáo dục tiên tiến trên thế giới cũng đề cập đến phát triển NL cho người học như Phương pháp giáo dục Waldorf /Steiner,
Trang 9Montessori, High Scope, Reggio Emilia, Glenn Doman, Phùng Đức Toàn,
Schichida Makato, Howard Gardner… Hortsh Hanno (2003), Hermanr
Satedag (2004), Michaei Steig (2000), Sonntag (1993) xây dựng mô hình NL cho GV và một trong những NL đó là NL xây dựng môi trường giáo dục phù hợp với người học
Tại Việt Nam một số nghiên cứu về phát triển NL xây dựng MTVC
cho SV cũng đã được thực hiện như: Chương trình GDMN; Nguyễn Thị
Bách Chiến (2012); Nguyễn Thị Mai Chi (2015) Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2002) Trần Thị Ngọc Trâm (2002), Nguyễn Thị Ngọc Châu (2015), Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Tạ Thị Ngọc Thanh – Nguyễn Thị Thư (2005), Nguyễn Thị Thanh Hà (2006); Phạm Hồng Quang (2006) [77]; Nguyễn Thị Thư (2009)… cũng đề cập đến hoạt động thiết kế, xây dựng MTGD nói chung, MTVC nói riêng, qua đó là căn cứ để hình thành NL xây dựng MTVC cho trẻ của SV trong quá trình đào tạo
1.2 Khái niệm cơ bản
1.2.1 Môi trường vui chơi
a) Mối quan hệ giữa MTGD và MTVC cho trẻ ở trường mầm non
Môi trường vui chơi là một cấu phần cơ bản và quan trọng của MTGD ở trường mầm non, xét theo tiêu chí loại hoạt động thì có thể biểu hiện mối quan hệ giữa MTGD và MTVC theo sơ đồ sau đây:
Sơ đồ trên thể hiện:
* Môi trường giáo dục là nơi diễn ra các hoạt động giao tiếp sư phạm giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau MTGD là điều kiện và chất xúc tác ảnh hưởng đến việc hình thành nhận thức, thái độ, tình cảm và hành vi người học Sự phát triển tâm lý, nhân cách của người học trong nhà trường không thể tách rời MTGD
* Môi trường giáo dục được hiểu là tổ hợp những điều kiện tự nhiên và xã
hội cần thiết bao gồm cả yếu tố vật chất và tâm lý, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học trong nhà trường, hiệu quả của những hoạt động này nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học và giáo dục
MT Vui chơi
MT vệ sinh chăm sóc
MT học
Trang 10*Môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổ hợp những điều kiện
tự nhiên và xã hội cần thiết và trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non, hiệu quả của những hoạt động này nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc - giáo dục trẻ
b) Là một bộ phận của MTGD trẻ ở trường mầm non, MTVC là
không gian được xác định nơi diễn ra hoạt động chơi của trẻ, nó bao gồm cả môi trường vật chất và môi trường tâm lý - xã hội ảnh hưởng đến quá trình chơi của trẻ
1.2.2 Năng lực xây dựng MTVC cho trẻ ở trường mầm non của
SV đại học sư phạm ngành GDMN
1.2.2.1 Khái niệm và cấu trúc của năng lực
a) Khái niệm năng lực
NL là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định, đó là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,
kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, để thực hiện thành công các yêu cầu của hoạt động nhất định
a) Cấu trúc năng lực
Trong luận án này chúng tôi theo quan điểm cấu trúc NL chung (cốt lõi) và NL chuyên biệt vì nó thể hiện rõ được hệ thống NL mà sinh viên sư phạm cần phải hình thành
1.2.2.2 Năng lực xây dựng MTVC
NL xây dựng MTVC của SV đại học sư phạm ngành GDMN là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với hoạt động xây dựng MTVC cho trẻ ở trường mầm non của SV, đó là sự kết hợp một cách linh hoạt giữa kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, của SV để thực hiện thành công các yêu cầu của hoạt động xây dựng
MTVC cho trẻ ở trường mầm non
1.2.3 Phát triển năng lực xây dựng MTVC cho trẻ ở trường mầm
non của sinh viên đại học sư phạm ngành GDMN
1.2.3.1 Khái niệm phát triển
Trong luận án, khái niệm phát triển được tiếp cận theo hướng cải thiện tình trạng chất lượng cũ sang tình trạng chất lượng mới cho những đối tượng cần được phát triển, giúp họ nâng cao về nhận thức và năng lực, thái
độ trên cơ sở những kiến thức, NL đã có thông qua học tập, rèn luyện để bổ sung, hoàn thiện, phát triển NL theo yêu cầu, mục tiêu cần đạt
1.2.3.2 Khái niệm phát triển NL xây dựng MTVC cho trẻ ở trường
Trang 11mầm non của sinh viên đại học sư phạm ngành GDMN
Từ khái niệm NL xây dựng MTVC của SV đại học ngành GDMN và
khái niệm phát triển, chúng ta có thể hiểu phát triển NL xây dựng MTVC
cho SV đại học ngành GDMN là quá trình sư phạm nhằm biến đổi NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học ngành GDMN theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn về kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… , đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu việc xây dựng MTVC ở trường mầm non
1.3 Một số vấn đề lí luận về môi trường vui chơi của trẻ ở trường mầm non
1.3.1 Cấu trúc và phân loại môi trường vui chơi ở trường mầm non
1.3.1.1 Phân loại môi trường vui chơi
Phân loại MTVC theo sự phân loại của MTGD.Trong phạm vi luận
án, chúng tôi đi theo hướng phân loại MTGD thành môi trường vật chất và
môi trường tâm lý - xã hội
1.3.1.2 Cấu trúc và đặc điểm của môi trường vui chơi:
* Cấu trúc của MTGD: Cấu trúc của MTGD tiếp cận theo 2 thành tố:
Môi trường vật chất và Môi trường tâm lý - xã hôị:
* Đặc điểm của MTGD: Nhà trường là một thiết chế xã hội đặc biệt,
trong đó các mối quan hệ liên nhân cách chủ yếu và đặc trưng là quan hệ thầy - trò, đồng nghiệp (thầy - thầy), bạn bè (trò - trò) được diễn ra trong một MTGD…
*Cấu trúc của MTVC tiếp cận theo hai thành tố: Môi trường vật chất
và môi trường tâm lý - xã hôị
*Đặc điểm MTVC: Đặc điểm MTVC vật chất (Độ mềm và độ cứng,
đóng và mở, xâm nhập và ẩn đạt, tự do và an toàn, môi trường giàu ngôn ngữ); Môi trường tâm lý – xã hội ( Luôn đảm bảo an toàn cho trẻ mọi lúc mọi nơi, Là môi trường “ẩn”, không “sờ thấy”, mang tính chất của môi trường gia đình, Môi trường tương tác đa chiều, Môi trường được điều khiển bởi các
quy tắc xã hội)
1.3.1.3 Vai trò của môi trường vui chơi đối với sự phát triển của trẻ mầm non
*Vai trò của môi trường vui chơi vật chất: Vai trò của không gian
chơi, Vai trò của thời gian chơi, Vai trò của đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi
giúp trẻ có hứng thú, giúp trẻ có được những ý tưởng sáng tạo trong khi chơi
* Vai trò của môi trường tâm lý – xã hội: Giúp trẻ chơi theo ý mình để
phát huy tối đa tiềm năng, sự sáng tạo của trẻ, giúp trẻ bộc lộ một cách thân chân
Trang 12thực bản mình, thiết lập được mối quan hệ thân thiết với bạn bè
1.3.2 Cấu trúc năng lực xây dựng MTVC của SV đại học sư phạm ngành GDMN
Cấu trúc NL xây dựng MTVC cho trẻ của SV đại học sư phạm ngành
GDMN được thể hiện qua: (1)NL xác định mục tiêu của HĐVC; (2) NL lập
kế hoạch; (3) NL thực hiện hoạt động xây dựng MTVC;(4) NL đánh giá điều chỉnh xây dựng MTVC của SV
1.4 Quá trình phát triển năng lực xây dựng MTVC cho sinh viên đại học sư phạm ngành GDMN
1.4.1 Mục tiêu phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
Thứ nhất, thông qua rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.Thứ hai, giúp SV
vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống thực tiễn
và tình huống giả định trong quá trình rèn luyện nghiệp sư phạm, thực hành
sư phạm, thực tập sư phạm.Thứ ba, giúp SV kết hợp học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn Thứ tư, tạo sự gắn kết đào tạo giữa trường đại
học với các trường mầm non
1.4.2 Nội dung phát triển NL xây dựng MTVC cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
Bồi dưỡng và phát triển cho SV hệ thống tri thức về hoạt động xây
dựng MTVC; Phát triển hệ thống kỹ năng xây dựng MTVC; Hình thành ở
SV giá trị, thái độ, tình cảm, động cơ đối với việc xây dựng MTVC cho trẻ
1.4.3 Con đường phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại học sư phạm ngành GDMN
Trong luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu phát triển NL xây dựng MTVC ở trường mầm non cho SV đại hoc ngành GDMN chủ yếu bằng con đường - qua thực thành, trải nghiệm theo mô hình của David Kolb David Kolb xây dựng mô hình giáo dục qua trải nghiệm được thể hiện qua chu trình 4 giai đoạn: 1/ Có kinh nghiệm cụ thể; 2/ Quan sát có tư duy về kinh nghiệm đó; 3/ Hình thành khái niệm và khái quát hoá; 4/ Thử nghiệm tích cực những ứng dụng của khái niệm trong tình huống mới
1.5 Đánh giá sự phát triển NL xây dựng MTVC của sinh viên đại học ngành GDMN
1.5.1 Đánh giá NL xây dựng MTVC qua hoạt động vui chơi
NL xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV được thể hiện rõ nhất ở
Trang 13sự tham gia chơi của trẻ trong môi trường ấy và là tiêu chuẩn quan trọng để
đánh giá NL xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV
1.5.3 Đánh giá qua quan sát của giảng viên
Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động cơ, hành vi, NL hoạt động trong quá trình xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV Việc quan sát hoạt động xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV có thể được thực hiện trực tiếp trong quá trình xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV hoặc gián tiếp qua các sản phẩm được tạo ra từ hoạt động này của SV
1.5.4 Đánh giá của giảng viên qua thang đo năng lực
Thang đánh giá mức độ phát triển NL nói chung và NL xây dựng MTVC ở trường mầm non của SV nói riêng thường là thang định danh, quy định thứ tự định tính về các đặc điểm hành vi, năng lực cần quan sát, đánh giá ở SV Mỗi hành vi, năng lực của SV sẽ được đánh giá theo thang đo 3
* Về phía giảng viên: Trình độ năng lực của giảng viên; Ý thức, tinh thần trách nhiệm của giảng viên
1.5.5.2 Yếu tố khách quan:Môi trường giáo dục trong nhà trường đại
học; Gia đình; Bạn bè; Chương trình đào tạo, Cơ sở thực hành, thực tập (
các trường MN)