Tỷ lệ tiêu hóa khNu phần được xác định từ ngày 17 đến 23 của thời gian thí nghiệm.. Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến vật chất hữu cơ, protein thô, năng lượng thô và tiêu hóa NDF được tính theo c
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 49, 2008
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG BÃ SẮN Ủ CHUA ĐỂ VỖ BÉO BÒ THNT
Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn, Lê Đức Ngoan
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Thí nghiệm được thực hiện tại trại Trường Đại học Nông Lâm Huế trên 20 bò đực Laisind và được phân thành 5 lô theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đồng đều về tuổi, khối lượng, thể trạng Khu phần của bò thí nghiệm bao gồm 33% thức ăn xanh và 66% thức ăn tinh (theo vật chất khô) và rơm lúa cho ăn tự do ban đêm Thức ăn tinh ở lô thí nghiệm 1 (T1) đến lô 5 (T5) theo thứ tự như sau: bột sắn (85; 64; 42,5; 21 và 0%, theo DM), bã sắn ủ (0; 21; 42,5; 64
và 85%), khô dầu lạc 13% và urea 2% cho tất cả các lô thí nghiệm Lượng thức ăn tinh được điều chỉnh hàng tuần theo khối lượng gia súc Kết quả cho thấy lượng thức ăn tinh thu nhận ở
lô thí nghiệm có sự sai khác nhau một cách đáng kể (P<0,05) và không có ảnh hưởng đáng kể của các loại thức ăn tinh trong các khu phần đến lượng cỏ, rơm hoặc tổng lượng thức ăn thu nhận Khi tăng tỷ lệ bã sắn ủ trong khu phần vỗ béo bò thịt lên 85% trong thức ăn tinh đã có ảnh hưởng giảm tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến chất hữu cơ và năng lượng khu phần (P<0,05) và không ảnh hưởng một cách đáng kể đến lượng chất hữu cơ thu nhận hoặc năng lượng thu nhận hoặc tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm Bã sắn ủ chua là nguồn thức ăn tiềm năng để vỗ béo bò thịt Trong khu phần vỗ béo bò thịt chỉ nên phối hợp ở mức 25 - 50 % trong hỗn hợp thức ăn tinh và cần chú ý bổ sung nguồn protein thực
Từ khóa: Bã sắn, bò thịt, bột sắn, tiêu hóa, vỗ béo
I Đặt vấn đề
Bã sắn là sản phNm phụ từ công nghệ chế biến tinh bột củ sắn (Manihot esculenta) ở nông hộ và nhà máy, là nguồn thức ăn tiềm năng cho gia súc nhai lại (Tuan 2005; Ba et al 2007a) Ủ chua bã sắn với phụ gia khác nhau (cám, muối, rỉ mật) là biện
pháp đơn giản để bảo quản và làm giảm độc tố Bã sắn ủ có thể được sử dụng thay thế
một phần bột sắn và cám gạo trong thức ăn tinh cho bò sinh trưởng (Ba et al 2007a)
Chăn nuôi trâu bò là động lực quan trọng thúc đNy tăng trưởng, tăng thu nhập cho các
hộ nông dân và có ảnh hưởng ngày càng tăng đến đời sống của các cộng đồng địa phương (Lê Viết Ly, 2003) Tuy vậy, giá thành để sản xuất 1 kg bò thịt trong nông hộ vẫn còn cao, nên lợi nhuận từ chăn nuôi bò thịt chưa nhiều Khai thác nguồn thức ăn sẵn
có và giảm chi phí trong vỗ béo bò thịt là định hướng giải quyết thức ăn trong chăn nuôi
bò hiện nay ở nước ta Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá khả năng tăng trọng của bò vỗ béo với các khNu phần có chứa bã sắn
ủ ở các mức khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của các mức bã sắn ủ trong thức ăn tinh đến lượng thức ăn thu nhận, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và xơ trung tính ở bò Laisind
Trang 2II Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện tại trại trường Đại học Nông Lâm Huế trên 20 bò đực Laisind tuổi từ 21 - 24 tháng, có khối lượng bình quân ban đầu là 200 kg (+ 25,4)
Bò thí nghiệm được phân thành 5 lô (mỗi lô 4 con) theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đồng đều về tuổi, khối lượng, thể trạng Gia súc được nuôi cá thể theo từng ô và trong cùng một chuồng KhNu phần của bò thí nghiệm bao gồm 33% thức ăn xanh và 66% thức ăn
tinh (theo DM) và rơm lúa cho ăn tự do ban đêm Cỏ voi (Pennisetum purpureum) được
cho ăn ở mức 0,63% (theo DM) khối lượng cơ thể (LW) 2 lần trong ngày vào lúc 08.00h
và 15.00h và rơm lúa (Oryza sativa) được cho ăn tự do ban đêm lúc 17.00h và thu dư
thừa vào lúc 06.00h với lượng cung cấp vượt khoảng 35% lượng ăn vào Cỏ voi được trồng trên đất pha cát quanh thành phố Huế, thu hoạch lúc 35 - 40 ngày tái sinh và chặt ngắn 5 - 10 cm trước khi cho ăn Rơm lúa cũng được chặt ngắn 5 - 20 cm và trộn đều trước khi cho gia súc ăn
Thức ăn tinh ở lô thí nghiệm 1 (T1) đến lô 5 (T5) theo thứ tự như sau: bột sắn (85; 64; 42,5; 21 và 0%, theo DM), bã sắn ủ (0; 21; 42,5; 64 và 85%), khô dầu lạc 13%
và urea 2% cho tất cả các lô thí nghiệm Hỗn hợp thức ăn tinh được trộn đều và cho vào máng ăn riêng biệt của từng gia súc vào lúc 07.30h và thu thức ăn dư thừa lúc 06.00h ngày hôm sau Lượng thức ăn tinh được điều chỉnh hàng tuần theo khối lượng gia súc
Gia súc thí nghiệm được tự do tiếp cận nguồn nước và bánh khoáng Bánh khoáng nặng 5 kg/bánh chủ yếu chứa muối ăn và khoảng 3% urea, 5% bột hạt bông, 5%
rỉ mật và hỗn hợp khoáng Do lượng bánh liếm tiêu thụ hàng ngày rất ít nên trong tính toán về lượng thức ăn thu nhận không tính đến bánh khoáng
Bò thí nghiệm được nuôi thích nghi 1 tuần với khNu phần thức ăn xơ thô là cỏ voi và rơm lúa, khNu phần thức ăn bổ sung là 1 kg/con/ngày Trong thời gian nuôi thích nghi bò được tiêm vaccine tụ huyết trùng P15 của hãng NaVetCo, thành phố Hồ Chí Minh và tNy giun sán bằng thuốc Bioxinil (Bio Pharmachemie, thành phố Hồ Chí Minh)
Bò được cân từ 6.30h đến 7.30h trước khi cho ăn vào 2 ngày liên tục trước và kết thúc thí nghiệm và trong thời gian thí nghiệm đuợc cân hàng tuần
Thời gian thực hiện thí nghiệm bắt đầu ngày 25 tháng 7 năm 2006 và kéo dài 45 ngày Lượng thức ăn cho ăn, dư thừa được xác định hàng ngày Mẫu thức ăn cho ăn và
dư thừa được thu hàng ngày và xác định tỷ lệ vật chất khô Tỷ lệ tiêu hóa khNu phần được xác định từ ngày 17 đến 23 của thời gian thí nghiệm Mẫu thức ăn cho ăn và dư thừa được thu hàng ngày được sấy khô và bảo quản cho phân tích hóa học Phân được thu ngay sau khi gia súc thải ra và cân xác định khối lượng trong ngày Cuối mỗi ngày được trộn đều, lấy mẫu phụ khoảng 5% và bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ -200C Cuối giai đoạn thí nghiệm tiêu hóa phân được trộn đều theo từng gia súc và sấy khô ở nhiệt độ 600C cho phân tích thành phần hóa học Tất cả mẫu phân được nghiền qua lỗ sàng 1 mm ở máy nghiền (Retsche, Germany)
Trang 3Điều kiện môi trường thí nghiệm
Nhiệt độ tối đa bình quân trong giai đoạn thí nghiệm là 29,5oC (sd +1,68; biến động 25,7 đến 33,3oC) Độ Nm tương đối bình quân là 73% (+9,8; biến động 52 đến 96%) Kết quả tính chỉ số nhiệt Nm (THI) trung bình trong 36 ngày theo dõi khoảng 81,0 Với chỉ số lớn hơn 80 đã chỉ ra rằng gia súc bị strees nhiệt một cách đáng kể
Phân tích hóa học
Mẫu thức ăn, phân được phân tích DM, ni tơ tổng số, EE, khoáng tổng số theo AOAC (1990) Protein thô được tính toán bằng công thức N x 6.25 Xơ trung tính được xác định theo Van Soest et al (1991)
Năng lượng thô được xác định bằng bomb calorimetry (Bomb Calorimeter 6300, Parr Instrument Company)
Xử lý số liệu
Tăng trọng được xác định bằng phân tích tương quan hồi quy Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến vật chất hữu cơ, protein thô, năng lượng thô và tiêu hóa NDF được tính theo công thức tổng lượng dinh dưỡng ăn vào trừ tổng chất dinh dưỡng trong phân và chia cho tổng lượng ăn vào và tính theo phần trăm
Phân tích thống kê
Ảnh hưởng của khNu phần đến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng thức ăn và tăng trọng của gia súc được phân tích theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng Genstat 9 Tương quan tuyến tính bậc nhất giữa tỷ lệ bột sắn trong khNu phần và tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng cũng được tính toán
III Kết quả và thảo luận
Kết quả phân tích các thành phần dinh dưỡng bã sắn ủ, bột sắn sử dụng trong thí nghiệm và tỷ lệ các loại thức ăn, giá trị dinh dưỡng khNu phần của gia súc được trình bày trên bảng 1 và bảng 2
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của bột sắn và bã sắn ủ
Chỉ tiêu
Ba et al
(2007b)
Ba et al
(2007a)
Trang 4Bảng 2: Thành phần thức ăn tinh và giá trị dinh dưỡng khu phần
Thành phần thức ăn trong
kh$u phần
Lô thí nghiệm
Thành phần dinh dưỡng
Kết quả bảng 1 và 2 cho thấy có sự khác nhau về giá trị dinh dưỡng ở các khNu phần Khi tăng tỷ lệ bã sắn trong khNu phần đã làm giảm giá trị năng lượng thô/kg DM
và tăng tỷ lệ protein thô và đặc biệt tăng tỷ lệ NDF đáng kể (từ 8,5 lên 25,5%)
Kết quả theo dõi lượng thức ăn, các chất dinh dưỡng thu nhận trong suốt giai đoạn thí nghiệm và trong thời gian thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hóa được trình bày trên bảng 3
Bảng 3: Lượng các loại thức ăn thu nhận của bò ở các lô thí nghiệm
s.e.d
Lượng thức ăn thu nhận
bình quân trong cả thời gian
thí nghiệm (DM)
Lượng thức ăn thu nhận
bình quân trong thời gian
thí nghiệm tiêu hóa (DM)
ns: không sai khác có ý nghĩa thống kê
Trang 5Kết quả bảng 3 cho thấy lượng thức ăn tinh thu nhận ở các lô thí nghiệm có sự sai khác đáng kể (P<0,05) Lượng thức ăn tinh thu nhận ở lô thí nghiệm 5 (chứa 85% bã sắn ủ) thấp nhất chỉ đạt 0,91 kg/con/ngày, trong khi đó ở lô thí nghiệm 1 và 2 đạt tương ứng là 1,7 và 2,0 kg/con/ngày Lượng thức ăn tinh thu nhận ở lô thí nghiệm 3 (T3) không có sự sai khác đáng kể với các lô thí nghiệm khác Lượng thức ăn tinh thu nhận ở các lô thí nghiệm thấp hơn so với dự kiến 1,25% LW, thấp nhất ở lô thí nghiệm 5 (0,45% LW) còn
ở các lô thí nghiệm khác là T1 (0,78 % LW), T2 (0,95% LW), T4 (0,81% LW) và T3
(0,69% LW) Ba et al (2007a) thấy rằng phải mất 2 tuần để bò làm quen và chấp nhận bã
sắn như là nguồn thức ăn bổ sung, điều này cho thấy bã sắn ủ chua có tính ngon miệng không cao đối với bò Không có ảnh hưởng đáng kể của các loại thức ăn tinh trong các khNu phần đến lượng cỏ, rơm hoặc tổng lượng thức ăn thu nhận ở các lô thí nghiệm (lượng cỏ trung bình: 1,44 kg DM/ngày; 0,70 % LW, rơm lúa: 1,64 kg DM/ngày; 0,79 % LW; tổng lượng thức ăn: 4,61 kg DM/ngày; 2,12 % LW) (bảng 3)
Kết quả bảng 4 cho thấy khi tăng tỷ lệ bã sắn ủ trong khNu phần vỗ béo bò thịt lên 85% trong thức ăn tinh đã có ảnh hưởng giảm tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến chất hữu cơ và năng lượng khNu phần (P<0,05) Lô thí nghiệm 5 có tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng thấp nhất và có sự sai khác có ý nghĩa với với các lô thí nghiệm khác (bảng 4) Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến chất hữu cơ (Y1) và tỷ lệ tiêu hóa năng lượng (Y2) tăng tuyến tính với tỷ lệ bột sắn trong thức ăn tinh khNu phần và được biểu diễn bằng các phương trình:
Y1= 59,8 + 0,14 X (P<0,01)
Y2 = 54,2 + 0,14 X (P<0,01) Trong đó: Y1 và Y2: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến chất hữu cơ và năng lượng khNu phần
X: Tỷ lệ bột sắn trong thức ăn tinh (%)
Bảng 4: Lượng thu nhận và tỷ lệ tiêu hóa các thành phần
dinh dưỡng khu phần ở các lô thí nghiệm
Vật chất hữu cơ thu nhận
Trang 6Bảng 5: Lượng chất hữu cơ, năng lượng tiêu hóa thu nhận
và khả năng tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm
Lượng OM tiêu hóa thu nhận
Năng lượng tiêu hóa thu nhận
Mặc dù tỷ lệ bã sắn ủ trong hỗn hợp thức ăn tinh có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa năng lượng và chất hữu cơ khNu phần song không ảnh hưởng đáng kể đến lượng chất hữu cơ thu nhận, năng lượng thu nhận và tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm (bảng 5) Kết quả bảng 5 cũng cho thấy tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm không cao, song có thể sử dụng một phần bã sắn trong thức ăn tinh để nuôi bò thịt
IV Kết luận và đề nghị
Bã sắn ủ chua là nguồn thức ăn tiềm năng để vỗ béo bò thịt Do giá trị dinh dưỡng của bã sắn ủ có tỷ lệ chất khô, hàm lượng protein thấp và tính ngon miệng không cao, vì vậy trong khNu phần vỗ béo bò thịt chỉ nên phối hợp ở mức 25 -50 % trong hỗn hợp thức ăn tinh và cần chú ý bổ sung nguồn protein thực Đây là những kết qủa nghiên cứu bước đầu, trong tương lai nên có các thí nghiệm phối hợp bã sắn với các nguồn thức
ăn khác nhau và thời gian, số lượng gia súc vỗ béo nhiều hơn để có thêm kết luận về tiềm năng nguồn thức ăn này và nên có đánh giá thêm hiệu quả kinh tế và vấn đề xã hội, môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AOAC (1990) Association of Official Analytical Chemists, Official methods of analysis,
15th edition Vol 1 (AOAC, Washington, DC)
2 Ba, Nguyen Xuan, Nguyen Huu Van, Le Duc Ngoan, CM Leddin and PT Doyle (2007a)
Cassava bagasse silage can be used as a supplement for cattle fed rice straw
Asian-Australasian Journal of Animal Science (Submitted)
3 Ba, Nguyen Xuan, Nguyen Huu Van, Le Duc Ngoan, CM Leddin and PT Doyle (2007b)
Amount of cassava powder fed as a supplement affects feed intake and live weight gain
in Laisind cattle in Vietnam Asian-Australasian Journal of Animal Science (Submitted)
4. Lê Viết Ly (2003) Về chính sách chăn nuôi hỗ trợ người nghèo ở Việt Nam - các vấn đề
và triển vọng Hội thảo về hoạt động chăn nuôi tạo thu nhập cho người nghèo ở nông
thôn Quảng Ngãi 19-20 tháng 2 năm 2003
Trang 75. Tuan, B Q 2005 Processing cassava bagasse as feed for ruminants Vietnamese
Journal of Animal Production 7: 13-16
6. Van Soest PJ, Robertson, JB, Lewis BA (1991) Methods for dietary fibre, neutral detergent fibre and non-starch polysaccharide in relation to animal nutrition Journal of
Dairy Science 74, 3583-3597
THE PRIMARY RESULTS OF USING CASSAVA BAGASSE
FOR FATTENING CATTLE
Nguyen Xuan Ba, Nguyen Huu Van, Le Duc Ngoan College of Agriculture and Forestry, Hue University
SUMMARY
An experiment was conducted in central Vietnam to compare the weight gain of cattle offered rations comprising 33% green forage and 66% concentrates on a DM basis, with rice straw fed ad libitum at night The concentrate supplement on the 5 dietary treatments (T1 to T5) contained 13% groundnut cake and 2% urea, with the remainder comprising a mixture of cassava powder (85, 64, 42.5, 21 and 0%, DM basis) and cassava bagasse silage (0, 21, 42.5,
64 and 85%) The forage on all treatments comprised Elephant grass fed at about 0.63% (DM basis) of liveweight (LW) during the day and rice straw offered ad libitum at night Feed intake was recorded daily for 45 days, LW measured weekly and digestibility measurements made over
7 days The effects of different proportions of cassava bagasse silage in the supplement on the intake of the forages, on apparent organic matter (OM) and gross energy digestibility, neutral detergent fibre (NDF) digestibility and LW change were examined
The intake of the concentrate supplement was the lowest (0.91 kg DM/day; 0.45% LW) when it contained 85% cassava bagasse silage, which was lower (P<0.05) than concentrate intakes on T1 (1.70 kg DM/day; 0.78 % LW), T2 (2.00 kg DM/day; 0.95% LW) and T4 (1.68 kg DM/day; 0.81% LW) The intake of concentrate on T3 (1.36 kg DM/day; 0.69% LW) was not significantly different from that of the other treatments There were no significant effects of type
of concentrate supplement on grass (average 1.44 kg DM/day; 0.70% LW), rice straw (1.64 kg DM/day; 0.79% LW) or total feed (4.61 kg DM/day; 2.12% LW) intakes Apparent OM digestibility and gross energy digestibility declined linearly (P<0.01) as the proportion of cassava bagasse silage in the concentrate increased, with these being lower (P<0.05) when the concentrate supplement contained 85% cassava bagasse silage compared with all other treatments Despite this, there were no significant differences between dietary treatments in digestible OM matter or digestible energy intakes or in LW gain The potential use of cassava bagasse silage in feeding systems for cattle in central Vietnam is discussed
Keywords: cassava powder, cassava bagasse silage, intake, growth rate, cattle