MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở vùng đồng bao dân tộc thiểu số và miền núi; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Đây là một chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong cuộc chiến với đói nghèo, các phương tiện truyền thông đại chúng có đóng góp lớn để thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững. Truyền thông góp phần nâng cao và làm chuyển biến nhận thức của các cấp lanh đạo, cộng đồng đối với công tác giảm nghèo qua quan điểm: Với cách tiếp cận mới về giảm nghèo, điều quan trọng là đẩy mạnh truyền thông nhằm góp phần thay đổi nhận thức về giảm nghèo của cán bộ, chính quyền các cấp và người dân. Vì vậy việc tuyên truyền về công tác giảm nghèo không bao giờ là cũ, đặc biệt luốn bám sát những thay đổi của chương trình, chính sách. Không chỉ có chức năng thông tin, giáo dục, báo chí con tham gia tổ chức và quản lý xã hội trên phương diện là diễn đàn của công chúng. Đối với hoạt động truyền thông về xóa đói giảm nghèo, báo chí đã tác động tới việc hoạch định chính sách. Những vấn đề dư luận quan tâm được thể hiện trên báo chí là cơ sở để xây dựng chính sách. Trong thực thi và đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo, báo chí đi đầu trong tuyên truyền, phổ biến chính sách tới người dân; giám sát việc thực hiện chính sách, phát hiện những bất cập trong chính sách, đánh giá hiệu quả chính sách thông qua dư luận xã hội và sự thăm dò, khảo sát, đánh giá của cơ quan báo chí. Với sức mạnh lan tỏa, báo chí tác động và huy động sức mạnh của hệ thống chính trị, huy động nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng vào công tác giảm nghèo. Tại tỉnh Lào Cai, những năm qua nhiều dự án, chính sách giảm nghèo được thực hiện đồng bộ đã có tác động hỗ trợ mạnh mẽ giúp huyện nghèo, xã nghèo, hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo. Kết quả thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo (Chương trình 30a, Quyết định số 293QĐTTg, Chương trình 135…) đã tạo sự đồng thuận cao của toàn xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số. Người nghèo đã được cải thiện từng bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập; một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo như: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin cơ bản được đáp ứng. Đóng góp công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương, Báo Lào Cai có vai trò quan trọng. Tuy nhiên cũng cần thẳng thắn nhìn nhận các nội dung truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai còn một số điểm chưa phù hợp với điều kiện tiếp nhận; nội dung cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên các số báo còn mỏng, ít, chưa có nhiều bản phản biện từ thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách dân tộc. Một số tin, bài, ảnh chưa thực sự thiết thực với thực tế, với trình độ nhận thức, tâm lý và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc.số lượng tin bài chưa thực sự sắc nét, chất lượng vẫn cần phải tiếp tục nâng lên. Ấn phẩm dành riêng cho đồng bào vùng cao chưa có tiếng dân tộc, nội dung, hình thức chưa thực sự sáng tạo, đổi mới. Việc nâng cao chất lượng thông điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai là một vấn đề cấp thiết. Chất lượng thông điệp tốt sẽ là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, giúp bà con đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tự mình vươn lên xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống. Quá trình truyền thông về xóa đói giảm nghèo (với đối tượng truyền thông phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, trình độ học vấn hạn chế...) thông điệp cần được quan tâm đầu tư và chọn lọc. Câu hỏi Làm thế nào để những thông điệp về xóa đói giảm nghèo được phản ánh trên báo chí đạt hiệu quả? là vấn đề cần được tiếp cận, nghiên cứu một cách khoa học, nhằm giúp các nhà truyền thông có cái nhìn sâu sắc để đưa ra những điểm mạnh, yếu trong công tác truyền thông về xóa đói giảm nghèo, đồng thời, giúp đối tượng truyền thông hiểu rõ hơn nội dung thông điệp về xóa đói giảm nghèo được truyền tải. Với tất cả lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: Quản lý thông điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai làm đề tài luận văn của mình nhằm nghiên cứu việc truyền thông về xóa đói giảm nghèo trên Báo Lào Cai được thể hiện như thế nào, dung lượng, nội dung và hình thức ra sao... Từ đó góp một số tiếng nói, đề xuất để các sản phẩm truyền thông về xóa đói giảm nghèo được phản ánh chân thực với thông điệp sắc nét, đem lại hiệu quả truyền thông cao. Đây là vấn đề có ý nghĩa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn của Báo Lào Cai nói riêng, báo chí nói chung.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiệnsống của người nghèo, trước hết là ở vùng đồng bao dân tộc thiểu số và miềnnúi; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảngcách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và cácnhóm dân cư Đây là một chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quantâm
Trong cuộc chiến với đói nghèo, các phương tiện truyền thông đại chúng
có đóng góp lớn để thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững.Truyền thông góp phần nâng cao và làm chuyển biến nhận thức của các cấp lanhđạo, cộng đồng đối với công tác giảm nghèo qua quan điểm: Với cách tiếp cậnmới về giảm nghèo, điều quan trọng là đẩy mạnh truyền thông nhằm góp phầnthay đổi nhận thức về giảm nghèo của cán bộ, chính quyền các cấp và ngườidân Vì vậy việc tuyên truyền về công tác giảm nghèo không bao giờ là cũ, đặcbiệt luốn bám sát những thay đổi của chương trình, chính sách Không chỉ cóchức năng thông tin, giáo dục, báo chí con tham gia tổ chức và quản lý xã hộitrên phương diện là diễn đàn của công chúng Đối với hoạt động truyền thông vềxóa đói giảm nghèo, báo chí đã tác động tới việc hoạch định chính sách Nhữngvấn đề dư luận quan tâm được thể hiện trên báo chí là cơ sở để xây dựng chínhsách Trong thực thi và đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo, báo chí đi đầutrong tuyên truyền, phổ biến chính sách tới người dân; giám sát việc thực hiệnchính sách, phát hiện những bất cập trong chính sách, đánh giá hiệu quả chínhsách thông qua dư luận xã hội và sự thăm dò, khảo sát, đánh giá của cơ quan báochí Với sức mạnh lan tỏa, báo chí tác động và huy động sức mạnh của hệ thốngchính trị, huy động nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng vào công tác giảmnghèo
Tại tỉnh Lào Cai, những năm qua nhiều dự án, chính sách giảm nghèođược thực hiện đồng bộ đã có tác động hỗ trợ mạnh mẽ giúp huyện nghèo, xãnghèo, hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo Kết quả thực hiện các chínhsách, chương trình giảm nghèo (Chương trình 30a, Quyết định số 293/QĐ-TTg,Chương trình 135…) đã tạo sự đồng thuận cao của toàn xã hội góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số Người nghèo
đã được cải thiện từng bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách
và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc
Trang 2làm và tăng thu nhập; một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo như: Y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin cơ bản được đápứng Đóng góp công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương, Báo Lào Cai cóvai trò quan trọng Tuy nhiên cũng cần thẳng thắn nhìn nhận các nội dungtruyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo LàoCai còn một số điểm chưa phù hợp với điều kiện tiếp nhận; nội dung cho đồngbào các dân tộc thiểu số trên các số báo còn mỏng, ít, chưa có nhiều bản phảnbiện từ thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách dân tộc Một số tin,bài, ảnh chưa thực sự thiết thực với thực tế, với trình độ nhận thức, tâm lý vànguyện vọng của đồng bào các dân tộc.số lượng tin bài chưa thực sự sắc nét,chất lượng vẫn cần phải tiếp tục nâng lên Ấn phẩm dành riêng cho đồng bàovùng cao chưa có tiếng dân tộc, nội dung, hình thức chưa thực sự sáng tạo, đổimới
Việc nâng cao chất lượng thông điệp truyền thông về xóa đói giảmnghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai là một vấn đề cấpthiết Chất lượng thông điệp tốt sẽ là nhân tố quan trọng góp phần nâng caonhận thức chính trị tư tưởng, giúp bà con đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tự mìnhvươn lên xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống Quá trình truyền thông về xóađói giảm nghèo (với đối tượng truyền thông phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu
số, người nghèo, trình độ học vấn hạn chế ) thông điệp cần được quan tâm đầu
tư và chọn lọc Câu hỏi "Làm thế' nào để những thông điệp về xóa đói giảmnghèo được phản ánh trên báo chí đạt hiệu quả?" là vấn đề cần được tiếp cận,nghiên cứu một cách khoa học, nhằm giúp các nhà truyền thông có cái nhìn sâusắc để đưa ra những điểm mạnh, yếu trong công tác truyền thông về xóa đóigiảm nghèo, đồng thời, giúp đối tượng truyền thông hiểu rõ hơn nội dung thôngđiệp về xóa đói giảm nghèo được truyền tải
Với tất cả lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: "Quản lý thông điệp truyền
thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai" làm
đề tài luận văn của mình nhằm nghiên cứu việc truyền thông về xóa đói giảmnghèo trên Báo Lào Cai được thể hiện như thế nào, dung lượng, nội dung vàhình thức ra sao Từ đó góp một số tiếng nói, đề xuất để các sản phẩm truyềnthông về xóa đói giảm nghèo được phản ánh chân thực với thông điệp sắc nét,đem lại hiệu quả truyền thông cao Đây là vấn đề có ý nghĩa trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn của Báo Lào Cai nói riêng, báo chí nói chung
Trang 32 Tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về quản lý thông điệp truyền thông
Các công trình nghiên cứu tập trung phần lớn ở hai đơn vị đào tạo báo chílớn ở là Viện đào tạo Báo chí và truyền thông - Đại học Khoa học xã hội vànhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyêntruyền Trước hết là các công trình: Truyền thông đại chúng (2001) của Tạ ngọcTấn; Cơ sở lý luận báo chí (2018) của Nguyễn Văn Dững; Truyền thông - Lýthuyết và kỹ năng cơ bản (2012) do Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ ThịThu Hằng Các công trình cung cấp kiến thức tổng quan về báo chí truyềnthông, các khái niệm, định nghĩa và ví trí của thông điệp trong tác phẩm báo chínói riêng và trong toàn bộ quy trình truyền thông nói chung Theo đó, truyềnthông là một quá trinh diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó báo gồm các yếu
tố chính là: Nguồn, thông điệp, kênh truyền, người nhận, phản hồi/hiệu quả vànhiễu Trong quá trình đó, thông điệp được xác định là nội dung thông tin traođổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận được mã hóa theo một hệ thống kýhiệu Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận chấp nhận và có chungcách hiểu, tức là có khả năng giải mã Thông điệp báo chí được thể hiện ở cáccấp độ khách nhau, có thông điệp số báo, thông điệp chương trình, thông điệptác phẩm báo chí hoặc thông điệp đích, thông điệp tài liệu, thông điệp bộ phận
và thông điệp chung Tính chất đặc thù của thông điệp báo chí được cấu thành từcác sự kiện, vấn đề thời sự đã và đang diễn ra Thông điệp gắn liền với đặc điểm
và yêu cầu của kênh truyền tải
Các nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận trong nghiên cứu phân tích nộidung xã hội học truyền thông đại chúng đầu tiên ở Việt Nam có các công trình
của Mai Quỳnh Nam: Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, tạp chí Xã hội học, số 1, 1996; Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình, tạp chí Xã hội học, số
4, 2000; Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng, Tạp chí Xã hội học,
số 2, 2000; Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng, tạp chí Xã hội học, số 4, 2001; Truyền thông đại chúng: Tương tác văn hóa, tạp chí Nghiên
cứu con người, số 3, 2010 Các bài viết tập trung nhấn mạnh đặc điểm củatruyền thông đại chúng, quan điểm, lập trường của các nhà xã hội học trên tếgiới về truyền thông đại chúng Đến năm 2006, Trần Hữu Quang cho ra mắt ấn
phẩm về xã hội học truyền thông đại chúng đầu tiên ở Việt Nam Đó là cuốn Xã hội học báo chí và Xã hội học truyền thông đại chúng đi sâu vào các hướng
nghiên cứu cơ bản của xã hội học truyền thông đại chúng: Xã hội học công
Trang 4chúng, xã hội học về nội dung truyền thông, các lý thuyết tiếp cận trong xã hộihọc truyền thông đại chúng
Tuy nhiên, thời gian đầu, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chungchủ yếu tập trung vào hoạt động truyền thông nói chung về một chủ đề cụ thể.Sau này mới nghiên cứu về lý luận và thực nghiệm Mà trong nghiên cứu thựcnghiệm chủ yếu nghiên cứu về công chúng, về nội dung thông điệp, hiệu quảcủa truyền thông Một số công trình nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phươngpháp phân tích nội dung thông điệp để đánh giá, luận giải và tìm ra các giải phápcho thực tiễn hoạt động báo chí có thể kể đến: Nghiên cứu của Khoa Xã hội học,Học viện Báo chí và Tuyên truyền về định kiến giới trong các sản phẩm truyềnthông trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay (2011) do nhóm
nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Minh thực hiện Luận án tiên sĩ Thông điệp
về tham nhũng trên báo in hiện nay (2018) của Nguyễn Thị Tuyết Minh và luận
án tiến sĩ Thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (2019) của Bùi Thị Minh Hải.
Các công trình nghiên cứu cho thấy, ở nước ta hiên nay, nhóm nghiên cứu
về báo chí truyền thông dưới góc độ tiếp cận xã hội học đề cập rõ nhất đếnthông điệp truyền thông nhưng hướng nghiên cứu này chưa được triển khainhiều Đa phần các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng vấn
đề xã hội, mà chỉ ra được rất ít hạn chế, tính tiêu cực của các thông điệp đối vớinhận thức của công chúng và đề xuất các giải pháp trong việc xây dựng thôngđiệp
2.2 Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo
Là một vấn đề mang tính xã hội, liên quan đến chính sách và thực hiệnchính sách nên xóa đói giảm nghèo luôn là đề tài nhận được sự quan tâm củagiới nghiên cứu trong nước
Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2001 Tác giả luận án đã tổng hợp những vấn đề lý luận về xóa đói giảmnghèo, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xóađói, giảm nghèo ở Việt Nam
TS.Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001 Các tác giả đã phản ánh tổng quan về
nghèo đói trên thế giới, đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay,
Trang 5nghèo đói ở Việt Nam, qua đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóađói giảm nghèo.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu của các Viện, tác giả khai thác vấn đề chínhsách dân tộc, chính sách xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc hiểu số Kỷ
yếu hội thảo Xóa đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số ở phía Bắc Việt Nam của Ủy ban Dân tộc, Viện Dân tộc học - Ngân hàng Thế
giới, Nxb Nông nghiệp 2004 là tài liệu gồm các bài tham luận sâu sắc về vấn đềxóa đói giảm nghèo
Luận bàn về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, cuốn giáo trình Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Lê Ngọc Thắng, Trường Đại học
Văn hóa Hà Nội, năm 2005 đã đưa ra các lý luận, thực tiễn về dân tộc, chínhsách dân tộc, vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trìnhcách mạng Việt Nam Hệ thống những văn bản của Đảng và Nhà nước về vấn đềdân tộc trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội từ nhữngnăm 1980 – 1992, Nxb Sự thật phối hợp với Ban Dân tộc Trung ương có cuốn
"Một số văn kiện về chính sách dân tộc – miền núi của Đảng và Nhà nước"
Nguyễn Thị Hằng, Bộ Kế hoạch và đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu, thách thức và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội; Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia, 2007 Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng đóinghèo ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta
PGS.TS Lê Du Phong, Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2009 Tác giả đã đưa ra những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn
10 năm đổi mới và tiềm năng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta
Luận văn thạc sĩ Báo chí học của Trần Thị Hằng, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, năm 2014 với đề tài Báo chí Hà Nội thông tin về công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay Luận văn đã nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về
công tác xóa đói giảm nghèo, hiệu quả và hạn chế của nó ở ba cơ quan báo chítrên địa bàn Hà Nội là: báo Hà Nội mới, báo Phụ nữ Thủ đô, Kinh tế Đô thịthông qua khảo sát từ tháng 6/2012 – tháng 6/2013 Luận văn đã đưa ra nhữngtổng kết đặc trưng nhất về mảng thông tin xóa đói giảm nghèo trên báo chí
Luận văn thạc sĩ Báo chí học Phóng sự chuyên đề về đồng bào dân tộc trên VTV5 của Trần Ngân Hà, năm 2015, Học viện Báo chí và Tuyên truyền có
Trang 6đề cập đến các chương trình truyền hình phát sóng trên VTV5 nhưng thiên vềmảng phóng sự chuyên đề Luận văn chỉ ra những vấn đề tồn tại trong việc sảnxuất các chương trình phóng sự chuyên đề cho đồng bào dân tộc thiểu số cũngnhưng đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng các phóng sự chuyên đề dành chođồng bào.
Trên đây là những cơ sở cho việc nghiên cứu về công tác truyền thôngcho đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vềQuản lý thông điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộcthiểu số trên Báo Lào Cai để từ đó tìm kiếm các giải pháp nâng cao công tácthông tin, tuyên truyền
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
- Khái quát một số vấn đề lý luận về quản lý thông điệp truyền thông vềxóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thông điệp truyền thông
về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai trongthời gian từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021 từ đó rút ra được những thành công
và chạn chế trong công tác truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
- Đề xuất những giải pháp phù hợp và kiến nghị nâng cao chất lượng quản
lý thông điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu sốtrên Báo Lào Cai trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý thông điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai
Trang 74.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung khảo sát 3 ấn phẩm báo in của Báo Lào Cai (Báo Thường
kỳ, Báo Cuối tuần, Báo Vùng cao) từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021 Tác giảlựa chọn 3 ấn phẩm báo in của Báo Lào Cai bởi mỗi ấn phẩm có một hình thứcthể hiện và tiêu chí lựa chọn tin, bài khác nhau, qua đó sẽ thấy được tổng thể cả
về nội dung và hình thức thể hiện tin, bài về đồng bào dân tộc thiểu số trên BáoLào Cai nói chung Về thời gian khảo sát, chọn thời điểm gần với thời giannghiên cứu đề tài luận văn nhất sẽ giúp tác giả cập nhật được vấn đề mới nhấtliên quan đề đồng bào dân tộc thiểu số được thông tin trên Báo Lào Cai, đồngthời việc lựa chọn nửa cuối năm 2020 và nửa đầu năm 2021 sẽ có thể đánh giáđược có hay không sự đổi mới, cải thiện nội dung và hình thức của tờ báo quatừng năm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, lý luận cơ bản về báochí truyền thông, lý thuyết truyền thông, nguyên tắc hoạt động báo chí ở ViệtNam và quan điểm của Đảng, Nhà nước về truyền thông cho đồng bào dân tộcthiểu số
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả nghiên cứu phải sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dùng để nghiên cứu, tập hợp những
tài liệu liên quan đến đề tài Từ đó rút ra những luận điểm, luận cứ, luận chứngphục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp phân tích nội dung: Dùng để phân tích thông điệp truyền
thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Caiđăng tải từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021 nhằm đánh giá thực trạng nội dung
và hình thức của các thông điệp truyền thông đó
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Dùng để phỏng vấn các nhà báo, nhà quản
lý về vấn đề nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến và quan điểm của họ cũng nhưnhững giải pháp trong vấn đề này
- Phương pháp điều tra xã hội học: Dùng để điều tra ý kiến của cán bộ,
đồng bào dân tộc thiểu số tại Lào Cai về vấn đề nghiên cứu Từ đó rút ra nhữngđánh giá nhận xét về thực trạng tiếp nhận thông tin cũng như nhu cầu, điều kiệntiếp nhận, sự tác động của báo chí đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số
- Phương pháp thảo luận: Tổ chức thảo luận với Đảng ủy, UBND một số
xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhằm thu thập thông tin về thựctrạng truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại đây
Trang 8- Ngoài các phương pháp chính trên, tác giả luận văn còn sử dụng các
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để thực hiện luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn này tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý thông điệptruyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo LàoCai Sản phẩm nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo giúp các cơ quan báo chí thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý thông điệptruyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo LàoCai và báo chí nói chung Đồng thời qua đó kiến nghị những giải pháp để tănghiệu quả truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai qua cách
tổ chức thông tin, nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong thời gian tới Vì vậy, luậnvăn sẽ đóng góp, cung cấp cơ sở lý luận cho các cấp lãnh đạo địa phương, cán
bộ truyền thông, phóng viên làm công tác tuyên truyền cho đồng bào dân tộcthiểu số ở Lào Cai
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Không chỉ dừng ở lý luận, tác giả luận văn còn trực tiếp thực hiện cáckhảo sát thực tế để đánh giá hiệu quả thông tin truyền thông về nhiều mặt trong
xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Lào Cai Từ đó chỉ ra những giải pháp
cụ thể để nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền
Vì vậy, đề tài có những ý nghĩa thực tiễn sau:
- Đóng góp những giải pháp nếu được thực hiện sẽ nâng cao hiệu quả,chất lượng trong việc truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
- Làm tài liệu tham khảo hữu ích với lãnh đạo, quản lý, phóng viên trongviệc nâng cao chất lượng tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số
- Đối với bản thân tác giả, những gì thu được trong quá trình nghiên cứu
sẽ bổ sung thêm kiến thức, phục vụ công tác chuyên môn được tốt hơn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý thông điệp truyền thông về xóa đói
giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo chí
Chương 2: Thực trạng quản lý thông điệp truyền thông về xóa đói giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Lào Cai
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tăng cường quản lý thông
điệp truyền thông về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên BáoLào Cai
Trang 9CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
BÁO CHÍ 1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Loài người tồn tại trong cùng một cộng đồng với tổng thể những mốiquan hệ đa dạng, phức tạp Từ khi sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời, conngười không thể chỉ tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thànhphần của gia đình, tổ chức, xã hội Để xây dựng và duy trì các mối quan hệ đó,con người cần có giao tiếp mà cụ thể hơn là việc trao đổi thông tin Thông quatrao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những kinh nghiệm, hiểu biếtcủa mình đến đồng loại để hỗ trợ nhau cùng phát triển Đến một thời điểm nhấtđịnh, hoạt động giao tiếp không chỉ còn là bản năng mà còn được nâng lên mộtnấc thang mới được gọi là truyền thông
Truyền thông theo tiếng Anh là communiation có nghĩa là sự truyền đạt,
thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc
từ tiếng Latin với nghĩa là chng hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung,cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những
cá nhân với cá nhân và cá nhân với cộng đồng xã hội
Con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhautrước hết là nhờ các hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu
bộ, hành vi để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ, cảm xúc) Quaquá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có được sự gắn kết với nhau, đồngthời có những thay đổi về nhận thức, hành vi Chính vì vậy, truyền thông đượcxem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nềntảng hình thành nên cộng đồng, xã hôi Nói theo cách khác thì truyền thông làmột trong những hoạt động căn bản của bất kỳ một tổ chức xã hội nào
Theo định nghĩa của một số nhà khoa học, lý thuyết truyền thông thể hiệnmối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người vàtruyền thông là một quá trình có liên quan đến nhận thức hoặc hành vi Thực tếnhận thức và hành vi của con người bao giớ cũng có khoảng cách Và truyềnthông chính là phương tiện được sử dụng để rút ngắn khoảng cách đó hay thậmchí có thể là đồng nhất các yếu tố đó với nhau
Uma Narla (2006) cho rằng, mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa vềtruyền thông tuy nhiên hầu hết các định nghĩa đều thống nhất như sau: Truyềnthông của con người là một quá trình truyền tải ý tưởng thông qua cảm xúc vàhành vi từ người này sang người khác Hay truyền thông là thuyết phục và tìmcách nhận được phản hồi mong muốn cho những thông điệp đang được truyền
Trang 10đi Nói cách khác truyền thông không tuyến tính nhưng là một quá trình haichiều và đa chiều.
Tại Việt nam trong những năm gần đây, khái niệm truyền thông cũng cónhiều định nghĩa khác nhau Nhưng điểm chung của các định nghĩa về truyềnthông ở Việt Nam là đều coi truyền thông là một quá trình truyền đạt thông tingiữa một hoặc nhiều người trong xã hội để truyền đạt ý tưởng, tình cảm nhằmthay đổi nhận thức, thái độ và hành vi
Trong cuốn Truyền thông đại chúng (2004), GS Tạ Ngọc Tấn đã đưa ramột khái niệm tương đối đầy đủ về truyền thông: Truyền thông là sự trao đổithông tin giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được
sự hiểu biết lẫn nhau
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững: Truyền thông ở bình diện tổng quát,được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹnăng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao nhậnthức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ, hành vi của công chúng - nhómđối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững Bản chất xã hội của truyềnthông là tương tác và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động xã hội trên cơ sởtương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng tới mục tiêu chung
vì lợi ích cộng đồng
Từ góc nhìn xã hội học, PGS.TS Trần Hữu Quang khẳng định khái niệmtruyền thông như sau: Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận vàtrao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con ngườitrong không gian và thời gian như từ nơi này tới nơi khác, từ tời điểm này tớithời điểm khác
Có rất nhiều khái niệm về truyền thông nhưng tựu chung lại, trong luậnvăn này hiểu theo khái niệm của PGS.TS Nguyễn Văn Dững Tức là: Truyềnthông là quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin giữa hai hoặc nhiều ngườinhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành
vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xãhội
Truyền thông là khái niệm rộng phản ánh quá trình trao đổi, tương tácthông tin của con người trong xã hội, là sợi dây liên kết xã hội, là động lực kíchthích sự phát triển xã hội và là công cụ can thiệp hữu hiệu nhất của các giai cấp,các tầng lớp khác nhau trong xã hội Trong truyền thông có ít nhất 2 tác nhântương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và các hiệu ứng chung Ở dạng đơn giản,thông tin được truyền từ người này sang người khác Ở dạng phức tạp hơn, cácthông tin trao đổi, liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông làphát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người kháctruyền đạt, nhắm bắt được ý nghĩa thông tin
Trang 11Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian và một khônggian nhất định - không gian xác định hoặc không gian mở, trong đó bao gồm cácyếu tố cơ bản cần có là: Nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận,phản hồi
1.1.2 Khái niệm thông điệp truyền thông
Thông điệp: Là một trong các yếu tố cơ bản trong quá trinh truyền thông.
Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếpnhận Theo Missouri Group, tác giả của cuốn sách Nhà báo hiện đại "Với mỗithông điệp bạn viết, trước hết bạn hy vọng đạt được điều gì, ngay cả khi mụcđích của bạn chỉ là thông tin"
Tác giả Dương Xuân Sơn - Đinh Văn Hường - Trần Quang cho rằng:Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trênkhông trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu và được trìnhbày ra một cách có ý nghĩa
Nhà nghiên cứu Stuart Hall đề xuất cách hiểu thông điệp truyền thôngtheo cơ chế mã hóa và giải mã (Hall, 1997) Sturt Hall chỉ ra: Thông điệp truyềnthông mang tính đa nghĩa và có rất nhiều cách hiểu Công chúng thường giải mãthông điệp theo quan điểm riêng của họ Giai đoạn này các nhà nghiên cứu chú
ý tới tính tự do trong truyền thông đại chúng
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững - Đỗ Thị Thu Hằng: Thông điệp là một
hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này làquy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác, hệ thống ký hiệu ấy phảiđược giải mã bởi đầu nhận Hệ thống ký hiệu ấy có thể là lợi nói, chữ viết,đường nét, màu sắc, cứ chỉ, thái độ
Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến,hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật được mã hóa theomột hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhậncùng chấp nhận và có chung cách hiểu – tức là có khả năng giải mã Tiếng nói,chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sửdụng để chuyển tải thông điệp Có thể khái quát: Thông điệp là thông tin cốt lõi,
có mục đích, được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ quy ước để người cung cấp vàngười tiếp nhận có thể hiểu được nhau Thông điệp cần thể hiện một cách côđọng, đơn giản, bất ngờ, gây được cảm xúc cho người nhận
Tác dụng của thông điệp không chỉ tùy thuộc vào điều đso nói cải gì (nộidung truyền đạt) mà còn ở cách nói ra sao (hình thức thông điệp hay thể hiện nộidung thông điệp) Người làm truyền thông phải thể hiện thành công một thôngđiệp bằng cách nào đó để chiếm được sự chú ý và quan tâm của đối tượng mụctiêu Khi chuẩn bị một chiến dịch truyền thông thường phải chuẩn bị một đềcương trình bày rõ mục tiêu, nội dung, luận cứ và văn phong mong muốn
Trang 12Để thể hiện nội dung thông điệp, những người làm truyền thông phải tìm
ra phong thái, giọng điệu, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh và hình thức thể hiệnthông điệp
Yêu cầu đối với nội dung thôn điệp là phải ngắn gọn, lượng thông tin cao,mang tính nghệ thuật, phù hợp với đối tượng nhận tin về tâm lý, thị hiếu, vănhóa, về thời gian và không gian nhận tin Những yêu cầu này sẽ đảm bảo tínhhiệu quả của cương trình truyền thông Việc soạn thảo nội dung thông điệp cầnphải quyết định 3 vấn đề: Chọn nội dung gì? Bố cục thông điệp như thế nào vàthể hiện bằng hình thức gì?
1.1.3 Sự khác biệt giữa truyền thông và tuyên truyền
Tuyên truyền là một dạng thức đặc thù của truyền thông Mặc dù cùnghướng tới mục đích theo đuổi của chủ thể, nhưng hai khái niệm này có những đặcđiểm khác nhau Nếu như truyền thông đề cao công chúng, thì tuyên truyền đềcao, thậm chí tuyệt đối hóa chủ thể; nếu truyền thông coi trương tác là yếu tốthành công thì tuyên truyền coi áp đặt, thậm chí cưỡng ép là cách ứng xử chủ đạo;nếu truyền thông coi chia sẻ và tôn trọng sự khách biệt là nguyên tắc thì tuyêntruyền coi sự lĩnh hội, chấp hành và xóa bỏ sự khác biệt như tiêu chí thành công
Có thể so sánh hai khái niệm Truyền thông và tuyên truyền trên một số nét chính được nhận diện như sau:
Đề cao công chúng Đề cao (tuyệt đối hóa) chủ thể
Đề cao tương tác bình đẳng Coi trọng áp đặt, một chiều
Coi trọng chia sẻ, tìm kiếm tương đồng,
tôn trọng sự khác biệt Nhấn mạnh truyền đạt để chấp hành, có tính bắt buộc Gia tăng tương đồng, giảm dần khác biệt,
bảo lưu sự khác biệt
Tiến tới tương đồng, đồng nhất bằng cách xóa bỏ sự khác biệt
Mô hình truyền thông hai chiều, đa chiều Mô hình truyền thông một chiều từ trên
xuống
Là ngành kinh tế - dịch vụ xã hội phát
triển (tập đoàn truyền thông)
Chủ yếu bao cấp vì mục đích tuyên truyền chính trị
Phương Tây chủ yếu dùng truyền thông
trong chính sách đối nội, chủ yếu dùng
tuyên truyền trong chính sách đối ngoại.
Các nước theo định hướng XHCN phổ biến dùng tuyên truyền cả trong đối nội
và đối ngoại.
1.1.4 Khái niệm quản lý
Quản lý được định nghĩa theo nhiều cách:
Trong cuốn Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý, tác giả D.Torrington viết:Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
Trang 13tượng và khách thể quản lý nằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hộicủa hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường.
Trong cuốn Giáo trình quản lý học của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền,
PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà và TS Đỗ Thị Hải Hà: Quản lý là quá trình lập kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xãhội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cáchbền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động
Tác giả Nguyễn Hữu Hải đề cập khái niệm quản lý trong cuốn Quản lý học đại cương như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của
chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến
Trong cuốn Những vấn đề cốt yếu của quản lý của Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich: Khi đề cập đến bản chất của quản lý đã viết "Mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành nhiệm vụ và các mục tiêu đã định"
Từ các quan niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về quản lý như sau: Quản
lý la sự điều khiển, chỉ đạo bằng quyền lực của một cá nhân hay tổ chức đượcgiao quyền nhằm định hướng hành động thống nhất của cá nhân khác hay tậpthể để đạt được mục tiêu đề ra
1.1.5 Khái niệm quản lý thông điệp truyền thông
Theo tác giả Đỗ Quý Doãn trong cuốn Quản lý và phát triển thông tin báochí ở Việt Nam, đề cập "Quản lý thông điệp truyền thông là hoạt động điềuhành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh một số bộ phận công chúngnhận thức về một số cụ thể nào đó trong một sự kiện, hiện tượng "
Theo tác giả Phạm Ngọc Anh "Quản lý thông điệp về nghệ thuật sân khấudân tộc trên tạp chí ở Việt Nam hiên nay" luận văn Thạc sĩ Báo chí học -Họcviện Báo chí và tuyên truyền: "Quản lý thông điệp truyền thông phải đảm bảo đểthông điệp phản ánh một cách chân thật khách quan, phong phú đa chiều những
sự việc, những vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp, sự vật, sự việc; Quản lý thôngđiệp phải đảm bảo thể hiện rõ quan điểm tư tưởng của Đảng trong nhìn nhận,đánh giá các sự kiện, vấn đề một cách cụ thể ở những sự kiện, vấn đề phức tạp,
có những đánh giá khác nhau; Quản lý thông điệp phải đảm bảo phù hợp với tônchỉ mục đích và đáp ứng được yêu cầu của công chúng."
Từ những khái nhiệm của những nhà nghiên cứu đi trước, tác giả luận văn đưa
ra khái niệm về quản lý thông điệp truyền thông như sau: Quản lý thông điệptruyền thông là sự tác động của chủ thể truyền thông đến việc thiết lập, xâydựng, phổ biến, truyền tải, đánh giá tác động của thông điệp truyền thông đếnđối tượng tiếp nhận nhằm đạt mục tiêu đề ra