1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trường học Học viện Ngoại giao Việt Nam
Chuyên ngành Luật Quốc tế
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 25,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁP LUẬT QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾTRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY * * * * * Sự tương quan giữa pháp luật Quốc tế và pháp luật Quốc gia, cũng như mối quan hệ và tác động qua lại

Trang 1

PHÁP LUẬT QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY

* * * * *

Sự tương quan giữa pháp luật Quốc tế và pháp luật Quốc gia, cũng như mối quan

hệ và tác động qua lại giữa chúng là vấn đề trung tâm không những của khoa học pháp

lý Quốc tế, mà còn là đối tượng nghiên cứu lâu nay của khoa học luật hiến pháp, khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, và vẫn là chủ đề của các cuộc tranh luận

mà cho đến nay vẫn tiếp tục diễn ra trong nhiều lĩnh vực của khoa học pháp lý và chưa đến hồi kết thúc Tiêu điểm của các cuộc tranh luận đều tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cơ bản như: pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế là một hay là hai hệ thống pháp luật độc lập với nhau; nếu là hai thì hệ thống pháp luật nào có vị trí ưu tiên hơn; mối quan hệ giữa chúng được biểu hiện như thế nàov.v Tuy nhiên, các quan điểm được đưa ra đều dựa trên hai học thuyết cơ bản: Chủ nghĩa nhất nguyên luận (Moniste) và Chủ nghĩa nhị nguyên luận (Dualiste) Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, mối quan hệ giữ pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Vậy một số câu hỏi đặt ra ở đây là: toàn cầu hoá có ảnh hưởng thế nào đối với mối quan hệ này; Việt Nam sẽ đối mặt với vấn đề này ra sao, theo nhất nguyên hay nhị nguyên? Chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm câu trả lời cho tất cả các vấn đề này

1.Mối quan hệ giữa pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế

1.1 Tính chất của mối quan hệ giữa luật Quốc gia và luật Quốc tế

1.1.1 Cơ sở của việc tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa luật Quốc tế và luật Quốc gia

Trong xã hội, Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định thực hiện các lợi ích cơ bản của giai cấp Nhà nước tham gia vào việc xác định những nhiệm vụ quan

Trang 2

trọng như chính trị, kinh tế, xã hội hay xác định phương hướng, nội dung, hình thức hoạt động của Nhà nước đều là những phương diện hoạt đọng thuộc chức năng cơ bản của nhà nước là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

Xuất phát từ lợi ích Quốc gia và lợi ích giai cấp, các chức năng đối nội và đối ngoại

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối, tác động ảnh hưởng sâu sắc đến nhau qua các hình thức hoạt động cụ thể Việc xác định và thực hiện chức năng đối ngoại luôn xuất phát từ tình hình chức năng đối nội Ngược lại, kết qủa của việc thực hiện chức năng đối ngoại có tác động trực tiếp đến việc tiến hành chức năng đối nội Phương diện chủ yếu trong việc tiến hành các chức năng nói trên là một trong các yếu tố mang tính cơ sở cho việc tạo ra mối quan hệ giũa luật Quốc gia và luật Quốc tế dự trên sự vận hành mang tính nguyên lý giữa hai chức năng cơ bản đối nội và đối ngoại

“Nội dung các vấn đề mà luật Quốc gia hay luật Quốc tế điều chỉnh đề làm rõ vai trò chung của hai hệ thống pháp luật này là:

- Là cơ sở để thiết lập, củng cố, tăng cưòng quyền lực nhà nước

- Là phương diện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội

- Góp phần tạo dựng những quan hệ mới, tạo môi trường ổn định để thiết lập, duy trì, phát triển các quan hệ Quốc tế.”1

Ngoài các vấn đề đã nêu còn có yếu tố chủ thể của mối quan hệ pháp luật Quốc gia

và Quốc tế cũng là cơ sở vững chắc trong việc tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế Trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ thể khi tham gia các quan hệ trong nước và Quốc tế với địa vị vừa là cơ quan quyền lực, vừa

là cơ quan đại diện cho chủ quyền quốc gia Sự có mặt của Nhà nước trong các mối quan hệ pháp luật sẽ đảm bảo sự nhất quán giữa hai hệ thống pháp luật vì mục đích chung là lợi ích của sự tồn tại và phát triển mà mỗi Quốc gia hướng tới khi hoà nhập vào các quan hệ Quốc tế trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay

Trang 3

1.1.2 Tính chất của mối quan hệ biện chứng giữa luật Quốc gia và luật Quốc tế:

Trên cơ sở tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống pháp luật đã nêu ra ở

trên và trêb thực tế tồn tại của mối quan hệ này đã cho thấy luật Quốc gia và luật Quốc

tế có mối quan hệ biện chứng, ràng buộc và diễn ra theo “chiều hướng:

- Luật Quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật Quốc tế

- Luật Quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện luật Quốc gia.”2

* Sự tác động của luật Quốc gia đến luật Quốc tế

Những ảnh hưởng của luật Quốc gia đến luật Quốc tế được thể hiện ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau Sự tác động ấy được diễn ra theo cách mà mỗi Quốc gia tham gia vào quan hệ Quốc tế được duy trì bởi các điều ước Quốc tế hay các tổ chức Quốc

tế Trong quá trình tham gia vào quan hệ Quốc tế, sự tác động của luật Quốc gia với tư cách là thành viên không những không tồn tại đơn lẻ, đối kháng với lợi ích chung của cộng đồng Quốc tế mà còn cùng với luật Quốc tế gặp nhau trên cơ sở lợi ích và ý chí chung.Sự gặp gỡ ấy hình thành nên những xu hướng phù hợp với sự vận động và phát triển của thế giới khách quan và đời sống xã hội

Từng Quốc gia tham gia vào quan hệ Quốc tế bằng các phương thức khác nhau của riêng Quốc gia mình Tuy nhiên cái riêng đó lại cần được khẳng định sự tồn tại của nó

ở những lợi ích mà pháp luật hay cộng đồng.Sự hợp tác hay liên kết, sự đấu tranh hay thương lượng giữa các Quốc gia là điền kiện thiết yếu để hình thành các quy phạm, nguyên tắc, chế định của pháp luật Quốc tế Vì thế, ở phạm vi đó, luật Quốc gia thể hiện sự định hướng về nội dung, tính chất của các mối quan hệ Quốc tế, làm phát triển hoặc thay đổi theo hướng tích cực hơn

Ngoài ra, ở từng lĩnh vực hợp tác cụ thể, ảnh hưởng quyết định của luật Quốc gia đến luật Quốc tế cũng được thể hiện rất rõ ràng ở sự bảo đảm về mặt pháp lý cùng các điều kiện về vật chất kĩ thuật và môi trường thuận lợi cho việc của một số ngành luật

Trang 4

truyền thống: luật biển, luật thương mại… cũng như của nhiều ngành luật mới: luật hàng không dân dụng, luật sở hữu trí tuệ…

* Tác động của luật Quốc tế đối với luật Quốc gia

Luật Quốc tế chính là kết quả của sự thoả thuận giữa các Quốc gia như đã nói ở trên, vì thế nó thể hiện nhiều tiến bộ, thành tựu mới của khoa học pháp lý hiện đại Thông qua nghĩa vụ Quốc tế của Quốc gia trong việc tuân thủ pháp luật Quốc tế, những thành tựu này khi được áp dụng ở từng Quốc gia đã mang lại cho pháp luật Quốc gia những sự thay đổi bổ sung mới, vì quá trình thực hiện luật Quốc tế ở từng Quốc gia luôn đặt ra yêu cầu có sự phù hợp giữa hai hệ thống pháp luật Trong quan hệ Quốc tế hiện đại đang hình thành và phát triển một “trật tự kỷ luật” nhất định Trật tự này yêu cầu có sự thích ứng dần dần củ các Quốc gia đối với quá trình toàn cầu hoá, sự cần thiết phải tham gia vào hoạt động thương mại Quốc tế kéo theo yêu cầu phải cải cách và điều chỉnh các chính sách Quốc gia mà trong đó là yêu cầu phải phát triển khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các chủ thể trên thị trường, đặc biệt là quy định pháp luật về cạnh tranh Đó chính là sự tác động của pháp luật Quốc gia đối với pháp luật Quốc tế

2 Chủ nghĩa nhất nguyên luận và chủ nghĩa nhị nguyên luận:

2.2 Chủ nghĩa nhất nguyên ( chủ nghĩa nhất hệ - Moniste)

Học thuyết nhất nguyên quan niệm pháp luật là một hệ thống thống nhất Xét về mặt lịch sử tư tưởng của học thuyết là dựa vào quan điểm của học thuyết pháp luật tự nhiên Trên cơ sở quan niệm cho rằng bản chất tốt đẹp của con người là do năng lượng của thiên nhiên mang lại nên không thể được xác định khác nhau, do đó mọi xung đột được loại trừ Học thuyết đưa ra hai khả năng xác định mối quan hệ giữa luật quốc tế

và luật quốc gia tuỳ theo vị trí ưu tiên của chúng Một khả năng coi pháp luật quốc tế

có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc tế) và

Trang 5

khả năng thứ hai là pháp luật của quốc gia có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc gia) Từ hai khả năng trên đã cho ra đời một khả năng: chủ nghĩa nhất nguyên dung hoà mang đạc điểm chung của hai khả năng trên nên có giá trị và được ứng dụng nhiều hơn trong thực tiễn xã hội

2.2.1 Ưu tiên pháp luật quốc gia

Học thuyết về sự ưu tiên của pháp luật quốc gia đặt chủ quyền của quốc gia lên trên hết Pháp luật quốc tế chỉ có giá trị áp dụng, nếu một quốc gia tự công nhận là nó có giá trị hiệu lực đối với mình

Trong mối tương quan với pháp luật của quốc gia, pháp luật quốc tế lúc này không còn giá trị độc lập nữa, mà chỉ được coi là một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia, hoặc chỉ đơn thuần là “pháp luật của quốc gia trong quan hệ đối ngoại” Học thuyết này dần dần bị bác bỏ trong khoa học pháp lý quốc tế hiện đại do có sự xuất hiện của các quan điểm trong pháp luật quốc tế về “chủ quyền có hạn chế” của quốc gia

2.2.2 Ưu tiên pháp luật quốc tế

Chủ nghĩa nhất nguyên luận sau này dựa trên quan điểm cho rằng, Luật quốc tế có trước Luật quốc gia Do đó, Luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn Luật quốc gia Nếu căn

cứ vào quan điểm này thì sẽ loại trừ khả năng xung đột giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia (trong trường hợp pháp luật quốc gia trái với pháp luật quốc tế thì pháp luật quốc gia sẽ bị coi là vô hiệu)

Vì mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật các nước và vi phạm to lớn đến nguyên tắc chủ quyền quốc gia nên quan điểm này khó được khoa học pháp lý Quốc tế chấp nhận

2.2.3 Chủ nghĩa nhất nguyên luận dung hoà:

Trên cơ sở các luận điểm của hai trường nói trên, đã xuất hiện chủ nghĩa nhất

nguyên dung hoà Theo học thuyết này, các quy phạm pháp luật quốc tế có vị trí

Trang 6

cao hơn pháp luật quốc gia.Tuy nhiên, học thuyết lại công nhận có khả năng xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Để giải quyết xung đột, các quốc gia chịu ảnh hưởng của sự ràng buộc của pháp luật quốc tế, cần phải huỷ bỏ các văn bản pháp luật của quốc gia mình trái với pháp luật quốc tế Còn các văn bản pháp luật quốc gia tạm thời có vị trí thấp hơn so với pháp luật quốc tế Vì thế, để thực hiện các cam kết quốc tế, quốc gia cần phải xây dựng các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với pháp luật quốc tế Trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thì pháp luật quốc tế được ưu tiên áp dụng.

2.3 Chủ nghĩa nhị nguyên (chủ nghĩa lưỡng hệ - Dualiste)

Trái ngược với chủ nghĩa nhất nguyên coi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận của một hệ thống thống nhất, chủ nghĩa nhị nguyên coi pháp luật quốc gia

và pháp luật quốc tế là hai hệ thống pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau, mặc dù có những lĩnh vực có thể đan xen lẫn nhau, nhưng không phải là một Xuất phát điểm của chủ nghĩa này từ chỗ cho rằng thẩm quyền, nguồn luật và đối tượng áp dụng của các quy phạm pháp luật của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia hoàn toàn khác nhau Pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế với nhau; pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ giữa công dân với nhau và công dân với nhà nước, do đó chỉ áp dụng cho các chủ thể thuộc quốc gia, còn pháp luật quốc tế chỉ áp dụng cho các quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế Học thuyết nhị nguyên lại được phân chia thành hai trường phái đó là chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan và chủ nghĩa nhị nguyên dung hoà như sau:

2.3.1 Chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan:

Chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan dựa trên sự tách biệt hoàn toàn hai hệ thống pháp

luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế Do vậy, theo trường phái này không có xung đột giữa hai hệ thống pháp luật trên Nếu một văn bản pháp luật của quốc gia (luật, pháp

Trang 7

lệnh, nghị định) trái với pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) thì cả pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia đều có hiệu lực như nhau Tuy nhiên, quốc gia có nghĩa vụ hoàn thiện pháp luật trong nước của mình để có thể thực hiện được pháp luật quốc tế Như vậy, ở một mức độ nhất định, học thuyết này đã đặt pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) ở một vị trí ưu tiên hơn so với pháp luật quốc gia

1.3.2 Chủ nghĩa nhị nguyên dung hoà:

Chủ nghĩa nhị nguyên dung hoà xuất phát từ chỗ tách biệt về cơ bản hai hệ thống pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế, nhưng không phủ nhận khả năng xung đột giữa hai hệ thống đó Xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không chỉ được giải quyết theo cách của chủ nghĩa nhất nguyên, với một trật tự trên dưới của hai

bộ phận pháp luật Cả hai hệ thống được xem như là hai vòng tròn có phần giao nhau Vùng giao nhau này xuất hiện thông qua các quy định dựa vào nhau, dẫn chiếu đến nhau hoặc sự chuyển hoá các quy phạm từ hệ thống pháp luật này sang hệ thống pháp luật khác Hệ quả là pháp luật quốc tế chiếm ưu thế nổi trội so với pháp luật quốc gia Cũng theo trường phái này, sự chuyển hoá của quy phạm pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) vào pháp luật quốc gia đòi hỏi phải có một văn bản chính thống của cơ quan

có thẩm quyền của Nhà nước Và văn bản này sẽ tạo ra khả năng mở cửa lĩnh vực chủ quyền quốc gia đối với pháp luật quốc tế

3.Toàn cầu hoá và sự tác động của nó tới mối quan hệ giữa pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế

3.1.Toàn cầu hóa là gì?

Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong các lĩnh vực trên thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, pháp luật, xã hội v.v trên quy mô toàn cầu

Trang 8

Toàn cầu hoá là một hiện tượng không thể tránh khỏi trong lịch sử loài người Toàn cầu hoá đem thế giới lại gần hơn thông qua việc trao đổi hàng hoá và các sản phẩm thông tin, kiến thức và văn hoá

Nhưng trong suốt vài thập kỷ qua tốc độ hội nhập toàn cầu đã trở nên nhanh và sâu sắc hơn rất nhiều do có những tiến bộ chưa từng thấy trong công nghệ, truyền thông, khoa học, giao thông vận tải và công nghiệp

3.2.Toàn cầu hoá và xu hướng tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau giữa pháp luật Quốc gia và pháp luật Quốc tế

Dưới sự tác động của toàn cầu hoá luật Quốc tế có sự thay đổi rõ rệt trong việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể của luật Quốc tế với nhau( chủ yếu là giữa các Quốc gia) theo hướng: tránh đối đầu, loại bỏ chiến tranh lạnh; thúc đẩy sự hợp tác giữa các Quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề chung của toàn nhân loại như: khủg

bố, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường…; hợp tác kinh tế Quốc tế theo hướng sâu rộng, hiệu quả của các quốc gia vào guồng máy phân công lao động Quốc tế

Sự thay đổi của pháp luật Quốc gia theo hướng phù hợp với sự thay đổi của luật Quốc tế, sự xích lại gần nhau của các hệ thống pháp luật Quốc gia theo xu hướng toàn cầu hoá Vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa luật Quốc tế và luật Quốc gia trong bối cảnh đó cũng có những thay đổi đáng kể

Các vấn đề Quốc tế động chạm tới lợi ích của hai hay nhiều Quốc gia trong đó có những vấn đề mang tính toàn cầu đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của pháp luật Quốc tế Trong khi đó, sự tăng cường quá trình Quốc tế hoá la nguyên nhân thúc đẩy mối quan

hệ tác động qua lị giữa luật Quốc tế và luật Quốc nội

Ngày nay, các ngành luật Quốc nội đã có nội dung theo hàng loạt các quy định của luật Quốc tế Sự phân hoá các ngành của luật Quốc nội cũng có tác đọn không nhỏ đến

sự phân hoá ngành luật Quốc tế

Sự tăng cường quan hệ lẫn nhau giữa luật Quốc gia và luật Quốc tế trong thế giới hiện nay được thể hiện ở: sự gia tăng các điều ước và các văn bản pháp luật Quốc gia nhằm điều chỉnh các quan hệ tương tự, gần gũi; sự nâng cao vai trò và ý nghĩa điều chỉnh thống nhất, các quan hệ xã hội xác định trong khuôn khổ hợp tác kinh tế Quốc

tế Trong đó, các vấn đề về ký kết, thực hiện và huỷ bỏ điều ước Quốc tế được điều chỉnh không chỉ bằng các quy phạm Quốc tế mà còn của luật Quốc gia

Trong văn bản pháp luật của nhiều Quốc gia đều ghi nhận rằng các quan hệ giữa cá nhân không chỉ được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật của Quốc gia mà còn được điều

Trang 9

chỉnh bởi các quy định của các điều ước Quốc tế Điều đó thể hiện tính chất đặc trưng của sự quan hệ qua lại, phụ thuộc lẫn nhau giữa luật Quốc gia và luật Quốc tế

3.3 Toàn cầu hoá và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ở Việt Nam hiện nay

mở Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia cùng với các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trở thành một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thực tiễn đó buộc chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các nguồn của pháp luật quốc tế và các nguồn của pháp luật quốc gia Theo quan điểm phổ biến hiện nay về các nguồn của pháp luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, các quyết định của toà án quốc tế, các học thuyết của các nhà luật học công pháp có uy tín được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Trong đó ba nguồn đầu tiên là ba nguồn chính của pháp luật Quốc tế

3.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Quốc tế

Là tư tưởng chỉ đạo bắt buộc các quốc gia và các chủ thể khác khi tham gia các quan hệ quốc tế phải thực hiện Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế cũng có thể được coi là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, bởi hiến pháp của các quốc gia thông thường được xây dựng phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế Nếu quốc gia nào đó có điều luật nào trong hiến pháp mâu thuẫn với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế thì người ta chỉ có thể sửa đổi các quy định đó cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế chứ không thể làm điều ngược lại Từ đây có thể đi đến kết luận các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế có vị trí cao hơn hiến pháp của các quốc gia.” Các nguyên tắc đó là:

- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia

- Nguyên tắc không dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực trong các quan hệ quốc tế

- Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

- Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế

- Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Trang 10

- Nguyên tắc các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau.”3

3.3.2 Đối với điều ước quốc tế

Việc thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam cũng như các nhà nước khác được tiến hành trên cơ sở quy định của Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước Như vậy, khi đàm phán và kí kết các điều ước quốc tế trước hết các nhà chức trách phải xem xét điều ước quốc tế đó có trái với quy định của Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế không Vì vậy, chúng ta có thể suy ra vị trí của điều ước quốc tế mà Chủ tịch nước hay Chính phủ kí kết hoặc quyết định tham gia phải có vị trí thấp hơn Hiến pháp của quốc gia.Ví dụ: Điều 3 Pháp lệnh quy định về nguyên tắc kí kết điều ước quốc tế 1998: "Điều ước quốc

tế được kí kết trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Trong mối quan hệ với luật và văn bản dưới luật thì điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lí cao hơn Ngoại trừ Hiến pháp, các văn bản luật và dưới luật đều có quy định chung trong trường hợp các văn bản đó mâu thuẫn với điều ước quốc tế thì áp dụng

điều ước quốc tế Ví dụ: Điều 6 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 1990 quy định: "Nếu

điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này thì áp dụng điều ước quốc tế".

Từ những ví dụ trên của pháp luật Việt Nam có thể xác định các điều ước quốc tế

mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp nhưng cao hơn các văn bản luật, bộ luật và các văn bản pháp luật khác và như vậy có thể xếp nó có vị trí thứ 2 trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam

3.3.3 Các biện pháp cần thiết để giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật quốc

tế và pháp luật quốc gia ở Việt Nam hiện nay

- Việt Nam cần phải đổi mới quan điểm từ trước đến nay nhìn nhận hệ thống pháp luật của mình chỉ có văn bản luật và văn bản dưới luật mà không kể đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Cần phải bổ sung vào Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều luật nói về điều ước quốc tế, trong đó quy định rõ công ước, hiệp ước và hiệp định quốc tế mà Chủ tịch nước và Chính phủ Việt Nam thay mặt Nhà nước và Chính phủ Việt Nam kí kết hoặc tham gia và được Quốc

Ngày đăng: 25/09/2023, 11:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w