Việcnhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn hiện nay của Chính phủViệt Nam là điều hoàn toàn phù hợp với nhu cầu và khả năng thực hiện… Về nhucầu, đó là xuất phát từ mục tiê
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu……… 2
Nội dung……… 4
Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế………4
I Khái niệm và phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế……… 4
1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế……… 4
2 Đo lường tăng trưởng kinh tế………4
II Lý thuyết tăng trưởng kinh tế……… 7
III Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế………9
1 Nhân tố kinh tế ……….9
2 Nhân tố phi kinh tế……… 10
Phần thứ hai: Thực trạng quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2010………11
I Những kết quả đạt được trong tăng trưởng kinh tế ………11
1 Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao và ổn định trong nhiều năm………11
2 Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng kinh tế……… 14
3 Hiệu quả đầu tư……… 15
4 Năng suất lao động có xu hướng tăng cao hơn……… 17
II Những hạn chế trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng……… 18
1 Những hạn chế……… 18
a, Tăng trưởng theo chiều rộng là chủ yếu………18
b, Hiệu quả kinh tế thấp……….19
c, Tăng trưởng dựa vào khai thác quá mức nguồn vốn tài nguyên………19
2 Những nguyên nhân chủ yếu……… 20
III Định hướng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới………22
1 Duy trì tốc độ tăng trưởng cao………23
2 Thay đổi tư duy về mô hình tăng trưởng………23
3 Nâng cao hiệu quả các chỉ tiêu tăng trưởng………23
4 Phải có tầm nhìn dài hạn trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng……….24
5 Gắn tăng trưởng với việc tạo tác động lan tỏa tích cực đến các đối tượng ảnh hưởng……… 24
6 Nâng cao năng lực cạnh tranh……….25
Phần thứ ba: Kết luận……… 25
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986
Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duykinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện
mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanhđược tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạtđược tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xãhội
Bước vào giai đoạn đổi mới kinh tế, từ một vị trí nằm ở trong tốp sau cùng củakinh tế thế giới, Việt Nam đã đặt ra 3 “cửa ải” lớn cần phải vượt qua, đó là: (1)Thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế; (2) Đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước cóthu nhập thấp nhất thế giới; (3) Phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vàonăm 2020 Để vượt qua tuần tự các cửa ải, chính phủ Việt Nam đã lựa chọn conđường phát triển toàn diện Theo đó: thực hiện việc kết hợp tăng trưởng kinh tếnhanh với công bằng xã hội ngay từ đầu và trong toàn tiến trình phát triển Hướnglựa chọn này nhằm đảm bảo cho chúng ta đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giầu
có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xãhội, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên
Trên thực tế, nhiều văn kiện mang tính thể chế hóa lựa chọn này được ban hành,trong đó có “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010” thông qua đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX Chiến lược này đã khẳng định một nội dung mang tínhnguyên tắc trong quá trình phát triể của Việt Nam là: Phát triển kinh tế nhanh, hiệuquả, bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ xã hội và bảo vệmôi trường
Nằm trong chiến lược phát triển toàn diện, trong giai đoạn 2001 – 2010, mụctiêu tăng trưởng nhanh được nhấn mạnh và coi là trung tâm của sự ưu tiên Việcnhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn hiện nay của Chính phủViệt Nam là điều hoàn toàn phù hợp với nhu cầu và khả năng thực hiện… Về nhucầu, đó là xuất phát từ mục tiêu cải thiện vị trí trong bảng xếp loại về thu nhậpbình quân đầu người, nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi danh sách các nước nghèotrên thế giới và chiến lược dài hạn là rượt đuổi các nước phát triển Về mặt khảnăng, nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế của ta còn khá lớn, Việt Nam vẫn còn khánhiều tiềm lực về tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, nguồn lao động để tạo ra nhiềulợi thế so sánh trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh Trước kiachúng ta không có khả năng tăng trưởng nhanh do còn thiếu khá nhiều yếu tố, xemnhư là những rào cản cho thực hiện mục tiêu này như: sự thiếu hụt nguồn vốn cả
về mặt tài chính lẫn nguồn vốn vật chất; sự hạn chế về lực lượng lao động có tay
Trang 3nghề cao và công nghệ hiện đại Hiện nay những rào cản đó đã được tháo gỡ khichúng ta đã gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực Sự hội nhậpngày càng đầy đủ này đã giúp chúng ta thực hiện lợi thế các nước đi sau để thựchiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh.
Chính vì thế nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài Đánh giá thực trạng tăngtrưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 để cùng phân tích những kếtquả đạt được và chỉ ra những hạn chế để từ đó nêu ra định hướng cho sự phát triểncủa nền kinh tế trong giai đoạn mới
Nội dung của đề tài gồm có ba phần:
Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế trong đó đề cập
đến cách đo lường tăng trưởng kinh tế thông qua những chỉ tiêu tổngquát và công thức đo lường, đồng thời làm rõ về nguồn gốc tăngtrưởng kinh tế
Phần thứ hai: Đánh giá thực trạng quá trình tăng trưởng kinh tế Việt
Nam giai đoạn 2001 – 2010, bao gồm những thành tựu đạt được,những khó khăn và hạn chế của việc tăng trưởng, từ đó đưa ra nhữngđịnh hướng cho tăng trưởng kinh tế của Việt nam trong giai đoạntiếp theo
Phần thứ ba: Kết luận.
Trang 4NỘI DUNG PHẦN THỨ NHẤT : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I Khái niệm và phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế
1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhậpbình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thểhiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức
độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầungười cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó baogồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế(như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh
tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chếtạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặtcủa nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thờigian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độhạnh phúc hơn
2 Đo lường tăng trưởng kinh tế
2.1 Các chỉ tiêu tổng quát
2.1.1.Tổng giá trị sản xuất
Là tổng giá trị sản xuất vật chất và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh
thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định (thường là một năm)
Cách tính: GO = ∑ICi + ∑VAi
Trong đó: IC là chi phí trung gian
VA là giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ
2.1.2.Tổng sản phẩm quốc nội
Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product).GDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ratrong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là mộtnăm)
Phương pháp tính GDP:
Phương pháp chi tiêu:
Tổng sản phẩm quốc nội:
GDP=C+G+I+NX Trong đó:
Trang 5 C là tiêu dùng của hộ gia đình
Ph ương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí: ng pháp thu nh p hay ph ập hay phương pháp chi phí: ương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí: ng pháp chi phí:
Theo phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí, tổng sản phẩm quốcnội bằng tổng thu nhập từ các yếu tố tiền lương (wage), tiền lãi (interest), lợinhuận (profit) và tiền thuê (rent); đó cũng chính là tổng chi phí sản xuất các sảnphẩm cuối cùng của xã hội
Phương pháp giá trị gia tăng:
Giá trị gia tăng của một ngành (GO):
GO =∑ VAi (i=1,2,3, ,n)
VAi là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i trong
ngành
n là số lượng doanh nghiệp trong ngành
Giá trị gia tăng của nền kinh tế GDP:
GDP =∑ GOj (j=1,2,3, ,m)
Trang 6Trong đó:
GOj là giá trị gia tăng của ngành j
m là số ngành trong nền kinh tế
2.1.3.Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross national income)
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dâncủa một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này bao gồmcác khoản hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có tính đến cả cáckhoản nhận từ nước ngoài về và chuyển ra nước ngoài
Cách tính:
GNI = GDP + chênh lệch thu nhập với nhân tố nước ngoài
Chênh lệch thu Thu nhập lợi tức Chi trả lợi tức
nhập nhân tố với = nhân tố từ - nhân tố ra nước
nước ngoài nước ngoài ngoài
2.1.4.Thu nhập quốc dân (NI – National income)
Là phần giá trị sản xuất vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảngthời gian nhất định
Cách tính:
NI = GNI – Dp
Trong đó: GNI là tổng thu nhập quốc dân
Dp là khấu hao vốn cố định của nền kinh tế
2.1.5.Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI – National Disposable Income)
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuầntrong một thời kì nhất định
Cách tính:
NDI = NI + chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài
Chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài = Thu chuyển nhượng từnước ngoài – chi chuyển hiện hành ra nước ngoài
2.1.6.GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhấtđịnh là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm
đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó
2.2.Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế
2.2.1.Mức tăng trưởng tuyệt đối
Trang 7Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳcần so sánh.
K = Yt – Yo
Y : GNP, GDP
Yt : GDP, GNP tại thời điểm t của kỳ thời gian phân tích
Yo : GDP, GNP tại thời điểm gốc của kỳ thời gian phân tích
2.2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy môkinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳtrước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh
tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP(hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP)thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăngtrưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
*Hạn chế của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước đo trình
độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấnđấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hànhđất nước của chính phủ
Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của cácnhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênhlệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng cóthể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng,môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồnlực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí
II Lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Trang 8Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùngcác mô hình kinh tế.
Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản
xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đấtsản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấuhơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phísản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lươngdanh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận lànguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đấtnông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăngtrưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc củatăng trưởng
Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu
vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (Llabor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khuvực kinh tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển vàHarry T Oshima
Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu
tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên
Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dàihạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn
sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dàihạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0))
Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình
độ công nghệ
Mô hình Sung Sang Park nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư
quốc gia cho đầu tư con người
Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết
hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L)
Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạchtăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, cáctrường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăngtrưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hìnhHarrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc,
và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồn gốctăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên
Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởngcân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngàycàng không cân bằng (mất ổn định kinh tế)
Trang 9Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựatrên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế
ở trạng thái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khinền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăngtrưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng tháicân bằng
III Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
1 Nhân tố kinh tế
Các nhân tố tác động đến tổng cung:
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nướcđang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triểnkinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh
tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố nàykhác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đếnkết quả tương ứng
Tổng cung: AS = f( K, L, R, T)
Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và
kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế.Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể muahoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Cácyếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thểphát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sứckhỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phásau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủynhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi và pháttriển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."[1]
Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển,
những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng
và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế,
có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt đượcmức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê út Tuy nhiên, cácnước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tàinguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhậpcao Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờtập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ caonên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô
Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người
lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên
Trang 10mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thựchiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọngtrong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP caothường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ làmáy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội,những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển Tư bản cố định xã hộithường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi
có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầngcủa sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng,thủy lợi
Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không
phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản,ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệsản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng caohơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càngnhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vậtliệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sảnxuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiêncứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ
"phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phátminh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng
- Chi tiêu của chính phủ (G): bao gồm các khoản mục chi mua hàng hóa vàdịch vụ của chính phủ
- Chi tiêu thông qua hoạt động xuất nhập khẩu: NX = X – M
Dưới sự tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên biến đổi,nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn lực của quốc gia
đã có nhưng không được huy động và làm hạn chế mức tăng trưởng thu nhập cònngược lại nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm cho mức thu nhập của nền kinh tế tăngnhưng giá cả các yếu tố trở nên đắt đỏ sẽ đẩy mức giá cả chung của nền kinh tếlên
2 Nhân tố phi kinh tế
Khác với các yếu tố kinh tế, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi
là các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác động khác, có thể kể đếnmột số nhân tố sau đây:
Trang 11- Đặc điểm văn hóa xã hội:
Đây là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trình phát triển của đấtnước Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sựphát triển cao của mỗi quốc gia, là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố vềchất lượng lao động, kĩ thuật, trình độ quản lý kinh tế xã hội Xét trên khíacạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quátrình phát triển Vì thế trình độ phát triển cao của văn hóa là mục tiêu phấnđấu của sự phát triển
- Thể chế chính trị - kinh tế - xã hội:
Tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hànhlang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư, được thực hiện thôngqua các dự kiến mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế
xã hội, các luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy thựchiện
- Cơ cấu dân tộc, tôn giáo:
Trong cộng đồng quốc gia, có các tộc người khác nhau cùng sống, mỗi tộcngười đều theo một tôn giáo Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể đemđến những biến đổi có lợi cho dân tộc này, những bất lợi cho dân tộc kia
Đó chính là những nguyên nhân nảy sinh xung đột giữa các dân tộc, gâyảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế đất nước
- Sự tham gia của cộng đồng:
Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn nhau Sự pháttriển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộngđồng dân cư trong xã hội Ngược lại về phía mình sự tham gia của cộngđồng là một nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tạicho phát triển kinh tế, xã hội
PHẦN THỨ HAI: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 – 2010
I Những kết quả đạt được trong tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2010
1 Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao và ổn định trong nhiều năm.
Nếu không kể khoảng thời gian năm 2008 – 2009 do ảnh hưởng đáng kể củakhủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhìn chung, chúng ta đã duy trì được tốc độ tăngtrưởng nhanh Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bìnhcủa giai đoạn 2001 – 2010 là 7,25% Trong đó, tăng trưởng trung bình giai đoạn
2001 – 2005 là 7,51% và giai đoạn 2006 – 2010 lại bị tụt lùi, còn 7% Như vậy,nếu xét về góc độ quy mô và tốc độ tăng trưởng, Việt Nam đã thành công trongduy trì tăng trưởng trong dài hạn
Trang 12Kinh tế Việt Nam tăng trưởng khởi sắc và khá cao từ năm 2001 – 2005 với tỉ lệtăng trưởng GDP cho năm 2005 là 8.4% sau khi điều chỉnh lạm phát
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt 8,5%, như vậy đây là nămthứ ba liên tiếp kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%
Hoạt động kinh doanh tại Việt Nam vẫn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ đầu tư củanền kinh tế đạt 40,4% so với GDP Sự tăng trưởng đã được thúc đẩy bởi nhân tố tưnhân, trong đó có 59 nghìn doanh nghiệp được thành lập trong năm qua, tăng 26%
so với năm trước Vốn đầu cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấpđôi, lên 20,3 tỷ USD
Trong khi đó, tính đến năm 2007, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 43%GDP (hai năm trước mới đạt 1,5% GDP) Mức dự trữ ngoại hối đã tăng từ 10 tỷlên 21,6 tỷ USD, tương đương 30,2 % GDP hay 3,3 tháng nhập khẩu
Xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng 27%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu đạt48,5 tỷ USD, đạt hơn 68% GDP
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới nhưng trị giákinh tế mặt hàng gạo chỉ chiếm 4% trên tổng số xuất khẩu của Việt Nam khi gộpchung giá trị của các sản phẩm dầu khí vào
Trang 13Trong 3 mặt hàng chiến lược chiếm tỉ trọng giá trị cao nhất – ngoài khu vực dầukhí - gồm có hàng may mặc, giày da, và thuỷ sản với tỉ trọng lần lượt 15%, 9.4%
và 8.4% Ba ngành kỹ nghệ này thu hút hàng triệu lao động của nền kinh tế nhưngtrị giá gia tăng mà các ngành kỹ nghệ này mang lại vẫn còn thấp, vẫn dựa vào lợithế sức lao động là chính
Hơn nữa nguồn nguyên liệu cho may mặc và giầy da hầu hết phải nhập khẩu từnước ngoài rồi gia công thành phẩm thay vì tự cung cấp tự sản xuất như kỹ nghệmay mặc da giầy của Trung Quốc – và đây là một trong những lý do tại sao giá trịgia tăng trên tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm tỉ lệ vào khoảng25% và chỉ giá trị kinh tế này được tính vào GDP
Trị giá một số hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam (triệu Mỹ kim, 2001-2005):
Nguồn: IMF
Tuy nhiên, nền kinh tế cũng xuất hiện một số vấn đề “nóng bỏng” như lạmphát, cán cân thanh toán thiếu hụt, sự tăng nóng của lĩnh vực tín dụng, mức tăngtrưởng nhanh của thị trường chứng khoán và sự tăng mạnh của thị trường bất độngsản đang tạo ra nguy cơ “bong bóng” Điều đó đã được minh chứng bằng cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008 khi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam giảm sút đáng kể xuống còn 6,23% năm 2008 và 5,32% năm 2009,nhưng Việt Nam vẫn là những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới
và khu vực
Tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và nhóm nước theo khu vực ĐVT: %