1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận quản trị nhân lực kết cấu thu nhập của người lao động trong công ty tnhh minh hải

37 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết Cấu Thu Nhập Của Người Lao Động Trong Công Ty TNHH Minh Hải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Nhân Lực
Thể loại Bài Thảo Luận
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tỏi sản xuất sức lao động này được thực hiện thụng qua thunhập của họ, nghĩa là với mức thu nhập của mỡnh, người lao động khụng chỉđược đảm bảo về điều kiện sống mà cũn cú thể nõng

Trang 1

Lời mở đầu

Từ khi chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, vận đông theo cơ chế thị trờng có sự quản lí của nhànớc, kinh tế Vn đã có nhiều thay đổi đi lên Các hoạt động trong xã hội đều bịchi phối bởi các quy luật thị trờng, đặc biệt là quy luật cạnh tranh Theo đó, xãhội luôn mong muốn tạo ra đợc nhiều của cảI vật chất, các tổ choc kinh tế thìmong không ngừng tăng lợi nhuân qua việc sản xuất hàng hóa, dịch vụ Để đápứng đợc mong muốn đó, con ngời hoặc phảI tăng quỹ thời gian ding cho sản xuấthoặc phảI tăng năng suất lao động Trong các yếu tố đó, quỹ thời gian dành chosản xuât là có hạn, mỗi ngời chỉ có tối đa la 24h trong 1 ngày làm việc, còn tăngnăng suất thì có thể không ngừng tăng lên do nhiều yếu tố khách quan và chủquan Vậy cần thiết phảI nghiên cứu các yếu tố làm tăng năng suất lao động,trong đó thu nhập của ngời lao động là yếu tố tác động trực tiếp đến ngời lao

động là động cơ chính để họ tăng năng suất lao động

Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này trong các doanh nghiệp t nhân và

đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Nhóm 7 đi sâu vào nghiên cứu đề tài:

“ Kết cấu thu nhập của ngời lao động trong cong ty TNHH Minh Hải.”

Trang 2

ChƯƠng 1: Cơ sở lý luận kết cấu thu nhập của

ngời lao động trong doanh nghiệp

I Vai trò và tầm quan trọng của kết cấu thu nhập đối với ngời lao

động

Để thoả món cỏc nhu cầu về vật chất và tinh thần cho bản thõn, con ngườiphải tham gia vào quỏ trỡnh lao động Thụng qua quỏ trỡnh lao động đú, họ sẽ cúmột lượng thu nhập tương đương với sức lao động đó bỏ ra để ổn định cuộcsống cho bản thõn và gia đỡnh Qua đú nảy sinh những nhu cầu mới và chớnhnhững nhu cầu này sẽ tiếp tục tạo động lực làm việc cho người lao động Vỡ vậy,thu nhập của người lao động là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với bản thõnngười lao động núi riờng và với cỏc nhà quản lý núi chung

Thu nhập chớnh là nguồn sống của người lao động và gia đỡnh họ, là độnglực thỳc đẩy họ làm việc, là cỏch thức thoả món những nhu cầu trong cuộc sống

Về phớa doanh nghiệp, một nhà quản lý giỏi phải là người biết cỏch trả thu nhậpcho người lao động như một “chất kớch thớch” họ hăng say làm việc, phỏt huykhả năng sỏng tạo, đúng gúp hết sức mỡnh cho doanh nghiệp Muốn vậy, người

sử dụng lao động phải hiểu được tại sao con người lại làm việc? Mục đớch làmviệc của họ là gỡ ? Những nhu cầu nào thỳc đẩy họ làm việc ? , để từ đú cúnhững chế độ, chớnh sỏch cho phự hợp

Khi kết thỳc một quỏ trỡnh làm việc, con người cần phải được thoả món cỏcnhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi, giải trớ, học tập Núi cỏchkhỏc, sau mỗi ngày lao động con người cần cú thời gian nghỉ ngơi và cần đượcđỏp ứng cỏc nhu cầu nhằm tỏi sản xuất sức lao động ( bao gồm cả tỏi sản xuấtgiản đơn và tỏi sản xuất mở rộng sức lao động ) để chuẩn bị cho quỏ trỡnh laođộng tiếp theo Việc tỏi sản xuất sức lao động này được thực hiện thụng qua thunhập của họ, nghĩa là với mức thu nhập của mỡnh, người lao động khụng chỉđược đảm bảo về điều kiện sống mà cũn cú thể nõng cao trỡnh độ mọi mặt củabản thõn, gia đỡnh họ và cú một phần để tớch luỹ

Trang 3

Hiện nay ngoài những yếu tố sản xuất truyền thống như thiết bị công nghệ,máy móc kỹ thuật, nguyên vật liệu, nơi làm việc nhân tố con người càng đượccoi trong đặc biệt Muốn sản xuất phát triển, lợi nhuận tăng doanh nghiệp cầnphải có những chế độ chính sách nhằm kích thích cả về vật chất và tinh thần chonhân viên Cụ thể là doanh nghiệp phải có một hệ thống thu nhập hợp lý sao chongười lao động có thể thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của mình trong hiện tại

và có một phần nhỏ nhằm đảm bảo cho cuộc sống của họ sau này Đồng thời,cần đảm bảo được sự công bằng trong thu nhập của người lao động Đề cập đếntính công bằng, đây là yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết định đến tâm lýngười lao động Nếu người lao động cảm tháy có sự thiên vị, chủ quan trongviệc trả lương, thưởng ; cảm tháy giá trị sức lao động của mình bỏ ra không phùhợp với mức thu nhập mình nhận được họ sẽ có tâm lý chán nản, làm việc kémhiệu quả và có thể sẽ chuyển sang nơi khác Ngược lại trả lương, thưởng và cácchế độ đãi ngộ khác một cách công bằng sẽ tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, nỗ lựclàm việc cho người lao động

Ngoài ra thu nhập còn giúp cho người lao động thể hiện bản thân , thểhiện trình độ của người lao động Khi người lao động nhận thu nhập cao họ sẽcảm thấy tụ hào, hãnh diện với mọi người xung quanh, và đó chính là bằngchứng rõ ràng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao dộng đối với gia đình,đồng nghiệp, người thân

II Kết cấu thu nhập của người lao động

Thu nhập của người lao động là các khoản người lao động nhận được từdoanh nghiệp như tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, bảo hiểm xã hội và cáckhoản khác ngoài doanh nghiệp ( thu nhập từ làm thêm, làm kinh tế gia đình ).Mức thu nhập của mỗi người, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia đều khác nhau donhững yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến thu nhập khác nhau

Ở những nước phát triển hiện nay, hệ thống tiền lương tiền thưởng chỉ làmột phần của thu nhập Người lao động có những đòi hỏi cao hơn về hệ thốngđãi ngộ về mặt tinh thần Họ bắt đầu chú trọng đến bản thân công việc, môi

Trang 4

trường làm việc điều kiện làm việc Người lao động không chỉ yêu cầu phải cómột hệ thống lương bổng và tiền thưởng hợp lý mà còn quan tâm xem bản thânmình có thích công việc đó không ? họ có được công nhận khi có thành tíchkhông ? họ có cơ hội thăng tiến không ? Ngoài ra, môi trường làm việc cũng rấtquan trọng Người lao động yêu cầu có một chính sách hợp lý, có môi trườnglàm việc lành mạnh, có văn hoá ; có điều kiện làm việc thoải mái ; thời gian làmviệc và thời giờ nghỉ ngơi phù hợp ; nơi làm việc phải đảm bảo về an toàn vệsinh lao động

Ở Việt nam, do mức sống và mức thu nhập của người lao động còn rấtthấp, cùng với tỷ lệ thất nghiệp khá cao, đã tạo tâm lý nhất thiết phải có việc làm

để có việc làm dù là rất nhỏ để “có thể sống được” trong đại đa số người laođộng Hơn nữa, xuất phát điểm ở Việt nam rất thấp, kinh tế chưa phát triển, cònthiếu đồng bộ trong cơ cấu nhân lực ; vì vậy, thu nhập của người lao động chủyếu là tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi và bảo hiểm xã hội Việc làm thế nào để

có một cơ cấu, chính sách thoả đáng về thu nhập cho người lao động, kích thích

sự đóng góp của họ cho doanh nghiệp đang là vấn đề bức xúc đối với các doanhnghiệp nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế đất nước nói chung

1 Tiền lương

1.1 Khái niệm và vai trò của tiền lương

Khái niệm tiền lương

Tiền lương là phần tiền mà người lao động nhận được khi trao đổi sức laođộng của mình với người sử dụng lao động Tiền lương đóng vai trò quan trọng

và là một phần cấu thành thu nhập của người lao động Đối với doanh nghiệp,tiền lương là một phần chi phí cấu thành của chi phí sản xuất kinh doanh ; cònđối với người lao động, tiền lương là phần thu nhập chủ yếu, có ảnh hưởng trựctiếp đến đời sống của họ Tuỳ từng thời điểm và góc độ nhìn nhận, tiền lươngđược quan niêm theo các cách khác nhau

Theo C.Mac : tiền lương là giá cả sức lao động mà chủ tư bản trả cho côngnhân thông qua hợp đồng thoả thuận mua bán sức lao động Ông cho rằng : bản

Trang 5

chất của tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động ; nó cóthể cao hay thấp tuỳ thuộc vào quan hệ cung - cầu trên thị trường, thường thì giá

cả luôn thấp hơn giá trị sức lao động

Ở Việt nam, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, có quan điểm : “ Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối

có kế hoạch đến cho người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng lao độngmỗi người đã cống hiến” Theo quan điểm này, tiền lương là một yếu tố phânphối lại, không đảm bảo được nguyên tắc phân phối tiền lương theo lao động vàdoanh nghiệp cũng không chủ động đuực về tiền lương Hầu hết các doanhnghiệp đều hoạt động theo chỉ tiêu sản xuất của Nhà nước và cấp trên trực tiếp.Thu nhập của người lao động lúc này không phụ thuộc vào năng suất, chấtlượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà được “cào bằng”, người làm việc cóhiệu quả cũng có mức lương như như người làm việc kém hiệu quả Vì vậy, vấn

đề tiền lương đã gây cản trở lớn cho sự phát triển của nền kinh tế vì tiền lươnglúc này không những không tạo được động lực làm việc cho người lao động màcòn thể hiện sự thiếu công bằng trong phân phối thu nhập ; triệt tiêu khả năngchủ động sáng tạo của người lao động

Thực hiện đổi mới chế độ tiền lương, Đảng khẳng định : tiền lương ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó có chức năng là công cụquản lý, là đòn bẩy kinh tế, là thước đo hao phí lao động và là nguồn thu nhậpchính của người lao động nhằm đảm bảo tái sản xuất sức lao động Khác vớiquan niệm về tiền lương thời bao cấp, lúc này, tiền lương đã được hiểu đúng vớibản chất của nó : sức lao động cũng là một hàng hoá và tiền lương chính là giá

cả sức lao động

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,tiền lương được quan niệm là hình thức biểu hiện bằng tiền, là giá cả của yếu tốsức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người cung ứng sức laođộng, tuân theo các nguyên tắc cung – cầu, giá cả thị trường lao động và phápluật của Nhà nước Bản chất của tiền lương lúc này chính là hình thức biểu hiện

Trang 6

bằng tiền của giá trị sức lao động được xác định thông qua trao đổi trên cơ sởngang giá và được thanh toán theo kết quả cuối cùng của lao động.

Như vậy, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế trong từng thời kỳ, quan niệm vềtiền lương cũng được đổi mới và hoàn thện Đảng và Nhà nước ta nhận định :tiền lương chính là giá cả sức lao động Vì vậy, phải coi tiền lương như là mộtđộng lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc Cho đến nay, Đảng và Nhànước đã có những thay đổi sao cho có một chế độ chính sách tiền lươmg phùhợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa Đảng còn chỉ rõ : tiền lương còn phải gắn liền với sự phát triển kinh tế xãhội chung của đất nước Trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiệnđầu tư cho phát triển, góp phần làm trong sạch, lành mạnh đội ngũ cán bộ, nângcao tinh thần trách nhiệm và hiệu suất công tác, đảm bảo giá trị thực của tiềnlương và từng bước cải thiện theo sự phát triển của kinh tế xã hội

Vai trò của tiền lương

Trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng vàtoàn bộ nền kinh tế nói chung, tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Vai trò của tiền lương đối với người lao động :

Tiền lương, trong nền kinh tế thị trường là phần thu nhập chủ yếu của ngườilao động nhằm đảm bảo cuộc sống, đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho ngườilao động Nghĩa là, mức tiền lương mà người lao động nhận đực sau quá trìnhlao động phải đủ đẻ khôi phục lại sức lao động đã bị tiêu hao nhằm chuẩn bị choquá trình lao động tiếp theo Người lao động có quyền dùng tiền lương của mình

để trang trải cho các nhu cầu phát sinh trong đời sống hàng ngày và bản thân họ

sễ phải tính toán sao cho số tiền cần để thanh toán các chi phí cần thiết đó phảiphù hợp với mức tiền họ nhận được khi trao đổi sức lao động

Nếu được trả lương thoả đáng, phù hợp với giá trị sức lao động của mình bỏ

ra, người lao động sẽ tự nguyện nhận và làm tốt mọi công việc được giao Họ sẽcảm thấy sức lao động của mình bỏ ra thật có ích và vì vậy, họ sẽ làm việc hếtmình, sáng tạo trong công việc Lúc này, năng suất lao động tăng lên theo sự

Trang 7

tăng lên của lợi nhuận và do đó tiền lương của người lao động cũng được bổsung - đây chính là động lực làm việc của họ.

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp trả lương cho người lao động không hợp lý;không chú trọng đến lợi ích, tinh thần làm việc của người lao động thì sẽ gây ra

sự chán nản, năng suất lao động bị giảm sút, thiếu sự sáng tạo và có thể ngườilao động sẽ chuyển sang nơi làm việc khác có mức lương cao hơn

Vai trò của tiền lương đối với doanh nghiệp.

Trong doanh nghiệp, tiền lương là yếu tố đầu vào của chi phí sản xuất Đểtăng quỹ lương, doanh nghiệp cần có biện pháp tăng năng suất chất lượng, hiệuquả lao động, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Mức thu nhập cao sẽ cótác dụng kích thích lao động nâng cao tay nghề, có tinh thần trách nhiệm cao vớicông việc; làm cho người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp; có nhiều sángkiến cải tiến kỹ thuật, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy, chínhsách tiền lương đóng vai trò chủ đạo trong chiến lược phát triển sản xuất củadoanh nghiệp Một chính sách tiền lương đúng sẽ là động lực mạnh mẽ, là đònbẩy nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người trong việc thực hiện cácmục tiêu kinh tế - xã hội Tiền lương giúp gắn bó trách nhiệm cá nhân với tậpthể và thông qua đó, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xãhội

Ngoài ra, xét trong phạm vi xã hội, tiền lương được coi như một công cụ đểNhà nước điều hoà phân phối lại thu nhập cho mọi người trong xã hội, làm giảmbớt khoảng cách trong chênh lệch về thu nhập giữa những người lao động trong

xã hội và là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà các doanhnghiệp, xí nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho người lao động căn cứ vàochất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.Tuỳ theo điều kiện nền kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thờikỳ nhất định màNhà nước sẽ có những cải tiến, sửa đổi chế độ tiền lương cấp bậc cho phù hợp

1.2 Các hình thức trả lương

Trang 8

Hiện nay có hai hình thức trả lương cơ bản là trả lương theo thời gian, trảlương theo sản phẩm và trả lương khoán Mỗi doanh nghiệp sẽ căn cứ vào điềukiện sản xuất kinh doanh, đặc diểm sản phẩm của doanh nghiệp mình để quyếtđịnh lựa chọn hình thức trả lương cho phù hợp.

Bộ Luật Lao Động quy định : “ Người sử dụng lao động có quyền chọn cáchình thức trả lương theo thời gian( giờ, ngày, tuần, tháng ), theo sản phẩm, theokhoán nhưng phải duy trì hình thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhấtđịnh và phải thông báo cho người lao động biết”

1.2.1 Hình thức trả lương theo thời gian:

Đây là hình thức trả lương được áp dụng chủ yếu đối với những người làmcông tác quản lý.nếu có áp dụng đối với những người công nhân sản xuất thì chỉ

áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những côngviệc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác hay đối vớinhững công việc mà nếu trả lương theo sản phẩm thì sẽ không đảm bảo đượcchất lượng sản phẩm

Hình thức trả lương theo thời gian có nhược điểm là chưa gắn thu nhập củangười lao động với kết quả lao động mà họ đạt được trong thời gian lao động.Hình thức trả lương này gồm hai chế độ: trả lương thao thời gian đơn giản và trảlương theo thời gian có thưởng

Trả lương theo thời gian đơn giản là chế độ trả lương mà tiền lương nhậnđược của mỗi công nhân sẽ do mức lương cấp bậc của công việc cao hay thấp vàthời gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định Chế độ trả lương này chỉ ápdụngcho những nơi khó xác định mức lao động chính xác

Chế độ trả lương này có nhược điểm là mang tính bình quân ,không khuyếnkhích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu

Trả lương theo thời gian có thưởng là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theothời gian đơn giản với các chế độ tiền thưởng khi đạt được các chỉ tiêu về sốlượng hoặc chất lượng đã qui định Chế độ trả lương này chủ yếu được áp dụngvới những công nhân làm những công việc phụ hay với những công nhân chính

Trang 9

nhưng ở khâu có trình độcơ giới hoá cao hoặc những công việc phải đảm bảochất lượng.

Chế độ trả lương này có nhiều ưu điểm hơn chế độ trả lương theo thời gianđơn giản vì nó không những phản ánh trình độ thành thạo, thời gian làm việcthực tế mà còn gắn với thành tích công tác của từng người qua các chỉ tiêu xétthưởng đã đạt được Ngày nay, chế độ trả lương này đang được áp dụng rộng rãi

do ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật và tác dụng khuyến khích người lao động củanó

1.2.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm:

Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trựctiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã hoàn thàn Sovới hình thức trả lương theo thời gian, trả lương theo sản phẩm có nhiều ưuđiểm hơn và được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, đặc biệt là đối vớicác doanh nghiệp sản xuất hay chế tạo sản phẩm

Trả lương theo sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng Trước hết, nó trực tiếpkhuyến khích người lao động ra sức học tập và nâng cao khả năng làm việc củabản thân Mặt khác do quán triệt nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượnglao động nên trả lương theo sản phẩm có tác dụng tạo động lực cho người laođộng hăng hái làm việc, tăng năng suất lao động Ngoài ra, trả lương theo sảnphẩm còn góp phần nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tựchủ, chủ động trong quá trình làm việc của người lao động

Các chế độ trả lương theo sản phẩm:

Chế độ trả lương này đươc áp dụng rộng rãi đối với những công nhân trựctiếp sản xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất độc lậptương đối, có thể định mức, kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể

và riêng biệt

Ưu điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là tiền lươngtrực tiếp trong kỳ trong kỳ được tính dễ dàng và có tác dụng khuyến khích công

Trang 10

nhân hăng hái làm việc để nâng cao năng suất lao động, là cách trực tiếp để tăngtiền lương.

Nhược điểm của chế độ lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là để làm chocông nhân chỉ quan tâm đến số lượng sản phẩm mà coi thường chất lượng sảnphẩm Nếu công nhân không có thái độ và ý thức làm việc tốt sẽ không có ýthức tiếc kiệm nguyên vật liệu, không có biện pháp để sử dụng có hiệu quả máymóc thiết bị

Hình thức trả lương này được áp dụng để trả lương cho những lao động làmcác công việc phục vụ, phụ trợ phục vụ cho lao động chính

Việc áp dụng chế độ trả lương theo sản phẩm và gián tiếp có tác dụng khuyếnkhích công nhân phục vụ tốt hơn cho hoạt động của coong nhân chính

Nhược điểm của chế độ trả lương này là đôi khi sẽ hạn chế sự cố gắng làmviệc của công nhân phụ – do tiền lương của công nhân phụ phụ thuộc và kết quảcủa công nhân chính

Trang 11

gây bội quỹ tiền lương do việc phân tích, tính toán, xác định các chỉ tiêu tínhthưởng không chính xác.

Đây là hình thức trả luơng thường được áp dụng cho những khâu sản xuấtyếu của toàn bộ dây chuyền sản xuất nhằm “kích” hoạt động này vượt qua mứcbình thường, có thể đảm bảo cân đối được với các bộ phận khác trong doanhngiệp

Các trả lương này có ưu điểm là làm cho công nhân làm việc tích cực hơn dotăng đơn giá cho những sản phẩm vượt mức

Nhược điểm của chế độ trả lương này là dễ làm cho ttốc độ tăng của tiềnlương lớn hơn tốc độ tăng của năng suất lao động của những khâu áp dụnglương sản phẩm luỹ tiến Vì vậy, không nên áp dụng chế độ trả lương này rộngrãi, trên một phạm vi lớn

Đồng thời, khi người lao động hưởng lương sản phẩm luỹ tiến các bộ phận cóliên quan phải giúp họ đảm bảo chất lượng và bộ phận nghiệm thu sản phẩmphải đặc biệt chú ý kiểm soát chất lượng sản phẩm mà họ làm ra

1.2.3 Hình thức lương khoán:

Hình thức tiền lương khoán được áp dụng cho những công việc giao khoáncho công nhân – chủ yếu trong những nghành xây dựng cơ bản, nông nghiệp vàmột số nghành khác mang tính đột xuất

Trả lương theo hình thức khoán sản phẩm làm cho người lao động phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật lao động nhằm tối ưu hoá quá trình làm việc, giảmthời gian lao động, hoàn thành nhanh công việc được giao khoán Tuy nhiên,việc xác định đơn giá giao khoán khá phức tạp, khó chính xác, khi xác địnhlương khoán phải thận trọng xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức lương phảitrả Mặt khác, phải chú ý theo dõi và nghiệm thu kết quả lao động mà ngườinhận khoán thực hiện

Trang 12

Trên đây là các hình thức trả lương cho người lao động trong doanhnghiệp Thực tế, các doanh nghiệp có thể áp dụng thêm các phụ cấp lương nhằmđảm bảo nguyên tắc trả lương cho lao động Vì tiền lương là một chính sách linhđộng, uyển chuyển nên áp dụng chế độ trả lương nà thì phải tuỳ thuộc vào hoàncảnh xã hội, vào khả năng của doanh nghiệp Đặc biệt không nên áp dụng mộtcách máy móc, thống nhất với mọi xí nghiệp, doanh nghiệp vì mỗi doanhnghiệp, đơn vị đều có đặc điểm riêng về sản phẩm, khả năng chi trả, vốn đầutư

Thực chất tiền thưởng chính là khoản tiền bổ xung cho tiền lương nhằmquán triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Thực hiện các chế độ tiền thưởng là một trong cácbiện pháp khuyến khích vật chất đối với người lao động trong quá trình làm việcnhằm thu hút sự quan tâm của họ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, qua đó nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, rútngắn thời gian làm việc

Mặc dù tiền lương là khoản thu nhập chính đảm bảo mức sống của ngườilao động nhưng tiền lương chưa bù đắp được hoàn toàn sức lao động mà ngườilao động đã bỏ ra Do vậy, thực hiện chế độ thưởng là để góp phần bù đắp giá trịsức lao động đã mất đi của người lao động nhằm đảm bảo tốt quá trình tái sảnxuất sức lao động cho người lao động Mặt khác, người lao động là nguồn lựcđầu tiên và quan trọng nhất trong việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếukhông có người lao động thì sẽ không có lợi nhuận Hay đơn giản hơn, nếungười lao động làm việc không hăng hái, không nỗ lực thì lợi nhuận của doanh

Trang 13

nghiệp cũng bị giảm bớt Do đó, thưởng là hình thức phân phối lợi nhuận củadoanh nghiệp cho người lao động, là cách thu hút người lao động đóng góp hếtmình cho doanh nghiệp.

* vai trò

Tiền thưởng là một loại hình kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đốivới người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn, qua đó nângcao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian làm việc,

Tiền thưởng giúp cho người lao động có thêm niềm tin đối với doanhnghiệp, giúp người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp

22 Các hình thức tiền thưởng

Hiện nay, trong doanh nghiệp đang áp dụng phổ biến các loại tiền thưởngsau:

_ Thưởng giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng

_ Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm

_ Thưởng hoàn thành vượt mức lao động

_ Thưởng tiếc kệm vật tư, nguyên liệu

Ngoài các hình thức này, tuỳ vào yêu cầu thực tế của hoạt động sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp có thể thực hiện các hình thức thưởng khác Ví dụ,căn cứ vào nguồn hình thành, các doanh nghiệp có thể thực hiện các chế độthưởng như sau:

- Thưởng từ giá trị làm lợi : Đây là hình thức thưởng trực tiếp cho cá nhân,tập thể và được trích theo phần trăm tuỳ từng doanh nghiệp Chế độ thưởng nàyđược áp dụng cho những người lao động có sáng kiến, giải pháp làm lợi chodoanh nghiệp Bap gồm : thưởng sáng kiến; thưởng tiếc kiệm; thưởng nâng caonăng suất lao động; thưởng khuyến khích xuất khẩu Chế độ thưởng này có tácđộng lớn đến khả năng chủ động sáng tạo của người lao động trong doanhnghiệp

- Thưởng từ quỹ lương: là hình thức thưởng mà tiền thưởng được trích ra từquỹ lương của doanh nghiệp Thưởng từ quỹ lương được áp dụng hàng tháng

Trang 14

đối với những người lao động luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ Chế độ thưởng nàykhuyến khích ý thức làm việc của người lao động, giúp doanh nghiệp luôn hoànthành kế hoạch sản xuất nhưng có nhược điểm là chưa phát huy được tính sángtạo trong công việc.

- Thưởng từ lợi nhuận: Luật lao động quy định: “ Người sử dụng lao động

có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đãlàm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên theo quy định của Chính phủ phùhợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp”2

Các doanh nghiệp phải thực hiện thưởng từ lợi nhuận cho công nhân viênchức và lao động với mức trích tối thiểu là 10% lợi nhuận/1 năm của doanhnghiệp - đối với doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, chế độ thưởng như thế nào là do hai bên tự thoả thuận nhưng tối thiểuphải bằng một tháng lương theo hợp đồng đã ký kết Còn đối với các doanhnghiệp Nhà nước, mức tiền thưởng tối đa không quá 6 tháng tiền lương theo hợpđồng lao động 3

- Như vậy, thưởng từ lợi nhuận là chế độ bắt buộc đối với các doanh nghiệp

áp dụng chế độ thưởng hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích với cả người lao động vàngười sử dụng lao động Thưởng từ lợi nhuận sẽ làm cho người lao động quantâm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hơn.Khi lợi nhuân tăng, mứcthưởng cho người lao động cũng tăng lên và do đó, họ sẽ cố gắng, nỗ lực hơntrong công việc, phát huy sáng kiến nhằm tăng năng suất lao động, tiếc kiệmnguyên liệu đây là những lợi ích rất lớn đối với doanh nghiệp

Mặc dù các chế độ thưởng được áp dụng nhiều năm luôn có tác dụng tíchcực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, nhưng trênthực tế - đặc biệt trong các doanh nghiệp Nhà nước, việc thực hiện chế độthưởng cũng có nhiều hạn chế như diện thưởng còn tràn lan, xây dựng tiêuchuẩn thưởng chưa chính xác Trong mỗi doanh nghiệp, việc thưởng bao nhiêu,như thế nào, cho đối tượng nào? cũng là vấn đề cần nghiên cứu kỹ Nếu không

Trang 15

tính toán chi tiết và không đảm bảo được tính công bằng, tiền thưởng sẽ có tácđộng ngược lại với mục đích thưởng của doanh nghiệp.

2 Phúc lợi

Thu nhập của người lao động bao gồm những cái mà họ nhận được từdoanh nghiệp Ngoài tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi là một khoản tài chínhgián tiếp nằm trong thu nhập của người lao động

Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992: “ Phúc lợi là lợi ích công cộng màngười dân được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ trả một phần”4

Xét về khía cạnh xã hội, phúc lợi được coi là thước đo sự tiến bộ, côngbằng, văn minh của một quốc gia và là đặc trưng của xã hội chủ nghĩa Hầu hếtcác nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện chế độ giáo dục, y tế, nghỉ ngơi, giải tríkhông mất tiền

Xét về khía cạnh kinh tế, phúc lợi là một khoản thu nhập đảm bảo quyền lợcủa người lao động, giúp họ yên tâm công tác, đóng góp hết sức mình cho doanhnghệp và gắn bó hơn với doanh nghiệp

Phúc lợi bao gồm hai phần chính : phúc lợi bắt buộc và phúc lợi tự nguyện

3.1 Phúc lợi tự nguyện

Phúc lợi tự nguyện là phần không nằm trong quy định của pháp luật – docác doanh nghiệp tự nguyện áp dụng – một phần nhằm khuyến khích, động viênnhân viên làm việc, một phần nhằm duy trì và thu hút người có tài về làm chodoanh nghiệp mình Mỗi doanh nghiệp sẽ tuỳ thuộc vào chiến lược sản xuất kinhdoanh của mình mà lựa chọn các chế độ phúc lợi tự nguyện cho phù hợp Thực

tế ở Việt nam, các loại phúc lợi tự nguyện chưa được áp dụng nhiều do nền kinh

tế chưa phát triển, mức sống của người dân chưa cao

Phúc lợi tự nguyện bao gồm các chương trình bảo hiểm y tế, bảo vệ sứckhỏe, các loại dịch vụ, các chương trình trả tiền trợ cấp độc hại, nguy hiểm vàcác loại trợ cấp khác

*Bảo hiểm y tế

Trang 16

Ngoài các lọai trợ cấp ốm đau và tai nạn lao động theo quy định của LuậtLao động, một số công ty còn áp dụng chế độ bảo hiểm tự nguyện cho cán bộ,công nhân viên trong công ty mình như bảo hiểm khi giải phẫu Tuy nhiên ,hình thức này chưa được áp dụng nhiều trong các doanh nghiệp Việt nam màhầu hết, chúng ta chỉ thực hiện các chế độ và bảo hiểm y tế theo luật pháp quyđịnh.

* Chương trình bảo vệ sức khoẻ:

Ở các nước phát triển, một số công ty áp dụng các chương trình bảo vệ sứckhoẻ nhằm ngăn chặn bệnh tật cho người lao động như các chương trình chongười nghịn thuốc lá, các chương trình thể dục thể thao tránh căng thẳng do tácđộng của công việc và môi trường Nhờ vào các chương trình này, các doanhnghiệp đã tiếc kiệm được nhiều chi phí đáng kể như giảm tỷ lệ người vắng mặttrong công ty, giảm chi phí thuốc men Đây là chương trình có nhiều ưu điểmtrong chiến lược sảnữút kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn,phạm vi hoạt động trên diện rộng

* Bảo hiểm nhân thọ theo nhóm:

Đây là một loại phúc lợi nhằm bảo vệ gia đình của nhân viên trong trườnghợp nhân viên đó qua đời Loại hình bảo hiểm này thu hút được khá nhiều sựchú ý của người lao động vì chi phí bảo hiểm naỳ rất thấp so với phần tiền nhậnđược nếu rủi ro xảy ra và mỗi nhân viên đóng một mức riêng tuỳ thục vào mứclương của họ Một số công ty chỉ yêu cầu nhân viên đóng một phần còn đâucông ty sẽ hỗ trợ Khi rủi ro xảy ra, người lao động sẽ nhận được một phần tiền

cố định hoặc theo mức lương hiện hành của họ.Ơ Việt nam, mới chỉ phát triểnloại hình bảo hiểm nhân thọ đối với cá nhân người lao động còn loại hình bảohiểm nhân thọ nhóm chưa được phổ biến

* Các loại dịch vụ:

Với mục đích tạo cho cán bộ, công nhân viên trong công ty một cuộc sống

“dễ chịu” hơn, các công ty thường áp dụng nhiều loại dịch vụ như các chươngtrình thể dục thể thao, bán khấu trừ các sản phẩm dịch vụ của công ty, lập các

Trang 17

câu lạc bộ, tổ chức đưa đón công nhân đi làm, trợ cấp giáp dục ( Các loại dịch

vụ này được áp dụng phổ biến ở Việt nam ) Tuỳ vào điều kiện của mình, cácdoanh nghiệp sẽ lựa chọn một hoặc một số loại dịch vụ nhằm tạo thuận lợi chocán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp mình Đay cũng là hình thức thu hútnhân viên, làm cho họ gắn bó hơn với công việc đang làm

* Tiền bồi dưỡng độc hại – nguy hiểm:

Chế độ bồi dưỡng độc hại - nguy hiểm đã được quy định rõ trong LuậtLao động và các nghị định, quy định của Chính phủ Tuy nhiên, ở một số công

ty, do muốn thu hút công nhân đến làm việc ở những nơi nhiễm độc, mức độnguy hiểm cao, họ sẽ cấp cho công nhân tiền bồi dưỡng độc hại – nghuyhiểmhoặc làm việc hai ca, ca ba cao hơn mức quy đinh của Nhà nước Mức trợcấp bồi dưỡng này cũng nằm trong chiến lược phát triển nhân lực của mỗi doanhnghiệp

3.2 Phúc lợi bắt buộc

Phúc lợi bắt buộc là phần do luật pháp quy định – thực chất là các loại bảohiểm xã hội và tiền lương của người lao động trong thời gian không làm việc.Tiền lương trong thời gian không làm việc là mức tiền lương người lao độngđược hưởng trong những ngày nghỉ được luật pháp quy định như lễ, tết, nghỉphép năm

Phúc lợi bắt buộc gồm có: bảo hiểm xã hội, trợ cấp ốm đau, thai sản, tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp

3.2.1 Bảo hiểm xã hội

Trên thế giới, bảo hiểm xã hội đã có từ rất lâu và thực sự trở thành hoạtđộng mang tính chất xã hội từ đầu thế kỷ 19 ở các nước châu Âu Cho đến nay,bảo hiểm xã hội được phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia và trở thành một

bộ phận quan trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc

Ở nước ta, chính sách bảo hiểm xã hội được thực hiện từ khi thành lập nướcViệt nam dân chủ cộng hoà nhưng mới chỉ áp dụng cho công nhân viên chức vàlực lượng vũ trang Đến năm 1995, thực hiện cải cách chính sách baoe hiểm xã

Trang 18

hội, Nhà nước ta đã mở rộng phạm vi đối tượng trong hệ thống bảo hiểm xãhội : mọ người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhaủ những nơi có cóquan hệ lao động Mục đích chính của bảo hiểm xã hội là góp phần bảo đảm thunhập cho người lao động khi các rủi ro xã hội xảy ra.

Dưới góc độ pháp luật, bảo hiểm xã hội là một loại chế độ pháp định bảo

vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sửdụng lao động và có sự than gia của Nhà nước

Về mặt xã hội, bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọngcủa Nhà nước Bảo hiểm xã hội là một nhu cầu thiết yếu chính đáng của ngườilao động nói riêng và người dân nói chung Nhu cầu này xuất phát từ nhu cầuđược đảm bảo an toàn trong cuộc sống và trong quá trình làm việc của người laođộng – liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thân của họ Xã hội công bằngphát triển, nhu cầu về bảo hiểm xã hội của các tầng lớp lao động xã hội ngàycàng đa dạng và Nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức tốt hơn các hoạt động vềbảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn xã hội

Việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chi phí phục vụ cho quản lý vàphát triển sự nghiệp bảo hiểm xã hội được lấy từ quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ nàyđược Nhà nước bảo hộ để tồn tại và phát triển trên cơ sở hạch toán độc lập vàđược quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước

Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau:

- Người sử dụng lao động đóng 20% so với tổng quỹ lương

- Người lao động đóng bằng 8,5% tiền lương

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm

- Các nguồn khác.9

3.2.2.Chế độ trợ cấp ốm đau:

Khi ốm đau, người lao động dược khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y

tế theo chế độ bảo hiểm y tế Người lao động ốm đau có giáy chứng nhận củathầy thuốc cho nghỉ việc để chữa bệnh tại chỗ hoặc điều trị tại các bệnh viện thìđược hưởng trợ cấp ốm đau do quỹ bảo hiểm xã hội trả Mức trợ cấp này phụ

Ngày đăng: 25/09/2023, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy: mức thu nhập dưới 1.500.000đ/tháng của Công ty chiếm 11,36% năm 2009 đến năm 2010 giảm xuống chỉ còn 7,49%. - Bài thảo luận quản trị nhân lực kết cấu thu nhập của người lao động trong công ty tnhh minh hải
Bảng tr ên cho thấy: mức thu nhập dưới 1.500.000đ/tháng của Công ty chiếm 11,36% năm 2009 đến năm 2010 giảm xuống chỉ còn 7,49% (Trang 26)
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN - Bài thảo luận quản trị nhân lực kết cấu thu nhập của người lao động trong công ty tnhh minh hải
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN (Trang 28)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w