Để cho gia đình tồn tại và phát triển , cần phải có các điều kiện vật chất – cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình.Do vậy chết độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật qua
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU.
B NỘI DUNG.
I Khái quát về tài sản chung, tài sản riêng
Tài sản chung của vợ chồng.
2 Tài sản riêng của vợ chồng.
II Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản
1 Nghĩa vụ tài sản chung
2 Nghĩa vụ riêng
III Hướng hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng
về tài sản
1 Nghĩa vụ chung về tài sản
2 Nghĩa vụ riêng về tài sản
C KẾT LUẬN.
Trang 2A MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội , thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội Để cho gia đình tồn tại và phát triển , cần phải có các điều kiện vật chất – cơ sở kinh
tế của gia đình, nuôi sống gia đình.Do vậy chết độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm xây dựng.Trên cơ sở kế thừa tư tưởng cũng như quy định tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986,Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định mới để điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của quan
hệ hôn nhân và gia đình.Bên cạnh quan hệ pháp luật về nhân thân, nội dung quan
hệ pháp luật về tài sản của vợ chồng gồm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng phát sinh từ những lợi ích vật chất trên cơ sở quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chòng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh những quan hệ khác trong gia đình ; là cơ sở pháp lý để thực hiện các chức năng kinh té và đáp ứng những nhu cầu vật chất của vợ chồng , của các thành viên trong gia đình.Vợ chồng đều có nghĩa vụ chung cũng như nghĩa vụ riêng đối với
tài sản.Cụ thể sau đây đây em sẽ đi tìm hiểu sâu hơn về vấn đề “ Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ”.
Trang 3B NỘI DUNG
Để xác định nghĩa vụ chung , nghĩa vụ riêng của vợ chồng thì trước hết ta đi tìm hiều về tài sản của vợ chồng.Trên cơ sở xác định tài sản chung, tài sản riêng của
vợ chồng, sẽ là căn cứ làm phát sinh những nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng
I Khái quát về tài sản chung, tài sản riêng
1 Tài sản chung của vợ chồng
Có hai căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
- Căn cứ pháp lý:
Theo khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “ Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất ,kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kê chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.”.Theo khoản 7 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 “ Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân ” Như vậy, mọi tài sản trong gia đình trong thời kỳ hôn
nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc và khả năng trực tiếp tạo ra hay công sức đóng góp của mỗi bên
- Căn cứ vào nguồn gốc tài sản :
+ Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Tài sản chung của vợ chống có thể do công sức của cả hai người tạo ra hoặc chỉ do vợ ( chồng ) tạo rao trong thời kỳ hôn nhân bằng cách
Trang 4trực tiếp ( lao động sản xuất, tiền lương …) hoặc gián tiếp thông qua các giao dịch dân sự ( buôn bán , bảo hiểm , lợi nhuận …) Hoa lợi , lợi tức cớ được từ tài sản chung hoặc riêng của vợ , chồng cũng là tài sản chung ,là thu nhập có được trong thời kỳ hôn nhân
+ Tài sản chung của vợ chồng là thu nhập do lao động , hoạt động sản xuất kinh doanh.Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ –HĐTP ngày 23 -12-2000 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn việc áp dụng một số
quy định của Luật HN &GĐ năm 2000 “ những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể lả tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số
mà vợ, chồng được hoặc những tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quyết định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ,vật không xác định ai là chủ sở hữư…”
+ Những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng do vợ ( chồng ) có được trước khi kết hôn, được thừa kế, được tặng cho riêng về nguyên tắc là tài sản riêng, tuy nhiên ,những tài sản này là tài sản chung nếu như trong thời kỳ hôn nhân ,vợ chồng có thoả thuận coi là tài sản chung của vợ chồng Quy định này mang tính mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng quyết định về phạm vi tài sản thuộc sở hữư chung hợp nhất
+ Nếu vợ chồng có xảy ra tranh chấp về xác định tài sản chung, riêng nhưng mỗi bên đều không có chứng cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì coi đó là tài sản chung của vợ chồng.Quy định này mang tính nguyên tắc suy đoán được áp dụng trong trường hợp chia tài sản khi ly hôn hoặc các trường hợp khác khi có tranh chấp về tài sản của vợ chồng
Theo quy định của bộ luật Dân sự và luật đất đai, quyền sử dụng đất là một loại
tài sản có tính chất đặc thù “ quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có
Trang 5được trước khi kết hôn, thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận” (khoản 1 Điều 27 Luật HN & GĐ năm 2000 ).Trên thực tế , người chồng
thường nắm giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường xuyên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất đai
có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa bảo đảm
sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ về tài sản.Luật HN & GĐ năm
2000 quy định một cách rõ ràng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đuợc sau khi kết hôn là tài sản chung,hoặc có được trước hi kết hôn mà vợ, chồng thoả thuận
là tài sản chung sẽ là một cơ sở pháp lý cần thiết cho việc quyết định tranh chấp chấp về đất đai khi chia tài sản chung của vợ chồng
2 Tài sản riêng của vợ chồng
“Tài sản riêng của vợ ,chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng , được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ,chòng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng , tư trang cá nhân ”( Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000)
Do đó, căn cứ để xác định tài sản riêng như sau :
- Cơ sở pháp lý : Được ghi nhận tại Điều 58 hiến pháp 1992 : “ Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở , tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh
tế khác…”
- Cơ sở thực tiễn :
+ Trong xã hội hiện nay, lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Trước khi kết hôn, cá nhân bằng sức lao động và nghề nghiệp của mình có thể tạo ra được khối tài sản lớn hoặc cũng có thể được tặng , cho ,thừa
Trang 6kế riêng và những tài sản này được tạo lập trước thời kỳ hôn nhân và không thể coi là tài sản của vợ chòng nếu không có sự đồng ý của chủ sở hữu
+ Việc quy định vợ chồng có tài sản riêng sẽ giúp cho mỗi bên giải quyết tốt vấn đề kinh tế như giúp đỡ bà con, bạn bè , đùm bọc được người thân những lúc khó khăn mà vẫn vẹn toàn tình nghĩa vợ chồng , góp phần xây dựng hạnh phúc
+ Điều 57 hiến pháp quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật Điều 30 Luật HN & GĐ cũng quy định vợ chồng có quyền đầu tư kinh doanh riêng, do đó có quyền yêu cầu Toà án hoặc tự thoả thuận với nhau chia tài sản chung để lấy tài sản riêng đó sử dụng vào mục đích kinh doanh của mình.Khi kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản , trước hết người vợ hoặc chồng phải lấy tài sản riêng củ mình để chịu trách nhiệm về tài sản Chỉ khi nào tài sản riêng không đủ thì mới lấy phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ của mình Như vậy, quyền lợi của mỗi bên vợ chồng cũng như mọi người trong xã hội được bảo vệ
Tài sản riêng bao gồm :
+ Tài sản được thừa kế, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, phần tài sản nếu được vợ hoặc chồng không tự nguyện nhập vào khối tài sản chung thì đương nhiên vẫn là tài sản riêng của mỗi người
+ Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản được chia riêng cho vợ , chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29, Điều 30
+ Tài sản riêng của vợ chồng còn là đồ dùng tư trang cá nhân
II Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản
1 Nghĩa vụ chung
Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở kinh tế nhẳm đáp ứng những lợi ích của vợ chồng và các thành viên gia đình.Do đó, phải có tiền bạc, tài sản của
Trang 7vợ chồng để đảm bảo cho gia đình tồn tại và phát triền.Trên cơ sở căn cứ việc phân chia tài sản chung của vợ chồng mà xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng trong việc tạo lập tài sản chung và đóng góp “phí tổn “ vì nhu cầu đời sống của gia đình
Trên cơ sở chế độ tài sản chung của vợ chồng, luật Hôn nhân và gia đình
2000 , nghĩa vụ chung được xác định cụ thể như :
Căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng và nghĩa vụ liên đới trong việc làm phát sinh các nghĩa vụ tài sản thì có các nghĩa vụ chung sau: Nghĩa vụ phát sinh có liên quan đến những công việc do hai vợ chồng cùng tiến hành , bao gồm cả các khoản nợ phát sinh trước khi kết hôn, những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện công việc không vì lợi ích gia đình nhưng được bên kia đồng ý dùng tài sản chung đó thực hiện; những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thứ yếu của gía đình
Theo khoản 2 Điều 28 Luật HN &GĐ quy định “ Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa
vụ chung của vợ chồng”.Tại Điều 25 cũng quy định “ vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” Quy định này nhằm quy kết nghĩa vụ chung của hai vợ chồng đối với
các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện vì nhu cầu thiết yếu của gia đình.Như vậy, nếu một bên vợ, chồng vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (ăn, ở , học hành…)thì món nợ đó được bảo đảm thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng , nghĩa là cả hai vợ chồng đều có chung nghĩa vụ trả món nợ đó
Khi tài sản chung của vợ chồng không đủ đáp ứng quyền lợi của gia đình,
vợ , chồng đã phải “ vay, mượn” tiền bạc, tái sản của người khác vì nhu cầu
Trang 8của gia đình Đó chính là những khoản nợ mà vợ chồng có nghĩa vụ thanh toán cho chủ nợ.Khối tài sản cộng đóng phải được bảo đảm cho các món nợ
đó Theo nguyên tắc, nếu là nợ chung thì cả vợ chồng phải có nghĩa vụ trả nợ ( có thể trích trên khối tài sản chung của vợ chồng hoặc xác định nghĩa vụ củ
vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm chi trả khoản nợ đó ) Ngược lại, nếu vợ chồng vay nợ sử dụng vào mục đích riêng, bảo đảm cho nhu cầu riêng thì ngươi vợ, chồng đó phải có nghĩa vụ thanh toán bằng tải sản riêng
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản “
không có giá trị lớn” nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia
đình , thì hành vi xử sự của vợ,chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật côi là có sự thoả thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng Chẳng hạn như hàng ngày vợ, chồng dùng tiền bạc, tài sản chung bảo đảm các nhu cầu về ăn , ở ,học hành… thì các giao dịch này luôn được coi là
đã có sự thoả thuận đương nhiên của hai vợ chồng
Đối với các tài sản chung có giá trị lớn, thì khi định đoạt, phải có sự thoả thuận đồng ý của hai vợ chồng Nếu pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn phải được ký kết bằng văn bản( hợp đồng mua bán nhà,chuyển quyền sử dụng đất…) thì hình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật.Vợ chồng cũng phải trực tiếp
ký vào văn bản
Nếu căn cứ vào phạm vi nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nghĩa vụ phát sinh khi vợ chồng thực hiện các hành vi tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung là các nghĩa vụ chung bao gồm: nghĩa vụ phát sinh trong quá trình
vợ hoặc chồng tạo ra tài sản trong gia đình, nghĩa vụ phát sinh khi vợ hoặc chồng lao động để tạo ra thu nhập hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh
Trang 9doanh trong thời kỳ hôn nhân; nghĩa vụ phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng tiến hành khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của mình trong thời kỳ hôn nhân ( trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh từ việc khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng trong trường hợp quy định tại Điều 30
2 Nghĩa vụ riêng
Tại khoản 1 Điều 33 quy định “ vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 điều này.”
Vợ chồng với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, có quyền chiếm hữu , sử dụng, định đoạt tài sản riêng đó một cách độc lập không bị chi phối bởi ý chí của người chồng, vợ kia ( trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 33) Đồng thời, theo luật định thì vợ chồng cũng có phải thực hiện nghĩa vụ đối với các hành vi của vợ chồng liên quan đến tài sản riêng của mỗi bên
- Theo quy định tại khoản 4 Điều 33 “ Tài sản riêng của vợ , chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trừng hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng ”.Trong trường hợp tài cuộc sống chung của gia
đình gặp nhiều khó khăn, tài sản chung của vợ chồng không chỉ đủ bảo đảm cho những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình mà người vợ, chồng có tài sản riêng thì vợ, chồng có nghĩa vụ sử dụng tài sản riêng của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu đó của gía đình, bảo đảm cuộc sống của vợ chồng và các con.Nghĩa vụ này của vợ chồng xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích chung của gia đình
- Theo quy định khoản 3 Điều 33 “ Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó ”Nghĩa vụ về tài sản của vợ ,
chồng phát sinh từ các khoản nợ mà vợ,chồng vay của người khác sử dụng vào mục đích cá nhân mà không vì lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ
Trang 10bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ , chồng hay các nghĩa vụ khác theo luật định Như vậy, theo quy định của pháp luật, vợ, chồng phải bằng tài sản riêng của mình để đảm bảo thực hiện các loại nghĩa vụ sau : Nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình
Nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác trong thời kỳ hôn nhan sử dụng vào mục đích riêng, không đúng với nhu cầu thiết yếu và lợi ích chung của gia đình
Nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng , định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nợ phát sinh khi vợ , chồng đã tiến hành khai thác các hoa lợi , lợi tức từ tài sản riêng trong thời ky hôn nhân mà
vợ chồng không có thoả thuận những hoa lợi, lợi tức đó vẫn thuộc tài sản riêng của mỗi người
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi vợ chồng là người quản lý di sản thừa
kế mà đã có hành vi thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm
hư hỏng, mất mát di sản, “ bên còn sống thực hiện các giao dịch dân sụ nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm hư hỏng, mất mát di sản, thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sụ đó là vô hiệu và có quyền yêu cầu chia di sản; bên còn sống phải bồi thường thiệt hại cho những người thừa kế khác theo quy định của pháp luật.”( Khoản 3 Điều
12 NĐ 70/2001/NĐ – CP)
Các khoản nợ phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân vợ chồng như các khoản chi phí cho con riêng của mình( trừ trường hợp quy định tại Điều 38 ) hoặc các chi phí cho người mà vợ, chồng là người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật Dân sự và Luật HN & GĐ