Kinh tế miền Bắc sau 20 năm giải phóng 1954-1974, tuy đã có một bước phát triển nhưng vẫn là một nền sản xuất nhỏ lạc hậu được xây dựng theo mô hình kinh tế của Liên Xô cũ và một số nước
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau ngày giải phóng miền Nam 1975, cả nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội Thực trạng kinh tế của miền Nam là một nền kinh tế hỗn hợp giữa sản xuất hàng hóa nhỏ
đa sở hữu do thời kỳ thực dân Pháp đô hộ để lại, với kinh tế thực dân kiểu mới do
Mỹ du nhập Kinh tế miền Bắc sau 20 năm giải phóng (1954-1974), tuy đã có một bước phát triển nhưng vẫn là một nền sản xuất nhỏ lạc hậu được xây dựng theo mô hình kinh tế của Liên Xô cũ và một số nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu
Từ thực trạng kinh tế trên đây, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã chủ trương xây dựng trong cả nước một nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa theo mô hình “kế hoạch hóa tập trung cao” chủ yếu với hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể; tổ chức sản xuất kinh doanh theo các loại hình xí nghiệp quốc doanh và xí nghiệp hợp tác xã, thực hiện phân phối theo cơ chế quản lý hành chính bao cấp Chủ trương này đưa vào thực hiện không lâu đã bộc lộ sự không phù hợp với tình hình mới về yêu cầu phát triển của nền kinh tế nước ta Nền kinh tế đi dần vào ngõ cụt, không phát triển được, thậm chí có mặt tụt lùi so với trước, gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế trong nhiều năm không khắc phục được
Để đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) tháng 8-1979 đã nhận định tổng quát về thực trạng kinh tế
nước ta Và trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những thành tựu từ
đường lối đổi mới kinh tế của Đảng hơn 20 năm qua khẳng định đường lối đổi mới kinh tế của Đảng đề ra trong từng thời kỳ là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan và đáp ứng được lòng mong muốn của nhân dân ta, đã đem lại kết quả đáng khích lệ và tạo khả năng cho nền kinh tế phát triển tốt hơn trong những năm tới Sự thống nhất đất nước và sau đó là quá trình đổi mới, hòa nhập cộng đồng quốc tế của Việt Nam đang chứng minh một đất nước giàu sức sống, tự tin trước những vận hội và thách thức trong khu vực
Trang 2GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
I, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA KINH TẾ HÀNG HOÁ
1 Khái niệm:
Kinh tế hàng hoá ( sản xuất hàng hoá ) là kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó
hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, trao đổi trên thị trường
Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
2 Đặc điểm:
Sản xuất hàng hoá ra đời với 4 đặc trưng sau:
Mục đích của sản xuất: vì giá trị ( lãi)
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng
Có động lực thúc đẩy sản xuất phát triển đó là lợi nhuận
Nền sản xuất phát triển nhanh
3 Điều kiện của kinh tế hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại phải có đầy đủ 2 điều kiện sau:
Phân công lao động xã hội: phân công lao động xã hội là sự phân công chuyên môn hoá những nhà sản xuất thành những ngành nghề sản xuất khác nhau Phân công lao động xã hội làm cho mỗi người sản xuất được một hoặc vài thứ sản phẩm nhưng nhu cầu con người lại cần nhiều sản phẩm, muốn đáp ứng nhu cầu đó họ phải trao đổi mua bán sản phẩm với nhau
Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, tiền đề của sản xuất hàng hoá C.Mác đã chỉ rõ: “Sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại
Trang 3của nền sản xuất hàng hoá, mặc dầu ngược lại, sản xuất hàng hoá không phải
là điều kiện tồn tại của phân công lao động xã hội” Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng hơn, đa dạng hơn
Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất với nhau Sự tách biệt này dựa trên chế độ chiếm hữư tư nhân ( tư hữu) hoặc những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Điều kiện này làm tư liệu sản xuất thuộc về từng người hoặc từng nhóm người trong xã hội vì vậy sản phẩm làm ra cũng thuộc về từng người hoặc từng nhóm người trong xã hội Vì vậy người này hoặc nhóm người này muốn sử dụng sản phẩm của nhóm người khác phải trao đổi, mua bán sản phẩm với nhau
C.Mác viết: “ Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hoá”
II, LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ HÀNG HOÁ
Sản xuất hàng hoá ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã và chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, phát triển mạnh nhất trong Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa
xã hội – giai đoạn thấp của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và đến chủ nghĩa cộng sản – giai đoạn cao của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa thì sản xuất hàng hoá tự tiêu vong
Sản xuất hàng hoá phát triển qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn thấp: Sản xuất hàng hoá giản đơn là nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất kết hợp với sức lao động cá nhân của từng người lao động gồm những đặc trưng:
Người lao động có tư liệu sản xuất do đó họ tự sản xuất nên toàn bộ sản phẩm làm ra đều thuộc về họ
Sản xuất quy mô nhỏ, phân tán
Công cụ lao động chủ yếu là thủ công, lạc hậu, năng suất thấp
Nền sản xuất phát triển chậm
Trang 4→ Sản xuất hàng hoá giản đơn là đặc trưng của sản xuất nô lệ phong kiến
Giai đoạn cao ( sản xuất hàng hoá phát triển): nền sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn bằng máy móc hiện đại, năng suất cao Gồm những đặc trưng sau:
Quy mô sản xuất lớn, tập trung
Công cụ lao động ( máy móc, công nghệ) ngày càng hiện đại
Các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường
Nền sản xuất phát triển nhanh chóng
Sản xuất hàng hoá phát triển luôn vận động theo quy luật kinh tế khách quan của thị trường nên kinh tế hàng hoá phát triển còn gọi là nền kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hoá phát triển gồm: Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa
III, ĐẶC TRƯNG VÀ ƯU THẾ CỦA NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ ( SO VỚI KINH TẾ TỰ NHIÊN)
Kinh tế hàng hoá so với kinh tế tự nhiên ( sản xuất tự cung tự cấp) có đặc trưng
và ưu thế cơ bản sau đây:
Do mục đích của sản xuất hàng hoá không để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
Sự phát triển của xã hội với tính chất “mở”, các quan hệ hàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước và quốc tế
Trang 5ngày càng phát triển Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế như trên, sản xuất hàng hoá cũng có những mặt trái của nó như phân hoá giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái,…
B VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN NƯỚC TA
I, SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở NƯỚC TA Trong một thời gian dài, nhất là trước khi đổi mới, nước ta không nhận thức đúng vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị trường, đã đồng nhất hình thức
sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh; coi nhẹ quy luật cung cầu, chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, phủ nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ Chúng ta đã không tạo được động lực phát triển sản xuất,vô hình hạn chế việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất lao động tăng chậm, gây rối loạn
và ách tắc trong lĩnh vực phân phối lưu thông, làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng kém năng động trì trệ
Khi nhìn lại những sai lầm trong thời kỳ thực hiện “cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp”, tại đại hội lần thứ VI (12 -1986) Đảng ta thừa nhận “Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan; do đó, không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế” “Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững
và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất” Để khắc phục sai lầm đó Đảng đã chủ trương: “Quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hoá nền kinh tế còn nhiêù tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ
Trang 6hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan Việc sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ đòi hỏi phải gắn sản xuất với thị trường” Đây là bước tiến hết sức quan trọng trong việc đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta Quan điểm này xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta, từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta, trên cơ sở vận dụng mô hình của Lênin
về mặt chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế hàng hoá
Như vậy, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá ở nước ta là một tất yếu khách quan Bởi vì những điều kiện chung của kinh tế hàng hoá là phân công lao động xã hội
và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động vẫn tồn tại ở nước ta
II, ƯƯ THẾ NỔI BẬT CỦA PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Nền kinh tế hàng hoá ( với giai đoạn cao là nền kinh tế thị trường) có những ưu thế nổi bật sau:
Việc chuyển cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý thị trường là đảm bảo sự thích ứng của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất ở nước ta Sự chuyển đổi này đã làm cho cơ chế quản lý từ bảo thủ, trì trệ thành sự quản lý năng động và hiệu quả, chuyển chế độ sở hữu từ một hình thức (quốc doanh và tập thể) sang đa chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất Điều này đã khắc phục được sự trì trệ tư duy của “Ông chủ tập thể”, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của từng chủ sở hữu, làm cho nền kinh tế sống động hẳn lên.Việc chuyển phương thức phân phối “cào bằng” bình quân triệt tiêu động lực lợi ích của người lao động sang phương thức phân phối theo lao động và hiệu quả đã tạo chất men kích thích lợi ích chính đáng của toàn thể người lao động Phân phối theo lao động và hiệu quả của sản xuất kinh doanh không chỉ khơi dậy động lực lợi ích, một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng của kinh tế
Phát triển kinh tế hàng hoá còn phù hợp với xu thế phát triển kinh tế khách quan của thời đại ngày nay - thời đại các nước đều hướng về phát triển kinh tế
Trang 7thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Sự phù hợp này sẽ giúp nước ta
có thêm thế và lực để phát triển kinh tế nhanh hơn Kinh tế tự nhiên, do bản chất của nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn Trong cơ chế kinh tế cũ, vì coi thường quy luật giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực
để phát triển sản xuất Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng quy luật giá trị quy luật này buộc mỗi người sản xuất tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mình làm ra Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động
Phát triển sản xuất hàng hoá cũng phù hợp với lòng mong muốn thiết tha của nhân dân ta là được đem hết tài năng sức lực để lao động làm giàu cho đất nước và cho cả bản thân mình, có thu nhập ngày càng cao làm cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc Phát triển sản xuất hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và lao động Muốn thu được lợi nhuận, họ cần phải vận dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, hạ giá thành sản phẩm, làm cho sản xuất phải phù hợp với nhu cầu của thị trường, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế Qua cuộc cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan trọng của tiến bộ kinh tế
Nền kinh tế hàng hoá còn cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng hiện có và đang còn tiềm ẩn ở trong nước, có thể tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ, hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nước ta hướng vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và hiện đại hoá Chỉ có phát triển nền kinh tế hàng hoá, chúng ta mới có khả năng huy động về vốn, kỹ thuật; mới phát huy được mọi tiềm năng về con người Việt Nam; mới vận dụng sáng tạo và có hiệu quả các thành phần kinh tế, “Các mắt xích trung gian, các nấc thang hợp lý, các nhịp cầu thích hợp”vào trong quá trình quản lý
và phát triển kinh tế xã hội
Chỉ có phát triển nền kinh tế hàng hoá chúng ta mới có khả năng giải quyết được vấn đề việc làm trên đất nước chúng ta Một quốc gia dù có giàu đến bao
Trang 8nhiêu chăng nữa, mà đẩy một tỉ lệ quá cao người lao động ra ngoài quá trình sản xuất thì quốc gia ấy sẽ nghèo đi Tính đến năm 2010 nước ta có khoảng
67 triệu lao động (từ 15 tuổi trở lên) Phát triển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sẽ không có khả năng giải quyết cho 67 triệu lao động của đất nước, cho nên phải phát triển nền kinh tế hàng hoá để giải quyết việc làm
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển sang mô hình kinh tế hàng hóa là toàn toàn đúng đắn Nhờ mô hình kinh tế đó, chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực lượng sản xuất
III, GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở NƯỚC TA
1 Thực trạng kinh tế hàng hoá ở nước ta hiện nay
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hàng hóa kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp đến cao
Thực trạng này được biểu hiện chủ yếu ở các mặt:
Cơ cấu hạ tầng vật chất và xã hội còn ở trình độ thấp, kém phát triển Cơ
sở hạ tầng là một trong những trở ngại lớn nhất của phát triển kinh tế tại Việt Nam Việc nâng cấp hạ tầng vật chất của Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót và trậm trễ Nhất là trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu, như các tuyến đường liên tỉnh, cầu…
Trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, không có khả năng cạnh tranh
Hầu như không có đội ngũ nhà doanh nghiệp có tầm cỡ
Thu nhập của người làm công ăn lương và nông dân thấp kém, sức mua hàng hàng hoá của xã hội và dân cư thấp nên nhu cầu tăng chậm, dung lượng thị trường trong nước không nhiều, đình trệ sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi
Trang 9Những biểu hiện trên, một mặt phản ánh trình độ thấp kém về dung lượng cung cầu hàng hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Mặt khác nó cũng tạo ra sự bức xúc phải vươn lên vượt qua thực trạng nói trên đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta
Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế hàng hóa tồn tại nhiều thành
phần.
Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện vốn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp
Trong nền kinh tế hàng hóa chịu tác dụng của sự thay đổi cơ cấu ngành theo hướng ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng, do vậy lao động dịch
vụ trong ngành dịch vụ có khả năng thu hút nguồn lao động không nhỏ Trong điều kiện đó, các thành phần kinh tế có khả năng mở rộng, có tác dụng làm cho kinh tế hàng hoá và dịch vụ phát triển, cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ sớm hình thành theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra
Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó
Thị trường ở nước ta đang trong quá trình hình thành và phát triển nên còn ở trình độ thấp, cơ cấu thị trường chưa đầy đủ, dung lượng thị trường nhỏ hẹp, các yếu tố kinh tế thị trường hình thành chưa đầy đủ
Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở” giữa nước ta trên thế giới
Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế “mở” ra đời bắt nguồn từ quy luật phân bố và phát triển không đều về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và thế mạnh giữa các nước; từ quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế, đời sống mang tính quốc tế hoá Nói chung hiện nay, nền kinh tế hàng hoá
Trang 10của bất cứ nước nào, muốn phát triển với tốc độ nhanh và hiệu quả lớn, cũng phải xây dựng theo cơ cấu kinh tế mở cửa
Tóm lại, các đặc điểm của kinh tế hàng hoá có quan hệ mật thiết với nhau, phản ánh kết quả của sự phân tích thực trạng xu hướng vận động nội tại của quá trình hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay và trong tương lai
Các đặc điểm này bắt nguồn từ sự chi phối của các quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa (quy luật giá trị; quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu hàng hoá )
2 Các giải pháp để phát triển nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam:
Tại Đại hội VII, qua thực tiễn 5 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới tại Đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta lại một lần nữa khẳng định “Tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý cuả nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” Nhất quán với những quan điểm này, Đảng và nhà nước ta đã vạch ra những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta:
Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước
+ Đối với kinh tế nhà nước đây là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta Vai trò này được thể hiện ở chỗ nó chi phối được các thành phần kinh tế khác làm biến đổi các thành phần kinh tế theo đặc điểm đặc tính của nó Thành phần kinh tế nhà nước phải mở đường dẫn dắt cho nền kinh tế phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Để đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, trong những năm tới cần thiết phải củng cố lại hệ thống kinh tế nhà nước, thực hiện sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, cải tiến quản lý, nâng cao tính hiệu quả của hoạt động sản