1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil

30 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 881,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lí luận và cách vận dụng lý thuyết CLIL vào phát triển dạy học toán, cụ thể là trong dạy học Toán bằng tiếng Anh thông qua chủ đề số học trong chương trình lớp 6 nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán bằng tiếng Anh cho học sinh THCS.

Trang 1

ĐỀ TÀI: DẠY HỌC TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHỦ ĐỀ SỐ HỌC CHO

HỌC SINH LỚP 6 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CLIL

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở bậc THCS môn Toán có vai trò rất quan trọng vì môn Toán không chỉ giúp họcsinh hình thành và phát triển năng lực trí tuệ, phẩm chất và các năng lực chung màcòn giúp học sinh rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập và sáng tạo Bên cạnh đó, mônToán còn là công cụ thiết yếu giúp học sinh học tốt các môn học khác trong Nhàtrường Từ đó giúp các em phát triển toàn diện về trí tuệ, thẩm mỹ, kỹ năng nghềnghiệp của con người mới

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, học sinh sau khi tốtnghiệp THCS không chỉ thi vào các trường THPT trong nước mà còn theo học cácchương trình du học nước ngoài, học hệ THPT của các trường Đại học Quốc tế tổchức tại Việt Nam, hay một số trường THPT trong nước có lớp song ngữ với nộidung môn học được dạy bằng tiếng Anh như dạy Toán bằng tiếng Anh Vì vậy,ngày càng có nhiều học sinh muốn chinh phục các chứng chỉ quốc tế như A-level,IGCSE, IB, AP, với số điểm cao để có cơ hội được học tập chương trình quốc tế,tiến gần tới ước mơ du học tại các nước tiên tiến trên thế giới Để thực hiện điềuđó, đòi hỏi học sinh không những phải có trình độ tiếng Anh giao tiếp tốt mà còncần phải nắm vững các kiến thức cơ bản về các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh bằngtiếng Anh

Nền giáo dục Việt Nam cũng đang chuyển mình nhanh chóng để phù hợp với nhucầu dạy và học các môn học bằng tiếng Anh Nhu cầu dạy và học môn Toán bằngtiếng Anh được thể hiện thông qua Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thốnggiáo dục quốc dân giai đoạn 2017 - 2025” được Thủ tướng Chính phủ ban hànhtheo Quyết định số 2080/QĐ-TTg với mục tiêu chung: “Đổi mới việc dạy và họcngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp tục triển khai chương trình dạyvà học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nâng cao năng lực sử dụngngoại ngữ đáp ứng nhu cầu học tập và làm việc; tăng cường năng lực cạnh tranh

Trang 3

của nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần vào công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước; tạo nền tảng phổ cập ngoại ngữ cho giáo dục phổ thông vàonăm 2025” và định hướng: “Tạo bước đột phá về chất lượng dạy và học ngoại ngữcho các cấp học và trình độ đào tạo, khuyến khích đưa ngoại ngữ vào nhà trường từbậc mầm non và các hoạt động xã hội Đẩy mạnh dạy ngoại ngữ tích hợp trong cácmôn học khác và dạy các môn học khác (như toán và các môn khoa học, mônchuyên ngành ) bằng ngoại ngữ.”

Học môn toán bằng tiếng Anh không chỉ là dịch đề bài hay viết lời giải từ tiếngViệt sang tiếng Anh, cũng không phải chỉ học từ vựng thuật ngữ Toán học bằngtiếng Anh mà nhiều hơn thế, học sinh còn được tiếp cận và học tập một phươngpháp học mới Từ đó học sinh có thể tiếp cận với kho học liệu vô tận, hình thànhthói quen học chủ động và làm quen với môi trường học tập quốc tế, hình thành sựtự tin là một công dân trong cộng đồng quốc tế

Tuy nhiên, việc giảng dạy và học môn Toán bằng tiếng Anh hiện nay ở nước ta còngặp nhiều khó khăn như: chương trình dạy học chưa thống nhất, công tác kiểm trađánh giá còn bất cập, môn học Toán tiếng Anh chưa được phổ cập tới tất cả các đốitượng học sinh

Qua việc dạy và tìm hiểu các phương pháp, tôi nhận thấy việc dạy và học Toánbằng tiếng Anh theo hướng tiếp cận CLIL - Phương pháp học tích hợp nội dung vàngôn ngữ đã được nghiên cứu và bắt đầu từ những năm 70 ở Canada và các nướcTây Âu đem lại hiệu quả cao, giúp học sinh thực hành ngôn ngữ tự nhiên, tạo ra sựliên kết trong quá trình học nội dung môn học và ngôn ngữ Trong chương trìnhToán THCS, số học là một trong những chủ đề hay, chiếm vị trí hết sức quantrọng Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu của

luận văn là “Dạy học Toán bằng tiếng Anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận CLIL”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 4

Nghiên cứu cơ sở lí luận và cách vận dụng lý thuyết CLIL vào phát triển dạy học toán, cụ thể là trong dạy học Toán bằng tiếng Anh thông qua chủ đề số học trong chương trình lớp 6 nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán bằng tiếng Anh cho học sinh THCS.

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận về lý thuyết CLIL, cơ sở của việc dạy học Toán bằngtiếng Anh theo hướng tiếp cận CLIL

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn về việc triển khai CLIL và việc dạy học Toán bằng tiếngAnh

- Xây dựng một số biện pháp dạy học Toán bằng tiếng Anh chủ đề số học nhằmnâng cao chất lượng dạy và học Toán bằng tiếng Anh

- Thực nghiệm sư phạm tại lớp 6 trường THCS để đánh giá tính phù hợp của cácbiện pháp được đề xuất, tính khả thi và hiệu quả của đề tài

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện dạy học Toán bằng tiếng Anh với chủ đề “Số học” cho học sinh lớp

6 theo hướng tiếp cận CLIL sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao năng lực Toán học và khả năng sử dụng tiếng Anh của học sinh trong học tập

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tập hợp, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến phương pháp dạy học môn Toán, giáo dục học, tâm lí học, sách giáo khoa, sách bài tập, các bài báo, tạp chí và các nguồn tư liệu sẵn có trên internet có liên quan đến dạy học Toán bằng tiếng Anh theo hướng tiếp cận CLIL

5.2Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra, quan sát và nghiên cứu quá trình học tập của học sinh thông qua dự giờ,khảo sát, thu thập ý kiến của học sinh, đồng thời tham khảo ý kiến của đồng nghiệp

Trang 5

có kinh nghiệm, và tìm hiểu thực tiễn phương pháp giảng dạy môn Toán bằngtiếng Anh.

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm giảng dạy một số giáo án soạn theo hướng nghiên cứu của đề tài nhằm mục đích kiểm nghiệm, đánh giá tính khả thi, hiệu quả và chất lượng của đề tài

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

6.1Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học Toán bằng tiếng Anh cho học sinh lớp 6

6.2Đối tượng nghiên cứu

Dạy học Toán bằng tiếng Anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận CLIL

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Dạy học Toán bằng tiếng Anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận CLIL

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Giới thiệu về CLIL

1.1.1 Khái niệm và mô hình của CLIL

Thuật ngữ Content and Language Integrated Learning (CLIL – Dạy học tích hợpkiến thức và ngôn ngữ) lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1994 CLIL được xem nhưlà một cách tiếp cận dạy học tập trung kép mà trong đó, một ngôn ngữ khác tiếngmẹ đẻ được sử dụng để dạy và học nội dung của một môn học bất kì và của cảngôn ngữ đó (Attard, Walter, Theodorou, Chrysanthou, 1994, pp 6)

Đến năm 1996, các chuyên gia ở châu Âu đã sử dụng CLIL như là một thuật ngữ

“ô dù” chung dùng để chỉ nhiều phương pháp khác nhau cùng hướng đến giáo dụctập trung kép trong đó, dạy và học tập trung vào cả nội dung của một môn học nàođó và ngôn ngữ được dùng để giảng dạy (Marsh, 2006, pp 32)

Marsh (2002, pp 15) và Dalton-Puffer (2007, pp 3) cùng cho rằng CLIL chỉ mộtngữ cảnh giáo dục hoặc một môi trường giáo dục mà trong đó, một ngôn ngữ kháctiếng mẹ đẻ được sử dụng như là phương tiện để dạy và học nội dung của một mônhọc nào đó (không phải là ngôn ngữ)

Nhóm các tác giả Coyle, Hood và Marsh (2020, pp 1) cho rằng CLIL là phươngpháp dạy học tập trung kép, tức là một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ được dùng đểdạy và học hai nội dung: một môn học bất kì và ngôn ngữ đó

Như vậy, CLIL đều được nhìn nhận như là một phương pháp dạy học (hoặc mộtcách tiếp cận dạy học), trong đó nội dung môn học hay một phần nội dung mônhọc được dạy thông qua một ngôn ngữ khác tiếng tiếng mẹ đẻ, nhằm đạt được cảhai mục tiêu: học kiến thức môn học và học ngoại ngữ theo phương châm “sử dụngngoại ngữ để học, học ngoại ngữ để sử dụng”

CLIL và sự khác biệt với một số cách tiếp cận khác

Trang 7

Trong thực tế, dạy học một môn học bằng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ nhằmnâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ đó là một vấn đề không mới Cùng xuất pháttừ quan điểm dạy học ngôn ngữ theo cách tiếp cận giao tiếp như CLIL, tiêu biểu cóthể kể đến như Bilingual Education (Giáo dục song ngữ), Content-based LanguageTeaching (Dạy học dựa trên nội dung) hay Immersion (Nhúng) Chính vì thế, giữaCLIL và những phương pháp tương tự có nhiều điểm tương đồng, thậm chí giữachúng có rất ít khác biệt và vẫn chưa thể nhìn nhận rõ ràng

Lasagabaster và Sierra (2010) đã chỉ ra năm điểm giống nhau giữa CLIL vàImmersion như sau: 1 Mục tiêu cuối cùng là người học có thể thành thạo ngôn ngữđược học và không ảnh hưởng đến sự tiếp thu tri thức học thuật; 2 Ngôn ngữ đượchọc là khác tiếng mẹ đẻ và quá trình trình tiếp nhận ngôn ngữ đó gần giống với quátrình tiếp nhận tiếng mẹ đẻ; 3 Phụ huynh học sinh tin tưởng đây là cách để tiếp thungôn ngữ mới một cách tốt nhất; 4 Đội ngũ giáo viên có thể sử dụng thành thạohai ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ sẽ được dùng để dạy học), có thể đảm bảothực hiện chương trình một cách hiệu quả nhất và các hoạt động học tập trong suốttiết học được diễn ra một cách suôn sẻ nhất; 5 Nền tảng là quan điểm dạy họcngôn ngữ theo cách tiếp cận giao tiếp

Tuy nhiên, hai tác giả cũng nhấn mạnh một số điểm khác giữa CLIL và Immersionnhư sau: Ngôn ngữ được sử dụng trong dạy học với phương pháp CLIL là mộtngoại ngữ và người học chỉ được thực hành trong bối cảnh giáo dục chính thức,trong khi đó ở chương trình Immersion, ngôn ngữ được sử dụng để dạy học làngôn ngữ được sử dụng trong cộng đồng/ địa phương; Phần lớn đội ngũ giáo viêntrong chương trình Immersion là người bản ngữ, trong khi điều này thường khôngxảy ra với chương trình CLIL; Về thời điểm bắt đầu học, người học chương trìnhImmersion thường bắt đầu sớm hơn, trong khi với phương pháp CLIL người họctrước đó sẽ học ngôn ngữ mới theo hình thức truyền thống thông thường và sau đómới phát triển toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ với phương pháp CLIL; Các tài liệu

Trang 8

được sử dụng trong các chương trình Immersion thường là được sử dụng chongười bản ngữ, còn với CLIL các tài liệu thường mang tính chất “bắc cầu”, nóimột cách dễ hiểu là tài liệu được sử dụng có thể là của tại địa phương/ quốc gia đóchứ không phải của các nước bản ngữ; Người di cư thường sẽ học chương trìnhImmersion hơn là CLIL; CLIL vẫn là một phương pháp mới và đang được nghiêncứu, phát triển trong khi Immersion đã phổ biến nhiều thập kỷ

Có thể nói, mục tiêu mà các phương pháp này hướng tới chính là một trong nhữngđiểm phân biệt chính yếu Mary Spratt (2011) đã chỉ ra tính liên tục giữa CLIL vớiBilingual Education và Content-based Language Teaching:

Hình 1 1 Tính liên tục giữa CLIL với Bilingual Education (Giáo dục song ngữ) và Content-based Language Teaching (Dạy học dựa trên nội dung) (Mary Spratt, 2011)

Hình 1.1 cho thấy, trong khi Bilingual Education (Giáo dục song ngữ) tập trungvào mục tiêu của môn học và Content-based Language Teaching (Dạy học dựa trênnội dung) tập trung vào mục tiêu ngôn ngữ, thì CLIL hướng đến “mục tiêu kép” vềcả môn học lẫn ngôn ngữ, là điểm cân bằng giữa hai phương pháp dạy học nói trên.Đây là một hình thức học tập ngôn ngữ một cách tự nhiên phù hợp với từng đốitượng học sinh và phong cách học tập khác nhau Nó góp phần thúc đẩy phát triểnđồng thời kĩ năng ngôn ngữ và năng lực tư duy của học sinh Cách tiếp cận nàythực sự là một luồng gió mới trong việc học tập của học sinh, đặc biệt là rất phùhợp với trẻ nhỏ CLIL tạo điều kiện để người học tiếp nhận ngôn ngữ trong môitrường tự nhiên nhất khi tham gia vào các hoạt động của lớp học bộ môn Tư duy

Trang 9

bằng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ có thể thúc đẩy động lực học tập của học sinh;đồng thời có thể phát triển kiến thức, kĩ năng môn học và năng lực ngôn ngữ Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng trong chính bản thân CLIL có hai mô hình,được xác định tùy vào trọng tâm và mục tiêu dạy học, đó là: CLIL mềm và CLILcứng Trong mô hình CLIL mềm, mục tiêu dạy học tập trung chủ yếu vào ngônngữ, tức là một số nội dung hoặc chủ đề của chương trình môn học nào đó ngoàingoại ngữ được dùng để dạy trong tiết học ngoại ngữ Trong khi đó, mục tiêu dạyhọc của mô hình CLIL cứng tập trung chủ yếu vào nội dung môn học, khi đóchương trình môn học (hoặc một phần của chương trình môn học) được giảng dạybằng ngôn ngữ thứ hai (ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ mà HS cần tiếp nhận).Mô hình trung gian giữa hai mô hình này được gọi là chương trình CLIL theo mô-đun, nghĩa là một số môn học khoa học hay nghệ thuật được giảng dạy trong mộtsố giờ nhất định bằng ngôn ngữ thứ hai

Bảng 1 1 Mô hình CLIL (Bentley, 2020)

45 phút/tuần Một số chủ đề/nội dung học

thuật được dạy trong một số tiết của chương trình ngoại ngữ

Môn học chủ đạo (mô-đun)

15 giờ/học kỳ Một số chủ đề/nội dung của

môn học được chọn để dạy bằng ngôn ngữ thứ hai trong một số tiết nhất định của chương trình môn học đó

Trang 10

(Nguồn: Bentley, 2020)

Như vậy, có thể thấy sự tương đồng giữa hai mô hình CLIL cứng và CLIL mềmvới hai phương pháp Content-based Language Teaching và Bilingual Educationđược đề cập ở trên Điều này là phù hợp khi CLIL được ứng dụng trong dạy học ởnhiều nơi trên thế giới với những cái tên khác nhau

1.1.2 Bốn chữ C của CLIL

Mục tiêu hướng đến trong dạy học ứng dụng phương pháp CLIL là mục tiêu kép,tức là vừa đảm bảo mục tiêu của môn học, vừa đảm bảo mục tiêu ngôn ngữ Chínhvì thế, hai yếu tố ngôn ngữ và học thuật luôn đan xen nhau Tuy nhiên trong một sốtrường hợp, thì vẫn có trường hợp yếu tố này chiếm ưu thế hơn yếu tố kia Nghiêncứu của Coyle (2006) đã đưa ra một khung giả thuyết – khung 4Cs Dựa vào khung4Cs này thì kế hoạch dạy học được thiết kế vừa có thể đảm bảo sự cân bằng giữahai yếu tố nói trên, vừa góp phần tạo nên một tiết học CLIL hiệu quả Đây đượcxem là một trong khung tiêu chí căn bản để xây dựng và lập kế hoạch dạy học theomô hình CLIL

Trang 11

Hình 1 2 Khung 4Cs trong CLIL (Coyle, 2006, pp.10)

Khung 4Cs bao gồm bốn thành tố: Culture (Văn hóa), Communication (Giao tiếp),Content (Nội dung) và Cognition (Nhận thức) Ba thành tố (Communication –Content – Cognition) tạo thành 3 đỉnh của một tam giác, các cạnh tam giác thể hiệnmối quan hệ tương hổ giữa chúng Tất cả ba thành tố này đều tập trung vào tâmtam giác – Culture với mục tiêu cốt lõi sau cùng là phát triển văn hóa của ngườihọc, từ mặt nhận thức kiến thức đến khả năng giao tiếp và sự hình thành văn hóariêng của người học

• Content (Nội dung môn học): có thể ứng dụng phương pháp CLIL trong dạy họcnhiều môn học như Toán, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tinhọc, Bên cạnh đó, CLIL cũng được ứng dụng trong những chương trình ngoạikhóa, hoặc tích hợp liên môn Nội dung mà HS cần lĩnh hội là những khái niệm, sựkiện, từ vựng, Khi ứng dụng CLIL trong dạy học bất kì môn học nào, cần chú ýrằng không được tổ chức nội dung dạy học một cách độc lập, riêng lẻ, mà phải đặt

Trang 12

trong quá trình phát triển tư duy – nhận thức, ngôn ngữ và hiểu biết liên văn hóa.Tức là cần xem xét nội dung trên cơ sở là nhu cầu ngôn ngữ và nền tảng văn hóa,từ đó người học tư duy và có những hiểu biết cũng như kỹ năng cho bản thân

• Communication(Giaotiếp):CLILkhuyếnkhíchHSgiaotiếpcóýnghĩa,luyện tập thựchành ngôn ngữ thứ hai ở cả hai hình thức nói và viết bằng cách tham các hoạt độngcủa tiết học bộ môn Bằng cách đó, ngôn ngữ vừa được sử dụng để học tập, vừađược sử dụng để giao tiếp và vừa được sử dụng để tư duy và lĩnh hội kiến thức.Nói một cách khác, ngôn ngữ vừa là công cụ để học tập, vừa là công cụ để giaotiếp Coyle (2010, pp 36) đã thể hiện tiến trình tiếp nhận ngôn ngữ trong CLILbằng mô hình tam giác như sau:

Hình 1 3 Mô hình tam giác về tiến trình tiếp nhận ngôn ngữ trong CLIL (Coyle, 2010,

pp.36)

Language of learning tức là những từ vừng, những cấu trúc ngữ pháp mà HS sẽđược tiếp nhận trong quá trình học; Language for learning là những kĩ năng ngônngữ sẵn có của HS để tham gia vào lớp học, để hiểu bài giảng và để đặt câu hỏi;Language through learning là môi trường ngôn ngữ để HS học tri thức chuyên

Trang 13

ngành và tiếp nhận ngôn ngữ mới Như vậy, HS vừa học cách sử dụng ngôn ngữ vàvừa sử dụng ngôn ngữ để học, cho nên ngôn ngữ minh bạch để dễ dàng tiếp cận làđiều quan trọng

• Cognition(Nhậnthức): để có thể tiếp thu tốt kiến thức môn học, HS cần được thúcđẩy các thao tác tư duy, đặc biệt là các thao tác tư duy bậc cao GV có thể tạo rađược thách thức để học sinh liên tục tư duy, tức là việc dạy học CLIL đã diễn ramột cách hiệu quả Thông thường, người ta sử dụng thang đo nhận thức Bloomnhư là một công cụ phổ biến để xác định mức độ tư duy của các hoạt động giáodục khi lên kế hoạch dạy học theo CLIL Các mức độ tư duy được thiết kế từ thấpđến cao để học sinh trong lớp học CLIL có thể đạt được đến mức độ cao nhất – đâycũng chính là mục tiêu nhắm đến của dạy học CLIL Dưới đây là thang đo nhậnthức Bloom đã được cải tiến bởi Lorin Anderson:

Hình 1 4 Thang đo nhận thức Bloom (sơ đồ hoá dựa trên Anderson và Krathwohl, 2001, pp 67-68)

Trang 14

Culture (Văn hóa): Văn hóa là nhân tố trung tâm của CLIL, là nền tảng và là kếtnối của ba nhân tố còn lại Mục tiêu của nhân tố văn hóa trong CLIL là phát triểnnăng lực đa ngôn ngữ cho người học, bao gồm cả nâng cao nhận thức đa văn hóa,nhằm trang bị cho người học hiểu biết quốc tế không chỉ về ngôn ngữ mà còn vềvăn hóa, xã hội để có thể giao tiếp và tiếp tục học tập hoặc làm việc hiệu quả trongmọi hoàn cảnh Người học không đơn thuần chỉ khám phá những quốc gia khác,mà còn phải khám phá chính đất nước, khu vực mình đang sống, thậm chí là khámphá chính bản thân mình; bên cạnh đó, cần được giáo dục thái độ, ý thức, tráchnhiệm trở thành người công dân toàn cầu cũng như tại đất nước, khu vực mình sinhsống Đôi khi, chữ C thứ tư cũng được định nghĩa là Community (Cộng đồng) hoặcCitizenship (Công dân) Do đó, trong thiết kế kế hoạch dạy học và trong quá trìnhthực hiện giảng dạy, GV cần tạo điều kiện cho HS cảm thấy được bản thân các emlà một thành viên trong một cộng đồng học tập đa dạng, phong phú, giúp HS nhậnthấy vai trò của mình trong lớp học, giúp HS có được sự tự tin và các kỹ năng cầnthiết để làm việc nhóm, biết cân bằng giữa nhu cầu của thân và các cộng sự Vìvậy, dạy học CLIL thật sự cần sự hợp tác không chỉ giữa GV và HS mà là cả tậpthể các GV, các HS và các phụ huynh HS

1.1.3 Nội dung và ngôn ngữ trong dạy học Toán bằng tiếng Anh theo hướng

tiếp cận CLIL.

Dạy Toán bằng tiếng Anh theo quan điểm CLIL là dạy môn Toán thông qua tiếngAnh và tiếng Anh được học trong suốt quá trình đó, tạo ra sự giao thoa của ba

“ngôn ngữ” Tiếng Việt, Tiếng Anh và “ngôn ngữ” Toán để vừa có thể học Toán vàtiếng Anh đạt hiệu quả cùng một lúc

Vì vậy, một bài giảng Toán bằng tiếng Anh theo quan điểm CLIL (gọi tắt là bàihọc CLIL) không phải là một bài học môn tiếng Anh cũng không phải là một bàihọc của môn Toán, nó là sự kết hợp của cả hai

Trang 15

Tây Ban Nha là một trong những quốc gia đứng đầu Châu Âu trong việc nghiêncứu và áp dụng thành công CLIL Sự phong phú và đa dạng văn hóa và ngôn ngữcủa đất nước này cho phép thực hành CLIL một cách rộng rãi CLIL được triểnkhai theo từng vùng trên cả nước;nhưng chủ yếu chia theo hai nhóm vùng chính làvùng đơn ngữ và vùng song ngữ Vùng đơn ngữ (tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữchính thức) các môn học sẽ được dạy từ tiểu học đến trung học bằng một hoặc haingoại ngữ Vùng song ngữ (có một ngôn ngữ khác đồng chính thức với tiếng TâyBan Nha: gồm sứ Basque, Catalan, Galicia, Valencia) các môn học sẽ được dạy từtiểu học đến trung học bắt buộc bằng hai ngôn ngữ đồng chính thức của vùng vàbằng một hoặc hai ngoại ngữ.Ở nước này, người ta không chỉ dạy Toán và các mônkhoa học tự nhiên theo CLIL mà cả các môn khoa học xã hội như Lịch sử theoCLIL.Vùng song ngữ sẽ mang những kinh nghiệm CLIL cho vùng đơn ngữ nênTây Ban Nha nhanh chóng thành công với CLIL giúp nước này thúc đẩy nhanhquá trình đa ngôn ngữ mà việc phát triển đa dạng ngôn ngữ đáp ứng yêu cầu củatoàn cầu hóa là một trong những quyết sách chiến lược của Châu Âu trong thập kỉqua

Theo CLIL việc dạy Toán bằng tiếng Anh mang lại nhiều lợi ích DTBTA chophép học sinh thấy tiếng Anh không chỉ là môn học thuần túy mà có thể dùng tiếngAnh để thảo luận về những vấn đề liên quan đến các môn học khác

Toán học là môn khoa học cơ bản nên những vấn đề nghiên cứu của Toán liênquan đến nhiều lĩnh vực khác nhau: Lịch sử (trong nghiên cứu khảo cổ); Kinhtế(trong sử lí dữ kiện thống kê); xác suất và ứng dụng của nó (thiên văn học, yhọc), kiến trúc

Giải Toán sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dễ dàng trao đổi và tranh luận vớinhau, tức là dùng tiếng Anh nhiều hơn, giúp học sinh chủ động hơn trong việc nóivà viết tiếng Anh của mình

Ngày đăng: 25/09/2023, 07:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1 Tính liên tục giữa CLIL với Bilingual Education (Giáo dục song ngữ) và Content-based Language Teaching (Dạy học dựa trên nội dung) (Mary Spratt, 2011) - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 1 Tính liên tục giữa CLIL với Bilingual Education (Giáo dục song ngữ) và Content-based Language Teaching (Dạy học dựa trên nội dung) (Mary Spratt, 2011) (Trang 8)
Bảng 1. 1 Mô hình CLIL (Bentley, 2020) - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Bảng 1. 1 Mô hình CLIL (Bentley, 2020) (Trang 9)
Hình 1. 2 Khung 4Cs trong CLIL (Coyle, 2006, pp.10) - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 2 Khung 4Cs trong CLIL (Coyle, 2006, pp.10) (Trang 11)
Hình 1. 3 Mô hình tam giác về tiến trình tiếp nhận ngôn ngữ trong CLIL (Coyle, 2010, - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 3 Mô hình tam giác về tiến trình tiếp nhận ngôn ngữ trong CLIL (Coyle, 2010, (Trang 12)
Hình 1. 4 Thang đo nhận thức Bloom (sơ đồ hoá dựa trên Anderson và Krathwohl, 2001, pp - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 4 Thang đo nhận thức Bloom (sơ đồ hoá dựa trên Anderson và Krathwohl, 2001, pp (Trang 13)
Hình 1. 5 Kết quả khảo sát về khó khăn về khả năng phát âm tiếng Anh trong dạy Toán - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 5 Kết quả khảo sát về khó khăn về khả năng phát âm tiếng Anh trong dạy Toán (Trang 21)
Hình 1. 6 Kết quả khảo sát về khó khăn về khả năng ngữ pháp tiếng Anh trong dạy Toán - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 6 Kết quả khảo sát về khó khăn về khả năng ngữ pháp tiếng Anh trong dạy Toán (Trang 22)
Hình 1. 7 Kết quả khảo sát về khó khăn về thiếu vốn từ vựng chuyên ngành trong dạy - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 7 Kết quả khảo sát về khó khăn về thiếu vốn từ vựng chuyên ngành trong dạy (Trang 23)
Hình 1. 8 Kết quả khảo sát về thiếu tài liệu - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 8 Kết quả khảo sát về thiếu tài liệu (Trang 24)
Hình 1. 10 Hiểu biết của các giáo viên tham gia khảo sát về phương pháp CLIL - Dạy học toán bằng tiếng anh chủ đề số học cho học sinh lớp 6 theo hướng tiếp cận clil
Hình 1. 10 Hiểu biết của các giáo viên tham gia khảo sát về phương pháp CLIL (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w