1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh và thành viên công ty hợp danh so sánh với pháp luật nước ngoài

15 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Trách Nhiệm Tài Sản Của Công Ty Hợp Danh Và Thành Viên Công Ty Hợp Danh So Sánh Với Pháp Luật Nước Ngoài
Tác giả Đỗ Hồng Nhung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Bài Tập Học Kì
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, CTHD là doanh nghiệp, trong đó: - Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung sau đây gọi là thành viên hợp danh; ngo

Trang 1

Nội dung I/ Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công ty hợp danh theo Luật DN năm 2005 1/ Khái niệm công ty hợp danh:

Khái niệm CTHD trong pháp luật Việt Nam mà cụ thể là LDN năm 2005 được xây dựng dưới dạng liệt kê các đặc điểm của công ty hợp danh (Điều 130 LDN năm 2005) Theo đó, CTHD là doanh nghiệp, trong đó:

- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của

mình về các nghĩa vụ của công ty;

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi

số vốn đã góp vào công ty

Có thể thấy, nội hàm của khái niệm CTHD ở Việt Nam tương đối rộng Căn cứ vào tính chất thành viên và chế độ chịu trách nhiệm tài sản thì CTHD theo LDN năm

2005 được chia làm hai loại: công ty hợp danh chỉ có thành viên hợp danh; công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn

2/ Đặc điểm pháp lý của công ty hợp danh:

Theo LDN năm 2005, CTHD là doanh nghiệp thỏa mãn các đặc trưng pháp lý sau:

Thứ nhất, về thành viên công ty CTHD phải có ít nhất hai thành viên hợp

danh là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn CTHD ở Việt Nam có thể chỉ có 1 loại thành viên duy nhất là thành viên hợp danh hoặc có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Theo quy định hiện nay, CTHD dù có một hay hai loại thành viên đều phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh LDN năm 2005 không quy định

số lượng tối thiểu các thành viên góp vốn

Thứ hai, về chế độ chịu trách nhiệm Các thành viên hợp danh phải chiu trách

nhiệm liên đới và vô hạn với mọi khoản nợ của công ty, chế độ trách nhiệm vô hạn; còn thành viên góp vốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp vào công ty Những CTHD có thành viên góp vốn sẽ tồn tại hai chế độ trách nhiệm trong công ty Đây là

Trang 2

điểm khác biệt rõ ràng và căn bản nhất để phân biệt CTHD với các loại hình khác khi

mà các công ty đó luôn tồn tại một chế độ trach nhiệm chung và duy nhất cho toàn bộ thành viên công ty

Thứ ba, về chuyển nhượng phần vốn góp Vốn trong CTHD chính là số vốn

mà các thành viên góp vào vốn điều lệ của CTHD CTHD là công ty đối nhân, do đó yếu tố nhân thân đóng vai trò chủ đạo Khác với các công ty đối vốn, tài sản góp vốn vào CTHD rất đa dạng không chỉ là những tài sản mang giá trị vật chất thông thường, tài sản góp vào CTHD có thể là bí quyết công nghề, kinh nghiệm, hay danh tiếng… Loại vốn góp đặc biệt này chỉ áp dụng với thành viên hợp danh Ngoài ra còn có phần vốn góp mang tính truyền thống của thành viên góp vốn như: tiền, vàng…

Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, số vốn điều lệ của CTHD

ít nhất cũng phải bằng số vốn pháp định Trong suốt quá trình hoạt động cảu mình CTHD chỉ có thể huy đọng vốn điều lệ của mình bằng cách tiếp nhận thành viên hợp danh mới hoặc tăng vốn góp của các thành viên Pháp luật không cho phép thành viên hợp danh chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự đồng ý của các thành viên còn lại Quy định này là hoàn toàn hợp lý khi mà CTHD được thành lập dựa trên sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên hợp danh, giữa họ yếu tố nhân thân mới là quan trọng

Thứ tư, vấn đề phát hành chứng khoán Hiện nay, theo khoản 3 Điều 130

LDN năm 2005, CTHD không được phép phát hành bất kì một loại chứng khoán nào Điều này bắt nguồn từ tính đối nhân của công ty hợp danh Nếu công ty phát hành cổ phiếu như công ty cổ phần, công ty sẽ có thêm các chủ sở hữu cùng có quyền quản lý

công ty Như vậy, tính chất “đóng” của CTHD sẽ không còn nữa Tuy nhiên, việc

pháp luật không cho phép CTHD phát hành trái phiếu là không công bằng với loại hình công ty này, bởi lẽ nội dung pháp lý này có thể là phù hợp trong ngữ cảnh của LDN năm 1999, khi mà thời điểm đó CTHD không được thừa nhận là một pháp nhân

Thứ năm, tư cách pháp lý của công ty hợp danh Khoản 2 Điều 130 LDN năm

2005 quy định: “CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh” Quan điểm này thể hiện quan điểm mới của các nhà làm luật

được chuyển tải trong LDN năm 2005 so với LDN năm 1999 Từ khi LDN năm 2005 chính thức có hiệu lực, vấn đề tư cách pháp nhân của CTHD là một vấn dề được nhiều người quan tâm và bàn luận

Trang 3

II/ Trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh và thành viên công ty hợp danh 1/ Trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh

LDN năm 2005 công nhận tư cách pháp nhân của CTHD, theo đó, khoản 2

Điều 130 quy định: “CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng

nhận đăng kí kinh doanh”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 84 BLDS năm 2005 điều kiện để một tổ chức

được công nhận là pháp nhân là phải “có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và

tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó” Nhưng ở CTHD thì tài sản của công ty không

hoàn toàn độc lập với tài sản của các thành viên công ty hợp danh, do chế độ trách nhiệm vô hạn mà các thành viên này phải chịu trong trường hợp tài sản của công ty không đủ để hoàn thành nghĩa vụ của mình thì các thành viên khác phải chịu trách nhiệm trả nợ thay cho công ty bằng toàn bộ tài sản của mình.Với tư duy tiếp cận như vậy, đây là quan điểm cho rằng không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và thành viên công ty, cụ thể là thành viên hợp danh Như thế, việc công ty hợp danh không thể là pháp nhân không phải không có nhân tố hợp lý

Quan điểm khác (cũng là quan điểm của các nhà soạn thảo LDN năm 2005) cho rằng, việc công ty hợp danh có tư cách pháp nhân là hoàn toàn hợp lý và không có sự mâu thuẫn với khái niệm pháp nhân của BLDS năm 2005 Bởi:

+ CTHD có những thành viên phải chịu chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn nhưng công

ty vẫn có tài sản độc lập Điều 132 LDN năm 2005 quy định: “Tài sản của công ty

hợp danh bao gồm:

- Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;

- Tài sản tạo lập được mang tên công ty;

- Tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do các thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty do các thành viên hợp danh nhân danh cá nhân thực hiện;

- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật”

+ Thực tế cũng không có ảnh hưởng gì về lý luận pháp lý khi thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD, vì BLDS là luật chung, còn luật doanh nghiệp là luật chuyên ngành,

Vì vậy cũng có thể coi, việc thừa nhận CTHD có tư cách pháp nhân trong khi vẫn quy định có ít nhất hai thành viên chịu trách nhiệm vô hạn là một ngoại lệ của luật doanh nghiệp so với quy định về pháp nhân trong BLDS

Trang 4

+ CTHD cũng có tên gọi, trụ sở, quốc tịch, sản nghiệp, ý chí và trách nhiệm Điều đó

có thể cho thấy không thể quy định CTHD là một cái gì đó hơn pháp nhân Còn các thành viên công ty xét về mặt pháp lý là những người bảo lãnh liên đới cho các hoạt động của công ty Hoàn toàn có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của các thành viên khác

LDN có thể quy định CTHD là pháp nhân vì mục đích riêng của luật Các nhà làm luật có thể ban cho loại công ty này tư cách pháp nhân, mặc dù nó có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn Dĩ nhiên, các nhà làm luật có thể lập luận điều đó vì một lợi ích lớn hơn Bởi vậy, vấn đề đặt ra ở đây là lợi ích đó là gì? Việc công nhận công ty hợp danh là pháp nhân có thể tạo nên một loại hình doanh nghiệp phù hợp cho các nhà đầu

tư thành lập doanh nghiệp (thành viên hợp danh) lựa chọn loại doanh nghiệp có chế

độ trách nhiệm vô hạn, nhưng lại có tư cách pháp nhân Một mặt, chế độ trách nhiệm

vô hạn bất lợi cho thành viên hợp danh vì không được hạn chế rủi ro Nhưng mặt khác, chế độ trách nhiệm vô hạn lại nâng uy tín tín dụng của công ty trong giao dịch pháp luật Tư cách pháp nhân giúp công ty có được khả năng gia nhập thị trường như các loại công ty khác

Như vậy có thể khẳng định trách nhiệm tài sản của CTHD là chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn mặc dù đây là loại hình công ty có tư cách pháp nhân

2/ Trách nhiệm tài sản của thành viên công ty hợp danh:

a/ Với thành viên hợp danh:

Theo điểm b khoản 1 Điều 130 LDN (2005), CTHD phải có ít nhất hai thành viên hợp danh và thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với nghĩa vụ của công ty

là trách nhiệm vô hạn và liên đới Điều này có nghĩa là các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình, bao gồm tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự Các chủ nợ có quyền yêu cầu bất kì ai trong số các thành viên này thanh toán hết mọi khoản nợ của công ty đối với họ

Thành viên hợp danh là những người quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty hợp danh Họ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty kể từ khi đăng kí vào bản danh sách thành viên bất kể họ có trực tiếp tham gia quản lý, điều hành công ty hay không nếu Điều lệ không có quy định khác Họ là những thành viên

Trang 5

năm giữ quyền quản lý công ty Do đó, pháp luật cũng có những đòi hỏi khắt khe hơn đối với loại thành viên này:

Thứ nhất, trong một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện như tư vấn pháp lý,

khám chữa bệnh…, pháp luật hiện hành yêu cầu các thành viên hợp danh phải có trình

độ chuyên môn, có chứng chỉ hành nghề hoặc bằng cấp nghiệp vụ nhất định

Thứ hai, LDN (2005) cũng đưa ra những hạn chế đối với quyền của thành viên

hợp danh với mục đích bảo vệ quyền lợi của chính công ty, những thành viên hợp danh khác và những người có liên quan (Điều 133 LDN năm 2005):

- Khoản 1 Điều 133 LDN (2005) quy định: “Thành viên hợp danh không được làm

chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại” Quy định này là

một điểm mới so với LDN (1999), tuy nhiên bên trong nó vẫn còn ẩn chứa bất cập

- Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

- Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại

Việc LDN năm 2005 quy định về những hạn chế này cũng nhằm đảm bảo thực hiện trách nhiệm tài sản vô hạn của thành viên hợp danh đối với công ty khi có phát sinh rủi ro hoặc nghĩa vụ tài chính với khách hàng

Thứ ba, về vấn đề thay đổi cơ cấu thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.

Với quy định hiện hành, công ty hợp danh có thể tiếp nhận thành viên mới Tuy nhiên, việc này phải được ba phần tư tổng số thành viên chấp nhận nếu Điều lệ không có quy định khác Thành viên hợp danh mới cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi nghĩa vụ tài sản của công ty nếu không có sự thỏa thuận khác giữa các thành viên hợp danh Quy định này cũng áp dụng đối với người thừa kế của thành viên hợp danh

Theo Điều 138 LDN (2005), tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau:

- Tự nguyện rút vốn khỏi công ty LDN (2005) đã cho phép các thành viên hợp danh

được tự nguyện rút vốn Tuy nhiên, việc tự nguyện rút vốn chỉ được coi là hợp lệ nếu

Trang 6

được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận (nếu Điều lệ không quy định khác) Thành viên muốn rút vốn khỏi công ty phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất sáu tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua

- Chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Trong trường hợp này, người được thừa kế

của thành viên đó được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó Người thừa kế cũng có cơ hội trở thành thành viên hợp danh của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp nhận

- Bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực

hành vi dân sự Khi một thành viên hợp danh rơi vào tình trạng này nghĩa là thành

viên đó không thể thực hiện việc điều hành, quản lý công ty cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Như vậy, tư cách thành viên của họ chấm dứt và khi ấy phần vốn góp của họ được hoàn trả công bằng và thỏa đáng

- Bị khai trừ khỏi công ty Thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty trong các

trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 138 LDN (2005)

- Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

Trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh trong trường hợp thành viên hợp danh đó tự nguyện rút vốn và trong trường hợp bị khai trừ, thành viên hợp danh ấy vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty phát sinh trước thời điểm chấm dứt tư cách thành viên

Bên cạnh đó, điểm đ khoản 2 Điều 134 quy định rõ hơn về việc thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải hết số nợ của công ty Như vậy trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh chỉ được xác lập khi tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán nợ, nghĩa là khi đó chủ nợ có quyền yêu cầu bất cứ thành viên hợp danh nào thanh toán toàn bộ số nợ còn lại của mình Thành viên hợp danh đã thanh toán nợ cho chủ nợ có quyền yêu cầu các thành viên hợp danh khác thanh toán lại cho mình phần nợ mà mình đã thanh toán tương ứng với nghĩa vụ của từng thành viên hợp danh

Ngoài ra chúng ta cũng cần lưu ý về nghĩa vụ của thành viên hợp danh với người thứ ba, nhằm hài hòa lợi ích của hai bên:

Trang 7

- Chủ nợ chỉ được yêu cầu thành viên hợp danh thanh toán cho công ty khi đã yêu cầu CTHD nhưng không được thanh toán Nên quy định là nếu sau một khoảng thời gian

kể từ ngày chủ nợ gửi giấy đòi nợ đến công ty mà không có kết quả thì chủ nợ được quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán nợ cho công ty;

- Chủ nợ chỉ được yêu cầu thành viên hợp danh thanh toán cho công ty khi chứng minh được rằng, thực sự công ty phải trả họ một khoản nợ vì các thành viên hợp danh chỉ là người thanh toán thay cho công ty Nếu khoản nợ đó không có hoặc không còn nữa thì các thành viên đó không phải thanh toán Ví dụ, theo Điều 51, Luật Phá sản

năm 2004: "Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết

định của tòa án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho tòa án, trong

đó nêu cụ thể cáckhoản nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải trả… Hết thời hạn này các chủ

nợ không gửi giấy đòi nợ đến toà án thì coi là từ bỏ quyền đòi nợ" Vậy, nếu chủ nợ

không gửi giấy nợ cho tòa án theo thời gian quy định làm mất quyền đòi nợ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và cũng không được quyền yêu cầu các thành viên hợp danh trả nợ cho công ty

b/ Với thành viên góp vốn:

Thành viên góp vốn trong công ty hợp danh có thể là tổ chức hoặc cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp Đây là điểm khác biệt của loại thành viên này với thành viên hợp danh Mọi tổ chức, cá nhân đều có thể trở thành thành viên góp vốn trừ các đối tượng được quy định tại Khoản 4 Điều 13 LDN năm 2005

Liên quan đến vấn đề giới hạn trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công

ty hợp danh, LDN năm 2005 hiện đang có sự mâu thuẫn giữa Điểm c khoản 1 Điều

130 với khoản 3 Điều 131 và khoản 2 Điều 140 Điểm c khoản 1 Điều 130 quy định:

“Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi

số vốn đã góp vào công ty” Tuy nhiên, khoản 3 Điều 131 lại quy định: “trường hợp

có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa

góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty” Và điểm a khoản 2

điều 140 cũng quy định: “Thành viên góp vốn có các nghĩa vụ chịu trách nhiệm về

các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết

góp”.

Trang 8

Rõ ràng, các quy định của LDN (2005) đã không thống nhất trong việc quy định về giới hạn trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh gây ra nhiều khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật Tuy nhiên theo nguyên tắc áp dụng pháp luật thì luật riêng, luật chuyên ngành không quy định mới áp dụng các quy định chung của pháp luật Khi các quy định riêng mâu thuẫn với quy định chung thì quy định riêng được ưu tiên áp dụng trước Mà quy định tại Điều 131 và Điều 140 là những quy định riêng, cụ thể về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên góp vốn, còn Điều 130 là quy phạm định nghĩa Do vậy, chúng ta nên hiểu trách nhiệm của thành viên góp vốn theo tinh thần Điều 131 và Điều 140

Với chế độ trách nhiệm hữu hạn của mình, thành viên góp vốn không được quyền quản lý, điều hành CTHD Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi trong CTHD, TVHD phải gánh chịu chế độ trách nhiệm liên đới và vô hạn, mọi kết quả hoạt động kinh doanh của công ty đều ảnh hưởng rất lớn đến loại thành viên này Khi công ty không hoàn thành đủ nghĩa vụ đối với chủ nợ thì TVHD là những người phải bỏ tiền túi cá nhân của mình ra để trả nợ Như vậy, người quản lý, điều hành công ty không cẩn trọng dẫn đến công ty bị phá sản thì các thành viên hợp danh rất dẫn đến khánh kiệt tài sản Vì vậy hơn ai hết thành viên hợp danh phải có quyền quản lý, điều hành công ty

Thành viên góp vốn là những người chịu trách nhiệm trong phần vốn đã cam kết góp vào công ty, nếu cho loại thành viên này được quyền quản lý cũng như hoạt động nhân danh công ty thì rất có thể ảnh hưởng đến thành viên hợp danh và bên thứ

ba giao dịch Cũng do tính chất vai trò của thành viên góp vốn mà pháp luật hiện hành không yêu cầu thành viên này phải có chứng chỉ hành nghề ngay cả đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Quyền và nghĩa vụ cụ thể của thành viên góp vốn được quy định tại Điều 140 LDN năm 2005

Là một thành viên của công ty đối nhân nhưng thành viên góp vốn lại được hưởng chế độ trách nhiệm như thành viên công ty đối vốn Chính điều này đã dẫn đến

sự khác biệt về thân phận pháp lý giữa hai loại thành viên của công ty

Qua phần trình bày trên, chúng ta có thể thấy được trách nhiệm tài sản của CTHD là chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn trong đó thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty khi tài sản của công ty không

Trang 9

đủ để trang trải và thành viên góp vốn thì chỉ phải chịu chế độ trách nhiệm hữu hạn, trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp vào công ty

III/ So sánh với pháp luật nước ngoài

Quan niệm của các quốc gia khác nhau về công ty nói chung và CTHD nói riêng rất đa dạng Do ảnh hưởng của chính sách thương mại, do cách nhìn nhận chủ quản của các nhà lập pháp và do một số yêu tố nhất định khác đã tạo ra những khái niệm pháp lý rất đa dạng về công ty và CTHD ở mỗi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên

sự khác nhau cũng chỉ ở một mức độ nhất định, trên một bình diện nào đó thì tất cả các loại công ty đều có chung một bản chất, dựa vào bản chất ấy mà ở mỗi nước, pháp luật lại nhìn nhận công ty trên những quan điểm khác biệt Trong giới hạn tìm hiểu về trách nhiệm tài sản của CTHD và thành viên CTHD, sau đây chúng ta sẽ xem xét vấn

đề này ở một quốc gia khác để qua đó so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật nước ngoài, mà cụ thể ở đây là Thụy Điển

1/ Pháp luật về công ty hợp danh của Thụy Điển:

Theo quy định của Pháp luật Thụy Điển thì có ít nhất là ba loại hình công ty

hợp danh, đó là: (Theo Carl Hemstruem “Corporations anh partnership in Sweden”,

Fritez, 1995, p.19)

- Công ty hợp danh đơn giản (the simple partnership)

- Công ty hợp danh thương mại (the trading partnership)\

- Công ty hợp danh hữu hạn (the limited partnership)

Đối với ba loại hình CTHD này cần phải bổ sung thêm một loại công ty đó là

kiểu công ty ẩn danh “silent partnership”, đây là kiểu công ty do một người trong số

hội viên của công ty đứng tên điều hành công việc buôn bán và các hội viên khác chỉ đóng góp vốn vào công ty mà không có tên, tức là các hội viên khác không xuất hiện trong giao dịch

a/ Đối với CTHD đơn giản, trong pháp luật của Thụy Điển là một loại hình cơ bản.

Loại công ty này được hình thành từ rất sớm do hai hoặc một số nhóm người hay một

tổ chức đồng ý hợp tác để thực hiện một mục đích chung, sự thỏa thuận này bao gồm các công việc kinh doanh từ mỗi một thành viên Việc thỏa thuận thành lập CTHD phải được viết bằng văn bản nhằm thể hiện sự đồng ý của những người tham gia thành

Trang 10

lập, đôi khi việc thỏa thuận có thể bằng miệng nhưng phải đáp ứng được yêu cầu của pháp luật

Theo quy định của pháp luật Thụy Điển, CTHD đơn giản không phải là một pháp nhân, mà chỉ là quan hệ hợp đồng giữa các thành viên Tuy nhiên ngay cả khi CTHD đơn giản không phải là pháp nhân, thì loại công ty này vẫn có thể thực hiện hoạt động kinh doanh, thương mại

Hợp danh phổ thông không có tư cách pháp nhân do đó, quyền và nghĩa vụ nảy sinh từ hoạt động của CTHD vì thế là quyền và nghĩa vụ của cá nhân thành viên mà không phải của công ty Ngoài ra, pháp luật về CTHD của Thụy Điển còn quy định thỏa thuận được thông qua bởi thành viên hoặc theo chỉ định của các thành viên với nhau sẽ dẫn đến các nghĩa vụ và quyền lợi chỉ đối với thành viên đã ký kết hợp đồng

đó mà thôi

b/ Đối với CTHD thương mại, pháp luật Thụy Điển quy định một hợp danh chỉ có tư

cách pháp lý khi nó đã được đăng ký Một hợp danh thương mại có tưu cách pháp lý nghĩa là hợp danh đó có các quyền và nghĩa vụ của mình và có thể tham gia với tư cách nguyên đơn và bị đơn trước tòa án hoặc tham gia với tư cách một chủ thể độc lập trước các cơ quan công quyền khác

Hợp danh thương mại, với tư cách pháp lý của mình phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ của chính mình Tất cả các thành viên hợp danh phải cùng nhau chịu trách nhiệm đối với chủ nợ về những khoản nợ của hợp danh Bất kỳ chủ nợ nào cũng

có thể yêu cầu thanh toán bất kỳ món nợ nào của công ty từ bất kỳ một thành viên hợp danh nào Điều này rất có giá trị không những đối với các chủ nợ mà còn với cả hợp danh và thành viên của hợp danh, vì nó làm cho hợp danh có độ tin cậy cao hơn

Một thành viên hợp danh không thể chuyển tư cách thành viên của mình trong hợp danh cho bên thứ ba trừ khi các thành viên khác đồng ý Quy định này được coi là hậu quả tất yếu của việc một tổ chức trong đó tất cả các thành viên phải chịu trách nhiệm thực sự với tư cách cá nhân về mọi khoản nợ Các thành viên hợp danh cần biết được rằng họ đang làm việc và hợp tác với ai Tuy nhiên, trên thực tế các thành viên hợp danh có thể thỏa thuận khác đi trong điều lệ công ty

Các thành viên hợp danh có thể thỏa thuận với nhau là người thừa kế hoặc một

số người thừa kế của thành viên hợp danh đã chết có thể trờ thành thành viên hợp danh thay thế cho thành viên hợp danh đã chết Nếu thỏa thuận hợp danh không quy

Ngày đăng: 22/09/2023, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w