1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình văn học là gì? Vì sao nói phê bình văn học có thể kìm hãm hay thúc đẩy nền văn học

34 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phê bình văn học là gì? Vì sao nói phê bình văn học có thể kìm hãm hay thúc đẩy nền văn học
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 381,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phê bình văn học là gì? Vì sao nói phê bình văn học có thể kìm hãm hay thúc đẩy nền văn học Phê bình văn học là gì? Phê bình: “Phê bình” trong các ngôn ngữ châu u (tiếng Anh: Criticism, Latinh: Criticus...) đều có gốc Hy Lạp “Kritikos” là “nghệ thuật phân định phán xét”. Trong Từ điển tiếng Việt (2003) giải nghĩa: Phê bình là xem xét, phân tích, đánh giá ưu điểm và khuyết điểm; nêu khuyết điểm để góp ý kiến, để chê trách. Phê bình văn học: Theo Giáo sư Huỳnh Như Phương trong quyển Lý luận văn học được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2014, tại trang 235236 có viết: “Phê bình văn học là một bộ môn nghiên cứu văn học, phê bình văn học gần gũi với sáng tác ở cách biểu hiện thái độ của người viết và văn phong, nên vừa có tính chất khoa học, vừa có tính chất nghệ thuật. Phê bình văn học đưa ra sự đánh giá từ quan điểm hiện đại đối với những hiện tượng văn học đã xuất hiện trong đời sống. Nhà phê bình giúp người đọc nhận thức sâu hơn về tác phẩm và chứng minh cho các nhà văn thấy được những đắc sắc cũng như hạn chế trong sáng tác của họ. Phê bình văn học không thể hoàn thành những nhiệm vụ của mình nếu không dựa trên những thành tựu của lý luận văn học, lịch sử văn học và phương pháp luận nghiên cứu văn học. Phê bình văn học là một phương diện của tiếp nhận văn học, vì vậy cũng cần phải đặt phê bình trong hoạt động tiếp nhận văn học mới thấy hết vai trò của nó ối với đời sống. Tuy nhiên, không phải hễ có tiếp nhận là có phê bình. Bởi vì phê bình là một trình độ cao của tiếp nhận, một sự tiếp nhận có ý thức và có phương hướng.” Đối với nhà nghiên cứu văn học Việt Nam, Lại Nguyên n (1984), ông nhận định: “Theo cách hiểu thông thường (và nói chung là cách hiểu đúng đắn), phê bình văn học là sự luận bàn và bình giá sáng tác văn học, hoặc đúng hơn, sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Có việc sáng tác thơ văn thì tự nhiên là có việc đọc các sáng tác ấy và sau đó là có việc luận bàn, bình giá các sáng tác ấy.” Còn PGS.TS Đỗ Lai Thúy (2010) cho rằng câu hỏi “Phê bình văn học là gì?” là một câu hỏi thuộc loại bản thể luận mà câu trả lời không chỉ có thể có rất nhiều. Ông chia phê bình văn học thành hai cách hiểu: có thể hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông tục của ngôn ngữ thường nhật hay nghĩa hẹp, nghĩa chuyên môn của khoa học văn học. Nghĩa rộng: Phê bình chỉ bất kỳ một sự khen chê, bình phẩm, đánh giá nào về một tác phẩm, một sự kiện văn học, một tác giả, từ vi mô một nhãn tự, một câu văn, một dòng thơ đến vĩ mô một sự nghiệp sáng tạo, một nền văn học dân tộc. Phê bình theo nghĩa rộng thường chỉ biết đến tác phẩm. Một thứ tác phẩm không có liên lạc gì đến tác giả và người đọc. Và người phê bình văn học đứng ngoài hệ thống văn học (tác giảtác phẩmngười đọc) này. Hơn nữa, khi nhận xét tác phẩm, người phê bình thường cũng chỉ coi đó là một cái cớ để phát biểu những ý kiến chủ quan của mình, thảng hoặc nếu có chiếu cố đến tác phẩm thì cũng chỉ để so sánh nó với những nguyên lý đã được định trước, những lời chỉ dạy của thánh hiền, những khuôn vàng thước ngọc của cổ nhân. Bởi vậy, thứ phê bình này rất chú trọng đến ý nghĩa đạo đức của tác phẩm văn học, đôi khi có để mắt tới một cạnh khía nghệ thuật nào đó của nó thì cũng chỉ là để đối chiếu với những quy phạm ngặt nghèo của thể tài, cũng là một thứ đạo đức khác, đạo đức thể loại. Nghĩa hẹp: Phê bình văn học theo nghĩa là một hoạt động chuyên môn thì mãi đến đầu thế kỷ XIX, khi nhân loại đã bước vào Thời đại Mới, mới xuất hiện ở châu u. Đó là một loại hình sinh hoạt văn học gắn liền với văn hóa đô thị. Phê bình này ra đời trên cơ sở báo chí và xuất bản. Chính báo chí đã biến sách vở với tư cách là sản phẩm văn hóa từ một thứ văn hóa quà tặng thành văn hóa hàng hóa. Nhờ máy in và báo chí, thơ văn được xuất bản hàng loạt, đến tay tất cả mọi người, bất kể giàu sang hay nghèo hèn, miễn bỏ tiền ra là mua được. Từ đám đông trở thành công chúng và tạo ra dư luận. Dư luận tác động đến không chỉ nội bộ người đọc, mà, như một thông tin ngược, đến cả người viết, kích thích anh ta sáng tạo tiếp tục. Tư tưởng dân chủ là nền tảng tinh thần của phê bình văn học. Nó thừa nhận mọi công dân đều có quyền phê bình, tức quyền có ý kiến riêng của mình. Phê bình văn học khi có dân chủ, trở thành cuộc đối thoại bình đẳng của thứ quyền lực mới, quyền lực của trí tuệ. Ý thức cá nhân phát triển khiến người ta dám nói, dám bày tỏ ý kiến của mình trước công chúng, nhưng, quan trọng hơn, ý thức cá nhân còn buộc nhà phê bình nhiều khi phải vượt qua tư cách con người nói chung để tiến đến tư cách nhà phê bình. Phê bình là một cuộc đối thoại theo đúng tiêu chí của cái đẹp, nhằm thúc đẩy văn chương dấn thân vào cuộc phiêu lưu tìm những giá trị thẩm mỹ mới. Đánh giá của nhóm về các định nghĩa: Mỗi thế hệ nhà văn, nhà phê bình lại có những nhận định của riêng mình mà câu trả lời của họ có thể không giống với những người cùng thế hệ mình. Tùy vào truyền thống văn hóa và tài năng cá nhân. Qua những quan điểm về câu hỏi “Phê bình văn học là gì?” của các nhà phê bình văn học, nhóm chúng tôi nhận thấy mặc dù có sự khác nhau giữa các quan điểm nhưng nhìn chung tất cả đều có một điểm tương đồng đó là phê bình là sự bình phẩm, đánh giá một sáng tác văn học được thực hiện bởi người có ý thức và trình độ chuyên nghiệp, có năng lực thẩm định văn học. Theo như V.Bielinski, “phê bình là mỹ học vận động”. Câu đó có thể hiểu theo nghĩa “phê bình là biểu hiện sự phát triển của ý thức triết học về văn học, là sự vận dụng, ứng dụng của mỹ học vào công việc phân tích đánh giá tác phẩm văn học”. Đó là thứ “khoa học ứng dụng” của mỹ học, lý luận văn học. Giá trị khoa học ở một bài phê bình là ở sự vận dụng đúng cách các kiến thức khoa học ở mỹ học, ở lý luận văn học để đưa ra các nhận định khen chê. Tất nhiên sự chính xác của lời khen chê phải có căn cứ. Cái “có căn cứ” của lời khen chê chính là mỗi nhận định khen chê được nêu ra đều có các căn cứ phù hợp với nhiều tiêu chuẩn mà số đông người đọc (cả các nhà phê bình chuyên nghiệp) chấp nhận. Phê bình văn học là một bộ môn nghiên cứu văn học và có sự gần gũi với tư duy khoa học nói chung, trước hết là khoa văn học, nghệ thuật học. Các nhà hoạt động chuyên môn ở đây đều phải dùng đến sự lý giải, sự cắt nghĩa đối tượng, chuyển nó sang “ngôn ngữ” của ngành mình. Mỗi hành vi lý giải là một cách đọc. Sự “đọc” dù thế nào cũng là cái gì khác chứ không đồng nhất với chính tác phẩm. Đi vào thế giới của phê bình, của nghệ thuật chuyển thể − là phiêu lưu vào thế giới của vô số những cách đọc. Người ta không chỉ thích đọc trực tiếp tác phẩm mà còn thích “nghe” nói về tác phẩm ấy nữa, nghĩa là cần nghe những cách đọc khác. Nhà phê bình tức là “người đọc chuyên nghiệp” có cái may mắn là người ta muốn nghe cách đọc của mình, ý kiến và suy nghĩ của mình về tác phẩm đã đọc. Uy tín của nhà phê bình bắt đầu từ chỗ ấy. Mỗi cách đọc độc đáo, có bản lĩnh, khi được công chúng nghe thấy, đều làm cho họ ít nhiều “lạ lẫm” với chính tác phẩm để rồi có thể hiểu nó hơn, sự thích thú hay không thích thú đối với nó ở họ sẽ rõ ràng hơn. Phê bình văn học không phải là một ngành khoa học với những đặc điểm, những yêu cầu phát triển giống như các khoa học khác, nhưng không thể vì thế mà coi thường việc áp dụng lý luận khoa học vào các công trình phê bình. Phê bình cần có tính chính luận, tức là cần có sự nhạy bén về tư tưởng chính trị, có tính chiến đấu mạnh mẽ, đồng thời phê bình cũng cần có tính khoa học nghiêm nhặt, không phải chỉ khoa học trong cách dùng ngôn ngữ văn phong mà chủ yếu là khoa học trong cách nhìn nhận và đánh giá, trong quan điểm tiếp cận, trong phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm. Phê bình văn học gần gũi với sáng tác. Nhà phê bình thể hiện những ý kiến của mình bằng chính cái vật liệu ngôn ngữ mà sáng tác văn học sử dụng. Phê bình nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc…) cũng dùng vật liệu ngôn ngữ như của phê bình văn học, và do đó, không thể thuộc vào những nghệ thuật mà nó lấy làm đối tượng tiếp cận. Nếu theo nghĩa rộng của văn học (mọi trứ tác bằng ngôn ngữ) thì cả phê bình văn học lẫn phê bình nghệ thuật hiển nhiên đều là văn học. Phê bình văn học, xét cho cùng, bao giờ cũng phải lấy nghiên cứu tác phẩm làm trung tâm. Mọi tìm kiếm lý thuyết cuối cùng cũng chỉ để đưa ra những kiến giải mới cho tác phẩm hoặc kiến tạo một tác phẩm thứ hai xoay quanh tác phẩm thứ nhất như một cặp sao đôi. 2. Lịch sử hình thành và phát triển của phê bình văn học. Thế giới: Sự nhận xét về văn học, tiền đề của phê bình văn học, có mặt đồng thời với sự xuất hiện của bản thân sáng tác văn học, tức là đã có khoảng 2500 năm trước. Điều này quan sát thấy cả phương Đông (Trung Quốc cổ) lẫn phương Tây (Hy Lạp cổ). Cùng sự phát triển của xã hội, với quá trình biến đổi của văn học, phê bình cũng thay đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn cấu trúc, cả về chức năng lẫn ý nghĩa. Trong sinh lý học phê bình, Albert Thibaudet ghi nhận về phê bình văn học Pháp: “ Phê bình, như chúng ta nhận thức và thực hành ngày nay, là một sản phẩm của thế kỷ XIX. Trước thế kỷ XIX đã xuất hiện những nhà phê bình như Bayle, Freon và Voltaire, Chapelain và dAubignac, Denys d’Halicarnasse , Quintilien. Nhưng chưa hề có nền phê bình. Tôi dùng từ này theo nghĩa vật thể của nó: một bộ phận nhà văn ít nhiều chuyên môn hóa, đã chọn công việc bàn luận về những cuốn sách làm nghề nghiệp của mình...”. Theo ông, để hình thành một nền phê bình chuyên nghiệp, cần phải có ba điều kiện quan trọng. Trước hết đó là sự xác lập một quan hệ về văn học để phân biệt với các lịch vực khác như sử học, triết học, khoa hùng biện... mà trước đó vẫn được gộp chung với văn học trong một phạm trù là “mỹ văn” (belleslettres). Điều kiện thứ hai làm xuất hiện nhà phê bình chuyên nghiệp là sự biến đổi thị yếu và chân trời chờ đọc của độc giả, làm hình thành một lớp công chúng thực sự quan tâm đến văn học. Điều kiện thứ ba là vai trò của báo chí, kênh truyền thông quan trọng đưa người đọc đến gần với văn học và truyền tải những nội dung của phê bình. Những điều kiện đó dẫn đến sự xuất hiện của phê bình chuyên nghiệp ở Pháp trong những năm 1830 1880. Phê bình văn học ở Pháp, những năm 1960 và 1970, trải qua một biến động to lớn và nhanh chóng đạt những thành tựu rực rỡ, “sự lột xác” này như người ta thường nói, của phê bình văn học, là sự biến đổi của tư duy Pháp hiện đại hóa, nó phát triển nhịp nhàng với sự tăng trưởng của khoa học nhân văn, triết học, ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, dân tộc học của loài người thế kỷ X. Việt Nam: Giai đoạn 1: Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX( Văn học viết ra đời song hành là sự xuất hiện của công tác phê bình) Đọc kỹ các bộ lịch sử văn học Việt Nam từ trước đến nay, phê bình văn học đã chịu một số phận hẩm hiu. Có thể xuất phát từ quan niệm rằng phê bình văn học chỉ ra đời với dòng văn học hiện đại mà nhiều nhà nghiên cứu không đề cập đến phê bình trong công trình của mình. Nhưng cũng có một số công trình xác định sự hiện diện của hoạt động lý luận phê bình, mà cũng không bàn sâu thêm là mấy. Đáng chú ý, có bộ sách Văn học Việt Nam thế kỷ X nửa đầu thế kỷ XVIII, Trang 12 của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX và Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc. Công trình của Đinh Gia Khánh...hoàn toàn không đề cập đến khái niệm lý luận nghiên cứu phê bình, chỉ có nhắc qua các lời bàn, lời bình trong Truyền Kỳ mạn lục và các tác phẩm sử học, triết học và chính luận. Riêng Nguyễn Lộc có giành gần hai trang đề cập đến lý luận phê bình trong thời kỳ nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Ông viết: “Những thành tựu về lý luận và phê bình văn học còn hạn chế hơn những thành tựu về nghiên cứu, sưu tầm. Chưa có một tác phẩm lý luận nào ra đời...Mục văn nghệ trong Vân đài loại ngữ, mục Thiên chương trong Kiến văn tiểu lục có thể coi là những luận văn chuyên bàn về văn nghệ, thì trong đấy, Lê Quý Đôn cũng dừng lại ở việc sưu tầm những ý kiến của nhà triết học, các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Trung Quốc về văn học rồi ông bàn thêm”. Phương Lựu trong khi khảo sát tình hình lý luận văn học trước thế kỷ XX, cũng đã căn cứ vào những bài tựa, bài bạt, bài bình mà ông xem là một hình thức phê bình: “Hơn nữa trong thời kỳ cổ cận ở nước ta, tư duy lý thuyết chưa thật sự phát triển, những luận điểm lý luận thường bộc lộ qua việc phê bình cụ thể. Điều đó giải thích tại sao quan niệm văn chương cổ Việt Nam phải coi trọng bài tựa, bài bạt, bài bình… Đương nhiên theo tiêu chuẩn hiện đại thì chưa phải bài phê bình hoàn chỉnh”. Như thế thời điểm ra đời của phê bình văn học Việt Nam vẫn còn là một dấu hỏi lơ lửng. Giai đoạn hai: Từ đầu thế kỷ XX đến nay: Trong hoàn cảnh đi vào con đường hiện đại hóa theo hướng Tây u, văn học Việt Nam đã chứng kiến sự hình thành bước đầu của nền phê bình văn học mang tính chất chuyên nghiệp hóa. Sang nửa sau thế kỷ XX, phê bình văn học Việt Nam đã những bước tiến bước tiến rất to lớn và không chỉ còn ảnh hưởng của riêng Pháp nữa. Bức tranh hiện nay về phê bình Việt Nam do còn khá gần với chúng ta. Bước phát triển của phê bình hiện nay do nhiều con đường, có thể qua: dịch thuật các công trình lớn của phương Tây cả phê bình lẫn các loại sách triết học, khoa học; các công trình viết riêng và viết chung, hệ thống giáo trình văn học phương Tây, các bài nghiên cứu ứng dụng các phương pháp đó trên các tạp chí chuyên ngành; các cuộc trao đổi khoa học giữa Université Paris 7 với Khoa Văn Đại học Tổng hợp (cũ) vào những năm 80; các hội nghị khoa học quốc gia về Tự sự học 2002, các hội nghị về những vấn đề lí luận, phê bình, v.v. Tất cả đều in khá rõ sự ứng dụng phương pháp phê bình, nghiên cứu của phương Tây. Ở giai đoạn này có rất nhiều nhà phê bình tiêu biểu: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mai, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Và còn cả Hoài Thanh. Đặc biệt Hoài Thanh nhà phê bình Việt Nam tài hoa, Ông tên thật Nguyễn Đức Nguyên, bài “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” (đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy ngày 2611935), Thi nhân Việt Nam (1942) cùng với Hoài Chân. Thi nhân Việt Nam đã ra đời trong cái thế cheo leo ấy, như phần lớn những tác phẩm có giá trị thời bấy giờ, cũng tồn tại trong tư thế ấy suốt nửa thế kỷ qua. Nhưng dường như Hoài Thanh ngay từ đầu đã cầm bút không phải chỉ bằng ý thức về nghề mà còn do sự thúc đẩy bởi một cái nghiệp. Đó là thái độ của một người nghệ sĩ đến với văn chương, một người nghệ sĩ yêu thiết tha tiếng nói của giống nòi và hết sức trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung. Ông sớm xác định cho mình những quan niệm về văn học, rất thâm tín, nhất quán và nghiêm ngặt, mà thể hiện tập trung nhất là những bài báo trong cuộc tranh luận được mệnh danh là “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” và trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam. Thi nhân Việt Nam là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có chất lượng khoa học, với sự am hiểu sâu sắc đối tượng nghiên cứu, sự hiểu biết và năng lực thẩm định vững chắc về nghệ thuật thơ ca, một số yếu tố tiến bộ trong quan điểm nghệ thuật, phương pháp khảo sát thận trọng, và công tác tư liệu phong phú, có ý nghĩa như một công trình tổng kết và ở mức độ nào đó, có ý nghĩa chỉ đạo đối với phong trào. Thi nhân Việt Nam là một tác phẩm phê bình xuất sắc, đánh dấu bước trưởng thành của rõ rệt của ngành phê bình văn học Việt Nam. Có lẽ đến nay công luận đều nhất trí Thi nhân Việt Nam là một tác phẩm phê bình có giá trị cao. Với Thi nhân Việt Nam, tác giả đã thể hiện ý thức nghệ thuật và phong cách phê bình của mình ngay từ cái tựa sách. Thi nhân không chỉ thể hiện là nhà thơ, thi sĩ như cách gọi thông thường từ phương Tây. Hoài Thanh đã chọn cách gọi của ông cha ta, Thi nhân bao hàm cách thế sống và cách thế làm văn của những con người có cái nghiệp chuyên chở tất cả những gì tinh túy của tâm linh dân tộc. Và “Việt Nam” là sự khẳng định đầy tự tin về chỗ đứng độc lập của đất nước mình, văn hóa mình.

Trang 1

Chủ đề: Phê bình văn học là gì? Vì sao nói phê bình văn học có thể kìm hãm hay thúc đẩy nền văn học.

1 Phê bình văn học là gì?

Phê bình:

“Phê bình” trong các ngôn ngữ châu Âu (tiếng Anh: Criticism, La-tinh:Criticus ) đều có gốc Hy Lạp “Kritikos” là “nghệ thuật phân định / phán xét” Trong

Từ điển tiếng Việt (2003) giải nghĩa: Phê bình là xem xét, phân tích, đánh giá ưu điểm

và khuyết điểm; nêu khuyết điểm để góp ý kiến, để chê trách

Phê bình văn học là một phương diện của tiếp nhận văn học, vì vậy cũng cầnphải đặt phê bình trong hoạt động tiếp nhận văn học mới thấy hết vai trò của nó ối vớiđời sống Tuy nhiên, không phải hễ có tiếp nhận là có phê bình Bởi vì phê bình là mộttrình độ cao của tiếp nhận, một sự tiếp nhận có ý thức và có phương hướng.”

Đối với nhà nghiên cứu văn học Việt Nam, Lại Nguyên Ân (1984), ông nhậnđịnh: “Theo cách hiểu thông thường (và nói chung là cách hiểu đúng đắn), phê bình

Trang 2

văn học là sự luận bàn và bình giá sáng tác văn học, hoặc đúng hơn, sáng tác nghệthuật ngôn từ Có việc sáng tác thơ văn thì tự nhiên là có việc đọc các sáng tác ấy vàsau đó là có việc luận bàn, bình giá các sáng tác ấy.”

Còn PGS.TS Đỗ Lai Thúy (2010) cho rằng câu hỏi “Phê bình văn học là gì?” làmột câu hỏi thuộc loại bản thể luận mà câu trả lời không chỉ có thể có rất nhiều Ôngchia phê bình văn học thành hai cách hiểu: có thể hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thôngtục của ngôn ngữ thường nhật hay nghĩa hẹp, nghĩa chuyên môn của khoa học vănhọc

Nghĩa rộng: Phê bình chỉ bất kỳ một sự khen chê, bình phẩm, đánh giá nào vềmột tác phẩm, một sự kiện văn học, một tác giả, từ vi mô một nhãn tự, một câu văn,một dòng thơ đến vĩ mô một sự nghiệp sáng tạo, một nền văn học dân tộc

Phê bình theo nghĩa rộng thường chỉ biết đến tác phẩm Một thứ tác phẩmkhông có liên lạc gì đến tác giả và người đọc Và người phê bình văn học đứng ngoài

hệ thống văn học (tác giả-tác phẩm-người đọc) này Hơn nữa, khi nhận xét tác phẩm,người phê bình thường cũng chỉ coi đó là một cái cớ để phát biểu những ý kiến chủquan của mình, thảng hoặc nếu có chiếu cố đến tác phẩm thì cũng chỉ để so sánh nóvới những nguyên lý đã được định trước, những lời chỉ dạy của thánh hiền, nhữngkhuôn vàng thước ngọc của cổ nhân Bởi vậy, thứ phê bình này rất chú trọng đến ýnghĩa đạo đức của tác phẩm văn học, đôi khi có để mắt tới một cạnh khía nghệ thuậtnào đó của nó thì cũng chỉ là để đối chiếu với những quy phạm ngặt nghèo của thể tài,cũng là một thứ đạo đức khác, đạo đức thể loại

Nghĩa hẹp: Phê bình văn học theo nghĩa là một hoạt động chuyên môn thì mãiđến đầu thế kỷ XIX, khi nhân loại đã bước vào Thời đại Mới, mới xuất hiện ở châu

Âu Đó là một loại hình sinh hoạt văn học gắn liền với văn hóa đô thị

Phê bình này ra đời trên cơ sở báo chí và xuất bản Chính báo chí đã biến sách

vở với tư cách là sản phẩm văn hóa từ một thứ văn hóa quà tặng thành văn hóa hànghóa Nhờ máy in và báo chí, thơ văn được xuất bản hàng loạt, đến tay tất cả mọingười, bất kể giàu sang hay nghèo hèn, miễn bỏ tiền ra là mua được Từ đám đông trởthành công chúng và tạo ra dư luận Dư luận tác động đến không chỉ nội bộ người đọc,

mà, như một thông tin ngược, đến cả người viết, kích thích anh ta sáng tạo tiếp tục Tư

Trang 3

tưởng dân chủ là nền tảng tinh thần của phê bình văn học Nó thừa nhận mọi công dânđều có quyền phê bình, tức quyền có ý kiến riêng của mình Phê bình văn học khi códân chủ, trở thành cuộc đối thoại bình đẳng của thứ quyền lực mới, quyền lực của trítuệ Ý thức cá nhân phát triển khiến người ta dám nói, dám bày tỏ ý kiến của mìnhtrước công chúng, nhưng, quan trọng hơn, ý thức cá nhân còn buộc nhà phê bìnhnhiều khi phải vượt qua tư cách con người nói chung để tiến đến tư cách nhà phê bình.Phê bình là một cuộc đối thoại theo đúng tiêu chí của cái đẹp, nhằm thúc đẩy vănchương dấn thân vào cuộc phiêu lưu tìm những giá trị thẩm mỹ mới.

Đánh giá của nhóm về các định nghĩa:

Mỗi thế hệ nhà văn, nhà phê bình lại có những nhận định của riêng mình màcâu trả lời của họ có thể không giống với những người cùng thế hệ mình Tùy vàotruyền thống văn hóa và tài năng cá nhân Qua những quan điểm về câu hỏi “Phê bìnhvăn học là gì?” của các nhà phê bình văn học, nhóm chúng tôi nhận thấy mặc dù có sựkhác nhau giữa các quan điểm nhưng nhìn chung tất cả đều có một điểm tương đồng

đó là phê bình là sự bình phẩm, đánh giá một sáng tác văn học được thực hiện bởingười có ý thức và trình độ chuyên nghiệp, có năng lực thẩm định văn học

Theo như V.Bielinski, “phê bình là mỹ học vận động” Câu đó có thể hiểu theonghĩa “phê bình là biểu hiện sự phát triển của ý thức triết học về văn học, là sự vậndụng, ứng dụng của mỹ học vào công việc phân tích đánh giá tác phẩm văn học” Đó

là thứ “khoa học ứng dụng” của mỹ học, lý luận văn học Giá trị khoa học ở một bàiphê bình là ở sự vận dụng đúng cách các kiến thức khoa học ở mỹ học, ở lý luận vănhọc để đưa ra các nhận định khen chê Tất nhiên sự chính xác của lời khen chê phải cócăn cứ Cái “có căn cứ” của lời khen chê chính là mỗi nhận định khen chê được nêu rađều có các căn cứ phù hợp với nhiều tiêu chuẩn mà số đông người đọc (cả các nhà phêbình chuyên nghiệp) chấp nhận

Phê bình văn học là một bộ môn nghiên cứu văn học và có sự gần gũi với tưduy khoa học nói chung, trước hết là khoa văn học, nghệ thuật học Các nhà hoạt độngchuyên môn ở đây đều phải dùng đến sự lý giải, sự cắt nghĩa đối tượng, chuyển nósang “ngôn ngữ” của ngành mình

Trang 4

Mỗi hành vi lý giải là một cách đọc Sự “đọc” dù thế nào cũng là cái gì khácchứ không đồng nhất với chính tác phẩm Đi vào thế giới của phê bình, của nghệ thuậtchuyển thể − là phiêu lưu vào thế giới của vô số những cách đọc Người ta không chỉthích đọc trực tiếp tác phẩm mà còn thích “nghe” nói về tác phẩm ấy nữa, nghĩa là cầnnghe những cách đọc khác Nhà phê bình tức là “người đọc chuyên nghiệp” có cáimay mắn là người ta muốn nghe cách đọc của mình, ý kiến và suy nghĩ của mình vềtác phẩm đã đọc Uy tín của nhà phê bình bắt đầu từ chỗ ấy Mỗi cách đọc độc đáo, cóbản lĩnh, khi được công chúng nghe thấy, đều làm cho họ ít nhiều “lạ lẫm” với chínhtác phẩm để rồi có thể hiểu nó hơn, sự thích thú hay không thích thú đối với nó ở họ

sẽ rõ ràng hơn Phê bình văn học không phải là một ngành khoa học với những đặcđiểm, những yêu cầu phát triển giống như các khoa học khác, nhưng không thể vì thế

mà coi thường việc áp dụng lý luận khoa học vào các công trình phê bình Phê bìnhcần có tính chính luận, tức là cần có sự nhạy bén về tư tưởng chính trị, có tính chiếnđấu mạnh mẽ, đồng thời phê bình cũng cần có tính khoa học nghiêm nhặt, không phảichỉ khoa học trong cách dùng ngôn ngữ văn phong mà chủ yếu là khoa học trong cáchnhìn nhận và đánh giá, trong quan điểm tiếp cận, trong phương pháp nghiên cứu vàphân tích tác phẩm

Phê bình văn học gần gũi với sáng tác Nhà phê bình thể hiện những ý kiến củamình bằng chính cái vật liệu ngôn ngữ mà sáng tác văn học sử dụng Phê bình nghệthuật (âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc…) cũng dùng vật liệu ngôn ngữ như củaphê bình văn học, và do đó, không thể thuộc vào những nghệ thuật mà nó lấy làm đốitượng tiếp cận Nếu theo nghĩa rộng của văn học (mọi trứ tác bằng ngôn ngữ) thì cảphê bình văn học lẫn phê bình nghệ thuật hiển nhiên đều là văn học Phê bình văn học,xét cho cùng, bao giờ cũng phải lấy nghiên cứu tác phẩm làm trung tâm Mọi tìm kiếm

lý thuyết cuối cùng cũng chỉ để đưa ra những kiến giải mới cho tác phẩm hoặc kiếntạo một tác phẩm thứ hai xoay quanh tác phẩm thứ nhất như một cặp sao đôi

2 Lịch sử hình thành và phát triển của phê bình văn học.

* Thế giới:

Sự nhận xét về văn học, tiền đề của phê bình văn học, có mặt đồng thời với sựxuất hiện của bản thân sáng tác văn học, tức là đã có khoảng 2500 năm trước Điều

Trang 5

này quan sát thấy cả phương Đông (Trung Quốc cổ) lẫn phương Tây (Hy Lạp cổ).Cùng sự phát triển của xã hội, với quá trình biến đổi của văn học, phê bình cũng thayđổi sâu sắc cả về số lượng lẫn cấu trúc, cả về chức năng lẫn ý nghĩa Trong sinh lý họcphê bình, Albert Thibaudet ghi nhận về phê bình văn học Pháp: “ Phê bình, như chúng

ta nhận thức và thực hành ngày nay, là một sản phẩm của thế kỷ XIX Trước thế kỷXIX đã xuất hiện những nhà phê bình như Bayle, Freon và Voltaire, Chapelain vàd'Aubignac, Denys d’Halicarnasse , Quintilien Nhưng chưa hề có nền phê bình Tôidùng từ này theo nghĩa vật thể của nó: một bộ phận nhà văn ít nhiều chuyên môn hóa,

đã chọn công việc bàn luận về những cuốn sách làm nghề nghiệp của mình ” Theoông, để hình thành một nền phê bình chuyên nghiệp, cần phải có ba điều kiện quantrọng Trước hết đó là sự xác lập một quan hệ về văn học để phân biệt với các lịch vựckhác như sử học, triết học, khoa hùng biện mà trước đó vẫn được gộp chung với vănhọc trong một phạm trù là “mỹ văn” (belles-lettres) Điều kiện thứ hai làm xuất hiệnnhà phê bình chuyên nghiệp là sự biến đổi thị yếu và chân trời chờ đọc của độc giả,làm hình thành một lớp công chúng thực sự quan tâm đến văn học Điều kiện thứ ba làvai trò của báo chí, kênh truyền thông quan trọng đưa người đọc đến gần với văn học

và truyền tải những nội dung của phê bình Những điều kiện đó dẫn đến sự xuất hiệncủa phê bình chuyên nghiệp ở Pháp trong những năm 1830 -1880

Phê bình văn học ở Pháp, những năm 1960 và 1970, trải qua một biến động tolớn và nhanh chóng đạt những thành tựu rực rỡ, “sự lột xác” này như người ta thườngnói, của phê bình văn học, là sự biến đổi của tư duy Pháp hiện đại hóa, nó phát triểnnhịp nhàng với sự tăng trưởng của khoa học nhân văn, triết học, ngôn ngữ học, tâm lýhọc, xã hội học, dân tộc học của loài người thế kỷ X

Trang 6

trong công trình của mình Nhưng cũng có một số công trình xác định sự hiện diệncủa hoạt động lý luận phê bình, mà cũng không bàn sâu thêm là mấy.

Đáng chú ý, có bộ sách Văn học Việt Nam thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII,Trang 1-2 của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Văn học Việt Namnửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX và Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷXIX của Nguyễn Lộc Công trình của Đinh Gia Khánh hoàn toàn không đề cập đếnkhái niệm lý luận nghiên cứu phê bình, chỉ có nhắc qua các lời bàn, lời bình trong

Truyền Kỳ mạn lục và các tác phẩm sử học, triết học và chính luận Riêng Nguyễn Lộc

có giành gần hai trang đề cập đến lý luận phê bình trong thời kỳ nửa cuối thế kỷ XVIIInửa đầu thế kỷ XIX Ông viết: “Những thành tựu về lý luận và phê bình văn học cònhạn chế hơn những thành tựu về nghiên cứu, sưu tầm Chưa có một tác phẩm lý luậnnào ra đời Mục văn nghệ trong Vân đài loại ngữ, mục Thiên chương trong Kiến văntiểu lục có thể coi là những luận văn chuyên bàn về văn nghệ, thì trong đấy, Lê QuýĐôn cũng dừng lại ở việc sưu tầm những ý kiến của nhà triết học, các nhà văn, nhàthơ, nhà phê bình văn học Trung Quốc về văn học rồi ông bàn thêm”

Phương Lựu trong khi khảo sát tình hình lý luận văn học trước thế kỷ XX, cũng

đã căn cứ vào những bài tựa, bài bạt, bài bình mà ông xem là một hình thức phê bình:

“Hơn nữa trong thời kỳ cổ cận ở nước ta, tư duy lý thuyết chưa thật sự phát triển,những luận điểm lý luận thường bộc lộ qua việc phê bình cụ thể Điều đó giải thích tạisao quan niệm văn chương cổ Việt Nam phải coi trọng bài tựa, bài bạt, bài bình…Đương nhiên theo tiêu chuẩn hiện đại thì chưa phải bài phê bình hoàn chỉnh”

Như thế thời điểm ra đời của phê bình văn học Việt Nam vẫn còn là một dấuhỏi lơ lửng

Giai đoạn hai: Từ đầu thế kỷ XX đến nay:

Trong hoàn cảnh đi vào con đường hiện đại hóa theo hướng Tây Âu, văn họcViệt Nam đã chứng kiến sự hình thành bước đầu của nền phê bình văn học mang tínhchất chuyên nghiệp hóa

Sang nửa sau thế kỷ XX, phê bình văn học Việt Nam đã những bước tiến bướctiến rất to lớn và không chỉ còn ảnh hưởng của riêng Pháp nữa Bức tranh hiện nay về

Trang 7

phê bình Việt Nam do còn khá gần với chúng ta Bước phát triển của phê bình hiệnnay do nhiều con đường, có thể qua: dịch thuật các công trình lớn của phương Tây cảphê bình lẫn các loại sách triết học, khoa học; các công trình viết riêng và viết chung,

hệ thống giáo trình văn học phương Tây, các bài nghiên cứu ứng dụng các phươngpháp đó trên các tạp chí chuyên ngành; các cuộc trao đổi khoa học giữa UniversitéParis 7 với Khoa Văn Đại học Tổng hợp (cũ) vào những năm 80; các hội nghị khoahọc quốc gia về Tự sự học 2002, các hội nghị về những vấn đề lí luận, phê bình, v.v.Tất cả đều in khá rõ sự ứng dụng phương pháp phê bình, nghiên cứu của phương Tây

Ở giai đoạn này có rất nhiều nhà phê bình tiêu biểu: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn,Trần Thanh Mai, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai,

Và còn cả Hoài Thanh

Đặc biệt Hoài Thanh nhà phê bình Việt Nam tài hoa, Ông tên thật Nguyễn ĐứcNguyên, bài “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong nghệ thuật làphê bình” (đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy ngày 26/1/1935), Thi nhân Việt Nam (1942)

cùng với Hoài Chân Thi nhân Việt Nam đã ra đời trong cái thế cheo leo ấy, như phần

lớn những tác phẩm có giá trị thời bấy giờ, cũng tồn tại trong tư thế ấy suốt nửa thế kỷqua Nhưng dường như Hoài Thanh ngay từ đầu đã cầm bút không phải chỉ bằng ýthức về nghề mà còn do sự thúc đẩy bởi một cái nghiệp Đó là thái độ của một ngườinghệ sĩ đến với văn chương, một người nghệ sĩ yêu thiết tha tiếng nói của giống nòi vàhết sức trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung.Ông sớm xác định cho mình những quan niệm về văn học, rất thâm tín, nhất quán vànghiêm ngặt, mà thể hiện tập trung nhất là những bài báo trong cuộc tranh luận đượcmệnh danh là “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” và trong tác

phẩm Thi nhân Việt Nam Thi nhân Việt Nam là một công trình nghiên cứu nghiêm

túc, có chất lượng khoa học, với sự am hiểu sâu sắc đối tượng nghiên cứu, sự hiểu biết

và năng lực thẩm định vững chắc về nghệ thuật thơ ca, một số yếu tố tiến bộ trongquan điểm nghệ thuật, phương pháp khảo sát thận trọng, và công tác tư liệu phongphú, có ý nghĩa như một công trình tổng kết và ở mức độ nào đó, có ý nghĩa chỉ đạo

đối với phong trào Thi nhân Việt Nam là một tác phẩm phê bình xuất sắc, đánh dấu

bước trưởng thành của rõ rệt của ngành phê bình văn học Việt Nam Có lẽ đến nay

Trang 8

công luận đều nhất trí Thi nhân Việt Nam là một tác phẩm phê bình có giá trị cao Với

Thi nhân Việt Nam, tác giả đã thể hiện ý thức nghệ thuật và phong cách phê bình củamình ngay từ cái tựa sách Thi nhân không chỉ thể hiện là nhà thơ, thi sĩ như cách gọi

thông thường từ phương Tây Hoài Thanh đã chọn cách gọi của ông cha ta, Thi nhân

bao hàm cách thế sống và cách thế làm văn của những con người có cái nghiệpchuyên chở tất cả những gì tinh túy của tâm linh dân tộc Và “Việt Nam” là sự khẳngđịnh đầy tự tin về chỗ đứng độc lập của đất nước mình, văn hóa mình

3 Các xu hướng phê bình văn học

Trong tiến trình phát triển của phê bình văn học, đầu thế kỉ XX đến nay, đã cónhiều xu hướng phê bình văn học khác nhau được ra đời như là phê bình mác- xít, phêbình phân tâm học, phê bình cấu trúc luận, phê bình phong cách học, phê bình thipháp học… Để hiểu rõ hơn về phê bình văn học, sau đây nhóm chúng tôi sẽ giới thiệumột số xu hướng:

Phê bình Mác xít

Quan niệm của phê bình Mác xít cho rằng tác phẩm văn học là sản phẩm của

xã hội từ nguồn gốc phát sinh hay thuộc tính phản ánh cũng như chức năng phục vụ.Văn học phải chịu sự ràng buộc mạnh mẽ của các yếu tố xã hội như kinh tế, chính trị,trong đó quan trọng nhất là đề cập đến vấn đề đấu tranh giai cấp Văn học là công cụ

để để các nhà văn, nhà thơ hay nhà phê bình cùng góp sức tham gia đấu tranh giai cấp.Phương pháp này nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhà văn với xã hội, giữa văn học vớithời đại, bác bỏ mọi luận điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa hình thức.Những nhà phê bình theo xu hướng Mác xít chủ trương rằng phải coi trọng vấn đề xãhội để có thể đánh giá đúng giá trị của một tác phẩm khi ra đời Tiêu biểu cho xuhướng này là nhà phê bình học, nhà lý luận Mác xit Hải Triều Hải Triều tên thật làNguyễn Khoa Văn, cuộc đời ông luôn luôn đấu tranh cho chủ nghĩa Mác ở Việt Nam.Hải Triều xứng đáng là một nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc của Đảng ta trên lĩnh vực tưtưởng văn hóa Tác phẩm nổi tiếng của ông là “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệthuật vị nhân sinh”, “Duy tâm hay duy vật” (1936) hay “Chủ nghĩa Mác xít phổthông” (1938) Đây là những tác phẩm đầu tiên của nhà phê bình văn học Hải Triềuthể hiện cho ước muốn được tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác Với ưu thế là có

Trang 9

tài năng trên lĩnh vực báo chí tuyên truyền nên ông có nhiều đóng góp quan trọngphục vụ cách mạng như đẩy mạnh hoạt động ở lĩnh vực văn hóa, ra nhiều bài báo đểhướng dẫn nhân dân đấu tranh công khai Bài “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệthuật vị nhân sinh” của ông được đăng trên tờ Đời mới (1935) đã mở ra một cuộc bànluận, đấu tranh về vấn đề trên Hải Triều quan điểm rằng một tác phẩm nghệ thuậtphải đi cùng, phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giai cấp và giải phóng dân tộc, thứctỉnh tinh thần yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc Trường Chinh đã từng nhận xét vềông: “Đồng chí Hải Triều làm cho chủ nghĩa duy vật thắng chủ nghĩa duy tâm, quanđiểm nghệ thuật vị nhân sinh đánh bại quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật” Phê bìnhvăn học góp phần hình thành những quan điểm xã hội tiến bộ để từ đó có tác động tíchcực vào công cuộc chung của đất nước Qua đó ta có thể thấy sức ảnh hưởng của ôngđối với công cuộc giải phóng dân tộc, xứng đáng là nhà tư tưởng văn hóa xuất sắc củaĐảng ta Cốt lõi của tinh thần phê bình Mác xít có thể nói bước đầu thể hiện quanhững bài của Hải Triều và sau đó phát triển rõ vào giai đoạn sau với nhà phê bìnhĐặng Thai Mai “Văn học khái luận” của Đặng Thai Mai là một công trình sáng giácủa ông Vào ngày 25-09-2014 tại Viện Văn học đã diễn ra Hội thảo khoa học sựnghiệp sáng tác văn học của ông nhân tưởng niệm 30 năm ngày mất của học giả, 70năm Văn học khái luận, công trình lý luận văn học hiện đại đầu tiên, có tính mỹ họcMác xít Việt Nam Như ta biết phê bình Mac xit cho rằng tác phẩm là sản phẩm của xãhội đòi hỏi tính nguyên tắc và sự nhất quán về mặt quan điểm, thì ở công trình củamình, Đặng Thai Mai đã đưa ra những luận điểm, những vấn đề bản chất nhất, bứcthiết nhất của lý luận văn học như quan hệ giữa văm nghệ và cuộc sống, hiên thực vàsáng tạo, nội dung và hình thức, tự do trong văn nghệ thì trong những vấn đề trên,quan điểm tự do về văn nghệ là quan niệm Mác xít dựa trên những nguyên lý cơ bản

về phạm trù tự do, tất yếu gắn với yêu cầu thực tiễn lúc bấy giờ Ông đặc biệt quantâm đến những vấn đề lý luận văn học, ông nhấn mạnh nền văn ngjê cách mạng vớinhững phẩm chất tốt đẹp, mới mẻ Tác phẩm xác định một phương hướng, một cáchnhìn cho lý luận văn nghệ và sáng tạo văn học đương thời Nhà phê bình Phạm Đình từng nhận xét rằng: “Có thể nói, về cơ bản, nền lý luận-phê bình văn học hiện đại ViệtNam ra đời cùng với phương pháp phê bình văn học Mác-xít du nhập vào Việt Nam

và được Việt Nam hóa Những tác giả đầu tiên của lý luận, phê bình ở ta lại chính là

Trang 10

những tác giả Mác-xít, như: Đặng Thai Mai, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan, Như Phong,

Hà Xuân Trường, Hồng Chương, Hoài Thanh…”

Phê bình truyền thống

Phê bình truyền thống là đề cao vai trò của văn học ở khía cạnh học thuật vàgiáo dục Theo xu hướng này, các nhà phê bình thường viết về văn học, tham gia tranhluận, phê bình những tác phẩm và tác giả đương thời Những nhà phê bình theo xuhướng này cho rằng văn học trước hết như là phương tiện để truyền thụ tư tưởng và trithức để trau dồi tình cảm bằng giáo dục Xu hướng phê bình truyền thống có mặt rấtsớm, giữ vai trò chủ đạo trong kỳ hình thành chữ quốc ngữ ở Việt Nam Một số nhàphê bình truyền thống mà ta không thể không nhắc tới là Huỳnh Thúc Kháng, NgôĐức Kế, Bùi Kỷ, Hoa Bằng, Chất Hằng Huỳnh Thúc Kháng từng có quan điểmrằng: “Sau này tôi xin chánh cáo cho anh em trí thức trong nước rằng: Truyện Kiềuchẳng qua là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học; mànói cho đúng, Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại Ở xã hội ta từ

có kẻ tán dương Truyện Kiều, truyền bá học Kiều đến nay, đã biết bao lớp thanh niênsay mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theomối ham mê của mình Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phongbại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều, gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít.Vậy ngày nay mà được trăm ngàn người học Kiều, thì khắp trong xã hội ta, khôngthấy cái gì ích mà chỉ thấy cái hại; mà nếu được một người “đạo đức hẹp hòi” như ôngNgô Đức Kế thì không khác gì cột đá giữa dòng, sông lở, ngọn đuốc trong khoảngđêm trường, có công với thế đạo nhân tâm không phải ít, vì cái mãnh lực của ông đủkéo được biết bao nhiêu kẻ sa hầm sụp hố kia.” Với nhận xét trên, ta phải đặt HuỳnhThúc Kháng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ Bài phê bình của ông cho thấyông luôn có quan điểm là chọn ý thức cho một yêu cầu thực tiễn Và sau này ông cũng

đã nhìn nhận và đánh giá cao tác phẩm Truyện Kiều Hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc

bấy giờ muốn tồn tại là phải luôn đấu tranh với các thế lực bên ngoài Một nhượcđiểm của xu hướng phê bình này là các nhà phê bình đồng nhất văn học với giáo dục,văn học không được nhìn nhận đúng như bản chất của nó

Trang 11

Theo PGS, TS Huỳnh Như Phương, trong cuốn “Lý luận văn học nhập môn”thì lại cho rằng từ thực tiễn văn học hiện đại thì ta có thể khái quát thành ba loại: phê

bình nghệ sĩ, phê bình báo chí, phê bình đại học Về phê bình nghệ sĩ, chính sự nhạy

cảm của người nghệ sĩ về cái đẹp, cái thẩm mỹ nên nên cho họ một cảm hứng để sángtác Nguồn gốc của xu hướng này xuất phát từ lối bình văn, xướng thơ Một số nhàvăn có khả năng cảm nhận, am hiểu về nghệ thuật có thể xem là những nhà phê bình

nghệ sĩ Về phê bình báo chí, là những nhà văn nhà báo viết những tác phẩm để vừa

tuyên dương và phê phán những hiện tượng văn học mới xuất hiện, tác động đến tưtưởng nhân dân nên xu hướng này có ý nghĩa thời sự Một loại phê bình dựa trên các

tiêu chí khoa học cao, độ chính xác cao là phê bình đại học Đề tài thường hướng tới

là các bài báo cáo, bài tổng quan văn học, tiểu luận Những nhà phê bình phải làngười có kiến thức nền tảng lý luận, có quan niệm và thái độ rõ ràng Vì tính khoa họccao nên loại phê bình này không có sức lôi cuốn Cả ba loại hình phê bình này đều cómối liên hệ, tác động ảnh hưởng lẫn nhau Các nhà phê bình đều xây dựng cho mìnhmột quan điểm về văn học để đi vào tác phẩm Ta có thể thấy rằng là có rất nhiềukhuynh hướng phê bình văn học khác nhau, các khuynh hướng ấy cạnh tranh bổ sungcho nhau làm các vấn đề được sáng tỏ, giúp cho người tiếp nhận có những cách nhìn

về vấn đề khác nhau

4 Chủ thể và đối tượng của phê bình văn học

Chủ thể của phê bình văn học

Lực lượng phê bình văn học có thể là nhà phê bình chuyên nghiệp, nhà văn nhàthơ song cũng thực hiện công tác phê bình, nhà báo,…

ra thành một môn khoa học độc lập nhưng Aristotle đã cho ra đời cuốn sách” Nghệ

Trang 12

thuật thi ca” Trong đó, ông đã đưa ra những nghiên cứu lập luận chặt chẽ về các khíacạnh của thi ca như: nguyên nhân nảy sinh nghệ thuật thi ca, đôi nét về hài kịch, về bikịch, bố trí hành động của bi kịch, sự miêu tả thống nhất hành động của một nhân vật

sự việc điển hình hay ngẫu nhiên, quan hệ nhân quả của hành động sự nhận biết củanhân vật (gần với chủ nghĩa hiện thực), bố cục của một vở kịch…

Tại Việt Nam, nhắc đến nhà phê bình chuyên nghiệp không thể không nói đếnHoài Chân, Hoài thanh với một công trình phê bình đáng giá “ Thi nhân Việt Nam”.Trong công trình này, ông đã giúp giới sáng tác, cũng như công chúng Việt namđương thời hiểu rõ hơn về phong trào Thơ Mới bằng ngòi bút sắc sảo, hiểu biết sâurộng về văn chương và cuộc sống

Nhiều nhà văn đã chủ động đi tìm đến với lý luận phê bình và gây ra nhiềutiếng vang mạnh mẽ, ồn ào hơn các nhà phê bình Trước đây có các nhà văn, nhà thơnhư Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu… cũng là những nhà phê bình xuấtsắt, rồi đến đóng góp của các tác giả Vũ Quần Phương, Phạm Tiến Duật, Võ VănTrực, Anh Ngọc, Trần Mạnh Hảo… đó cũng là một điều tự nhiên trong phát triển củavăn học nhiều dân tộc, Ở Pháp, những nhà văn nổi tiếng như Bôđơle, Mácxen Pruxt,Pôn Valeri đều có những cống hiến đặc sắc cho phê bình văn học

Nhà thơ Xuân Diệu là người đầu tiên bàn về tiểu luận, một số bài tiểu luận phêbình của ông như: Phê bình giới thiệu thơ (1960), Thanh niên với quốc văn (1945), Bathi hào dân tộc (1959) …

Lực lượng nhà báo cũng khá đông đảo, xuất thân từ các tòa báo lớn hiện nay

như: báo Thanh niên, báo tuổi trẻ, báo quân đội, Tạp chí Sông Hương

Đối tượng của phê bình văn học

Một khoa học muốn trở thành khoa học phải có một đối tượng riêng, mộtphương pháp nghiên cứu riêng Phong cách nghiên cứu mỗi người khác nhau tạo nênnhững tác phẩm xuất sắc, tạo ra cảm giác cho người đọc thích thú bằng những từ ngữ,hoa văn mới mẻ… Vậy đối tượng của phê bình văn học là gì? Nó tác động như thếnào đối với nhà văn, nhà phê bình

Trang 13

Đối tượng chính của phê bình văn học là tác phẩm văn học Vậy tác phẩm vănhọc là gì? Theo Lê Ngọc trà: “Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng,những suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn, vừa như

có giới hạn, lại vừa như miên man, vô bờ bến Đó là những cảm giác mang tính hìnhtượng Nhà văn sáng tác là khi cảm thấy ở đâu đấy trong tâm hồn, khi có điều gì đómuốn chia sẻ gửi gắm Văn học chính là nỗi buồn và cái đẹp, về lý tưởng, là nỗi đaugiằng xé về số phận con người, là sự cắn rứt lương tri không yên, là cuộc đấu tranhnội tâm giữa hai phần tối và sáng, giữa thiện và ác, khi con người có khả năng tự phânđôi” Theo Đỗ Lai Thúy: “Tác phẩm là hệ thống trung tâm của văn học, là điểm nút

mà tác giả, truyền thống hiện thực, đọc giả đến giao hội Tác giả chỉ trở thành tác giảkhi anh ta sáng tạo ra tác phẩm của mình, độc giả, cũng vậy, chỉ trở thành độc giả khiđọc và đánh giá tác phẩm, còn truyền thống và hiện thực là những điều kiện bên ngoàicủa sự tồn tại của tác phẩm”

Các tác phẩm văn học từ lâu đã trở thành đối tượng của không chỉ riêng trongphê bình văn học, mà trong nhiều lĩnh vực khác trong xã hội cũng cần đến để nghiêncứu khoa học Tác phẩm phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc và suy nghĩ của ngườinghệ sĩ Để tạo ra một tác phẩm được dân chúng công nhận và đạt hiệu đòi hỏi tác giảnghiền ngẫm sâu sắc cảm giác và những điều trông thấy Đó là chí hướng mãnh liệt

mà tác giả muốn lên tiếng, muốn chia sẻ những suy nghĩ, ấn tượng của mình nhằm tốcáo, kết án, bênh vực hay dự báo một điều gì đó cho toàn xã hội Có tầm quan trọngđến với đời sống, có giá trị dinh dưỡng tinh thần cao, giúp cuộc sống thú vị và tíchcực trong cuộc sống

Văn học là một loại hình nghệ thuật, là nghệ thuật của ngôn từ Vì văn học làloại hình nghệ thuật, ngôn từ nên tác phẩm văn học là loại hình sáng tạo ngôn từ Vìphải phải nói như thế? Câu trả lời là: sáng tạo là một loại hình mà con người khôngngừng trau dồi, sáng tạo là đặt tính mà con người vốn có Theo bản năng chỉ có conngười mới có sáng tạo, bởi lẽ trong thế giới động vật thuộc về giới tự nhiên, nó sẽhành động theo bản năng mà trong chương trình sinh học đã cài đặt sẵn, ví dụ: đànchim cùng nhau nhặt từng nhánh lá, từng cành cây bây đi tìm nơi để xây dựng tổ củamình Điều đó cho ta thấy rằng tính năng hoạt động của nó là vô thức, không định sẵn

Trang 14

hay sáng tạo ra cái hay, cái mới trong chính tổ ấm của mình Con người có óc để tưduy, sáng tạo và hình dung trước những cái mà mình muốn làm, ví dụ: con người làm

ra cái cuốc thì trong suy nghĩ của người đó đã định ra hình dạng chiếc cuốc đó ra sao

và làm ra nhằm mục đích để làm gì Đó là sự sáng tạo, sáng chế ra nhằm thoát khỏitình trạng tự nhiên của mình, chỉ khi sáng tạo thì con người mới cảm thấy rằng mìnhkhác hẳn, hành động có ý thức điều đó cho thấy cấp bật của con người khác hẳn so vớinhững gì thiên nhiên quy định, có bước tiến mới sáng tạo ra những thứ mà trước đâychưa từng xuất hiện, thỏa sức sáng tạo với ý nghĩ của mình

Tác phẩm văn học là một sáng tạo Một nhà văn tạo nên một tác phẩm văn học

là một quá trình tìm tòi, tìm ra những chân lý, sáng kiến mới mẻ, không ngừng sángtạo để cho ra tác phẩm của mình Có sáng tạo mới có những cái mới, cái hay, để ngườiđọc không cảm thấy nhàm chán, khai thác những thông tin trong chính tác phẩm, đòihỏi tư duy sáng tạo cao và loại hình cũng như hình thức Ngoài ra tác phẩm văn họccòn là một sáng tạo của trí tưởng tượng Bên cạnh những tác phẩm được viết về hiệnthực còn có những tác phẩm nói về một thế giới không có thực Bài văn được viết trítưởng tượng của nhà văn, mô tả về một thế giới hư ảo, người đọc sẽ lạc vào thế giớicủa sự tưởng tượng, chiêm ngưỡng trong tác phẩm bằng sự sáng tạo của bản thân đểhình dung, tưởng tượng phong phú với suy nghĩ sáng tạo của mình Nhờ có sự tượngtượng mà cuộc sống đời thực được xây dựng và tiếp diễn trong nhịp sống đầy phongphú và đa dạng, liên tục với sự phát triển của thế giới

Tác phẩm văn học là một nghệ thuật Song song loại hình nghệ thuật này cónhững thể loại cũng tồn tại như hội họa, âm nhạc, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… Đểnghệ thuật được thừa nhận và thành công thì hình thức luôn là thứ đi theo nghệ thuật

đó Hình thức nghệ thuật sẽ tạo ra thẩm mỹ trong tác phẩm Đôi khi người đọc sẽ thấyrằng chính bản thân mình nằm trong tác phẩm đó, những cảm xúc băn khoăn, quanniệm thẩm mỹ, những cảm xúc khi lắng động, nhẹ nhàng, khi ồn ào, náo nhiệt… Tâmtrạng của người đọc đi theo dòng cảm xúc của từng tác phẩm Một tác phẩm nghệthuật không những phục vụ nhu cầu đời sống về mặt tinh thần mà nó cũng tạo ra mộtkhoản vụ lợi lớn được thu nhập từ chính tác phẩm đó

Trang 15

Giá trị sử dụng của một tác phẩm nghệ thuật phụ thuộc vào chất liệu mà nhàvăn tạo ra trong chính tác phẩm đó.

Ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm không kém phần quan trọng, ngôn ngữ làđặc trưng tiêu biểu cho lối viết của nhà văn Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, không tạo racảm giác nhàm chán khi đọc tác phẩm, đôi lúc pha thêm những trò hề bằng nhữngngôn ngữ dí dỏm Theo Saussure người đã phân biệt giữa ngôn ngữ (langue) và lời nói(parole) trong giáo trình “Dẫn luận ngôn ngữ học” nxb đại học Sư Phạm Hà Nội trang

14 – 15 Để dễ trong việc phân tích tác phẩm thì ngôn ngữ trong văn bản trở thànhhình thức là nghệ thuật Khi đó văn bản trở thành đối tượng của các nhà phê bình vănhọc Theo cách nhìn này thì văn bản trở đồng nhất với tác phẩm, văn bản là tác phẩm

Qua đó đối tượng cơ bản của văn học là tác phẩm Tác phẩm văn học là sảnphẩm của tác giả Mỗi tác phẩm có những nét cá biệt nhưng nó chia sẻ một số nétchung với các tác phẩm khác, cũng như mỗi người chia sẻ một số nét nào đó với loàingười nói chung… tính chân thực trong tác phẩm không chỉ là sự phản ánh hiện thực

mà nó còn là tính chân thực lịch sử của thái độ, đánh giá và trung thực của nhà văn

5 Các hướng tiếp cận tác phẩm phê bình văn học.

Tiếp cận văn tác phẩm văn học Đây cũng là một công đoạn tạo nên sự tiếp xúctrực tiếp giữa các chủ thể và khách thể nhận thức Để tạo nên một tác phẩm đặc sắc,gây được sự chú ý của công chúng các nhà phê bình phải xem xét tỉ mỉ, có một cáinhìn khách quan để phân tích tác phẩm một cách toàn diện Nêu lên những mối liên hệbên ngoài của tác phẩm văn học Phê bình phải tiếp cận tác phẩm từ nhiều phía, dựatrên nhiều bình diện, cấp độ, sử dụng ngôn từ cho phù hợp Với những mối liên hệphong phú, đa dạng giữa các tác phẩm văn học thì ta có thể chia thành ba hướng tiếpcận tác phẩm cơ bản như sau:

Trang 16

phẩm văn học đều chứa đựng những tâm tư, tình cảm, ước vọng của tác giả Chính vìvậy mỗi tác phẩm đều mang dấu ấn riêng của tác giả Thông qua tác phẩm văn học tácgiả bày tỏ nỗi thương xót trước những cảnh éo le, gián tiếp phê phán những bất côngtrong xã hội đương thời, thể hiện nỗi khát vọng của tình, viết lên hoàn cảnh sống cơcực, phản ánh xã hội hiện thực… Từ đó thể hiện phong cách hành văn của một nhàvăn, khẳng định lý tưởng mình đang tìm kiếm lâu, và tác giả muốn gửi gắm nhữngthông điệp của mình thông qua những tác phẩm văn học Trong lí luận văn học cổ điểnTrung Quốc có quan niệm cho rằng sáng tác là những giải tỏa u uất trong lòng (Tư MãThiên), là sự thể hiện quan tâm các vấn đề chính trị, xã hội: “Văn chương nên vì thờithế mà viết, thơ ca nên vì hiện thực mà sáng tác” (Bạch Cư Dị) Tác giả và tác phẩm

có mối quan hệ nhân quả với nhau “Trong hướng tiếp nhận từ góc độ tác giả thì cáchtiếp nhận của Saute-Beuve, Taine, Gustave dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa chứng thựcthế kỉ XIX được thao tác khá cụ thể Họ cho rằng thông qua nghiên cứu hoàn cảnh củanhà văn (hoàn cảnh gia đình, xã hội, giáo dục, đời sống riêng) có thể lí giải vì sao viếtnhư vậy” Cách tiếp nhận này được sử dụng nhiều trong môi trường phổ thông, đượcthể hiện rõ nhất trong phần giới thiệu khái lược về tiểu sử của nhà văn sự nghiệp sángtác và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm

Tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn bản Ngoài cách tiếp nhận trên cách tiếp nhậnnày thông qua tác phẩm, có nghĩa là khi một tác phẩm được tác giả viết ra thì chínhtác phẩm đó không còn thuộc về tác giả Nên cần tiếp nhận tác phẩm từ chính tácphẩm Vì ngôn ngữ là trúc là cấu trúc cơ sở để tạo ra tác phẩm, để nghiên cứu, trong

đó văn bản được xem là trọng tâm Mỗi loại văn bản đều tồn tại một hệ thống kí hiệungôn ngữ, cấu trúc và hình thức của tác phẩm và tìm ra kết cấu bên trong của văn bản

Để tiếp nhận tác phẩm từ góc độ văn bản ta thấy rằng cách tiếp nhận của TrầnĐình Sử dễ hiểu và được dung nhiều, cách mà Trần Đình Sử sử dụng để tiếp cận đó làThi pháp học ông nói: “Điểm làm cho thi pháp có vị trí độc lập, phân biệt với các bộmôn khác trong khoa văn học là nó chỉ nghiên cứu cấu, tùy trúc và thuộc tính củanghệ thuật của văn học từ góc độ của nghệ thuật” Với phương pháp này ta thấy rằng

có nhiều cách tiếp cận khác nhau chủ thể để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp Ta có thểquan tâm đến nghệ thuật con người thông qua cách tiếp nhận này Con người là yếu tố

Trang 17

trung tâm được các nhà văn viết đến trong tác phẩm của mình, qua tác phẩm nhà vănmuốn thể hiện tính cách, đặc trưng, hoàn cảnh sống… của nhân vật Trong mỗi nhàvăn có tố chất thể hiện cách hành văn của riêng mình chẳng hạn trong thơ của XuânDiệu thể hiện con người mong muốn có tình yêu, nỗi khát khao được sống trong tìnhyêu,

Nhưng đến với Nam Cao ta thấy rằng ông luôn thể hiện quan niệm con ngườiluôn cố gắng để chống lại sự bất công, tha hóa trong cuộc sống… điển hình là tácphẩm “Chí Phèo” với tính cách vừa nóng nảy, bờm rượu của anh Chí hiện lên hai cảnhkhác biệt nhau như: khi say anh luôn ra ngoài đường chửi nhưng khi về túp lều tỉnhdậy rồi lại trách chính bản thân

Văn bản có tính tự trị bởi sự độc lập của kí hiệu, cấu trúc của ngôn ngữ và hìnhthức của tác phẩm Thông qua văn bản ta hiểu được những sự vật, sự việc… mỗi vănbản được nhắc tới, đáp ứng được những yêu cầu cơ bản đối với một nhà phê bình vănhọc Để hoàn thiện một bài thuyết trình văn bản đóng vai trò quan trọng để chỉnh lý,phát hiện những ưu và khuyết điểm để nhà văn chỉnh sửa và đáp ứng nhu cầu của thờiđại

Và cuối cùng là tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn hóa, đây là hướng tiếp cậnđang được quan tâm hiện nay Ta có thể định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là lànhững giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá trình lao độngnên việc tiếp cận văn hóa cũng có nhiều cách khác nhau Vậy văn hóa và văn học cómối liên hệ với nhau như thế nào? Theo tôi văn hóa và văn học có mối liên hệ chặtchẽ với nhau Nền văn hóa được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, có ảnh hưởng sâusắc đến sự hình thành và phát triển của văn học Văn học là tấm gương phản ánh chânthật đời sống văn hóa tinh thần của con người, là một trong những yếu tố quan trọngcủa văn hóa Khi tiếp cận từ cách này sẽ giúp người đọc tìm kiếm được những biểuhiện của văn hóa trong các tác phẩm văn học, những đề tài, chủ đề, nhân vật, ngôn từ,nghệ thuật… Đề tài trong một tác phẩm văn học thường là phạm vi trong cuộc sống,những tác phẩm thể hiện những dấu ấn văn hóa, phong tục tập quán… Chủ đề là phạm

vi nóng hổi trong cuộc sống, có những mâu thuẫn, những mối quan hệ giữa hôn nhân,tình yêu, môi trường… nhân vật được nói đến trong văn học thể hiện nỗi khát vọng, là

Ngày đăng: 21/09/2023, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Như Phương, “Lý luận văn học nhập môn”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học nhập môn
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
2. Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1945)”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1945)
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
3. Phương Lựu (Chủ biên) - Nguyễn Nghĩa Trọng- La Khắc Hòa- Lê Lưu Oanh,“Lí luận văn học tập 1- Văn học, nhà văn, bạn đọc”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học tập 1- Văn học, nhà văn, bạn đọc
Tác giả: Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
4. Đỗ Đức Hiểu, “Đổi mới phê bình văn học”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hôi, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phê bình văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1993
11. Đỗ Văn Hiếu, “Một số hướng tiếp nhận tác phẩm văn học trong dạy học”.Truy xuấttừ:https://dovanhieu.wordpress.com/2018/12/30/%EF%BB%BFmot-so-huong-tiep-nhan-tac-pham-van-hoc-trong-day-hoc-van/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hướng tiếp nhận tác phẩm văn học trong dạy học
Tác giả: Đỗ Văn Hiếu
Năm: 2018
18. Hà Minh Đức, Tuyển tập 3: Phê bình và tiểu luận văn học, NXB Giáo dục 2004 19. Nguyễn Hồng Kỳ, bai viết “Đẹp, xấu trong cánh đồng bất tận, tiếng nói của độcgiả” (08/04/2006), báo Tuổi trẻ. Truy xuất từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập 3: Phê bình và tiểu luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
9. Phạm Đình Ân, “Phê bình Mác – xít là mỹ học vận động”, đăng trên trang Quân đội nhân dân, ngày 09-12-2015. Truy xuất từ:https://ct.qdnd.vn/van-hoc-nghe-thuat/phe-binh-mac-xit-la-my-hoc-van-dong-518379 Link
10. Đào Duy Hiệp, “Từ phê bình văn học Pháp đến thực tế của ta”, đăng trên trang Phê bình văn học, ngày 21-08-2013. Truy xuất từ:http://phebinhvanhoc.com.vn/tu-phe-binh-van-hoc-o-phap-den-thuc-te-cua-ta/?fbclid=IwAR1A08cSxrLEKP_WuzRKsimdL5MHszjBWh4-Sk-wjhzh35hI3AYt4HBmWGk Link
12. Lại Nguyên Ân, “Phan Khôi và những cuộc tranh luận về Truyện Kiều những năm 1920-1930”, đăng trên trang Phê bình văn học, ngày 30-07-2015. Truy xuất từ:https://phebinhvanhoc.com.vn/phan-khoi-va-nhung-cuoc-tranh-luan-ve-truyen-kieu-nhung-nam-1920-1930/ Link
13. Đỗ Lai Thúy, “Phê bình văn học là gì?(Lý thuyết phê bình)”, đăng trên trang Phê bình văn học ngày 06-05-2012. Truy xuất từ:http://phebinhvanhoc.com.vn/phe-binh-van-hoc-la-gi/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w