TỔNG QUAN
Năm 2015 đánh dấu thời điểm quan trọng để Việt Nam đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Đây cũng là năm kết thúc giai đoạn đầu của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020.
Theo Liên Hợp Quốc, từ 1990 đến 2013, tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) và tử vong trẻ em (TVTE) chỉ giảm 45% và 49%, trong khi mục tiêu đặt ra là giảm 75% và 67% Điều này cho thấy toàn cầu khó đạt được Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về giảm 2/3 tỷ suất TVTE và tỷ lệ TVM vào năm 2015 Hầu hết các ca tử vong này đều do những nguyên nhân có thể phòng tránh, với các can thiệp hiệu quả có thể giảm 2/3 số ca TVM và 3/4 số ca TVSS Tuy nhiên, hàng năm vẫn còn 289.000 trường hợp TVM và 6,3 triệu trường hợp TVTE dưới 5 tuổi, trong đó 45% là tử vong sơ sinh, chủ yếu xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình.
Mặc dù tốc độ giảm ca tử vong do TVM cần cải thiện, nhưng số lượng ca bệnh đã giảm trên toàn cầu Nhiều quốc gia đang chứng kiến sự chuyển đổi trong mô hình bệnh tật, từ việc giảm ca TVM do nguyên nhân trực tiếp và bệnh truyền nhiễm sang gia tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân gián tiếp và các bệnh mãn tính không lây Sự thay đổi này yêu cầu các quốc gia xây dựng chính sách và kế hoạch hành động với các giải pháp can thiệp phù hợp với tình hình hiện tại.
Nhằm tiếp tục triển khai Chương trình nghị sự sau năm 2015 (Post-
Vào tháng 9 năm 2015, tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc ở New York, 193 quốc gia thành viên đã thông qua Chương trình nghị sự phát triển bền vững đến năm 2030, bao gồm 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) và 169 chỉ tiêu cụ thể Trong đó, các chỉ tiêu về sức khỏe bà mẹ và trẻ em (SKBMTE) được chú trọng chủ yếu tại Mục tiêu 2.
Xóa đói, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng là những mục tiêu quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp bền vững Đồng thời, Mục tiêu 3 nhấn mạnh việc đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh cho mọi người, không phân biệt lứa tuổi Chiến lược toàn cầu về sức khỏe phụ nữ và trẻ em cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe sinh sản và sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
HUPH và GSWCAH của WHO xác định ba nhóm mục tiêu quan trọng: đầu tiên, mục tiêu cứu sống nhằm chấm dứt các trường hợp tử vong có thể phòng tránh; thứ hai, mục tiêu vươn tới để đảm bảo tiêu chuẩn y tế cao nhất; và cuối cùng, mục tiêu chuyển đổi nhằm đạt được những thay đổi bền vững và có tính chuyển đổi.
Ngoài dự thảo Chiến lược toàn cầu về sức khỏe phụ nữ, trẻ em và vị thành niên, mục tiêu "Loại trừ TVM, TVSS, TVTE do các nguyên nhân có thể phòng tránh được" được nhấn mạnh trong các Chiến lược và Kế hoạch hành động của các tổ chức LHQ như Kế hoạch hành động về trẻ sơ sinh (ENPA) và Chiến lược loại trừ TVM do các nguyên nhân có thể phòng tránh được (EPMM) Để đạt được các mục tiêu này, cần thực hiện các giải pháp và can thiệp chủ yếu được khuyến nghị.
Áp dụng cách tiếp cận chăm sóc liên tục theo vòng đời, đặc biệt tập trung vào chăm sóc trong thời kỳ mang thai, trong và ngay sau khi sinh, cũng như chăm sóc tuần đầu sau sinh, là rất quan trọng Đồng thời, việc đảm bảo tiếp cận phổ cập dịch vụ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế toàn dân cũng được nhấn mạnh.
Cần chú trọng đến việc giải quyết sự khác biệt trong việc sử dụng và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) giữa các vùng miền và nhóm dân cư khác nhau, nhằm đảm bảo sự công bằng trong CSSK cho tất cả mọi người.
Để cung cấp dịch vụ hiệu quả, cần chú trọng đến tất cả các khía cạnh như tính tiếp cận, tính sẵn có, khả năng chi trả và chất lượng dịch vụ (AAAQ), đặc biệt là vai trò quan trọng của người đỡ đẻ có kỹ năng.
Chú trọng đến các nguyên nhân gốc rễ là rất quan trọng, đặc biệt là vai trò của dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời, từ giai đoạn trong bụng mẹ cho đến khi trẻ được 2 tuổi.
Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm và đầu tư của Đảng và Nhà nước, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Các chỉ số về sức khỏe bà mẹ và trẻ em (SKBMTE) của Việt Nam hiện khá tốt so với nhiều quốc gia có thu nhập bình quân đầu người tương tự Cụ thể, tỷ số tử vong mẹ (TVM) đã giảm từ 233/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2014, và tỷ lệ tử vong trẻ em (TVTE) dưới 1 tuổi cũng đã giảm gần 3 lần, từ 44,4‰ vào năm 1990.
14,9‰ năm 2014 Tử vong trẻ em < 5 tuổi giảm hơn một nửa từ 58‰ vào năm 1990 xuống còn xuống 22,4 năm 2014
Mặc dù tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em (SKBMTE) đã cải thiện, vẫn còn sự khác biệt lớn về tỷ lệ tử vong mẹ (TVM), tỷ lệ tử vong trẻ em (TVTE) và tỷ lệ suy dinh dưỡng (TVSS) giữa các vùng miền Tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn cao, với 70% trẻ dưới 1 tuổi bị ảnh hưởng, và xu hướng giảm chưa rõ rệt Tốc độ giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em trong những năm gần đây có xu hướng chậm lại Mặc dù tỷ lệ tử vong mẹ và suy dinh dưỡng đã giảm mạnh, Việt Nam vẫn ghi nhận khoảng 580 - 600 trường hợp tử vong mẹ và hơn 10.000 trường hợp suy dinh dưỡng mỗi năm.
Tình trạng phá thai và vô sinh đang gia tăng, với việc phá thai lặp lại và không an toàn vẫn diễn ra phổ biến Nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV/AIDS và ung thư đường sinh sản vẫn ở mức cao Việc khám, phát hiện, điều trị và tư vấn sau điều trị chưa được chú trọng đúng mức, và sự kết nối giữa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và dự phòng bệnh lây truyền từ cha mẹ sang con, bao gồm HIV, còn hạn chế Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV từ chồng và bạn tình có xu hướng tăng, trong khi sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ở nhóm đối tượng đặc thù gặp nhiều thách thức Xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân, tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên và thanh niên đang gia tăng Kiến thức, hành vi về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của đối tượng này còn nhiều hạn chế, trong khi kiến thức, thái độ và hành vi về chăm sóc sức khỏe sinh sản trong cộng đồng và cả cán bộ y tế cũng cần được cải thiện.
Tình trạng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo gặp nhiều khó khăn do hạn chế trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh Phong tục lạc hậu trong việc nuôi dưỡng bà mẹ và trẻ sơ sinh, cùng với việc phụ nữ mang thai không được theo dõi thai kỳ và sinh tại nhà mà không có sự hỗ trợ của cán bộ y tế vẫn phổ biến Cơ sở vật chất và trang thiết bị tại các bệnh viện tuyến huyện chưa đáp ứng nhu cầu cấp cứu sản khoa và sơ sinh, trong khi nhân lực chuyên ngành sản phụ khoa và nhi khoa rất thiếu Nhiều bệnh viện huyện bố trí khoa Sản chung với khoa Ngoại để tận dụng nhân lực, dẫn đến tỷ lệ bác sĩ đa khoa và bác sĩ chuyên khoa ngoại tham gia công tác sản khoa cao Năng lực chuyên môn của nhân viên y tế trong chăm sóc sản khoa và sơ sinh, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở, vẫn còn hạn chế trong việc phân loại, phát hiện nguy cơ, tiên lượng, theo dõi, cấp cứu và hồi sức sản.
THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH ĐỐI VỚI SỨC KHỎE BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ EM HIỆN
THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC
Tỷ số tử vong mẹ/100.000 trẻ đẻ sống đã giảm hơn 3 lần, từ 233 năm
Từ năm 1990 đến năm 2005, tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) ở Việt Nam đã giảm từ 85 xuống còn 69, với mục tiêu đạt 58,3 vào năm 2015 Kết quả điều tra TVM năm 2006-2007, do Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách y tế thực hiện, cho thấy tỷ lệ TVM của Việt Nam là 63 trên 100.000 trẻ đẻ sống, với khoảng giao động từ 42.
Tỷ lệ tử vong mẹ tại Việt Nam đã giảm từ 84 ca trên 100.000 trẻ đẻ sống vào năm 1990 xuống còn 54 ca trên 100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015, theo báo cáo tóm tắt “Xu hướng tử vong mẹ từ 1990 đến 2015” của LHQ Sự cải thiện này cho thấy những nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mẹ và trẻ em trong nước.
Tính đến năm 2015, tỷ lệ tử vong trẻ em (TVM) tại Việt Nam là 61,2, với tốc độ giảm trung bình 3,8% mỗi năm trong giai đoạn 1990-2015 So với các nước trong khối ASEAN, Việt Nam có tỷ số TVM và tốc độ giảm TVM tốt hơn nhiều so với Philippines (114 và 1,1), Indonesia (126 và 5,0), Myanmar (178 và 3,7), Lào (197 và 6,1) và Campuchia (161 và 7,4).
Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) chủ yếu do nguyên nhân trực tiếp, chiếm khoảng 70%, với băng huyết, sản giật và nhiễm khuẩn là những nguyên nhân chính Để nâng cao chất lượng chăm sóc sản khoa, việc thẩm định TVM cho tất cả các trường hợp đã được triển khai trên toàn quốc từ năm 2011 Mặc dù còn nhiều hạn chế trong việc báo cáo, dữ liệu thu thập được đã phản ánh bức tranh tổng thể về TVM, với 289 ca TVM được báo cáo năm 2012, trong đó 207 ca đã được thẩm định, tương đương 71.4%.
Tổng cục Thống kê đã thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, cung cấp cái nhìn tổng quan về mức sinh và mức chết tại Việt Nam Báo cáo này nêu rõ thực trạng, xu hướng và những sự khác biệt trong các chỉ số dân số, góp phần quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về sự phát triển dân số của đất nước.
2 Bộ Y tế Điều tra tử vong mẹ, tử vong sơ sinh ở Việt Nam 2006-2007 2009, Hà Nội
3 Trends in Maternal mortality: 1990 to 2015 – Estimates by WHO, UNICEF, UNFPA, World Bank Group and the United Nations Population Division
Trong quá trình mang thai, tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) chiếm 18%, trong khi trong giai đoạn chuyển dạ và 24 giờ đầu sau sinh là 45% Đáng chú ý, 38% trường hợp TVM xảy ra tại các cơ sở y tế cấp huyện, tỉnh và bệnh viện chuyên khoa, so với 36% xảy ra tại nhà Những con số này phản ánh chất lượng chăm sóc sản khoa tại các cơ sở y tế và mức độ nguy cơ khi sinh tại nhà Theo Báo cáo thẩm định TVM năm 2012, mô hình 3 chậm trễ trong Làm mẹ an toàn cho thấy sự chậm trễ trong việc nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và quyết định sử dụng dịch vụ y tế.
2 Chậm tiếp cận đến cơ sở và dịch vụ y tế; và 3 Chậm trong tiếp nhận điều trị thích hợp tại cơ sở y tế], được áp dụng để phân tích các nguy cơ TVM, và mức độ ứng phó của chăm sóc sản khoa tại Việt nam 159 trường hợp TVM được phân tích có liên quan đến 3 chậm trễ, trong đó 69% liên quan đến chậm
1, 40% liên quan đến chậm 2, và 58% có liên quan đến chậm 3 4
Trong 15 năm qua, Việt Nam đã chứng kiến sự giảm dần tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) do nguyên nhân trực tiếp, trong khi tỷ lệ tử vong do nguyên nhân gián tiếp lại tăng lên Theo điều tra TVM 2001-2002, nguyên nhân trực tiếp chiếm 76,3% và nguyên nhân gián tiếp là 23,7% Đến điều tra 2006-2007, tỷ lệ này lần lượt là 68% và 18,7% Dữ liệu mới nhất từ Vụ SKBMTE năm 2014 cho thấy nguyên nhân trực tiếp chỉ còn 59,7%, trong khi nguyên nhân gián tiếp đã tăng lên 35,4% Điều này phản ánh hiệu quả của các can thiệp về làm mẹ an toàn, đặc biệt là trong cấp cứu và hồi sức sản khoa, nhưng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải chú trọng hơn đến các biện pháp giảm thiểu nguy cơ tử vong mẹ do nguyên nhân gián tiếp.
Có sự chênh lệch rõ rệt về tình trạng sức khỏe và tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) giữa các vùng địa lý, kinh tế xã hội và nhóm dân tộc Theo điều tra TVM 2006-2007, tỷ lệ TVM ở khu vực nông thôn miền núi là 108 trên 100.000 trẻ đẻ sống, gấp ba lần so với khu vực nông thôn đồng bằng (36 trên 100.000) và khu vực thành thị (40 trên 100.000) Nghiên cứu tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cho thấy tỷ lệ TVM là 119/100.000 trẻ đẻ sống, trong đó vùng Tây Bắc có tỷ lệ cao nhất là 242/100.000 trẻ đẻ sống.
4 Bộ Y tế, Vụ SKBMTE Báo cáo thẩm định tử vong mẹ 2012
5 Bộ Y tế, Vụ Sức khỏe sinh sản Tử vong mẹ ở Việt Nam Nhà xuất bản y học, 2004
6 Bộ Y tế, Vụ SKBMTE Số liệu TĐTVM năm 2014
Tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) tại HUPH và Tây Nguyên là 108/100.000 trẻ đẻ sống Một cuộc điều tra gần đây tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy tỷ lệ TVM ở dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc H’mông, cao hơn nhiều so với dân tộc Kinh, với các tỷ lệ cụ thể là 210 cho H’mông, 64 cho Thái, và các dân tộc khác như Dao, Nùng, Tày cũng có tỷ lệ cao hơn so với Kinh.
- Về nguyên nhân TVM, số liệu ở cả 2 cuộc điều tra TVM ở khu vực miền núi (Điều tra TVM tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên 2007-
Nghiên cứu về tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) và tử vong sơ sinh (TVSS) tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn 2013-2014 cho thấy tỷ lệ TVM do nguyên nhân trực tiếp vẫn cao hơn mức trung bình cả nước và không có xu hướng giảm (81,5% và 81,2%) Điều này cho thấy cần tập trung đầu tư hơn nữa vào các vùng miền núi khó khăn, thực hiện các can thiệp nhằm giảm thiểu nguy cơ TVM do nguyên nhân trực tiếp, bao gồm nâng cao chất lượng quản lý, chăm sóc thai nghén, và đảm bảo các can thiệp cấp cứu, hồi sức sản khoa kịp thời trong các trường hợp có nguy cơ.
Tốc độ giảm tỷ lệ tử vong mẹ (TVM) tại Việt Nam đã chậm lại trong những năm gần đây Theo báo cáo của nhóm đánh giá độc lập thuộc Ủy ban Thông tin và Trách nhiệm giải trình về sức khỏe phụ nữ và trẻ em của LHQ, từ năm 1990-2003, Việt Nam có tốc độ giảm trung bình hàng năm là -5,2%, nhưng từ 2003-2013, con số này chỉ còn -4,6%/năm, khiến Việt Nam nằm trong số 19 quốc gia có xu hướng giảm tỷ lệ TVM chậm lại Báo cáo quốc gia về kết quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ cũng chỉ ra rằng, trong giai đoạn 1990-2005, tỷ lệ tử vong mẹ giảm trung bình hàng năm là 9,8 trường hợp trên 100.000 trẻ sơ sinh sống, nhưng từ 2006-2014, con số này giảm xuống chỉ còn 2,14 trường hợp trên 100.000 trẻ sơ sinh sống.
1.2 Chăm sóc trước, trong và sau sinh
Phụ nữ mang thai nên thực hiện ít nhất 3 lần khám thai để phát hiện sớm các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi Việc khám thai định kỳ rất quan trọng trong suốt quá trình mang thai.
2005 –2009, tỷ lệ phụ nữ sinh con được khám thai 3 lần trở lên tăng đều qua
7 DA Hỗ trợ y tế các tỉnh miền núi phía Bắc, Bộ Y tế Điều tra TVM,TVSS tại 7 tỉnh MNPB 2013- 2014(Dự thảo)
Bộ Kế hoạch Đầu tư Tổng cục Thống kê đã công bố báo cáo quốc gia về kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam vào năm 2015 tại Hà Nội.
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai từ 3 lần trở lên đã tăng đáng kể, từ 79,1% năm 2010 lên 86,68% năm 2011, và duy trì gần 90% trong giai đoạn 2012-2014 Trước đó, tỷ lệ này là 84,6% vào năm 2005 và 87,7% vào năm 2009 Thống kê từ Vụ SKBMTE cho thấy sự cải thiện liên tục trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.
Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh đạt thấp ở khu vực miền núi và nông thôn; chỉ đạt dưới 50% ở 25 huyện nghèo nhất
CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH
1 Xây dựng kế hoạch can thiệp dựa trên các bằng chứng khoa học cũng như kinh nghiệm thực hành tốt và các khuyến cáo cập nhật của quốc tế;
2 Áp dụng cách tiếp cận chăm sóc liên tục, toàn diện theo vòng đời (Continuum of Care) và tiếp cận toàn diện dịch vụ CSSKBMTE (Universal Access);
3 Ưu tiên can thiệp giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ em Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng Thực hiện các biện pháp phòng ngừa và giảm các tai biến sản khoa, sai sót chuyên môn Củng cố, tăng cường mạng lưới cấp cứu và điều trị sản khoa, nhi khoa;
4 Tập trung làm giảm sự khác biệt về tình trạng sức khỏe và TVM, TVTE giữa các vùng miền, các nhóm đối tượng ưu tiên như phụ nữ nghèo, phụ nữ người dân tộc thiểu số, người di cư;
5 Lựa chọn các can thiệp phù hợp với các điều kiện tự nhiên và xã hội, tôn trọng yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán, huy động tối đa sự tham gia của người dân và cộng đồng;
6 Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, trẻ em trọn gói, thiết yếu và hiệu quả, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng tuyến, đảm bảo tính đồng bộ giữa nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và thuốc thiết yếu;
7 Tăng cường tính sẵn có và chất lượng của mạng lưới cung cấp dịch vụ đi đôi với tăng cường mức độ sử dụng dịch vụ của người dân thông qua truyền thông, giáo dục sức khỏe, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em;
8 Ổn định và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các cấp theo hướng chuyên môn hóa Triển khai các giải pháp hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương để tăng cường thu hút cán bộ y tế chuyên ngành sản khoa, nhi khoa làm việc lâu dài tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
9 Tiếp tục củng cố hệ thống thông tin về sức khỏe bà mẹ-trẻ em, nâng cao chất lượng số liệu báo cáo thống kê và sử dụng thông tin dữ liệu phục vụ cho công tác lập kế hoạch và vận động nguồn lực, chính sách cho các mục tiêu về LMAT và CSSS;
10 Gắn kết chặt chẽ công tác LMAT/CSSS với các chương trình y tế liên quan như chương trình DS-KHHGĐ, HIV/AIDS, dinh dưỡng bà mẹ - trẻ em, tiêm chủng mở rộng, bác sỹ gia đình