1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt giáo trình giảng dạy dành cho đối tượng sau đại học y tế công cộng, định hướng sức khỏe môi trường

74 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt
Tác giả Ts. Trần Thị Tuyết Hạnh, Ts. Lê Thị Thanh Hương, Ts. Đặng Thế Hưng, Ts. Trần Quỳnh Anh, Ths. Đan Thị Lan Hương
Người hướng dẫn Ts. Lê Thị Thanh Hương, Ts. Trần Thị Tuyết Hạnh
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của nước đối với sinh vật, môi trường và xã hội Nước là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống của con người cũng như sự tồn tại của các sinh vật trên trái đất.. Các bệnh có

Trang 1

BỘ Y TẾ

KHOA SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG - NGHỀ NGHIỆP

GIÁM SÁT VỆ SINH CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĂN UỐNG

Trang 2

CHỦ BIÊN

TS Lê Thị Thanh Hương – Trường Đại học Y tế công cộng

TS Trần Thị Tuyết Hạnh – Trường Đại học Y tế công cộng

TÁC GIẢ BIÊN SOẠN

1 TS Trần Thị Tuyết Hạnh – Trường Đại học Y tế công cộng

2 TS Lê Thị Thanh Hương – Trường Đại học Y tế công cộng

3 TS Đặng Thế Hưng - Trường Đại học Y tế công cộng

4 TS Trần Quỳnh Anh – Trường Đại học Y Hà Nội

5 Ths Đan Thị Lan Hương – Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội

HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

1 Vai trò của nước đối với sinh vật, môi trường và xã hội 5

2 Vai trò của nước đối với sức khoẻ 6

3 Thực trạng cung cấp nước ăn uống và sinh hoạt trên thế giới 9

4 Thực trạng về nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn tại Việt Nam 12

5 Một số phương pháp xử lý nước ăn uống và sinh hoạt 14

6 Kết luận 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

BÀI 2 GIÁM SÁT VỆ SINH CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĂN UỐNG VÀ SINH

1 Giới thiệu chung 26

2 Các khái niệm liên quan đến giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

BÀI 3 QUY TRÌNH LẤY MẪU, BẢO QUẢN MẪU VÀ XÉT NGHIỆM

1 Tầm quan trọng 38

2 Lấy mẫu nước 39

3 Bảo quản mẫu 46

HUPH

Trang 4

4 Xét nghiệm chất lượng nước 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

BÀI 4 XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁM SÁT VỆ SINH, CHẤT LƯỢNG

1 Các nội dung giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt 60

2 Xây dựng kế hoạch giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt tại một cơ sở cấp nước 69

3 Viết báo cáo giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

HUPH

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DALY Số năm sống bị mất hiệu chỉnh theo bệnh tật GSVSCLN Giám sát vệ sinh chất lượng nước

SDG Mục tiêu phát triển bền vững

UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

VSMT Vệ sinh môi trường

WHO Tổ chức Y tế thế giới

HUPH

Trang 6

BÀI 1 CẤP NƯỚC ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT

TS Trần Thị Tuyết Hạnh

Thời gian: 4 tiết lý thuyết

Chuẩn đầu ra

Sau khi kết thúc bài học, học viên có thể:

1 Mô tả thực trạng, vai trò, ý nghĩa của nguồn nước ăn uống, sinh hoạt đối với môi trường và sức khoẻ

2 Phân tích một số hệ thống cấp nước và phương pháp xử lý nước ăn uống và sinh hoạt trên thế giới và tại Việt Nam

3 Phân tích thực trạng cung cấp nước ăn uống và sinh hoạt trên thế giới và tại

Việt Nam

NỘI DUNG

1 Vai trò của nước đối với sinh vật, môi trường và xã hội

Nước là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống của con người cũng như sự tồn tại của các sinh vật trên trái đất Trong quá trình hình thành sự sống thì nước và môi trường nước đóng vai trò hết sức quan trọng Sự sống của các sinh vật bắt đầu từ môi trường nước và sự di trú của các động vật lên môi trường trên cạn diễn ra trong khoảng một triệu năm nay Tế bào, các mô và các bộ phận khác của sinh vật chứa từ

60 - 80% nước Mọi hoạt động trao đổi chất của sinh vật và khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất cho thực vật đều cần có nước Đối với thực vật, nước tham gia vào quá trình quang hợp của cây xanh, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất… Nước là thành phần bắt buộc của tế bào sống, là thành phần cấu trúc tạo nên chất nguyên sinh và là một nhu cầu đảm bảo hoạt động bình thường của thực vật Các quá trình trao đổi chất đều cần nước tham gia và lượng nước sẽ ảnh hưởng đến chiều hướng

và cường độ của quá trình trao đối chất Do nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật nên nước bảo đảm cho thực vật có một hình

HUPH

Trang 7

dạng và cấu trúc nhất định Nước có một số tính chất hóa lý đặc biệt như tính dẫn nhiệt cao, có lợi cho thực vật phát tán và duy trì nhiệt lượng trong cây Nước có thể cho tia tử ngoại và ánh sáng mặt trời đi qua nên có lợi cho quang hợp Hàm lượng nước trong thực vật không giống nhau, thay đổi tùy thuộc loài hay các tổ chức khác nhau của cùng một loài thực vật, đồng thời phụ thuộc vào thời kỳ sinh trưởng của cây và điều kiện ngoại cảnh

Nước có ý nghĩa lớn đối với hệ sinh thái trên trái đất Mặc dù có rất nhiều chất và yếu tố quan trọng cho sự sống và sự tồn tại của các hệ sinh thái, tuy nhiên, nếu thiếu nước thì những yếu tố này cũng không thể đảm bảo sự sống Chu trình nước trong thiên nhiên góp phần quan trọng đảm bảo sự sống của sinh vật Nghiên cứu của

Miguel Mahecha et al (2010) cho thấy nước là một yếu tố quan trọng đối với vai

trò hấp thụ các bon của cây xanh Nếu nước có sẵn, cây xanh hấp thụ CO2 dễ dàng ngay cả khi nhiệt độ tăng lên Nhưng nếu nước trở nên khan hiếm các cây xanh sẽ bảo tồn nước và làm chậm quá trình quang hợp Như vậy, nước (trong phản ứng quang hợp của cây xanh) có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu khí nhà kính góp phần làm chậm lại quá trình ấm lên toàn cầu – hiện đang là một trong những thách thức lớn của nhân loại

Ngoài vai trò thiết yếu đảm bảo sự sống của con người thì nước còn được sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống và là tài nguyên đặc biệt quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững của đất nước Nước phục vụ cho như cầu

ăn uống sinh hoạt, đảm bảo vệ sinh cá nhân, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, hoạt động khám chữa bệnh, xử lý rác thải, giao thông vận tải, sản xuất điện, vui chơi giải trí… Tuy nhiên, nước cũng có thể có các tác động tiêu cực tới con người và hệ sinh thái thông qua các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, xói mòn, mưa đá v.v Nước sử dụng trong sản xuất thuỷ điện có tác dụng

to lớn đối với đời sống con người nhưng việc ngăn đập thuỷ điện cũng có thể ảnh hưởng tới hệ sinh thái, đặc biệt là các loài cá sống di cư

2 Vai trò của nước đối với sức khoẻ

HUPH

Trang 8

Trong cơ thể con người, thông thường nước chiếm khoảng 60-70% thể trọng và tỉ lệ này thay đổi tuỳ theo lứa tuổi, giới tính Chất lỏng trong cơ thể như máu, tuyến dịch… là do nước và một số chất khác tạo nên nhằm giúp vận chuyển chất dinh dưỡng đến các cơ quan của cơ thể Nước tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp con người hấp thu chất dinh dưỡng, cũng như tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể, đồng thời là một dung môi hoà tan các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể Nước còn giúp cho các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp và là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xương trong cơ thể

Khi cơ thể mất khoảng 1-2% lượng nước sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ và cảm thấy khát, mất khoảng 5%-8% lượng nước trong cơ thể có thể gây hôn mê và mất từ 10-25% lượng nước là có thể gây tử vong (Ashcroft, 2000) Khoảng 80% thành phần

mô não được cấu tạo bởi nước, việc thường xuyên thiếu nước làm giảm sút tinh thần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ (Natalie et al 2014) Ngoài ra, nước còn có nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả Uống đủ nước làm cho hệ thống bài tiết được hoạt động thường xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có thể ngăn ngừa sự tồn đọng lâu dài của những chất gây ung thư Uống nước nhiều hằng ngày giúp làm loãng và gia tăng lượng nước tiểu bài tiết cũng như góp phần thúc đẩy sự lưu thông toàn cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình thành của các loại sỏi: đường tiết niệu, bàng quang, niệu quản Tuỳ vào cân nặng của cơ thể, giới tính, lứa tuổi, hoạt động thể lực, điều kiện thời tiết v.v mà lượng nước cần uống vào có thể nhiều hay ít nhưng thường dao động trong khoảng 2 lít mỗi ngày đối với người lớn nặng 70kg và 1 lít đối với trẻ em cân nặng 10kg (U.S EPA, 2012)

Mặc dù số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh truyền nhiễm đã giảm so với trước đây, song các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường vẫn là vấn đề Y tế công cộng nổi cộm ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong

đó có Việt Nam Nước ăn uống, sinh hoạt không đảm bảo chất lượng đã và đang

HUPH

Trang 9

ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ con người Các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, vi rút,

ký sinh trùng là rất phổ biến và phần lớn là do phơi nhiễm với các mầm bệnh trong nước ăn uống, sinh hoạt Gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, khả năng lây nhiễm và quần thể phơi nhiễm Nếu hệ thống cấp nước sạch bị gián đoạn hoặc không đảm bảo sẽ có nguy cơ xảy ra các vụ dịch do các bệnh tật liên quan tới nước Phần lớn các bệnh này có thể dự phòng được thông qua hệ thống cấp nước sạch cho người dân, đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh

cá nhân Tuy nhiên, các bệnh liên quan đến nước không chỉ là những bệnh do phơi nhiễm với mầm bệnh trong nước ăn uống mà còn có thể do hít phải hơi nước chứa mầm bệnh (ví dụ bệnh Legionellosis và bệnh viêm phổi do nhiễm khuẩn có thể xẩy

ra do hít phải các hạt nước chứa vi khuẩn) hay do tiếp xúc với mầm bệnh khi bơi lội dưới nước v.v Các bệnh có liên quan tới nước có thể được chia thành 5 nhóm bệnh, bao gồm: các bệnh lây lan qua nước ăn uống, nhóm bệnh do thiếu nước trong sinh hoạt, nhóm bệnh do côn trùng sống một phần trong nước truyền, nhóm bệnh do các chất trong nước và nhóm bệnh do tiếp xúc với nước Đường phơi nhiễm đối với các bệnh này bao gồm đường ăn uống, hít thở, tiếp xúc qua da và do muỗi đốt

Thiếu nước sạch để dùng cho ăn uống, sinh hoạt và điều kiện vệ sinh môi trường kém đang là nguyên nhân chính làm lây lan các bệnh liên quan đến nước tại nhiều quốc gia Theo Tổ chức Y tế thế giới, gần 80% bệnh tật là có liên quan tới chất lượng nước và tình trạng VSMT, một nửa số giường bệnh trên thế giới là các bệnh

có liên quan tới nước Mỗi năm có khoảng 4 tỉ trường hợp bị tiêu chảy, chiếm khoảng 4,1% gánh nặng bệnh tật toàn cầu tính theo chỉ số DALY và làm khoảng 2,5 triệu người tử vong, chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi (WHO, 2011) Khoảng 88% các

ca bệnh đường tiêu hóa trên thế giới là do sử dụng nước ô nhiễm và không được tiếp cận với các công trình vệ sinh (Evans 2005) Ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy là một trong những nguyên nhân chính gây ra gánh nặng bệnh tật trên phạm vi toàn quốc, và theo số liệu báo cáo trong Niên giám thống kê y tế thì tiêu chảy luôn là một trong 10 bệnh có số ca mắc và tử vong cao nhất với khoảng từ 725.000 đến 930.000 ca mắc mỗi năm Đánh giá gánh nặng bệnh tật cũng như các vấn đề sức khoẻ liên quan tới nước ăn uống, sinh hoạt và thực trạng cấp nước tại các địa

HUPH

Trang 10

phương là các hướng nghiên cứu mà các học viên cao học Y tế công cộng, Sức khoẻ môi trường có thể thực hiện khi thực hiện luận văn tốt nghiệp Ngoài ra học viên cũng có thể nghiên cứu về mối liên quan giữa các nhóm bệnh liên quan tới nước và giao động thời tiết, biến đổi khí hậu để xây dựng mô hình dự báo và cảnh báo sớm, giúp các địa phương chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm gánh nặng bệnh tật liên quan tới nước cho cộng đồng

3 Thực trạng cung cấp nước ăn uống và sinh hoạt trên thế giới

Chương trình Giám sát Cấp nước và Vệ sinh của WHO/UNICEF (JMP) đã định kỳ đưa ra báo cáo về thực trạng cấp nước và vệ sinh trên toàn cầu kể từ 1990 Năm

2017 báo cáo cung cấp đánh giá toàn diện và cập nhật về kết quả của Mục tiêu phát triển bền vững 6 (SDG) “Đảm bảo tính sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và

vệ sinh cho mọi người” Mục tiêu 6 bao gồm nhiều khía cạnh như: cải thiện tiêu chuẩn của các dịch vụ nước sạch và vệ sinh (mục tiêu 6.1 và 6.2); tăng cường xử lý, tái sử dụng và tái chế nước thải (mục tiêu 6.3); cải thiện hiệu suất và đảm bảo khai thác bền vững (mục tiêu 6.4); và bảo vệ các hệ sinh thái liên quan tới nước (mục tiêu 6.6) như là một cấu phần của cách tiếp cận tổng thể trong quản lý nguồn nước (mục tiêu 6.5) Theo mục tiêu 6 đặt ra là cần đảm bảo tính sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và vệ sinh cho tất cả mọi người, cụ thể: Mục tiêu 6.1 đề ra đến năm 2030 cần đảm bảo tất cả mọi người được tiếp cận với nguồn nước an toàn với chi phí hợp lí; Mục tiêu 6.2 là đến 2030 tất cả mọi người cần được tiếp cận với các công trình vệ sinh hộ gia đình, chấm dứt hoàn toàn hành vi vệ sinh bừa bãi và đặc biệt cần chú ý tới nhu cầu của phụ nữ, trẻ em gái và những nhóm người dễ bị tổn thương

Các nguồn nước ăn uống có cải thiện cần đảm bảo cấp nước an toàn cho người dân Trong giai đoạn thực hiện các SDG thì các nguồn nước có cải thiện được chia thành

3 nhóm nhỏ, đáp ứng 3 tiêu chí bao gồm nguồn nước dẫn đến hộ gia đình, luôn sẵn

có khi cần và nguồn nước không bị nhiễm bẩn Nếu một nguồn nước có cải thiện không đáp ứng được bất kỳ tiêu chí nào trong 3 tiêu chí này nhưng người dân mất

30 phút hoặc ít hơn để đi lấy nước thì nguồn nước đó được xếp vào nguồn nước

HUPH

Trang 11

uống/dịch vụ cấp nước cơ bản (SDG 1.4) Nếu nguồn nước có cải thiện nhưng cần trên 30 phút để người dân đi lấy nước thì nguồn nước đó được phân vào nhóm

“nguồn nước/dịch vụ cấp nước hạn chế” Chương trình nghị sự đến 2030 áp dụng cho tất cả các quốc gia, với các mức phát triển khác nhau Mặc dù Mục tiêu SDG 6.1 và 6.2 nhằm tăng chuẩn các dịch vụ cấp nước và vệ sinh cho tất cả mọi người,

ưu tiên cấp thiết hiện nay tại nhiều quốc gia đang phát triển là đầu tiên cần phải đảm bảo tất cả mọi người được tiếp cận với ít nhất dịch vụ ở mức cơ bản, đặc biệt cần tập trung cho người nghèo và các nhóm người dễ bị tổn thương trong cộng đồng Năm 2015, trên thế giới có 6,5 tỉ người được sử dụng nguồn nước có cải thiện và trong khoảng cách dưới 30 phút để lấy nước và được xếp vào nhóm được tiếp cận với ít nhất là nguồn nước cơ bản Tuy nhiên, còn khoảng 263 triệu người, chiếm khoảng 4% dân số thế giới vẫn đang sử dụng các nguồn nước cần trên 30 phút để lấy nước và được xếp vào nhóm tiếp cận với nguồn nước/dịch vụ cấp nước hạn chế Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, tỉ lệ dân số được tiếp cận với tối thiểu

là các dịch vụ cấp nước ăn uống cơ bản tang trung bình 0,49% mỗi năm nhưng tốc

độ gia tăng ở Đông Á và Đông Nam Á nhanh hơn với 0,97% cũng như ở Châu Phi

và cận Saharan với 0,88% Các quốc gia như Australia, New Zealand, Bắc Mỹ và Châu Âu gần như đã đạt được tỉ lệ 100% dân số đã được tiếp cận với các nguồn nước/dịch vụ cấp nước cải thiện (Hình 1.1) Khoảng 844 triệu người chưa được tiếp cận với các dịch vụ cấp nước ăn uống cơ bản đang sử dụng các nguồn nước hạn chế với thời gian đi lấy nước trên 30 phút hoặc sử dụng các nguồn nước chưa cải thiện (ví dụ các giếng, suối không được bảo vệ) hoặc sử dụng trực tiếp các nguồn nước mặt Cũng trong giai đoạn 2000-2015, dân số thế giới sử dụng nước máy tăng từ 3,5

tỉ người lên 4,7 tỉ, còn dân số sử dụng các nguồn nước khác tang từ 1,7 tỉ lên 2,1 tỉ Tính trên toàn cầu hiện ở nông thôn cứ 5 người thì có 1 người sử dụng nước máy và

ở thành thị thì cứ 5 người là có 4 người hiện sử dụng nước máy

HUPH

Trang 12

Hình 1.1 Tỉ lệ tiếp cận với các nguồn nước trên thế giới

Nguồn: UNICEF & WHO (2017)

* Không đủ số liệu để ước tính tỉ lệ tiếp cận với dịch vụ cấp nước quản lý an toàn

Hình 1.2 Tỉ lệ dân số ở các quốc gia hiện sử dụng dịch vụ cấp nước ở mức cơ bản trở lên, 2015

Nguồn: UNICEF & WHO (2017)

Nước ăn uống

Nước mặt Chưa cải thiện Hạn chế

Cơ bản Quản lý an toàn

HUPH

Trang 13

Theo UNICEF và WHO (2017), đến hết năm 2015 có 71% dân số thế giới (khoảng 5,2 tỉ người) sử dụng các dịch vụ cấp nước được quản lý an toàn, là các dịch vụ cấp nước tới các hộ gia đình, luôn có sẵn khi cần và không bị nhiễm bẩn và khoảng 1,9

tỉ người trong số này sống ở nông thôn Ước tính về tỉ lệ dân số tiếp cận với các nguồn nước quản lý an toàn hiện có ở 96 quốc gia (chiếm khoảng 35% dân số thế giới)

4 Thực trạng về nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn tại Việt Nam

Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn cùng với các dự án triển khai trong thời gian qua đã cung cấp cho người dân một trong những yếu tố cơ bản nhất của cuộc sống, đó là khả năng tiếp cận với nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt nhằm giảm tỉ lệ mắc các bệnh liên quan đến nước Tuy nhiên, hiện vẫn rất ít người dân nhận thức được rằng các thực hành vệ sinh cá nhân, vệ sinh cộng đồng và tiếp cận với các dịch vụ vệ sinh là hết sức cần thiết để giải quyết các vấn đề sức khỏe, đặc biệt là vấn đề bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi Đã có rất nhiều nghiên cứu kiến thức thái độ và thực hành của người dân liên quan đến vấn đề này, đặc biệt

là ở các nước đang phát triển (Abdikadir 2005, Ahmed và cộng sự 2001, UNICEF

2007, Cookey 2008) Nghiên cứu cho thấy thiếu kiến thức, thái độ và thực hành

đúng về vệ sinh, dự phòng bệnh tật là những nguyên nhân chính làm cho gánh nặng bệnh tật của các bệnh liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thường rất cao

Các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường là vấn đề sức khoẻ môi trường quan trọng tại Việt Nam Số liệu thống kê của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc cho thấy 80% bệnh tật ở nông thôn Việt Nam là các bệnh có liên quan tới nước và vệ sinh môi trường Trong vài năm gần đây, các bệnh dịch nguy hiểm như dịch tả đã bùng phát tại nhiều tỉnh và thành phố trên cả nước Một trong các nguyên nhân chính là do kiến thức, thái độ và thực hành của người dân liên quan đến nước sạch vệ sinh môi trường còn rất hạn chế Theo báo cáo của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nước sạch Vệ sinh môi trường Nông thôn giai đoạn 2011-2015, đến cuối năm 2015 tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 84,5%,

HUPH

Trang 14

trong đó tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/BYT trở lên mới chỉ đạt 42% Ngoài ra, trong các cuộc điều tra do Bộ Y tế thực hiện cũng như các nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành trên quy mô nhỏ hơn đều cho thấy kiến thức, thực hành của người dân về nước sạch, vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường hiện còn rất hạn chế và thái độ của nhiều người còn rất bàng quan đối với vấn đề này (Bộ Y tế và UNICEF 2007, 2006)

Các chương trình, dự án triển khai trong thời gian qua, đặc biệt là từ năm 2000 đến nay đã giúp người dân ở các vùng nông thôn cải thiện khả năng tiếp cận với nước sạch và các công trình vệ sinh Tuy nhiên, có ít chương trình tập trung tăng cường kiến thức, thái độ và thực hành đúng cho cộng đồng về nước nước sạch, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân Tiếp cận với nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, xử lý tốt nước thải và chất thải rắn từ các hộ gia đình, đồng thời áp dụng các thực hành rửa tay với nước sạch và xà phòng v.v có thể giảm đáng kể nguy cơ mắc một số bệnh phổ biến như bệnh bệnh tiêu chảy và các bệnh đường ruột khác, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đây chính là một trong những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ nhằm giúp nâng cao chất lượng cuộc sống tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của các bộ, ngành liên quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế, cũng như các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Tổ chức Y tế thế giới, UNICEF… tại Việt Nam

Trong những thập kỷ gần đây, với tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng ở Việt Nam

và nhiều quốc gia khác cùng với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tăng cường sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, nhu cầu về nước gia tăng ở mức báo động Mặc

dù hiện chưa đánh giá hết tác động lâu dài của thực trạng sử dụng nước quá mức trong thời gian gần đây nhưng chúng ta có thể nhận thấy rất rõ thực trạng suy thoái môi trường và hệ sinh thái, đe doạ sự tồn tại của nhiều loài sinh vật Khi con người

sử dụng phần lớn lượng nước sạch có thể khai thác được cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, v.v thì lượng nước cần thiết để duy trì hệ sinh

HUPH

Trang 15

thái trên trái đất sẽ giảm đi và thực trạng này đã và đang để lại những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái trên trái đất

Ngoài ra, do đặc điểm nước phân bố không đều cả về không gian và thời gian, tình trạng ô nhiễm nước đang xảy ra ở mức độ trầm trọng trên phạm vi toàn quốc, cùng với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Việt Nam đang trở thành quốc gia có nguy cơ thiếu nước ngọt trầm trọng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt, sản xuất v.v Một trong những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước là 100% dân cư thành thị và 80% dân số

ở nông thôn được cấp nước sạch và cần xây dựng quy hoạch bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn nước đáp ứng yêu cầu của đời sống, sản xuất, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái Học viên có thể thực hiện các nghiên cứu về thực trạng cấp nước

ăn uống sinh hoạt tại các địa phương và tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn cũng như tìm ra những giải pháp góp phần cải thiện thực trạng cấp nước và tang cường hành vi sử dụng nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt của người dân Học viên cũng có thể thực hiện các nghiên cứu về đánh giá gánh nặng bệnh tật liên quan đến nước và cung cấp bằng chứng khoa học cho các nhà hoạch định chính sách và người dân về lợi ích của sử dụng nước sạch trong dự phòng bệnh tật, góp phần bảo vệ, nâng cao sức khoẻ cộng đồng và giảm gánh nặng kinh tế do chi phí điều trị các bệnh liên quan tới nước

5 Một số phương pháp xử lý nước ăn uống và sinh hoạt

Các nguồn nước dùng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt hàng ngày của người dân như nước mặt (lấy từ ao, hồ, sông, suối v.v.), nước giếng khoan, giếng đào, giếng khơi hay nước mưa v.v có thể bị ô nhiễm bởi vi sinh vật và ô nhiễm hoá chất từ nhiều nguồn khác nhau Để đảm bảo an toàn thì người dân cần sử dụng nước sạch (nước máy) hoặc các nguồn nước đã qua xử lý Các phương pháp xử lý nước được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới trong nhiều thế kỷ nay nhằm loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh cũng như nhiều hóa chất độc hại có thể có trong nước nguồn Tùy thuộc vào đặc điểm và chất lượng nước nguồn của mỗi vùng mà các nhà máy cấp nước sẽ lựa chọn các kỹ thuật xử lý phù hợp

HUPH

Trang 16

Mục này giới thiệu một số kỹ thuật xử lý nước áp dụng ở các nhà máy cấp nước cũng như một số biện pháp vệ sinh cải thiện nguồn nước ăn uống, sinh hoạt áp dụng tại hộ gia đình Về cơ sở lý thuyết, phần lớn các phương pháp xử lý nước ăn uống tại hộ gia đình có thể áp dụng trong các nhà máy xử lý nước ăn uống, tuy nhiên, ở quy mô lớn hơn và được áp dụng bài bản hơn, với chất lượng nước trước khi chảy vào hệ thống phân phối được đảm bảo Nếu áp dụng phương pháp xử lý phù hợp và nước sau khi xử lý được chứa trong các dụng cụ chứa nước hợp vệ sinh thì sẽ góp phần quan trọng giảm bớt gánh nặng bệnh tật do các bệnh liên quan đến nước gây

ra Đặc biệt ở những địa phương nơi chưa có nước máy hoặc nước máy được bán với giá cao không phù hợp với thu nhập của người dân thì các kỹ thuật xử lý nước

ăn uống tại hộ gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng Phần này giới thiệu tóm tắt

về các phương pháp xử lý nước đơn giản áp dụng tại nhà máy nước và tại hộ gia đình, bao gồm: phương pháp keo tụ (đánh phèn), phương pháp lọc, phương pháp khử khuẩn (bằng hóa chất, khử khuẩn bằng nhiệt, khử khuẩn bằng tia cực tím v.v.)

và phương pháp khử sắt trong nước Bảng 1.1 mô tả hiệu suất có thể đạt được của các quá trình xử lý nước thông dụng Ở các nước phát triển và thành phố thì ngoài các phương pháp đơn giản này, người dân còn có thể áp dụng phương pháp lọc bằng cacbon hoạt tính, thẩm thấu ngược, trao đổi ion v.v

Bảng 1.1: Hiệu suất có thể đạt được của các phương pháp xử lý nước thông dụng tại hộ gia đình

Trang 17

Ghi chú: ++++ = xử lý/cải thiện triệt để; +++ = xử lý/cải thiện rất tốt; ++ = xử

lý/cải thiện tốt nhưng không hết; + = xử lý/cải thiện một phần; 0= không xử lý/cải thiện được; - = ảnh hưởng ngược lại Nguồn: http://www.cdc.gov/healthywater/drinking/travel/ household_water_treatment.html

5.1 Phương pháp lắng/keo tụ

Phương pháp keo tụ hay dân gian còn gọi là phương pháp đánh phèn là một kỹ thuật

xử lý nước ăn uống tại hộ gia đình khá đơn giản và ít tốn kém Phương pháp này cũng áp dụng ở cơ sở cấp nước Nguyên lý của phương pháp lắng là sử dụng trọng lực để loại bỏ các hạt vật chất rắn có trong nước Trong xử lý nước ăn uống, để tăng hiệu quả của phương pháp lắng, người ta kết hợp phương pháp lắng với phương pháp keo tụ Thông thường trong nước thường chứa các chất bẩn, các hạt keo tích điện âm Các chất keo thường có trọng lượng nhỏ và không lắng xuống đáy dụng cụ

HUPH

Trang 18

chứa nước trong một thời gian ngắn Cơ sở lý thuyết của phương pháp keo tụ là cho vào nước các chất keo tụ (thường là phèn chua - nhôm sunfat - Al2(SO4)3.10H2O) hoặc có thể dùng sắt sunfat (Fe2(SO4)3 hoặc sắt clorua (FeCl3)) để khi tan vào nước, các chất này tạo ra các ion tích điện dương để trung hòa với các ion âm trong nước, tạo ra các phức hợp không tích điện có trọng lượng lớn hơn có thể được loại ra bằng phương pháp lắng, lọc do quá trình lắn tự nhiên sẽ diễn ra Ở Việt Nam, vẫn còn một tỉ lệ khá lớn người dân sử dụng nước mặt cho ăn uống và sinh hoạt nên phương pháp đánh phèn cũng được nhiều người dân thực hiện, đặc biệt là các hộ gia đình sống ở đồng bằng Sông Cửu Long và người dân sống trong các vùng thường xuyên xẩy ra lũ lụt

Ở quy mô hộ gia đình, thông thường để xử lý khoảng một thùng nước 20 lít, người dân dùng 1 gam (khoảng 1 thìa con) phèn chua tán nhỏ, hoà vào 1 bát nước rồi đổ dần vào thùng nước, khuấy đều, để lắng, đợi khoảng 30 phút và gạn lấy nước trong

để dùng Nếu muốn làm trong lượng nước nhiều hơn thì người dân có thể dùng xô

có dung tích 20 lít, đong nước đổ vào các dụng cụ lớn hơn như thùng nước, bể nước, rồi lấy lượng phèn chua để làm trong nước theo tỷ lệ nêu trên (1g phèn dùng cho khoảng 20 lít nước) Sau khi đánh phèn làm trong nước ở các dụng cụ chứa nước lớn thì người dân cần múc lấy nước trong ở trên đổ sang vật chứa khác để khử khuẩn Đối với người dân sống trong vùng lũ lụt thì Bộ Y tế cũng có ban hành Sổ tay hướng dẫn xử lý nước sạch và vệ sinh môi trường trong mùa bão lụt, trong đó có

mô tả phương pháp làm trong giếng nước Để thực hiện, người dân dùng phèn chua (loại thường dùng là phèn nhôm) với liều lượng 50g/1m3 nước, trong trường hợp nước rất đục thì có thể dùng tối đa 100g/1m3 nước Hòa tan hết lượng phèn cần thiết vào một gầu nước, sau đó tưới đều lên giếng nước rồi kéo mạnh lên khoảng 10 lần

và để yên 30 phút đến 1 giờ cho cặn lắng hết thì tiến hành khử trùng (Bộ Y tế 2004)

5.2 Phương pháp lọc

Rất nhiều thiết bị xử lý nước sử dụng phương pháp lọc để loại bỏ các hạt vật chất có trong nước Những hạt này bao gồm đất sét, phù sa, hạt hữu cơ, cặn lắng từ các quá

HUPH

Trang 19

trình xử lý khác trong thiết bị, sắt, mangan và các vi sinh vật Phương pháp lọc giúp làm trong nước và tăng hiệu quả của quá trình khử trùng Lọc nước là phương pháp

xử lý nước không chỉ áp dụng ở các cơ sở cấp nước mà còn được áp dụng rất phổ biến ở quy mô hộ gia đình và thực tế người dân Việt Nam từ hàng trăm năm trước

đã biết cách lọc nước trước khi sử dụng nhằm loại trừ các tạp chất hữu cơ, chất bẩn

và vi sinh vật trong nước Hiện nay, tại các vùng nông thôn tỉ lệ người dân dùng nước mặt, nước giếng đào và giếng khoan trong ăn uống và sinh hoạt vẫn còn cao nên rất nhiều gia đình tự xây các bể lọc Thông thường một bể lọc có thể gồm 2 hoặc 3 lớp vật liệu, tùy theo nguồn nước Lớp dưới cùng là sỏi, tạo khoảng trống để thu gom nước, tiếp theo là lớp than hoạt tính (dùng loại hạt than càng nhỏ càng tốt

để hấp phụ mùi và các chất hòa tan); trên cùng là lớp cát vàng (nếu chỉ lọc cặn làm trong nước) hoặc thay bằng Filox để khử thêm sắt, mangan và mùi tanh Hiện nay trên thị trường có bán rất nhiều thiết bị lọc nước có kích thước nhỏ gọn, với các công đoạn khác nhau Ngoài tác dụng lọc các hạt lơ lửng trong nước, bể lọc các còn

có tác dụng loại bỏ các vi sinh vật Nếu kết hợp giàn mưa, các bể lọc cát còn có khả năng khử sắt, loại bỏ các kim loại nặng và các chất độc trong nước, làm ngọt nước, khử màu, mùi hôi tanh trong nước

Có thể phân ra các các loại bể lọc cát là bể lọc cát chậm và bể lọc cát nhanh, với vật liệu lọc và hiệu suất lọc khác nhau Phương pháp lọc được sử dụng từ hang tram năm nay tại nhiều quốc gia và vẫn tiếp tục được coi là phương pháp hiệu quả để làm trong nước ở nhà máy cấp nước cũng như ở hộ gia đình Cấu tạo của lớp vật liệu lọc khá đơn giản và dễ tìm: cát mịn (thông thường lớp cát lọc dầy tối thiểu 0,5m), sỏi hoặc đá cuội ở dưới Với các bể lọc cát chậm thì nước luôn được đổ ngập lớp cát lọc, phía trên bề mặt cát lọc, cùng với nước, cát ẩm, các vi khuẩn và động vật nguyên sinh tạo nên một lớp màng sinh học Lớp màng sinh học đóng vai trò chính trong quá trình lọc Các hạt lơ lửng trong nước đi qua màng sinh học trong bể lọc cát chậm sẽ bị các vi khuẩn và động vật nguyên sinh tiêu thụ và phân hủy nên phương pháp này có tác dụng làm sạch nước cao hơn so với phương pháp lọc cát nhanh Ngược lại, trên bề mặt bể lọc cát nhanh không có lớp màng sinh học Do đó

bể lọc cát nhanh thường được sử dụng tại các nhà máy xử lý nước để lọc các hạt rắn

HUPH

Trang 20

lơ lửng ra khỏi nước Để tăng hiệu quả lọc của bể lọc cát nhanh, lớp cát lọc cần được rửa thường xuyên Ngoài ra một phương pháp lọc khá hiện đại và thông dụng nhưng khá tốn kém là dung màng lọc thẩm thấu ngược, còn gọi là lọc RO (là viết tắt của từ tiếng Anh: Reverse Osmosis) Phương pháp RO là một hệ thống áp lực, sử dụng điện năng và cơ năng để duy trì áp lực cần thiết trong hệ thống Nhờ có áp lực trong hệ thống nên các lỗ xốp trên màng lọc có thể có kích thước nhỏ, cho phép loại

bỏ phần lớn các chất bẩn có trong nước

5.3 Phương pháp trao đổi ion

Phương pháp trao đổi ion trong xử lý nước ăn uống và sinh hoạt thường áp dụng tại các nhà máy cấp nước Dựa trên nguyên lý hấp thụ ion trái dấu của các hạt mang điện Trong nước thường chứa các ion mang điện tích (-) gọi là anion và hạt mang điện tích (+) gọi là cation Khi gặp điều kiện thuận lợi các ion mang điện trái dấu kết hợp với nhau và tạo thành hạt cặn có kích thước lớn hơn và lắng xuống đáy Dựa vào nguyên lý này, trong quá trình xử lý nước ăn uống và sinh hoạt, chúng ta cho có thể cho các hạt nhựa nhân tạo mang điện tích vào nước để hút các hạt mang điện tích trái dấu trong nước và tạo thành các bông cặn Phương pháp này thường được sử dụng để loại bỏ các chất vô cơ còn lại sau quá trình áp dụng phương pháp lắng và lọc Phương pháp trao đổi ion có thể được sử dụng để làm mềm nước, loại

bỏ các ion canxi và magie là các ion làm nước bị cứng, cũng như giúp loại bỏ các ion kim loại nặng và các ion phi kim có ảnh hưởng tiêu cực tới sức khoẻ cộng đồng

5.4 Phương pháp hấp phụ

Phương pháp này thường được áp dụng tại nhà máy nước cũng như các thiết bị lọc nước sử dụng ở hộ gia đình hiện được bán phổ biến trên thị trường Phương pháp hấp phụ sử dụng các chất có hoạt tính bề mặt cao (ví dụ than hoạt tính) để hấp phụ các chất hữu cơ độc hại có trong nước Phương pháp hấp phụ được sử dụng phổ biến để loại bỏ các chất bẩn hữu cơ cũng như xử lí màu, mùi và vị trong nước ăn uống

HUPH

Trang 21

5.5 Phương pháp khử sắt

Nước ngầm tại một số tỉnh, thành phố của Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc thường bị nhiễm sắt và mangan lớn, nên cần thiết phải khử sắt và mangan trước khi sử dụng Sắt trong nước ngầm tồn tại dưới dạng sắt hóa trị II (Fe(II)) ở dạng hoà tan nên không loại bỏ được bằng phương pháp lọc Fe(II) khi tiếp xúc với oxy sẽ tạo thành Fe(III) kết tủa và lắng xuống đáy Để khử sắt ở nhà máy cấp nước cũng như ở hộ gia đình thường dùng phương pháp dàn mưa để phun nước lên thành giọt nhỏ Trong quá trình rơi xuống, nước được tiếp xúc với oxy trong không khí thành kết tủa Fe(OH)3 và lắng xuống nên có thể lọc hoặc tách ra khỏi nước theo phương trình sau

4Fe(HCO3)2 + O2 + H2O à 4Fe(OH)3↓ + 8CO2↑

5.6 Khử trùng nước

Ô nhiễm vi sinh vật là điều cần hết sức quan tâm liên quan đến chất lượng nước ăn uống vì các vi sinh vật có thể gây rất nhiều loại bệnh tật khác nhau, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Người dân cần sử dụng nước đã được khử trùng cho mục đích

ăn uống, sinh hoạt Các phương pháp đã mô tả ở trên như đánh phèn, lắng và lọc nước đã giúp giảm một lượng lớn vi sinh vật trong nước nhưng chưa thể diệt hết các

vi sinh vật gây bệnh Do đó, nước sau khi đã được làm trong vẫn còn tiềm ẩn các yếu tố nguy cơ gây bệnh cho người sử dụng và công đoạn khử trùng nước là rất cần thiết

Có nhiều phương pháp khử trùng nước như khử trùng bằng cách đun sôi, dùng clo, tia cực tím, bạc, ôzôn v.v Phương pháp chiếu tia cực tím hầu như không làm thay đổi thành phần hóa học của nước, có ưu điểm là không tạo nên những chất có thể gây mùi hoặc có hại cho sức khỏe, tuy nhiên có nhược điểm là không có khả năng khử khuẩn trong trường hợp nước bị tái nhiễm khuẩn sau khi đã xử lý Khử trùng bằng ôzôn ngoài việc khử trùng nước còn có tác dụng oxy hóa các tạp chất vô cơ và hữu cơ trong nước, làm giảm độ màu, giảm mùi hôi của các chất hoà tan trong nước thiên nhiên Tuy nhiên, phương pháp khử trùng bằng tia cực tím hay ôzôn thường

HUPH

Trang 22

áp dụng tại các nhà máy xử lý nước lớn chứ không khuyến khích áp dụng ở quy mô

hộ gia đình Phương pháp khử trùng phổ biến nhất là dùng clo Tại các nhà máy xử

lý nước ăn uống thì có thể dùng khí clo hay các chất có chứa clo hoạt tính như clorua vôi, các hypochlorite, các chất chloramine, đioxyt clo v.v Liều lượng sử dụng các chất này đều được tính qua lượng clo hoạt tính Trên thực tế để clo hoá nước người ta thường dùng khí clo, clorua vôi, các hypochlorite, các chất chloramine Các hợp chất có clo hoạt tính khi hoà tan vào nước tạo thành axit hypochlorous (HOCl) và các ion hypochlorite (OCl-) là những chất khi tiếp xúc với màng tế bào của vi sinh vật sẽ làm cản trở quá trình trao đổi chất và do đó có khả năng khử khuẩn

Về xử lý nước tại hộ gia đình thì phương pháp khử trùng bằng Clo cũng là phương pháp thông dụng nhất vì khá đơn giản, ít tốn kém và thường có hiệu quả cao Người dân có thể sử dụng các viên Cloramin T hoặc B (được đóng gói với hàm lượng 0,25g) để khử trùng nước sau khi đã đánh phèn làm trong Không khử trùng đồng thời với đánh phèn vì phèn và các chất hữu cơ trong nước sẽ hấp thụ hết Clo hoạt tính nên làm mất tác dụng khử trùng của Clo Một viên Cloramin T hoặc B có thể dùng để khử trùng 25 lít nước Ngoài ra các trung tâm y tế dự phòng hay trạm y tế

xã cũng có thể sử dụng Cloramin B dạng bột và Clorua vôi để khử trùng các nguồn nước cấp cho tập thể, các giếng nước công cộng với hàm lượng 10mg hóa chất/1 lít nước Sau khi khử trùng nước vẫn phải ngửi thấy mùi Clo thì mới đảm bảo và nước sau khi khử trùng vẫn cần đun sôi trước khi uống (Bộ Y tế 2004) Còn đối với nước máy, cần phải thường xuyên kiểm tra nồng độ Clo dư trong nước để đảm bảo nồng

độ Clo dư luôn đạt tối thiểu là 0,7mg/l thì mới đảm bảo an toàn cho người sử dụng Thời gian gần đây, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, người dân có thể

sử dụng viên aquatabs 67mg để khử khuẩn nước Phương pháp này rất tiện lợi và dễ thực hiện ở hộ gia đình Người dân chỉ cần cho 1 viên aquatabs loại 0,67mg vào 20 lít nước sau khi đã được làm trong, đậy nắp lại, đợi sau 30 phút để chất khử diệt hết

vi khuẩn là dùng được Nước đã xử lý bằng aquatabs 67mg có thể uống được mà không cần đun sôi vẫn khá an toàn, giúp phòng tránh các bệnh do nước nhiễm

HUPH

Trang 23

khuẩn gây ra Như vậy, trong các điều kiện như trong thảm họa, khi việc đun sôi nước là khó khăn thì xử lý nước bằng viên aquatabs thực sự rất hiệu quả và tiện lợi Còn trong điều kiện bình thường thì người dân vẫn nên đun sôi nước trước khi uống

vì thực tế nước sau khi đã xử lý bằng Cloramin hay bằng viên aquatabs thì vẫn có nguy cơ tái nhiễm khuẩn Trên thị trường có nhiều dạng viên aquatabs với các hàm lượng khác nhau, nên khi dùng người dân cứ dùng theo tỷ lệ nêu trên Aquatabs với hàm lượng clo hoạt tính là 90%, cao hơn hẳn so với hàm lượng clo hoạt tính của các chất khử khuẩn khác như cloramin B: 25%; clorin 70%, 65%; nước javen: 8-12%

6 Kết luận

Nước có vai trò hết sức quan trọng đối với hệ sinh thái, sức khoẻ con người cũng như mọi mặt của cuộc sống Các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường hiện vẫn đang là vấn đề Y tế công cộng nổi cộm ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Thông tin cơ bản trong bài này giới thiệu thực trạng, vai trò,

ý nghĩa của nguồn nước đối với sức khỏe và môi trường sinh thái Sinh viên cũng

có cơ hội tìm hiểu chi tiết về 5 nhóm bệnh liên quan đến nước và một số biện pháp

dự phòng Nước có thể bị ô nhiễm bởi nhiều nguồn khác nhau và bài này giới thiệu tóm tắt các chỉ tiêu cơ bản trong giám sát chất lượng nước cũng như một số kỹ thuật

cơ bản xử lý nướng ăn uống, sinh hoạt áp dụng tại hộ gia đình Để hiểu sâu hơn về các chủ đề này, sinh viên có thể tìm đọc thêm các tài liệu sách chuyên khảo hoặc đọc thêm các tài liệu ở danh mục tài liệu tham khảo cuối bài HUPH

Trang 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ashcroft F, Life Without Water in Life at the Extremes Berkeley and Los Angeles, 2000, 134-138

2 Bradley, D Health, environment, and tropical development In: Cartledge, B.,

ed Health and the environment: The Linacre lectures 1992-3 Oxford, Oxford University Press, 1994 p.126-149

3 Brian H Kay, Tran T Tuyet Hanh, Nguyen Hoang Le, Tran Minh Quy, Vu Sinh Nam, Phan V D Hang, Nguyen Thi Yen, Peter S Hill, Theo Vos, and

Peter A Ryan, Sustainability and cost of community-based strategy against

Aedes aegypti in northern and central Vietnam American Journal of Tropical

Medicine and Hygiene, 2010 82 (5): pp 822–830

4 Bui Huy Tung, Tran Thi Tuyet Hanh, Richard Johnston, Hung Nguyen Viet,

Assessing Health Risk due to Exposure to Arsenic in Drinking Water in Hanam Province, Vietnam Journal of Environmental Research and Public

7 Bộ Y tế, Cục Y tế Dự phòng và Phòng chống HIV/AIDS, Sổ tay hướng dẫn xử

lý nước và vệ sinh môi trường trong mùa bão lụt, Nhà xuất bản Y học, 2004

8 Bộ Y Tế, Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh Sốt Dengue/Sốt xuất huyết

Dengue, Nhà xuất bản Y học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, 2006

9 Douglas Gollin, Christian Zimmermann, Malaria: Disease Impacts and Run Income Differences” Institute for the Study of Labor, 2007

Long-HUPH

Trang 25

10 Gubler, D, The changing epidemiology of yellow fever and dengue, 1900 to

2003: full circle Comparative Immunology, Microbiology & Infectious

Diseases, 2008 27(5): pp 319-30

11 Hinrichsen D, Tacio H The coming freshwater crisis is already here The linkages between population and water Washington, DC: Woodrow Wilson International Center for Scholars; 2002 Retrieved from

http://www.wilsoncenter.org/topics/pubs/popwawa2.pdf

12 Natalie A Masento, Mark Golightly, David T Field, Laurie T Butler and

Carien M van Reekum, 2014 Effects of hydration status on cognitive

performance and mood British Journal of Nutrition 111: pp 1841–1852

doi:10.1017/S0007114513004455

13 Ooi, E., Goh, K & Gubler, D., Dengue prevention and 35 years of vector

control in Singapore, Emerging Infectious Diseases, 2006 12(6): pp 887-893

14 Postel, Sandra L., Gretchen C Daily, và Paul R Ehrlich, Human Appropriation

of Renewable Fresh Water Science, 1996 271: 785-788

15 United Nations (UN) 1997, Commission on Sustainable Development

Comprehensive assessment of the freshwater resources of the world Report of the Secretary General New York, UN, 1997 p 39

16 WHO, Asia- Pacific Dengue program managers meeting, World Health

Organization 2008

17 WHO, Cause-specific mortality: regional estimates for 2008 Geneva, World Health Organization, 2011 [truy cập 20/4/2014 ] tạI http://www.who.int/healthinfo/global_burden_disease/estimates_regional/en/index.html

18 WHO, Dengue and severe dengue 2014 [truy cập 30/7/2014] tại:

http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs117/en/

HUPH

Trang 26

19 World Health Organization (WHO) and the United Nations Children’s Fund (UNICEF), Progress on Drinking Water, Sanitation and Hygiene – 2017 Update and SDG Baselines Geneva: WHO and UNICEF

20 U.S Environmental Protection Agency (EPA) Edition of the Drinking Water Standards and Health Advisories Office of Water U.S Environmental Protection Agency Washington, DC, 2012 [truy cập 30/7/2014]; tại: http://water.epa.gov/action/advisories/drinking/upload/dwstandards2012.pdf

21 U.S National Oceanic and Atmospheric Administration Ocean 2014 [truy cập

30/7/2014]; tại: http://www.noaa.gov/ocean.html

HUPH

Trang 27

BÀI 2 GIÁM SÁT VỆ SINH CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĂN UỐNG VÀ

SINH HOẠT

TS Trần Quỳnh Anh

Số tiết lý thuyết: 4 tiết

Chuẩn đầu ra bài học:

Sau khi kết thúc bài học, học viên có khả năng:

1 Phiên giải các khái niệm liên quan đến giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

2 Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến giám sát

vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

3 Phân tích tầm quan trọng của công tác giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

NỘI DUNG

1 Giới thiệu chung

Nước vô cùng thiết yếu đối với sự sống Con người cũng như các loài sinh vật trên thế giới không thể tồn tại nếu thiếu nước Do đó, khi ở trong hoàn cảnh thiếu nước sạch, thì nước bị nhiễm bẩn đôi khi cũng được dử dụng để giúp con người giảm cơn khát Tuy nhiêm, sử dụng nước nhiễm bẩn có nguy cơ cao nhiễm các bệnh lây qua đường tiêu hóa và nguy cơ nhiễm độc Hàng ngày, con người cần trung bình 2 lít nước sạch để uống Nếu sau 4 ngày không có nước, con người sẽ chết Con người còn cần nước cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như vệ sinh, tắm gội Ngoài ra, nước còn được sử dụng trong nông nghiệp để tưới tiêu, sử dụng trong công nghiệp (các ngành như sản xuất giấy, dầu lửa, hóa chất và kim loại thô là những ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều nước), và tạo ra năng lượng thủy điện

Cung cấp nước đảm bảo chất lượng cho người dân sử dụng trong ăn uống và sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong nâng cao sức khỏe cộng đồng Các báo cáo của Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế cho thấy 80% các bệnh và trên 1/3 các ca tử

HUPH

Trang 28

vong ở các nước đang phát triển là do dùng nước nhiễm bẩn gây ra, có tới 1/10 số thời gian sản xuất của con người bị mất đi do các bệnh có liên quan tới nước, thiếu nước sạch và các điều kiện vệ sinh gây ra 2,5 triệu ca tử vong mỗi năm ở trẻ em do tiêu chảy Trong phạm vi bài này, khái niệm nước sạch dùng để chỉ nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt

Ở nước ta hiện nay, hình thức cung cấp nước phổ biến là từ các cơ sở cung cấp nước và do các hộ gia đình tự khai thác sử dụng Những hình thức cung cấp nước này cần được kiểm tra và giám sát định kỳ, do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện, nhằm đảm bảo cung cấp nước sạch, chất lượng, nâng cao sức khỏe cộng đồng

và chất lượng cuộc sống của mọi người dân

Nhìn chung về mặt số lượng cần đảm bảo mức 30 lít nước /ngày/người ở vùng nông thôn và 100-150 lít/người/ngày ở thành thị Về mặt chất lượng, nước dùng để ăn uống và sinh hoạt cần đảm bảo những yêu cầu chung như sau:

- Nước có tính cảm quan tốt, trong, không màu, không mùi, không vị Màu của nước uống thường là do sự có mặt của một số chất hữu cơ mang màu kết hợp với các chất mùn trong đất Mùi và vị của nước có thể do nguồn tự nhiên, do nhiễm bẩn hóa chất, hoặc do hóa chất tiệt khuẩn nước Độ đục của nước do các chất hạt gây ra, có thể kích thích sự sinh trưởng của vi khuẩn

- Nước không có thành phần hóa học độc hại cho cơ thể con người, không chứa các chất độc, chất gây ung thư, chất phóng xạ Nếu có thì phải ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép theo quy định của Bộ Y tế Một số chất hóa học hòa tan trong nước do các quá trình tự nhiên có thể là những chất cần thiết trong chế độ dinh dưỡng, và một số trở nên nguy hiểm đối với sức khỏe con người khi nồng độ cao hơn ngưỡng cho phép Hệ thống giám sát môi trường toàn cầu đã phân loại hóa chất trong nước uống thành 3 loại

Các chất gây độc cấp tính hoặc mãn tính: kim loại, nitrat, cyanids

HUPH

Trang 29

Các chất gây độc với gen: chất hữu cơ tổng hợp, hóa chất bảo vệ thực vật, arsen

Các chất thiết yếu: flo, i ốt, selen

- Nước không chưa các vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác Các bệnh truyền nhiễm phổ biến có liên quan tới nước

là tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, đối với nước đã qua xử lý và đưa vào hệ thống cung cấp, không được phép

có mặt E coli và tổng vi khuẩn Coliform trong bất kỳ 100 ml mẫu nước nào

- Mặc dù sự có mặt của một số sinh vật trong nước ăn uống và sinh hoạt có thể không có ảnh hưởng về mặt sức khỏe, nhưng có thể ảnh hưởng tới màu sắc, mùi vị của nước Những sinh vật này được dùng là sinh vật chỉ thị để đánh

giá chất lượng vệ sinh của nước Escherichia coli, các vi khuẩn ưa nhiệt và

vi khuẩn Coliform là những sinh vật chỉ thị đối với ô nhiễm phân Sự có mặt

của E coli trong nước là một chỉ thị đáng tin cậy cho việc nước bị nhiễm tác

Nước ăn uống là nước được sử dụng cho mục đích ăn, uống và cung cấp cho các cơ

sở chế biến thực phẩm Nước ăn uống do các cơ sở cung cấp nước cung cấp Chất lượng nước của các cơ sở này phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành Nước sinh hoạt là nước được sử dụng cho các mục đích sinh hoạt thông thường như tắm gội, giặt quần áo, lau dọn nhà cửa… Nước sinh hoạt không được dùng cho mục đích ăn uống, và không được dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm Nước sinh hoạt cũng do cơ sở cung cấp nước cung cấp, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành

Cơ sở cung cấp nước có thể là một tổ chức hoặc cá nhân Hoạt động của cơ sở cung cấp nước bao gồm khai thác, sản xuất, kinh doanh nước ăn uống và sinh hoạt Hiện

HUPH

Trang 30

nay, ở các thành phố, đô thị nước ta, nước ăn uống thường do các nhà máy nước cung cấp, hoạt động với mô hình công ty nước sạch

Để đảm bảo hoạt động cung cấp nước đáp ứng các quy định nghiêm ngặt của Bộ Y

tế, các cơ sở cung cấp nước cần thực hiện kiểm tra định kỳ Nội dung kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động khai thác, sản xuất và cung cấp Khuôn viên của cơ sở cũng cần đảm bảo vệ sinh sạch sẽ Hoạt động kiểm tra định kỳ này do cơ sở cung cấp nước tự thực hiện, gọi là nội kiểm, và phải có kế hoạch từ đầu năm, có sổ sách ghi chép, hồ sơ theo dõi

Đối với hoạt động khai thác và sản xuất, cần kiểm tra vệ sinh nơi khai thác nước nguyên liệu (tại điểm lấy nước ngầm và/hặc điểm lấy nước sông) và hệ thống sản xuất (bồn chứa, trạm bơm, hệ thống khử sắt, khử trùng, bể keo tụ,v.v…) Đối với hoạt động cung cấp, cần lấy mẫu nước thành phẩm để kiểm tra chất lượng Yêu cầu

về chỉ tiêu xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm tùy thuộc vào công suất thiết kế của cơ sở cung cấp nước và tuân thủ theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành

Hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ sở cung cấp nước được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát Các trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh và tuyến huyện là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát vệ sinh của cơ sở cung cấp nước, gọi là ngoại kiểm Hoạt động này tập trung vào giám sát việc thực hiện chế độ nội kiểm của cơ sở cung cấp nước, và kiểm tra ngẫu nhiên chất lượng nước thành phẩm

Đối với các hộ gia đình tự khai thác và lưu trữ nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt, các trạm y tế xã, phường có thẩm quyền kiểm tra vệ sinh chất lượng nước của

hộ gia đình

Hoạt động kiểm tra vệ sinh chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt được thực hiện định

kỳ theo quy định của Bộ Y tế Để hoạt động này thực sự có ý nghĩa, số liệu thu thập được cần được so sánh theo thời gian, chất lượng nước được đánh giá có đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh hay không Trong trường hợp chất lượng nước không đảm bảo,

HUPH

Trang 31

cần xác định các nguy cơ sức khỏe có thể xảy ra cho người dân và đề xuất các giải pháp cần thiết

2.2 Các khái niệm liên quan đến giám sát cung cấp nước ăn uống, sinh hoạt

Theo định nghĩa của TCYTTG, giám sát cung cấp nước ăn uống là “sự đánh giá và xem xét về mặt y tế công cộng một cách thận trọng và liên tục tính an toàn và chấp nhận được của hoạt động cung cấp nước ăn uống” Hoạt động giám sát này góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng thông qua việc cải thiện các chỉ số về chất lượng dịch vụ cấp nước như số lượng, chất lượng, khả năng chi trả, độ bao phủ và tính liên tục

Giám sát là một khâu quan trọng trong chiến lược cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp nước của mỗi quốc gia, khu vực Hoạt động giám sát phải đảm bảo đầy đủ các bước từ thu thập và phân tích số liệu, tổng hợp số liệu và công bố báo cáo kết quả Các khuyến nghị đưa ra phải dựa trên các bằng chứng này và rất cần thiết phải có quá trình theo dõi để đảm bảo các khuyến nghị được thực hiện đúng

Đối với khu vực đô thị, việc giám sát cung cấp nước có thể gặp một số khó khăn do dân cư đông đúc và nhiều thành phần dân cư khác nhau, trong đó có người giàu, người nghèo Người nghèo thường là nhóm khó tiếp cận đầy đủ nước sạch hơn và

do đó, dễ mắc các bệnh lây truyền liên quan đến nước Để việc giám sát được hiệu quả, kinh nghiệm của một số nước là cần phân vùng các khu vực trong đô thị và chú trọng nhiều hơn đến những vùng có nhóm cộng đồng nghèo, cộng đồng dễ bị tổn thương, cộng đồng có hệ thống cấp nước cần được cải thiện

Ở những nơi mà hình thức cấp nước hộ gia đình là phổ biến, nhất là ở các khu vực nông thôn, việc giám sát sẽ khó khăn do địa hình rộng, nhân lực của y tế cơ sở không đảm bảo để thực hiện công tác này Chính vì vậy, y tế tuyến tỉnh có thể phải vừa giám sát hỗ trợ vừa phải triển khai đào tạo tập huấn về công tác này Để khắc phục khó khăn, giải pháp đưa ra là huy động sự tham gia của cộng đồng, khích lệ cộng đồng cùng tham gia với y tế trong công tác giám sát cung cấp nước, đảm bảo

HUPH

Trang 32

cung cấp đủ số lượng và chất lượng cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của người dân

Hoạt động kiểm tra vệ sinh chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt chú trọng nhiều đến việc đảm bảo chất lượng nước theo các quy định hiện hành Đối với hoạt động giám sát cung cấp nước, cùng với việc kiểm tra vệ sinh về mặt chất lượng, các yếu tố về

độ bao phủ, số lượng, khả năng chi trả và tính liên tục cần được xem xét Độ bao phủ thường được đo lường bằng tỷ lệ người dân tiếp cận được với nguồn cung cấp nước đảm bảo chất lượng trong một khu vực cụ thể Yếu tố số lượng đề cập đến Khả năng chi trả là các khoản phí mà người dân khi sử dụng nước phải trả cho nhà cung cấp Đôi khi, nguồn nước là dễ tiếp cận nhưng người dân vẫn không có nước sạch để sử dụng hoặc phải sử dụng tiết kiệm do khả năng chi trả thấp Tính liên tục được đo lường bằng khoảng thời gian trong năm người dân tiếp cận đủ với nước sạch (theo ngày, theo tuần hoặc theo mùa) Có nhiều nơi người dân có đủ nước vào mùa mưa nhưng thiếu nước vào mùa khô Do đó, đánh giá tính liên tục trong hoạt động cung cấp nước là một chỉ số rất cần thiêt để đưa ra những giải pháp phù hợp, đảm bảo cung cấp đủ nước liên tục cho người dân

TCYTTG chia mức độ tiếp cận với nước sạch làm 4 mức

-Mức 1: Không được tiếp cận với nước sạch: khi khoảng cách từ nhà dân đến nơi cung cấp nước lớn hơn 1 km và thời gian đi lấy nước rồi quay trở về trên 30 phút

Số lượng nước lấy được trung bình khoảng 5 lít/người/ngày Ở mức độ này nguy cơ cho sức khỏe do thiếu nước và điều kiện vệ sinh kém là rất cao Các hoạt động can thiệp cần được ưu tiên cho cộng đồng ở mức độ này bao gồm giáo dục về vệ sinh và triển khai giải pháp xử lý nước tại hộ gia đình

-Mức 2: Tiếp cận cơ bản: khi khoảng cách từ nhà dân đến nơi cung cấp nước trong vòng bán kính 1 km và thời gian đi lấy nước rồi quay về dưới 30 phút, với số lượng nước lấy được khoảng 20 lit/người/ngày Ở mức độ tiếp cận cơ bản nguy cơ cho sức khỏe do thiếu nước và điều kiện vệ sinh kém còn ở mức cao, và cần triển khai các hoạt động can thiệp ưu tiên như giải pháp xử lý nước tại hộ gia đình

HUPH

Trang 33

-Mức 3: Tiếp cận trung bình: ở mức độ này người dân sử dụng nước cung cấp qua các vòi nước, không cần phải đi xa để lấy nước, nhưng số lượng vòi nước còn hạn chế Thể tích nước cung cấp có thể đạt 50 lit/người/ngày Nguy cơ cho sức khỏe do thiếu nước và điều kiện vệ sinh kém ở mức thấp Các hoạt động can thiệp ưu tiên tập trung vào cải thiện điều kiện hiện tại và phấn đấu đạt mức 4 là mức tiếp cận tối

ưu

-Mức 4: Tiếp cận tối ưu: là trong mỗi hộ gia đình đều có nhiều vòi nước, thể tích nước cấp đạt 100-200 lít/người/ngày Ngược lại với mức 1, ở mức 4 nguy cơ sức khỏe là rất thấp, can thiệp chủ yếu hướng vào nâng cao hành vi vệ sinh

3 Các văn bản quy phạm phám luật hiện hành liên quan đến giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

Năm 2002, với sự giúp đỡ của UNICEF, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo Quyết định số 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế để giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng tối đa cho phép của 112 chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học Tuy nhiên, phạm vi áp dụng chủ yếu là đô thị với các công trình cấp nước tập trung cho 500 người trở lên, do đó chưa phù hợp với khu vực nông thôn Để khắc phục hạn chế này, năm 2005 Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch theo Quyết định số 09/2005/BYT-QĐ ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế Tiêu chuẩn này quy định 22 chỉ tiêu cơ bản về cảm quan, thành phần vô cơ và vi sinh vật Tiêu chuẩn này áp dụng đối với các hình thức cấp nước hộ gia đình, các trạm cấp nước phục vụ tối đa 500 người và các hình thức cấp nước sạch khác Khái niệm nước sạch trong tiêu chuẩn này là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng cho ăn uống trực tiếp

Ngày 17 tháng 6 năm 2009, Bộ Y tế công bố thông tư 04/2009/TT-BYT về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống” (QCVN: 01/2009/BYT) Thông tư này ra đời thay thế cho Quyết định số 1329/2002/BYT-

QĐ ngày 18/4/200 về giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt

HUPH

Trang 34

Thông tư gồm 4 phần: phần 1 là những quy định chung; phần 2 trình bày các chỉ tiêu về kỹ thuật; phần 3 và phần 4 hướng dẫn chế độ giám sát chất lượng nước và tổ chức thực hiện Các chỉ tiêu kỹ thuật trong QCVN: 01/2009/BYT gồm có 109 chỉ tiêu chia làm các nhóm sau

- Chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ: 32 chỉ tiêu

- Hàm lượng các chất hữu cơ: 23 chỉ tiêu, gồm các nhóm: nhóm alkan clo hóa, hydro cacbua thơm, nhóm benzene clo hóa, và nhóm các chất hữu cơ phức tạp

- Hóa chất bảo vệ thực vật: 31 chỉ tiêu

- Hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ: 16 chỉ tiêu

- Mức nhiễm xạ: 2 chỉ tiêu

- Vi sinh vật: 2 chỉ tiêu

Các chỉ tiêu này đều được ghi rõ giới hạn tối đa cho phép, phương pháp thử và mức

độ giám sát Có 3 mức độ giám sát: A, B và C, trong đó các chỉ tiêu ở mức độ A cần được xét nghiệm ít nhất 1 tuần 1 lần, các chỉ tiêu ở mức độ B cần được xét nghiệm

ít nhất 6 tháng 1 lần và các chỉ tiêu ở mức độ C cần được xét nghiệm ít nhất 2 năm 1 lần Hầu hết các chỉ tiêu về hàm lượng các chất hữu cơ, hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ đều ở mức độ giám sát C Mức nhiễm xạ có mức độ giám sát B, vi sinh vật mức độ A

Cùng ngày 17 tháng 6 năm 2009, Bộ Y tế công bố thông tư 05/2009/TT-BYT về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt” (QCVN: 02/2009/BYT) Theo thông tư này, có 14 chỉ tiêu chất lượng của nước sinh hoạt cần được định kỳ xét nghiệm, gồm 12 chỉ tiêu về cảm quan và thành phần vô cơ, 2 chỉ tiêu vi sinh vật Giới hạn tối đa cho phép có 2 mức: mức 1 áp dụng cho các cơ sở cung cấp nước và mức 2 áp dụng cho hình thức cấp nước hộ gia đình Tần xuất giám sát đối với nước sinh hoạt hầu hết là ở mức A (10 chỉ tiêu)

Ngày 11 tháng 12 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành thông tư BYT về Quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt Thông

50/2015-TT-tư gồm 5 chương và 4 phụ lục, trong đó quy định rõ việc kiểm tra vệ sinh chất

HUPH

Trang 35

lượng nước của các cơ sở cung cấp nước và kiểm tra vệ sinh chất lượng nước của các hộ gia đình, do hộ gia đình tự khai thác và lưu trữ để sử dụng trong ăn uống và sinh hoạt Thông tư cũng đã nêu rõ các yêu cầu về chế độ thông tin, báo cáo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng như Cục Quản lý Môi trường Y tế, các viện chuyên ngành, TT YTDP tuyến tỉnh, huyện

và các trạm y tế xã Việc kiểm tra vệ sinh chất lượng nước do cơ sở cung cấp nước

tự thực hiện gọi là nội kiểm, do các cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm tra gọi

là ngoại kiểm

Đối với chế độ nội kiểm, thông tư hướng dẫn bốn nội dung chủ yếu bao gồm kiểm tra vệ sinh nơi khai thác nước nguyên liệu, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh hệ thống sản xuất nước và xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm Chỉ tiêu và tần suất thực hiện xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm khác nhau giữa các cơ sở cung cấp nước Các cơ sở quy mô lớn với công suất thiết kế từ 10003/ngày đêm trở lên được yêu cầu làm nhiều chỉ tiêu hơn và tần suất xét nghiệm nhiều hơn Khi kiểm tra, phát hiện thấy các trường hợp không đảm bảo vệ sinh chất lượng nước thì cơ sở cung cấp nước phải tiến hành khắc phục ngay Nếu không khắc phục được, Sở Y tế có thể xem xét dừng hoạt động sản xuất, cung cấp nước của cơ sở

Đối với chế độ ngoại kiểm, thông tư hướng dẫn việc kiểm tra chế độ vệ sinh chung, kiểm tra việc thực hiện nội kiểm của cơ sở và kiểm tra chất lượng nước thành phẩm Tần suất thực hiện ngoại kiểm trung bình là 1 lần 1 năm Những trường hợp kiểm tra đột xuất cần được thực hiện khi có nghi ngờ về chất lượng nước, ví dụ như khi xảy ra sự cố môi trường có ảnh hưởng đến vệ sinh và chất lượng nguồn nước, khi điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm, hoặc khi có các phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về chất lượng nguồn nước, v.v… Đối với xét nghiệm chất lượng nước, số mẫu nước cần lấy tối thiểu là 3 mẫu ở các vị trí đầu, giữa và cuối của hệ thống cung cấp nước

Bên cạnh các quy định về chế độ nội kiểm và ngoại kiểm dành cho cơ sở cung cấp nước, thông tư 50 còn có một chương quy định về kiểm tra vệ sinh chất lượng nước

hộ gia đình Nguồn nước hộ gia đình tự khai thác sử dụng có thể là nước máng lần,

HUPH

Trang 36

nước tự chảy, nước giếng đào, giếng khoan và nước mưa Thông tư có kèm theo 4 phụ lục, gồm 1) phiếu chấm điểm nguy cơ vệ sinh nơi khai thác nước, 2) phiếu nội kiểm, ngoại kiểm vệ sinh, chất lượng nước và kiểm tra vệ sinh nguồn nước hộ gia đình, 3) mẫu báo cáo dành cho cơ sở cung cấp nước và 4) các mẫu báo cáo dành cho trạm y tế xã, TTYT huyện, TTYT DP tỉnh và các viện chuyên ngành

4 Tầm quan trọng ủa công tác giám sát vệ sinh, chất lượng nước ăn uống

và sinh hoạt

Như trên đã nói, nước vô cùng thiết yếu đối với sự sống Không có nước trong 4 ngày, con người sẽ chết Không được cung cấp đủ nước đảm bảo chất lượng cho ăn uống và sinh hoạt là nguy cơ cao của hàng loạt bệnh tật, các nhóm bệnh hay được nhắc đến là

- Các bệnh lây qua nước: do nước nhiễm bẩn bởi phân/nước tiểu của người/động vật mang mầm bệnh Bệnh lây trực tiếp khi dùng nước nhiễm bẩn hoặc thực phẩm được chế biến cùng nước nhiễm bẩn Ví dụ điển hình của nhóm này là tả, lỵ, thương hàn

- Các bệnh do thiếu nước: ví dụ như bệnh giun, đau mắt, viêm da Đây là nhóm bệnh liên quan đến số lượng nước cấp hơn là chất lượng nước Thiếu nước dẫn đến

vệ sinh cá nhân không tốt, tắm rửa không thường xuyên là nguyên nhân của nhóm bệnh này

- Các bệnh do ký sinh trùng: ví dụ sán máng Nước là nơi cư trú của vật chủ trung gian (cá), ký sinh trùng thực hiện chu kỳ sống ở vật chủ trung gian này

- Các bệnh liên quan đến nước: nước là nơi cư trú của côn trùng là vật chủ trung gian của bệnh Ví dụ muỗi đẻ trứng trong nước và muối trưởng thành làm lây truyền

ký sinh trùng mang bệnh như sốt rét, hoặc virus gây bệnh như sốt xuất huyết

Các thành phần hóa học trong nước với hàm lượng thích hợp là những yếu tố cần thiết cho cơ thể, nhưng khi chúng xuất hiện với nồng độ cao hơn bình thường thì có thể nguy hiểm cho sức khỏe Ví dụ, Flo trong nước ở nồng độ thấp giúp bảo vệ xương và rang, nhưng nồng độ cao làm đen răng và gây chứng xương nhiễm flo

HUPH

Trang 37

Một ví dụ khác là iot, ở những khu vực mà iot trong nước ngầm quá thấp là nguy cơ của bệnh bướu cổ cho người dân địa phương

Tiếp cận đủ nước sạch là quyền cơ bản và thiết yếu của con người Chính vì vậy, một trong các mục tiêu thiên niên kỷ được Liên hợp quốc đưa ra là Tiếp cận nước sạch và vệ sinh cho tất cả mọi người, nhằm hướng tới tiếp cận toàn diện và công bằng nguồn nước an toàn và chi phí hợp lý cho tất cả mọi người Giám sát cung cấp nước ăn uống và sinh hoạt là sự đánh giá thận trọng và liên tục các chỉ số về chất lượng dịch vụ cấp nước như số lượng, chất lượng, khả năng chi trả, độ bao phủ và tính liên tục Giám sát là một khâu quan trọng trong chiến lược cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp nước của mỗi quốc gia, khu vực Quá trình giám sát sẽ phát hiện những khó khăn, những vấn đề còn tồn tại và đề xuất giải pháp bổ sung và hành động kịp thời

Ở nước ta, từ năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh nông thôn với mục tiêu đến năm 2020, tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày Chương trình đã triển khai qua 3 giai đoạn: 2001-2005, 2006-2010, 2011-2015 Hiện nay, giai đoạn từ 2016-2020, nước sạch và vệ sinh môi trường được đưa vào thành một tiêu chí của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Kết quả của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2015 cho thấy khoảng 86% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt tiêu chuẩn QCVN:02/2009/BYT Tỷ lệ trường học

và trạm y tế sử dụng nước hợp vệ sinh là 94% và 96% Tỷ lệ tiếp cận nước sạch còn

có sự chênh lệch giữa các vùng, trong đó những vùng có tỷ lệ thấp là miền núi phía Bắc 81%, Bắc Trung bộ 78% và Tây Nguyên 82%, đây là một khó khăn thách thức của chương trình Một trong các khuyến nghị được đưa ra là đẩy mạnh mô hình cấp nước hộ gia đình cho đối tượng nghèo, vùng sâu vùng xa, vùng có đông các đồng bào dân tộc thiểu số vì giải pháp này đơn giản, chi phí hợp lý

HUPH

Ngày đăng: 21/09/2023, 18:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tỉ lệ tiếp cận với các nguồn nước trên thế giới - Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt giáo trình giảng dạy dành cho đối tượng sau đại học y tế công cộng, định hướng sức khỏe môi trường
Hình 1.1. Tỉ lệ tiếp cận với các nguồn nước trên thế giới (Trang 12)
Hình 1.2. Tỉ lệ dân số ở các quốc gia hiện sử dụng dịch vụ cấp nước ở mức cơ  bản trở lên, 2015 - Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt giáo trình giảng dạy dành cho đối tượng sau đại học y tế công cộng, định hướng sức khỏe môi trường
Hình 1.2. Tỉ lệ dân số ở các quốc gia hiện sử dụng dịch vụ cấp nước ở mức cơ bản trở lên, 2015 (Trang 12)
Bảng  1.1:  Hiệu  suất  có  thể  đạt  được  của  các  phương  pháp  xử  lý  nước  thông  dụng tại hộ gia đình - Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt giáo trình giảng dạy dành cho đối tượng sau đại học y tế công cộng, định hướng sức khỏe môi trường
ng 1.1: Hiệu suất có thể đạt được của các phương pháp xử lý nước thông dụng tại hộ gia đình (Trang 16)
Bảng 2. Bảng giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt - Giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt giáo trình giảng dạy dành cho đối tượng sau đại học y tế công cộng, định hướng sức khỏe môi trường
Bảng 2. Bảng giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w