1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report

123 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề The 2019 Global School-Based Student Health Survey In Viet Nam: Report
Tác giả World Health Organization
Trường học World Health Organization Regional Office for the Western Pacific
Chuyên ngành Health Surveys
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Manila
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG (19)
    • 1.1. Các bệnh không lây nhiễm và yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe ở học sinh (19)
    • 1.2. Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu (19)
    • 1.3. Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam (20)
  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.1. Chọn mẫu (23)
    • 2.2. Thu thập và quản lý số liệu (25)
    • 2.3. Đạo đức nghiên cứu (26)
    • 2.4. Tỷ lệ tham gia (26)
    • 2.5. Xử lý số liệu (28)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ (30)
    • 3.1. Đặc điểm cá nhân học sinh (0)
    • 3.2. Chỉ số nhân trắc và chế độ ăn uống (31)
    • 3.3. Vệ sinh cá nhân (36)
    • 3.4. Sức khỏe tâm thần (39)
    • 3.5. Hoạt động thể chất (41)
    • 3.6. Các yếu tố bảo vệ (45)
    • 3.7. Hành vi quan hệ tình dục (50)
    • 3.8. Sử dụng chất gây nghiện (50)
    • 3.9. Bạo lực và tai nạn thương tích (62)
    • 3.10. Kiểm tra thị lực (65)
    • 4.2. Vệ sinh cá nhân (68)
    • 4.3. Sức khỏe tâm thần (68)
    • 4.4. Hoạt động thể chất (69)
    • 4.5. Các yếu tố bảo vệ (69)
    • 4.6. Hành vi quan hệ tình dục (70)
    • 4.7. Sử dụng các chất gây nghiện (70)
    • 4.8. Bạo lực và tai nạn thương tích (71)
    • 4.9. Kiểm tra thị lực (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (75)
  • PHỤ LỤC (76)

Nội dung

GIỚI THIỆU CHUNG

Các bệnh không lây nhiễm và yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe ở học sinh

Bệnh không lây nhiễm (BKLN) đang trở thành nguyên nhân chính gây tử vong và gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam, với sự gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây Năm 2018, tỷ lệ tử vong do BKLN chiếm đến 77% tổng số ca tử vong, cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề này.

Việt Nam được dự báo là sẽ tiếp tục tăng lên từ 67% vào năm 2016 lên gần 80% vào năm 2040 (1)

Gần 43% số ca tử vong do bệnh không lây nhiễm (BKLN) là tử vong sớm, xảy ra trước 70 tuổi Bốn yếu tố nguy cơ chính dẫn đến BKLN hiện nay bao gồm: sử dụng thuốc lá, uống rượu, chế độ ăn uống không lành mạnh và thiếu hoạt động thể lực Trong khi tỷ lệ hút thuốc lá đang giảm, thì các yếu tố nguy cơ khác như tiêu thụ thực phẩm nhanh và tình trạng thừa cân, béo phì lại đang gia tăng ở Việt Nam, theo kết quả của GSHS.

Năm 2013, tại Việt Nam, có 4,7% học sinh tham gia khảo sát cho biết đã hút thuốc lá trong vòng 30 ngày trước đó, trong đó tỷ lệ nam giới là 8,8% và nữ giới là 1,1% Đặc biệt, 75,8% học sinh cho biết đã từng chứng kiến người khác hút thuốc khi có mặt của các em.

Theo khảo sát GSHS 2013, 30,2% học sinh sử dụng nước ngọt có ga, trong khi tỷ lệ sử dụng đồ uống có cồn trong 30 ngày trước đó là 24,9% Đặc biệt, tỷ lệ này ở nhóm nam cao hơn rõ rệt, đạt 33,2%, so với nhóm nữ.

Gần 80% học sinh không đạt tiêu chuẩn vận động thể chất theo WHO, trong khi đó, gần hai phần ba (57,6%) trong số họ tiêu thụ rau và trái cây ít hơn hai lần mỗi ngày.

Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-

Chương trình Sức khỏe Việt Nam 2025 đặt mục tiêu giảm thiểu bệnh không lây (BKLN) và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lớn và trẻ em Trong những năm qua, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tích cực hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực phòng chống các yếu tố nguy cơ và quản lý BKLN tại y tế tuyến xã WHO cũng đang tham gia vào hoạt động giám sát BKLN và các yếu tố nguy cơ để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Khảo sát tình hình hút thuốc lá ở người trưởng thành (GATS) và Điều tra các yếu tố nguy cơ BKLN

(STEPS) năm 2015 đã cung cấp thông tin quan trọng cho Việt Nam để kiểm soát BKLN và các yếu tố nguy cơ ở người trưởng thành.

Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu

Vào năm 2001, WHO cùng với sự phối hợp của UNAIDS, UNESCO, UNICEF và các chuyên gia từ

CDC Hoa Kỳ đã phát triển Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu (GSHS) nhằm hỗ trợ các quốc gia đo lường và đánh giá 10 nhóm yếu tố nguy cơ và bảo vệ sức khỏe ở thanh thiếu niên từ 13-17 tuổi GSHS là một khảo sát phổ thông, chi phí thấp, sử dụng bộ câu hỏi tự điền để thu thập thông tin về các yếu tố này trong giới trẻ.

HUPH là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở trẻ em và người lớn toàn cầu Kể từ năm 2003, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo các quốc gia đã sử dụng GSHS để giám sát các yếu tố nguy cơ sức khỏe quan trọng ở học sinh Đến tháng 12 năm 2013, hơn 120 quốc gia đã được đào tạo, 94 quốc gia hoàn thành GSHS và hơn 450.000 học sinh tham gia khảo sát vòng một, với nhiều quốc gia tiến hành khảo sát vòng hai gần đây Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, GSHS đã được triển khai tại nhiều quốc gia như Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Fiji, và Việt Nam Đến năm 2019, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á cũng đã hoàn thành GSHS lần thứ hai.

GSHS được áp dụng tại nhiều quốc gia với quy trình chọn mẫu khoa học chuẩn hóa và phương pháp nghiên cứu phổ biến trong trường học Bộ câu hỏi khảo sát bao gồm các phần với câu hỏi cốt lõi, câu hỏi mở rộng và câu hỏi đặc thù quốc gia, giúp học sinh dễ dàng hoàn thành trong một tiết học Các hành vi liên quan đến sức khỏe mà GSHS tập trung vào bao gồm chế độ ăn uống, vệ sinh cá nhân, sức khỏe tâm thần, hoạt động thể chất, các yếu tố bảo vệ, hành vi tình dục liên quan đến HIV và các STIs, mang thai ngoài ý muốn, sử dụng chất gây nghiện như thuốc lá, rượu và ma túy, bạo lực, tai nạn thương tích không chủ định, và kiểm tra thị lực tại trường.

Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam

GSHS được triển khai lần đầu tại Việt Nam từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013, với mục tiêu thu thập dữ liệu chính xác về hành vi sức khỏe và các yếu tố bảo vệ của học sinh.

Bài viết này tập trung vào việc xác định các vấn đề ưu tiên trong chính sách sức khỏe học đường và sức khỏe thanh thiếu niên, đồng thời xây dựng chương trình và vận động nguồn lực cần thiết Nó cũng mô tả xu hướng tỷ lệ hiện hành của các hành vi liên quan đến sức khỏe và các yếu tố bảo vệ, nhằm phục vụ cho việc đánh giá sức khỏe học đường và nâng cao sức khỏe thanh thiếu niên Nghiên cứu đã sử dụng bộ câu hỏi gồm 80 câu thuộc 8 chủ đề, được hoàn thành bởi 3.465 học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 tại 50 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông ở 13 tỉnh, thành phố.

Bài viết đề cập đến 6 khu vực địa lý khác nhau tại Việt Nam, bao gồm Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Yên Bái, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Đắc Nông, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre và An Giang GSHS.

Năm 2013, các chỉ số cơ sở quan trọng về BKLN và các yếu tố nguy cơ sức khỏe khác đã được xác định ở học sinh từ 13 đến 17 tuổi tại Việt Nam.

Cuộc khảo sát GSHS Việt Nam 2019 là một nghiên cứu toàn diện về hành vi sức khỏe và các yếu tố bảo vệ của thanh thiếu niên tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, được thực hiện lần thứ hai trên toàn quốc.

Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam năm 2019 nhằm:

1 Cung cấp số liệu khoa học về các yếu tố hành vi sức khỏe bao gồm hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm, nguy cơ sức khỏe khác và các yếu tố bảo vệ ở học sinh phổ thông 13-17 tuổi năm 2019 nhằm phục vụ cho xác định các ưu tiên can thiệp, phân bổ các nguồn lực và xây dựng các chương trình, chính sách chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và học sinh

2 Đánh giá xu hướng của tỷ lệ hiện hành các hành vi sức khỏe và yếu tố bảo vệ ở học sinh phổ thông 13-17 tuổi kể từ năm 2013 nhằm phục vụ cho việc đánh giá chương trình nâng cao sức khỏe học đường và sức khỏe trẻ em, cho phép các tổ chức quốc tế và các đơn vị liên quan so sánh tỷ lệ hiện hành của các hành vi sức khỏe và yếu tố bảo vệ với kết quả khảo sát của quốc gia khác.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chọn mẫu

Khảo sát GSHS 2019 là một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại các trường học, tập trung vào học sinh THCS và THPT trong độ tuổi từ 13 đến 17 Để chọn mẫu đại diện cho nhóm tuổi này, phương pháp chọn mẫu ba tầng đã được áp dụng, bao gồm các khối lớp 8, 9 từ trường THCS và các khối 10, 11, 12 từ hệ thống trường THPT.

Cỡ mẫu được xác định để ước lượng tỉ lệ các cấu phần trong GSHS, với yêu cầu sai số biên 5% theo hướng dẫn của WHO-CDC Để đạt được điều này, mẫu tối thiểu cần có là 1.500, được phân chia theo khu vực nông thôn/thành phố và cấp học THCS/THPT nhằm đảm bảo tính đại diện cho quần thể Vì vậy, mẫu cần bao gồm 4 nhóm: i) THCS nông thôn; ii) THCS thành phố; iii) THPT nông thôn; iv) THPT thành phố.

Thêm vào đó, số liệu được phân tích theo giới tính của học sinh Trong bối cảnh trường học tại Việt

Tỷ lệ nam/nữ trong mỗi lớp thường tương đương với phân bố trong quần thể dân cư Vì vậy, việc phân tích số liệu theo giới tính nam và nữ không yêu cầu thiết kế cỡ mẫu theo giới.

Dựa trên tỷ lệ phản hồi cao từ GSHS 2013, tỷ lệ phản hồi được chọn là 90%, dẫn đến số học sinh trong mỗi tầng là 1.705, và tổng số học sinh của 4 nhóm đạt 6.820.

Tại Việt Nam, học sinh từ 13 đến 14 tuổi thường học ở khối 8 và 9 của trường THCS, trong khi học sinh 15 đến 17 tuổi học ở khối 10, 11 và 12 của trường THPT Nếu một trường học bao gồm cả hai cấp học này

Các trường THCS và THPT sẽ được xem như hai đơn vị giáo dục độc lập Khảo sát tại các trường THCS sẽ được thực hiện trên hai lớp 8 và 9, với khoảng

Tổng số trường THCS là 42, bao gồm 21 trường ở khu vực nông thôn và 21 trường ở khu vực thành thị Mỗi trường sẽ chọn khoảng 80 học sinh để tham gia khảo sát, tương đương với việc lựa chọn học sinh từ cả 2 lớp 8 và 9.

HUPH Đối với các trường THPT, khảo sát được thực hiện trên 42 trường (21 trường ở khu vực nông thôn,

Trong nghiên cứu này, 21 trường học tại khu vực thành thị đã được lựa chọn, với khoảng 120 học sinh từ ba lớp (10, 11 và 12) tại mỗi trường Việc chọn ba lớp từ mỗi trường THPT đã dẫn đến tổng số học sinh tham gia khảo sát cao hơn so với ước lượng ban đầu.

Nhóm nghiên cứu đã quyết định thực hiện khảo sát trên 1/3 tổng số tỉnh thành ở Việt Nam, tương đương 21 tỉnh thành, nhằm cân đối chi phí và đảm bảo tính đại diện của mẫu Trong giai đoạn đầu tiên của phương pháp chọn mẫu 3 giai đoạn, nhóm đã liệt kê danh sách tổng số học sinh THCS và THPT tại mỗi tỉnh Từ danh sách này, 21 tỉnh thành được chọn dựa trên kỹ thuật chọn mẫu xác suất theo tỷ lệ (PPS), và kết quả được trình bày trong Bảng Phụ lục 2.

Trong số 21 tỉnh thành, 7 tỉnh thành phố đã tham gia GSHS 2013 bao gồm: Hà Nội, Phú Thọ, Nghệ

Trong GSHS 2019, ngoài các tỉnh thành như An, Quảng Trị, Đồng Nai, Hồ Chí Minh và An Giang, còn có 6 tỉnh khác đã tham gia GSHS 2013 nhưng không được chọn, bao gồm Hải Dương, Ninh Bình, Yên Bái, Quảng Ngãi, Đắc Nông và Bến Tre Công văn số 3497 được gửi vào ngày 15 tháng

Vào năm 2019, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với 21 Sở Giáo dục và Đào tạo từ 21 tỉnh thành để cung cấp danh sách tất cả các trường và tổng số học sinh của từng trường Trong giai đoạn thứ hai, nhóm nghiên cứu đã tạo ra 4 danh sách trường cho 4 nhóm từ 21 tỉnh, bao gồm THCS và THPT ở cả thành thị và nông thôn, từ đó chọn ra 84 trường từ 20 tỉnh thành thông qua kỹ thuật PPS Tỉnh Ninh Thuận không có trường nào được chọn ngẫu nhiên tham gia khảo sát Giai đoạn thứ ba liên quan đến việc chọn lớp trong mỗi trường, với việc lập danh sách các lớp thuộc diện khảo sát và sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn để chọn 2 lớp từ mỗi trường THCS và 3 lớp từ mỗi trường THPT, đảm bảo tất cả học sinh trong các lớp đều tham gia khảo sát.

Xây dựng bộ câu hỏi

Nhóm nghiên cứu đã tham khảo bộ câu hỏi GSHS 2013 và phiên bản tiếng Anh trên website của WHO để phát triển bộ câu hỏi cho khảo sát GSHS 2019 tại Việt Nam, nhằm nghiên cứu sức khỏe của học sinh 13-17 tuổi Bộ câu hỏi bao gồm ba cấu phần: câu hỏi cốt lõi, câu hỏi cốt lõi mở rộng và câu hỏi đặc thù Các mô-đun câu hỏi cốt lõi tập trung vào những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong ở trẻ em và người trưởng thành, liên quan đến việc sử dụng đồ uống có cồn và hành vi ăn uống.

Bộ câu hỏi đã được điều chỉnh nhiều lần để đáp ứng nhu cầu giám sát các chỉ số liên quan đến 9 mục tiêu BKLN toàn cầu và Chương trình Sức khỏe Việt Nam Các yếu tố được đề cập bao gồm việc sử dụng các chất gây nghiện, vệ sinh cá nhân, sức khỏe tâm thần, hoạt động thể chất, yếu tố bảo vệ, hành vi quan hệ tình dục, sử dụng thuốc lá, cũng như bạo lực và tai nạn thương tích không chủ định.

GSHS 2019 có tổng cộng 86 câu hỏi (được trình bày ở Phụ lục)

Sau khi được chỉnh sửa và thông qua, bộ câu hỏi đã được dịch sang tiếng Anh và gửi cho các chuyên gia của WHO để kiểm tra ngữ nghĩa, đảm bảo không có sai sót trong biên dịch Anh-Việt Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi để điều chỉnh nội dung cho dễ hiểu, phù hợp với văn hóa và bối cảnh địa phương, cũng như phương pháp khảo sát (như sử dụng phiếu trả lời riêng hoặc khoanh trực tiếp vào câu hỏi) Tất cả câu hỏi đều được thiết kế nhằm tối ưu hóa quá trình khảo sát và đảm bảo rằng mọi học sinh đều hiểu rõ nội dung.

Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm tại hai trường học ở Hà Nội, bao gồm một trường trung học cơ sở và một trường trung học phổ thông, với hai lớp được chọn từ mỗi trường để đảm bảo tính đại diện cho quy trình thử nghiệm.

Thu thập và quản lý số liệu

Khảo sát được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2019 tại 84 trường ở 20 tỉnh thành phố Tuy nhiên, một trường ở thành phố Hồ Chí Minh bị loại do trùng với khảo sát khác, và hai trường tại Hà Nội không phản hồi, dẫn đến chỉ 81 trường tham gia khảo sát.

Lựa chọn điều tra viên và tập huấn

Các điều tra viên được lựa chọn bao gồm sinh viên y tế công cộng, giảng viên, nghiên cứu viên từ trường ĐHYTCC và các học viên tại chức ở các tỉnh thành Tất cả điều tra viên đã được tập huấn và hướng dẫn chi tiết bởi Phó hiệu trưởng trường ĐHYTCC phụ trách nghiên cứu.

Trưởng nhóm nghiên cứu, với sự hỗ trợ của trưởng phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ, đã thành lập từ 6 đến 10 nhóm điều tra viên để thực hiện khảo sát tại 20 tỉnh thành.

Hướng dẫn thu thập số liệu được biên dịch sang tiếng Việt bao gồm các bước quan trọng như chuẩn bị cho khảo sát, đào tạo điều tra viên, quản lý dữ liệu khảo sát và chuẩn bị số liệu cho quá trình xử lý Tất cả các quy trình thu thập số liệu đều tuân theo hướng dẫn và mẫu tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Chuẩn bị khảo sát tại trường

Thông tin từ các trường tham gia khảo sát đã được báo cáo đầy đủ tới Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) của 20 tỉnh/thành Nhóm nghiên cứu cam kết đảm bảo rằng Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT nhận được thông tin chính xác và kịp thời.

20 tỉnh thành đã nắm vững thông tin chi tiết về mục tiêu của GSHS 2019 Nhóm nghiên cứu đã cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan, bao gồm bộ câu hỏi và công văn từ Bộ Y tế.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2019, các tài liệu hành chính đã được gửi đến Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh thành, nhằm đạt được sự đồng thuận từ các cơ quan, đơn vị liên quan.

Sau khi nhận được sự đồng ý từ Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT, nhóm nghiên cứu đã liên hệ và thảo luận để xin chấp thuận từ chính quyền địa phương Danh sách các trường được chọn đã được thông báo tới Sở GD&ĐT và các trường liên quan Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu ngay sau khi nhận được sự chấp thuận từ Sở GD&ĐT các tỉnh thành và các trường đã được lựa chọn.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu GSHS Việt Nam 2019 đã được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt (Giấy chứng nhận số 421/2019/YTCC-HD3, ngày 6 tháng 8 năm 2019) Tất cả học sinh tham gia khảo sát đều nhận được thông tin rõ ràng về mục tiêu nghiên cứu và quy trình khảo sát được thiết kế để bảo vệ thông tin cá nhân, với sự tham gia hoàn toàn tự nguyện và trả lời ẩn danh Học sinh có thể hoàn thành bộ câu hỏi trong vòng một tiết học, và phiếu trả lời trắc nghiệm được thiết kế để nhập liệu tự động Học sinh có quyền từ chối tham gia hoặc không trả lời mà không bị kỷ luật, đồng thời thông tin cá nhân của họ được bảo mật hoàn toàn và mã hóa.

Tỷ lệ tham gia

Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2019, Sở GD&ĐT của 21 tỉnh thành đã gửi danh sách các trường THCS và THPT cùng số lượng học sinh để nhóm nghiên cứu ước lượng khung mẫu cho GSHS 2019 Tuy nhiên, do kết quả chọn mẫu bằng kỹ thuật PPS của WHO/CDC, tỉnh Ninh Thuận không có trường nào được chọn Do đó, khảo sát GSHS 2019 chỉ diễn ra tại 20 tỉnh thành thay vì 21 như kế hoạch ban đầu.

Bảng 2.1 Tổng số trường, lớp và học sinh tham gia GSHS 2019 tại Việt Nam

Tỉnh/Thành phố Tổng số trường Tổng số lớp Tổng số học sinh hoàn thành khảo sát

Các hoạt động chuẩn bị cho việc thu thập số liệu chính thức tại 84 trường được thực hiện vào tháng

Vào tháng 11 năm 2019, một hoạt động thu thập số liệu chính thức đã được thực hiện tại 20 tỉnh thành, với sự hỗ trợ từ Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, và nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Đến cuối tháng 11 năm 2019, trong số 84 trường được chọn tham gia khảo sát, đã có 81 trường hoàn thành, theo thông tin trong Bảng 2.1 Một trường ở thành phố Hồ Chí Minh bị loại bởi Sở GD&ĐT, và hai trường ở Hà Nội không phản hồi sau ba lần liên hệ chính thức.

Trong nghiên cứu SGHS 2019, có 203 lớp từ 81 trường trong tổng số 210 lớp của 84 trường tham gia, đạt tỷ lệ phản hồi 96,4% Tổng cộng 7.796 học sinh đã hoàn thành khảo sát, vượt qua cỡ mẫu tối thiểu 6.820 học sinh, với tỷ lệ tham gia đạt 97% Tỷ lệ phản hồi chung của nghiên cứu là 93,5%, cho thấy mức độ tham gia khảo sát rất cao, đảm bảo tính chính xác của GSHS Việt Nam và cho phép ước lượng tổng thể với biên sai số ± 5%.

Đã hoàn thành việc quét 81 phiếu thông tin trường và thu thập 201 phiếu thông tin lớp của các trường tham gia GSHS 2019 Tất cả dữ liệu này đã được mang trở lại Đại học Y tế công cộng Hà Nội để tiến hành nhập liệu và phân tích.

Xử lý số liệu

Quá trình nhập dữ liệu sử dụng thiết bị quét và được chuyển đổi thành khung dữ liệu thông qua phần mềm Stata Các dữ liệu thiếu không được đưa vào phân tích Dữ liệu thu thập từ 81 trường đã được làm sạch và chỉnh sửa để đảm bảo tính nhất quán, theo hướng dẫn dành cho người dùng dữ liệu được công bố trên trang web của CDC.

Yếu tố trọng số được áp dụng cho từng bản ghi học sinh nhằm phản ánh khả năng được chọn vào mẫu nghiên cứu và giảm thiểu tính sai lệch bằng cách điều chỉnh cho yếu tố không trả lời Công thức tính trọng số sử dụng trong ước lượng là: W = W1 * W2 * W3 * f1 * f2 * f3.

• W1 là nghịch đảo xác suất lựa chọn tỉnh

• W2 là nghịch đảo xác suất lựa chọn trường

• W3 là nghịch đảo xác suất lựa chọn lớp trong từng trường

• F1 là hệ số không đáp ứng hiệu chỉnh cấp trường, được tính theo trường.

F2 là hệ số điều chỉnh cấp học sinh, được xác định dựa trên bảng phân loại kích thước lớp học Hệ số này được tính toán dựa vào số lượng lớp tham gia, không phải tổng số lớp.

• F3 là hệ số sau phân tầng hiệu chỉnh được tính toán theo khu vực nông thôn/thành thị và khối lớp.

Số liệu và phương pháp tính trọng số đã được gửi đến các chuyên gia của WHO và CDC để xin ý kiến Vì không có học sinh nào từ chối trả lời, nên quyết định bỏ qua hệ số mức độ không đáp ứng hiệu chỉnh cấp học sinh.

Phần mềm Stata đã được áp dụng để tính toán tỷ lệ hiện hành và khoảng tin cậy 95%, đồng thời xem xét các yếu tố thiết kế mẫu phức hợp như tầng, cụm và quyền số trong quá trình phân tích dữ liệu GSHS.

2019 có tính đại diện cho tất cả học sinh trong độ tuổi 13-17 thuộc khối 8 đến khối 12 thuộc 4 phân tầng nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

KẾT QUẢ

Chỉ số nhân trắc và chế độ ăn uống

Tỷ lệ học sinh thiếu cân đã giảm khoảng một nửa, từ 16,13% năm 2013 xuống còn 8,12% năm 2019

Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ học sinh nam thiếu cân năm 2019 là 11,14% (95% CI: 9,35%-12,93%), gấp đôi so với tỷ lệ 5,56% (95% CI: 4,38%-6,73%) ở học sinh nữ Đáng chú ý, không có sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ thiếu cân giữa học sinh trung học cơ sở (THCS) và học sinh trung học phổ thông (THPT).

Ngược lại, trong 6 năm qua, tỷ lệ học sinh béo phì lại tăng gần gấp đôi từ 5,83% năm 2013 đến

Năm 2019, tỷ lệ thừa cân ở học sinh đạt 10,62% (p=0,001), với sự khác biệt rõ rệt giữa các giới và cấp học Cụ thể, tỷ lệ học sinh nam thừa cân là 15,06%, trong khi chỉ có 6,86% học sinh nữ thừa cân Đối với cấp học, 13,37% học sinh THCS bị thừa cân, so với 7,18% ở học sinh THPT Tỷ lệ học sinh bị béo phì dưới 2%, với tỷ lệ ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ.

(2,42%) cao hơn đáng kể tỷ lệ béo phì ở học sinh THPT (1,14%)

Bảng 3.2 Sự thay đổi tỷ lệ học sinh bị thiếu cân, thừa cân và béo phì trong năm 2013 và 2019

GSHS 2013 GSHS 2019 Tỷ lệ thay đổi

THPT 1,62 0,08-3,16 1,14 0,67-1,62 -29,39 0,547 aTỷ lệ phần trăm đã áp dụng trọng số (khoảng tin cậy 95%)

Tình trạng cảm thấy đói

Kết quả khảo sát về tình trạng đói ở học sinh cho thấy khoảng 47,61% không bao giờ cảm thấy đói, 20,63% hiếm khi và 29,4% thỉnh thoảng cảm thấy đói Chỉ một tỷ lệ nhỏ học sinh (1,32% và 1,04%) cho biết họ thường xuyên hoặc luôn cảm thấy đói Tỷ lệ học sinh không bao giờ cảm thấy đói ở khu vực nông thôn (51,25%) cao hơn khu vực thành thị (41,26%), trong khi tỷ lệ thỉnh thoảng cảm thấy đói ở nông thôn (27,09%) thấp hơn thành thị (33,44%) Học sinh nữ có tỷ lệ thỉnh thoảng cảm thấy đói (35,3%) cao hơn học sinh nam (22,51%) Về cấp học, học sinh THCS không bao giờ cảm thấy đói (52,44%) cao hơn học sinh THPT (41,63%), nhưng tỷ lệ THCS thỉnh thoảng cảm thấy đói (25,49%) lại thấp hơn so với THPT (34,25%).

“phần lớn thời gian” và “luôn luôn” cảm thấy đói khi so sánh theo nơi ở, giới tính và cấp học (Bảng Phụ lục 4).

Khi so sánh tỷ lệ học sinh cảm thấy đói “phần lớn thời gian” hoặc “luôn luôn” giữa khảo sát năm 2013 và 2019, số liệu cho thấy tỷ lệ này vẫn rất thấp ở cả hai năm Tuy nhiên, tỷ lệ báo cáo vào năm 2019 cao hơn đáng kể so với năm 2013 với p

Ngày đăng: 21/09/2023, 18:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. World Health Organization. Global school-based student health survey (GSHS) implementation: World Health Organization; 2019 [cited 2020 18 March]. Available from: https://www.who.int/ncds/surveillance/gshs/country/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global school-based student health survey (GSHS) implementation
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2019
3. Center for Disease Control and Prevention. Global school-based student health survey (GSHS) 2013 [cited 2020 20 March]. Available from: https://www.cdc.gov/gshs/pdf/GSHSOVerview.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global school-based student health survey (GSHS) 2013
Tác giả: Center for Disease Control and Prevention
Năm: 2013
5. Ministry of Health Indonesia. Factsheet: Global School-based Student Health Survey (GSHS) Indonesia 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factsheet: Global School-based Student Health Survey (GSHS) Indonesia 2015
Tác giả: Ministry of Health Indonesia
Nhà XB: Ministry of Health Indonesia
Năm: 2015
6. Ministry of Health Malaysia. Factsheet: Global School-based Student Health Survey (GSHS) Malaysia 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factsheet: Global School-based Student Health Survey (GSHS) Malaysia 2012
Tác giả: Ministry of Health Malaysia
Năm: 2012
7. Ministry of Health Thailand. Factsheet: Global School-Based Student Health Survey Thailand 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factsheet: Global School-Based Student Health Survey Thailand 2015
Tác giả: Ministry of Health Thailand
Năm: 2015
8. Centers for Disease Control and Prevention, World Health Organization. Vietnam Global School-Based Student Health Survey 2012-2013. Geneva, Switzerland: World Health Organization (WHO), 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Global School-Based Student Health Survey 2012-2013
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention, World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization (WHO)
Năm: 2013
9. World Health Organization. Global School-based Student Health Survey (GSHS) 2013 Vietnam Questionnaire Hanoi: WHO; 2013 [cited 2020 20 March ] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global School-based Student Health Survey (GSHS) 2013 Vietnam Questionnaire
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: WHO
Năm: 2013
10. U.S. Centers for Diseases Control and Prevention. Childhood Obesity Facts 2019 [cited 2020 10 December]. Available from: https://www.cdc.gov/healthyschools/obesity/facts.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Childhood Obesity Facts 2019
Tác giả: U.S. Centers for Diseases Control and Prevention
Năm: 2019
11. World Health Organization. Healthy diet 2018 [cited 2020 5 December]. Available from: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/healthy-diet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Healthy diet 2018
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2018
12. World Health Organization. Reducing free sugars intake in children and adults 2019 [cited 2020 5 December]. Available from: https://www.who.int/elena/titles/guidance_summaries/sugars_intake/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reducing free sugars intake in children and adults
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2019
13. World Health Organization. Adolescents: health risks and solutions 2018 [cited 2020 5 December]. Available from: https://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/adolescents-health-risks-and-solutions Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adolescents: health risks and solutions
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2018
14. World Health Organization. Comprehensive mental health action plan 2013–2020 2013 [cited 2020 5 December]. Available from: https://www.who.int/mental_health/action_plan_2013/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comprehensive mental health action plan 2013–2020
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2013
1. Foreman KJ, Marquez N, Dolgert A, Fukutaki K, McGaughey M, Pletcher MA, et al. Forecasting life expectancy, years of life lost, and all-cause and cause-specific mortality for 250 causes of death. Lancet. 2018;392(10159):2052-90 Khác
4. Ministry of Health Cambodia. Factsheet: Global School-based Student Health Survey (GSHS) Cambodia 2013. Cambodia: WHO, 2013 Khác
15. Thorud, HM.S., Aurjord, R. & Falkenberg, H.K. Headache and musculoskeletal pain in school children are associated with uncorrected vision problems and need for glasses: a case– Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng số trường, lớp và học sinh tham gia GSHS 2019 tại Việt Nam - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 2.1. Tổng số trường, lớp và học sinh tham gia GSHS 2019 tại Việt Nam (Trang 27)
Bảng 3.1 mô tả thông tin nhân khẩu học của các đối tượng nghiên cứu bao gồm tuổi, giới tính, lớp - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.1 mô tả thông tin nhân khẩu học của các đối tượng nghiên cứu bao gồm tuổi, giới tính, lớp (Trang 30)
Bảng 3.2. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh bị thiếu cân, thừa cân và béo phì trong năm 2013 và 2019 - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.2. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh bị thiếu cân, thừa cân và béo phì trong năm 2013 và 2019 (Trang 31)
Bảng 3.8. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh không bao giờ/hiếm khi rửa tay từ năm 2013 đến 2019 - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.8. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh không bao giờ/hiếm khi rửa tay từ năm 2013 đến 2019 (Trang 38)
Bảng 3.13. Sự chênh lệch tỷ lệ học sinh dành ít nhất 3 giờ/ngày cho các hoạt động ít vận động - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.13. Sự chênh lệch tỷ lệ học sinh dành ít nhất 3 giờ/ngày cho các hoạt động ít vận động (Trang 44)
Bảng 3.18. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh đã từng quan hệ tình dục giữa năm 2013 và 2019 - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.18. Sự thay đổi tỷ lệ học sinh đã từng quan hệ tình dục giữa năm 2013 và 2019 (Trang 50)
Bảng Phụ lục 32 mô tả số đơn vị cồn (1 đơn vị cồn tương đương 10 gam cồn nguyên chất) trung - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 32 mô tả số đơn vị cồn (1 đơn vị cồn tương đương 10 gam cồn nguyên chất) trung (Trang 57)
Bảng 3.27. Sự thay đổi về tỷ lệ học sinh sử dụng cần sa, ma túy đá - GSHS Vietnam 2019 - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
Bảng 3.27. Sự thay đổi về tỷ lệ học sinh sử dụng cần sa, ma túy đá - GSHS Vietnam 2019 (Trang 61)
Bảng Phụ lục 1. Số lượng học sinh trả lời cần thiết cho các mức độ chính xác khác nhau theo - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 1. Số lượng học sinh trả lời cần thiết cho các mức độ chính xác khác nhau theo (Trang 76)
Bảng Phụ lục 2. Danh sách 21 tỉnh, thành phố được chọn thông qua kỹ thuật chọn mẫu PPS - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 2. Danh sách 21 tỉnh, thành phố được chọn thông qua kỹ thuật chọn mẫu PPS (Trang 77)
Bảng Phụ lục 3. Các trường được chọn trong GSHS 2019 tại Việt Nam bằng kỹ thuật PPS - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 3. Các trường được chọn trong GSHS 2019 tại Việt Nam bằng kỹ thuật PPS (Trang 78)
Bảng Phụ lục 4. Tình trạng học sinh cảm thấy đói trong vòng 30 ngày trước khi triển khai khảo - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 4. Tình trạng học sinh cảm thấy đói trong vòng 30 ngày trước khi triển khai khảo (Trang 79)
Bảng Phụ lục 6. Số lần học sinh uống nước ngọt có ga (GSHS 2019) - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 6. Số lần học sinh uống nước ngọt có ga (GSHS 2019) (Trang 80)
Bảng Phụ lục 10. Thực trạng học sinh rửa tay tại trường (GSHS 2019) - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 10. Thực trạng học sinh rửa tay tại trường (GSHS 2019) (Trang 83)
Bảng Phụ lục 35. Số bạn bè có uống rượu bia (GSHS 2019) - Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại việt nam 2019the 2019 global school based student health survey in viet nam report
ng Phụ lục 35. Số bạn bè có uống rượu bia (GSHS 2019) (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm