1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hành tốt ở châu á dự phòng lây nhiễm hiv cho người tiêm chích ma túy và người bán dâm sáng kiến giảm tác hại quốc gia lớn đầu tiên của việt nam

57 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành tốt ở châu á: dự phòng lây nhiễm hiv cho người tiêm chích ma túy và người bán dâm
Người hướng dẫn Ts. Nguyễn Thanh Long, Cục Trưởng, Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, Bà Bridget Crumpton, Quyền Phó Trưởng Đại Diện, Văn Phòng Bộ Phát Triển Quốc Tế Vương Quốc Anh (DFID) Tại Việt Nam
Trường học Cục Phòng, Chống HIV/AIDS
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Tài liệu chuyên khảo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo ý kiến của tôi, một trong những bài học chính rút ra từ việc thực hiện chương trình này là những người làm việc ở thực địa bao gồm cả các đồng đẳng viên và các cán bộ y tế ở địa phư

Trang 1

HUPH

Trang 2

THỰC HÀNH TỐT Ở CHÂU Á:

DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

CHO NGƯỜI TIÊM CHÍCH MA TÚY

VÀ NGƯỜI BÁN DÂM

SÁNG KIẾN GIẢM TÁC HẠI QUỐC GIA LỚN ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

HUPH

Trang 3

HUPH

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Ts Nguyễn Thanh Long, Cục trưởng, Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Nhận biết và ứng phó với một bệnh dịch mới xuất hiện luôn là một thách thức đối

với một quốc gia Thách thức ấy thậm chí còn lớn hơn nữa nếu gốc rễ của nó ăn

sâu vào lối sống của người dân và xu hướng phát triển của xã hội Trong khi sự

phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng của Việt Nam đã cải thiện đáng kể điều kiện

sống của người dân, Việt Nam đồng thời cũng phải đối mặt với một loạt các vấn

đề mới - dịch HIV là một trong số đó Dịch HIV đã nhanh chóng lan rộng trong các

quần thể có hành vi nguy cơ cao, đặc biệt là những người tiêm chích ma túy và

những người bán dâm

Mặc dù những hành vi này không dễ dàng xử lý hoặc thậm chí đưa ra thảo luận

công khai, nhưng trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được một số thành

tựu to lớn, mang lại cuộc sống cho nhiều người Ở cấp độ chính sách, Luật Phòng

chống HIV/AIDS và Nghị định 108 đã quy định rõ các biện pháp dự phòng lây

nhiễm HIV hiệu quả dựa trên bằng chứng, đặc biệt là các can thiệp giảm tác hại

(bao gồm phân phát bơm kim tiêm, bao cao su và điều trị nghiện chất dạng thuốc

phiện bằng thuốc thay thế) Về mặt triển khai hoạt động, đã có những cố gắng

vượt bậc để các dịch vụ đó dễ dàng tiếp cận được tại địa điểm cư trú của những

người này

Tài liệu chuyên khảo này minh họa một số kinh nghiệm quý báu về việc triển khai

và mở rộng chương trình giảm tác hại lần đầu tiên trên quy mô lớn ở Việt Nam

Theo ý kiến của tôi, một trong những bài học chính rút ra từ việc thực hiện chương

trình này là những người làm việc ở thực địa (bao gồm cả các đồng đẳng viên và

các cán bộ y tế ở địa phương), với sự hiểu biết, kinh nghiệm, thông thái, kỹ năng

và tâm huyết của mình, chính là những người đã tạo nên một điều khác biệt to lớn

trong ứng phó của chúng ta đối với dịch HIV Những đóng góp của họ đã khẳng

định được rằng, khi phối hợp và có sự hỗ trợ của công an và các nhà chức trách

địa phương, các dịch vụ y tế nhà nước có thể xây dựng được các mối quan hệ tôn

trọng và tin cậy với các nhóm quần thể bị cách ly khỏi xã hội

Bà Bridget Crumpton, Quyền Phó Trưởng đại diện, Văn phòng Bộ Phát

triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) tại Việt Nam

Vào năm 2003, với sự hỗ trợ của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID),

Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Na Uy (NORAD) và Tổ chức Y tế Thế giới, Chính

phủ Việt Nam do Cục Phòng, chống HIV/AIDS đại diện đã bắt đầu một dự án dự

phòng có quy mô lớn đầu tiên, tập trung vào những người tiêm chích ma túy và

người bán dâm tại Việt Nam Dự án đã đạt được những đột phá quan trọng, giới

thiệu được những biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, giảm tác hại và thực hành tốt

từ các kinh nghiệm quốc tế Cụ thể, những thành công đó là: 1) thí điểm và nhanh

chóng mở rộng tiếp cận với bơm kim tiêm miễn phí để làm giảm lây nhiễm HIV

trong nhóm người tiêm chích ma túy (từ 0 chiếc năm 2004 lên 15 triệu chiếc bơm

kim tiêm năm 2008); 2) mở rộng việc phân phát bao cao su cho người bán dâm và

các khách hàng của họ qua kênh không truyền thống, như các quán Karaoke, quán

bar; và 3) góp phần vào việc khởi động chương trình điều trị bằng methadone Đạt

được những điều này là nhờ có sự lãnh đạo hiệu quả của Chính phủ Việt Nam và

sự ra đời của Luật Phòng chống HIV/AIDS Luật này đã tạo ra một cơ sở pháp lý

cho các hoạt động giảm tác hại và dần dần xóa bỏ sự kỳ thị đối với những người

sống chung với HIV

HUPH

Trang 5

Tài liệu chuyên khảo này tập hợp các bài học quan trọng về những thành tựu đã đạt được, và lý giải nguyên nhân dẫn tới các thành công đó dựa trên những kinh nghiệm ban đầu trong công tác dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam Những mô tả trong các ví dụ thiết thực này hướng vào các nhà cung cấp dịch vụ HIV đang gia tăng về số lượng Chương trình bắt đầu triển khai thực hiện vào đúng thời điểm Chính phủ đã ở tư thế sẵn sàng để nhanh chóng mở rộng các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV và nhân rộng các thực hành tốt

Dự án và tài liệu chuyên khảo này thể hiện sự hợp tác chặt chẽ được phát triển không ngừng qua quá trình cùng làm việc với nhau giữa Cục Phòng, chống HIV/AIDS, DFID và Tổ chức Y tế Thế giới Chúng tôi xin chân thành cám ơn tất cả những người có liên quan và hy vọng rằng tài liệu này sẽ giúp ích cho việc tiếp tục cải thiện công tác giám sát và cung cấp các dịch vụ HIV ở Việt Nam

Ts Jean-Marc Olivé, Trưởng Đại diện Văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam

Mặc dù mỗi quốc gia trong khu vực Châu Á có tình hình và bối cảnh riêng nhưng dịch HIV ở những quốc gia này đều lây lan chủ yếu qua con đường tiêm chích ma túy và mại dâm Để nắm bắt được cơ hội ngăn chặn dịch, Việt Nam đã xác định được con đường đi riêng của mình, dựa trên các kinh nghiệm của nhiều nơi trên thế giới và các bằng chứng khoa học

Bên cạnh việc các văn bản pháp luật về HIV đã thông qua các can thiệp giảm tác hại, điểm nổi bật nữa của Việt Nam là các hoạt động có hiệu quả nhưng nhạy cảm này đã được mở rộng thông qua các dịch vụ y tế công cộng do chính phủ chỉ đạo Điều đáng ghi nhớ ở đây là, qua sự hướng dẫn, hỗ trợ, và tạo điều kiện của các cơ

sở y tế ở địa phương, cộng với sự hợp tác chặt chẽ với công an và các ban ngành khác, ngành y tế đã có thể huy động được một số lượng lớn các “đồng đẳng” của người sử dụng ma túy, người bán dâm và các chủ cơ sở vui chơi giải trí là những người có thể tiếp cận được với người sử dụng ma túy, người bán dâm để cung cấp các dịch vụ cho họ

Các ví dụ điển hình được miêu tả trong tài liệu chuyên khảo này nhắc nhở chúng

ta về các nguyên tắc của Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu, trong đó đánh giá cao sự tham gia của cộng đồng và sự phối hợp của các ban ngành

HUPH

Trang 6

IV CÁC NÉT NỔI BẬT CỦA DỰ ÁN

V CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Tài liệu chuyên khảo này là kết quả của sự hợp tác trong việc rà soát và ghi chép các kinh nghiệm của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam, một dự án quy mô lớn đầu tiên về giảm tác hại được thực hiện tại 21 tỉnh/thành phố của Việt Nam

Kể từ khi dự án được thành lập năm 2003, Bộ Y tế và các Sở Y tế đã đóng một vai trò trung tâm trong việc huy động các chính quyền địa phương, y tế địa phương, đồng đẳng viên tiếp cận cộng đồng, các chủ/người quản lý cơ sở vui chơi giải trí, các cộng tác viên cộng đồng khác và các ban ngành có liên quan (bao gồm cả công an) để cung cấp các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm khó tiếp cận, nhất là những người tiêm chích ma túy và người bán dâm Đặc biệt, việc mở rộng các chương trình bơm kim tiêm và bao cao su đã được thực hiện một cách nhanh chóng và mạnh mẽ sau khi Cục Phòng, chống HIV/AIDS và các Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS được thành lập Việc biên soạn cuốn tài liệu này có lẽ đã không thực hiện được nếu không có sự đóng góp tận tụy của các cơ quan, đơn vị và các

cá nhân đó

Tài liệu chuyên khảo này đã được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Ts Nguyễn Thanh Long, Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS kiêm Giám đốc Ban quản lý Dự án Trung ương của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam, cùng với sự hợp tác chặt chẽ với đội ngũ cán bộ của Ban quản lý Dự án Trung ương, trong đó Bs Nguyễn Thị Huỳnh (Trưởng phòng Can thiệp và Dự phòng lây nhiễm HIV, Cục Phòng, chống HIV/AIDS kiêm Phó Giám đốc thường trực Ban quản lý Dự án Trung ương) và Bs Nguyễn Thị Minh Tâm (Phó phòng Can thiệp và Dự phòng lây nhiễm HIV, Cục Phòng, chống HIV/AIDS kiêm Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án Trung ương) đã đóng góp to lớn vào nội dung của cuốn tài liệu này

Bên cạnh đó, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID), và Chính phủ Na-uy đã hỗ trợ tài chính cho việc triển khai các hoạt động của dự án và các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới Trong

đó, đặc biệt cảm ơn bà Bridget Crumpton và cô Từ Thu Hiền, cán bộ của Văn phòng

Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh tại Việt Nam đã hỗ trợ mạnh mẽ, kiên định

và đã khuyến khích xây dựng tài liệu này cũng như đóng góp ý kiến chi tiết cho các bản dự thảo của tài liệu

Các ý tưởng, cách tổ chức sắp xếp, điều phối và tác nghiệp cho quá trình xây dựng tài liệu chuyên khảo này là do các Bs Masami Fujita, Ts Zhao Pengfei và Bs David Jacka, cán bộ của Văn phòng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam thực hiện Tài liệu chuyên khảo này đánh giá cao sự cộng tác của Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), là các thành viên của Nhóm Làm việc Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV tại Việt Nam trong việc

hỗ trợ ứng phó của Việt Nam đối với dịch HIV trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao Việc viết và hiệu đính tài liệu là do bà Michelle Rodolph, chuyên gia độc lập, hợp tác với Ts Fabio Mesquita, Văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới Khu vực Tây Thái Binh Dương, thực hiện bằng nguồn tài trợ của dự án do Sida tài trợ “Xây dựng các dịch vụ giảm tác hại toàn diện cho người tiêm chích ma túy ở Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam” để hỗ trợ việc củng cố chương trình giảm tác hại quốc gia của Việt Nam Việc thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích do Bs Nguyễn Thanh Hà, chuyên gia độc lập, và các cô Nguyễn Thiên Nga, Nguyễn Kiều Trinh và Trịnh Thị Hồng Dung, nhân viên của Văn phòng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam thực hiện

HUPH

Trang 8

CÁC TỪ VIẾT TẮT

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

CSVCGT Cơ sở vui chơi giải trí

HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

NKLTQĐTD Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

NSCVH Người sống chung với HIV

UBND Ủy ban nhân dân

CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG NƯỚC NGOÀI

DFID Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh

Norad Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Na Uy

PEPFAR Chương trình Cứu trợ Khẩn cấp về Phòng Chống AIDS của

Tổng thống Hoa Kỳ UNAIDS Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS

UNFPA Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc

UNODC Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp

Trang 9

GIỚI THIỆU

Ở châu Á, ước tính có khoảng 5 triệu người đang sống chung với HIV vào năm

2007 Đại dịch HIV ở khu vực này lớn thứ 2 trên thế giới, chỉ đứng sau cận sa mạc Sahara, Châu Phi Đông Nam Á, nơi có các hình thái dịch khác hẳn nhau, có mức độ lây nhiễm HIV cấp quốc gia cao nhất Dịch ở Thái Lan, Cam-pu-chia và My-an-ma đều cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV giảm Tuy nhiên dịch ở In-đô-nê-xi-a, Pa-kít-xtan

và Việt Nam đang gia tăng nhanh Một số đường lây nhiễm HIV làm cho dịch ở Châu Á trở thành một trong những hình thái dịch phức tạp nhất trên thế giới 1

Theo Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), tiêm chích

ma túy (TCMT) và mua bán dâm không sử dụng bao cao su là 2 yếu tố nguy cơ chính gây ra dịch HIV ở vài nước châu Á Việt Nam nằm trong số các quốc gia đó

và ước tính số người đang sống chung với HIV tăng gấp đôi từ năm 2000 tới năm

2005 2

Giống như ở nhiều quốc gia khác trong khu vực, các biện pháp can thiệp giảm tác hại là cần thiết để kiểm soát dịch HIV ở Việt Nam Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh tài trợ (Dự án Phòng lây nhiễm HIV hoặc là Dự án), dự án giảm tác hại đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam, đã đi theo định hướng này

Trong bối cảnh Dự án Phòng lây nhiễm HIV sắp kết thúc và một giai đoạn mới sắp bắt đầu, tài liệu này đã được biên soạn với mục đích thuật lại các thành tựu chính của Dự án, các nghiên cứu trường hợp và chia sẻ các bài học đã đúc kết được trong suốt quá trình thực hiện dự án Nội dung chính bao gồm sự tham gia, vào cuộc của chính quyền địa phương, hỗ trợ cho việc thay đổi chính sách, các thực hành có tính sáng tạo ở địa phương và các thay đổi về hành vi của quần thể nguy cơ cao, đặc biệt là người TCMT và người bán dâm

Trang 10

I ĐẠI DỊCH HIV VÀ ỨNG PHÓ

Tiêm chích ma túy và mại

dâm là nguồn lây nhiễm

HIV chính ở Việt Nam.3 Vào

cuối năm 2007, ước tính có

khoảng 292.930 người sống

chung với HIV (NSCVH) ở Việt

Nam, với tỷ lệ hiện nhiễm ở

người lớn ước tính khoảng

0.54%.3 Ước tính tỷ lệ hiện

nhiễm trong cộng đồng dân

cư vẫn đang ở mức thấp Tỷ

lệ huyết thanh dương tính với

HIV cao nhất là ở các quần

thể có nguy cơ cao như: người

TCMT, phụ nữ bán dâm (PNBD)

và người có quan hệ tình dục

đồng giới nam (QHTDĐGN)

cho thấy hình thái dịch HIV ở

Việt Nam vẫn ở trong giai đoạn dịch tập trung.4

Về các loại hình mại dâm, Việt Nam không khác các nước khác trong khu vực Vì

mại dâm là bất hợp pháp và phải đối đầu với các đợt truy quét của công an, ngành

công nghiệp này được ngụy trang dưới các hình thức khác nhau và các hoạt động

mại dâm được thực hiện dưới các hình thức và địa điểm gián tiếp như các cơ sở vui

chơi giải trí (CSVCGT) Các hình thức mại dâm khác là mại dâm đường phố, gái gọi

hoặc tháp tùng Ngoài việc bán dâm, nhiều PNBD ở Việt Nam làm việc dưới hình

thức phục vụ bàn, làm nghề mát xa hoặc tiếp viên ở quán karaoke Nhóm quần

thể này còn khá trẻ, khoảng 48% PNBD đường phố và 63% tiếp viên quán karaoke

dưới 30 tuổi.5 Qua nhiều năm, nhu cầu mua dâm tăng lên do nạn thất nghiệp lan

tràn ở nông thôn đẩy các thanh niên trẻ một mình ra các thành phố lớn để tìm việc

Ngoài nhóm dân di biến động, các lái xe đường dài, thủy thủ, doanh nhân, công

nhân nhà máy và công nhân xây dựng là các khách hàng thường xuyên của các

PNBD này

Sử dụng ma túy đã trở thành một vấn đề xã hội lớn trong những năm 1990, sau

khi có các chính sách kinh tế theo cơ chế thị trường Việt Nam trở thành một đường

vận chuyển quá cảnh heroin sản xuất ở vùng Tam giác vàng, điều này làm tăng sự

sẵn có về heroin và khuyến khích một lớp người mới sử dụng ma túy.6 Sáu mươi

phần trăm tất cả những người TCMT được phỏng vấn ở cuộc điều tra Giám sát kết

hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI là ở độ tuổi 30 hoặc trẻ hơn.7 Năm tỉnh

phía bắc là Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, và Thanh Hóa đang nằm trên các

con đường chính vận chuyện ma túy trái phép từ Lào vào Việt Nam.8

_

3 Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng và Phòng chống HIV/AIDS: Các ước tính và dự báo về HIV/AIDS 2005

- 2010 2005 http://www.unaids.org.vn/sitee/upload/publications/estimate_pp_en.pdf

4 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Báo cáo quốc gia thứ ba về giám sát việc thực hiện bản

Tuyên bố Cam kết về HIV/AIDS Hà Nội Tháng 1 năm 2008

5 Sổ tay truyền thông – tài liệu phối hợp của Liên Hiệp Quốc (2009) (đang xuất bản)

6 Quân VM và đồng nghiệp Dịch HIV ở Việt Nam: Quá khứ, Hiện tại và các cơ hội Trong ấn phẩm

Celentano DD, Beyrer C, Các Khía cạnh Y tế Công cộng của HIV/AIDS ở các nước có thu nhập thấp

và trung bình, Springer Science+Business Media, LLC, 2008:457-479.

7 Bộ Y tế Kết quả về điều tra Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI, 2005–2006

Người bán dâm*

Quốc gia 3%

Tỉnh/thành phố 10% (Hải Phòng),

12% (Hà Nội), 8% (TP HCM)

Nam giới có quan hệ tình dục với nam giới 1

Tỉnh/thành phố 9.4% (Hà Nội),

5.3% (TP HCM) (2007)

*Giám sát trọng điểm quốc gia về HIV/AIDS, 2008

HUPH

Trang 11

Cam kết chính trị được tăng cường, thể hiện bằng việc thông qua Bản chiến lược Quốc gia về Phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (2004) [Chiến lược Quốc gia], Luật Phòng, Chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) [Luật Phòng Chống HIV/AIDS] (2006) và Nghị định 108/2007 NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) [Nghị định 108] Việc cơ cấu lại chương trình HIV/AIDS quốc gia năm 2005 mang lại kết quả là việc thành lập Cục Phòng, Chống HIV/AIDS Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế, cũng như việc thành lập các Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh năm 2006 Việc tăng nguồn tiền tài trợ quốc tế từ các nhà tài trợ như Chương trình Cứu trợ Khẩn cấp về Phòng Chống AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR), Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và Ngân hàng Thế giới đã tạo điều kiện cho việc triển khai các dịch vụ và các can thiệp thiết yếu về HIV trong những năm gần đây

Các thành tựu chính gần đây từ ứng phó của ngành y tế đối với dịch HIV bao gồm việc nhân rộng nhanh chóng các can thiệp giảm tác hại – đặc biệt là các chương trình bơm kim tiêm (BKT) cho người TCMT và chương trình bao cao su cho người bán dâm, thí điểm Chương trình Điều trị Duy trì bằng Methadone quốc gia ở 2 thành phố (2008), và mở rộng điều trị kháng vi rút (điều trị ARV) cho 30% nhu cầu ước tính (hơn 15.000 người đang được điều trị ARV) vào tháng 9/2007.9 Tính đến tháng 10/2008 đã có 25.320 người bắt đầu điều trị ARV 10

II TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN PHÒNG LÂY NHIỄM HIV TẠI VIỆT NAM

Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam được thành lập năm 2003 với

sự tài trợ của DFID và Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Na Uy (NO-RAD) Dự án Phòng lây nhiễm HIV

là dự án giảm tác hại đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam Dự án thực hiện các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV

và các can thiệp giảm tác hại trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao ở 21/64 tỉnh/thành phố của Việt Nam

Dự án được triển khai năm 2004 và

sẽ sát nhập vào dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ (Dự án Ngân hàng Thế giới) vào năm 2009 để mở rộng phạm vi hoạt động

_

9 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2008.

10 Trao đổi cá nhân với Phòng Chăm sóc và Điều trị, Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, tháng 1/2009Quốc gia về Can thiệp Giảm tác hại trong Dự phòng lây nhiễm HIV (Chương trình Hành động Quốc gia).

Theo Luật Phòng, Chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS),

2006 “Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an toàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV.”

HUPH

Trang 12

Dự án Phòng lây nhiễm HIV được xây dựng trên cơ sở các thí điểm quy mô nhỏ từ

cuối những năm 1990 và đầu năm 2000 Sau đó, Dự án đã xây dựng một mô hình

can thiệp giảm tác hại để sau này các dự án khác có thể mở rộng Dự án đã chứng

minh rằng có thể triển khai các chương trình giảm tác hại ở nhiều tỉnh, thành phố

Dự án đã tạo ra một nền móng để từ đó thuyết phục các nhà tạo lập chính sách

chủ chốt chính thức đưa các biện pháp can thiệp giảm tác hại vào trong Chiến

lược Quốc gia, Luật Phòng, Chống HIV/AIDS, Nghị định 108 và Chương trình Hành

động

Dự án đã trải qua các thay đổi quan trọng về thể chế Ban đầu, Dự án là do Bộ Y tế

và Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đồng quản lý, đến năm 2006 trách nhiệm quản

lý dự án đã được chuyển giao toàn bộ cho Bộ Y tế Theo sự thu xếp hiện thời, Tổ

chức Y tế Thế giới hỗ trợ kỹ thuật cho Dự án và tổ chức DKT chịu trách nhiệm về

tiếp thị xã hội và phân phát bao cao su ở 21 tỉnh/thành phố của dự án.11

Các hoạt động ưu tiên của Dự án là:

1 Thông tin giáo dục truyền thông và Truyền thông thay đổi hành vi

2 Chương trình sử dụng bao cao su cho phụ nữ bán dâm và các khách hàng của

họ

3 Phân phát bơm kim tiêm

4 Quản lý và điều trị các Nhiễm khuẩn Lây truyền qua đường Tình dục

5 Nâng cao năng lực và hợp tác quốc tế

_

11 Xem Phụ lục I về thông tin chi tiết về quản lý và triển khai thực hiện chương trình.

HUPH

Trang 13

Hình 1 Sơ đồ về quản lý và thực hiện dự án 12,13

Các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể 14

Mục tiêu chung của Dự án 15 là:

Góp phần vào việc ngăn chặn đại dịch HIV ở Việt Nam bằng cách khống chế sự lây lan HIV trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao, nâng cao năng lực cho cán bộ phòng chống HIV các cấp và tăng cường các hoạt động can thiệp giảm tác hại

Các mục tiêu cụ thể 16

• 80% người tiêm chích ma túy sẽ hiểu về dự phòng lây nhiễm HIV và biết cách

sử dụng bơm kim tiêm sạch và bao cao su đúng cách

• 65% phụ nữ bán dâm đường phố và 92% tiếp viên của các cơ sở vui chơi giải trí (tiếp viên nhà hàng) sẽ hiểu về dự phòng lây nhiễm HIV và thường xuyên sử dụng bao cao su

_

12 Văn kiện Dự án sửa đổi, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12/4/2006

13 Xem Phụ lục I về thông tin chi tiết về quản lý và triển khai thực hiện chương trình.

14 O’Loughlin W và đồng nghiệp Báo cáo đánh giá giữa kỳ của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt nam, tháng 6/ 2007

15 Bộ Y tế Báo cáo giữa kỳ về các kết quả thựuc hiện “Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam” tháng 5/ 2007.

16 Ban quản lý Dự án Trung ương, Báo cáo tiến độ thực hiện dự án 10 tháng đầu năm 2007 và kế hoạch 2008, Hà Nội tháng 12 năm 2007.

HUPH

Trang 14

• 95% phụ nữ bán dâm đường phố và tiếp viên của các cơ sở vui chơi giải trí sẽ

được khám và điều trị nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

• 100% cán bộ dự án (bao gồm cả các đồng đẳng viên) sẽ được tập huấn về triển

khai thực hiện dự án dự phòng lây nhiễm HIV và các can thiệp giảm tác hại

III TIẾN ĐỘ

1 Chương trình Bơm kim tiêm

Thông qua các đồng đẳng viên tiếp cận cộng đồng cho người TCMT được tuyển

dụng, Dự án đã tiếp cận được ngày càng nhiều tụ điểm tiêm chích và người TCMT,

từ 300 tụ điểm năm 2005 lên trên 6.000 tụ điểm năm 2008 Số lượng bơm kim tiêm

(BKT) mà dự án đã phân phát được gia tăng nhanh chóng và trở thành một “hiện

tượng”, từ 200.000 BKT năm 2005 lên tới hơn 14 triệu BKT năm 2008 Điều này

thực hiện được là do gia tăng sự sẵn có BKT, đồng đẳng viên làm việc hiệu quả hơn

và có nhiều biện pháp phân phát BKT đa dạng hơn

Bảng 1 Số điểm tiêm chích đã tiếp cận, BKT sạch đã phân phát và BKT

Đầu tiên, việc khuyến khích sử dụng và phân phát bao cao su (tập trung vào nhóm

phụ nữ bán dâm và các khách hàng của họ) được thực hiện thông qua kênh tiếp thị

xã hội Ngoài ra, việc phân phát bao cao su (BCS) miễn phí thông qua đồng đẳng

viên cũng được thực hiện nhằm giúp họ xây dựng các mối quan hệ với những người

bán dâm và các chủ/người quản lý các CSVCGT Các can thiệp cho nhóm đối tượng

đích được thực hiện bằng cách triển khai Chương trình 100% Sử dụng Bao cao su

kết hợp với việc sử dụng mạng lưới đồng đẳng viên để làm tăng việc sử dụng bao

cao su giữa những người bán dâm và các khách hàng của họ Các hoạt động này

hiện bao phủ khoảng 5.000 tụ điểm mà những người bán dâm thường lui tới và gần

10.000 cơ sở vui chơi giải trí

Đến cuối năm 2008, tổng số 156 triệu bao cao su đã được phân phát qua kênh

truyền thống như các nhà thuốc và qua kênh không truyền thống như các nhà nghỉ

và các quán cà phê Số lượng bao cao su đã phân phát trong năm 2007 giảm đi

là do thiếu bao cao su Tuy nhiên, số lượng bao cao su được phân phát trong năm

2008 đã tăng lên đáng kể nhờ vào sự điều chỉnh chính sách phân phát bao cao su

tập trung vào kênh không truyền thống, nơi những người bán dâm thường lui tới

_

17 Do thiếu một hệ thống nhận dạng duy nhất, số liệu báo cáo về người TCMT và người bán dâm có

thể không phản ánh chính xác con số thực tế.

HUPH

Trang 15

Bảng 2 Bao cao su được phân phát ở các tụ điểm đường phố, các

CS-VCGT, qua kênh không truyền thống và kênh truyền thống (2004 – 2008).

Các tụ điểm của những người bán dâm đường phố

Các

Kênh không truyền thống 3.509.136 6.745.680 6.415.056 2.844.576 18.194.492Kênh

truyền thống 30.161.088 27.103.536 18.081.504 16.267.266 43.366.072

3 Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

Các dịch vụ về nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (NKLTQĐTD) được cung cấp miễn phí cho cả những người bán dâm đường phố và tiếp viên của các CSVCGT

kể từ khi bắt đầu thực hiện Dự án Các trung tâm y tế cộng đồng tham gia Dự án và/hoặc các đội khám NKLTQĐTD di động đảm bảo sự sẵn có của những dịch vụ này Từ năm 2005 đã có gần 400.000 lượt người bán dâm tiếp cận dịch vụ khám các NKLTQĐTD miễn phí Trong số phụ nữ được chẩn đoán mắc NKLTQĐTD, 95%

Số lượt người

4 Thông tin giáo dục truyền thông

Trong suốt thời gian thực hiện dự án, các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông (TTGDTT) đã dần dần dịch chuyển từ giáo dục về HIV qua phương tiện truyền thông đại chúng sang các thông điệp đích tập trung vào nhóm người TCMT, bán dâm và các nhóm có nguy cơ cao khác Các thông điệp bây giờ mở rộng ra ngoài phạm vi giáo dục về HIV và thay vào đó tập trung vào các hành vi có nguy

cơ cao và các cơ chế để giảm nguy cơ hoặc giảm tác hại của hành vi đó Đặc biệt,

HUPH

Trang 16

trọng tâm hướng tới các cá nhân có nguy cơ được thể hiện bằng cách giảm số sách

mỏng và tờ rơi dành cho cộng đồng dân cư nói chung sang tiếp cận các cá nhân

có các hành vi nguy cơ cao - tăng từ 73.000 lượt người TCMT và 34.000 lượt người

bán dâm đường phố năm 2005 lên 791.000 lượt người TCMT và 141.000 lượt người

bán dâm đường phố năm 2008

Bảng 4 Các hoạt động về TTGDTT bao gồm các tài liệu dùng cho truyền

thông đại chúng (các đoạn băng TV, đài phát thanh, các bài báo,

pa nô và áp phích) và dùng cho truyền thông cá nhân (tờ rơi,

sách mỏng, và các đĩa CD) đã được phân phát và truyền thông

trực tiếp tới người bán dâm và người TCMT (2005 – 2008).

2005 2006 2007 2008

Bản tin trên phương tiện

Phân phát các tài liệu

TT-GDTT dùng cho truyền

thông cá nhân

588.166 896.113 1.898.356 2.718.721

Truyền thông trực tiếp 18

Số lượt người bán dâm đường

5 Nâng cao năng lực cho các cán bộ dự án

Trong suốt thời gian thực hiện dự án, các cán bộ dự án đã tham gia nhiều đợt

tập huấn về tài chính, giảm tác hại, giáo dục đồng đẳng, phối hợp đa ngành, các

NKLTQĐTD và tiếp thị xã hội Đáng lưu ý là 7 chuyến đi học tập kinh nghiệm ở nước

ngoài của các cán bộ dự án ở các cấp khác nhau từ năm 2006 tới 2008 tới các nước

Trung Quốc (đại lục và Hồng Kông), My-an-ma, Ôx-trây-li-a, In-đô-nê-xi-a, Ba Lan

Trang 17

Hình 2 Bản đồ các tỉnh của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam:

Dự án bao phủ 53% các quận, huyện (133/248) và 29% các xã, phường (1162/4081) của 21 tỉnh Dự án, 6/2008.

HUPH

Trang 18

IV CÁC NÉT NỔI BẬT CỦA DỰ ÁN

Phần này sẽ liệt kê từ bối cảnh chung tới bối cảnh cụ thể, các nét nổi bật của Dự

án và làm thế nào để có được những điều đó, vì sao các nét đó được xem là duy

nhất đối với Dự án này và đặc biệt là đối với Việt Nam

1 Các can thiệp giảm tác hại cho dự phòng lây nhiễm HIV

được đưa vào bộ máy sẵn có của chính phủ

Chính phủ “CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC”

Ứng phó của Việt Nam trong công tác dự phòng lây nhiễm HIV là rất đặc

biệt Không giống như các ứng phó do các Tổ chức Phi chính phủ thực

hiện ở nhiều quốc gia khác, qua Dự án Phòng lây nhiễm HIV, Chính phủ

Việt Nam đã thiết lập được một cơ chế để quản lý và triển khai các chương

trình giảm tác hại cho người bán dâm và người TCMT Bằng cách sử dụng bộ

máy nhà nước để triển khai các chương trình, độ bao phủ về tiếp cận đã đạt được

một cách nhanh chóng và tạo nền tảng để mở rộng ra các tỉnh ngoài dự án Ví dụ,

vào năm 2003 có rất ít tỉnh, thành phố trong 64 tỉnh, thành phố triển khai chương

trình BKT Đến năm 2005, tất cả 21 tỉnh, thành phố của Dự án đã có chương trình

BKT hoạt động Và tới cuối năm 2007, các cơ quan y tế ở 2/3 tỉnh, thành phố trong

cả nước đã triển khai ít nhất một chương trình BKT 19

Mức độ ứng phó này đạt được là nhờ có sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ, phản

ánh trong Luật Phòng, Chống HIV/AIDS và Nghị định 108 20,21 Với sự hỗ trợ và

khuyến khích của Dự án Phòng lây nhiễm HIV và nhiều tổ chức, các nhân khác, Luật

Phòng, Chống HIV/AIDS và Nghị định 108 đã được hiện thực hóa ở Việt Nam.22

Luật Phòng, Chống HIV/AIDS bảo vệ quyền của những người sống chung với HIV

chống lại kỳ thị và phân biệt đối xử Luật quy định trách nhiệm của Chính phủ và

các bộ phận khác của xã hội tham gia vào công tác phòng chống HIV quốc gia

Nghị định 108 ban hành hướng dẫn chi tiết về thi hành một số điều của Luật Phòng,

Chống HIV/AIDS Cụ thể hơn, Nghị định 108 đưa ra định hướng về một môi trường

thuận lợi để triển khai các hoạt động giảm tác hại Theo Nghị định 108 23:

- Việc phân phát bao cao su miễn phí tại các địa điểm vui chơi, giải trí, bến tàu,

bến xe, nhà ga, các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ lưu trú

khác là được phép và được khuyến khích

- Các nhân viên tiếp cận cộng đồng được luật pháp bảo vệ khi phân phát bơm kim

tiêm và bao cao su

- Ủy ban nhân dân và công an, ở tất cả các cấp, phải có trách nhiệm tạo môi

trường thuận lợi cho các chương trình bơm kim tiêm và bao cao su

_

19 Mesquita F và đồng nghiệp Tăng tốc các can thiệp giảm tác hại để khống chế đại dịch HIV ở Tây

Thái Bình Dương và Châu Á: vai trò của Tổ chức Y tế Thế giới (Văn phòng Khu vực Tây Thái bình

dương), Tạp chí Giảm tác hại 2008, 5:26 http://www.harmreductionjournal.com/content/5/1/26

20 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 01/01/07, Số 64/2006/QH11 Luật Luật Phòng, Chống nhiễm

vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

21 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 26/06/07 sô 108/2007/ND-CP, Nghị định 108/2007 NĐ-CP

ngày 26/6/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống

nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

22 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2008.

HUPH

Trang 19

- Các can thiệp giảm tác hại phải bao gồm việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng liệu pháp điều trị duy trì thay thế chất dạng thuốc phiện 24

Bằng việc sử dụng các hệ thống sẵn có của chính phủ (ví dụ như Cục Phòng chống HIV/AIDS và Trung tâm Phòng chống AIDS cấp tỉnh/thành phố), việc chỉ đạo triển khai Luật Phòng, chống HIV/AIDS và Nghị định 108 được thực hiện từ cấp trung

ương xuống tận cấp xã/phường Ngành y tế dẫn đầu bằng cách làm việc trực tiếp

với những người TCMT và người bán dâm với vị trí là đồng đẳng viên hoặc thông qua các nhóm hỗ trợ những người sống chung với HIV Dưới sự giám sát của các nhân viên y tế, các đồng đẳng viên được tuyển dụng để làm việc với các thành viên của các nhóm đối tượng TCMT và bán dâm Thêm vào đó, các nhân viên y tế, cùng với các đồng đẳng viên, phân phát các tài liệu truyền thông và cung cấp các dịch

vụ khám và điều trị các NKLTQĐTD Các cán bộ dự án tuyến quận/huyện, dưới sự

hỗ trợ của Trung tâm Phòng chống AIDS tỉnh/thành phố và Ban quản lý Dự án tỉnh/thành phố, làm việc với UBND để thành lập các đội công tác mở rộng cấp quận/huyện với các thành viên từ các ban ngành khác25 (công an, LĐTBXH 26)

Mở rộng chương trình bơm kim tiêm trong nhóm người TCMT

Một trong những thành tựu lớn nhất của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam là việc nhanh chóng nhân rộng các dịch vụ chương trình bơm kim tiêm.27 Có một

số câu chuyện lưu truyền về việc các chính quyền cấp địa phương thực hiện một vài chương trình bơm kim tiêm quy mô nhỏ vào đầu những năm 1990 Đầu những năm 2000, các chương trình bơm tim tiêm quy mô nhỏ

đã được một số tổ chức Phi Chính phủ thí điểm tại các tỉnh, thành phố như Thanh Hóa, Hà Nội, Quảng Ninh

và Lạng Sơn Từ 2006 – 2007, các dự án này được bổ sung và sát nhập vào các hoạt động của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam.28 Giữa năm 2005 và 2007,

số tỉnh, thành phố trong Dự án thực hiện chương trình bơm kim tiêm tăng lên và còn vượt qua phạm vi Dự án,

từ 21 lên 42 tỉnh, thành phố.29

Gộp số liệu từ 32 tỉnh, thành phố của Dự án Phòng lây nhiễm HIV và dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ cho thấy có sự gia tăng lớn về số BKT được phân phát trong

2 năm vừa qua, từ 2 triệu chiếc năm 2006 lên tới 11

_

24 Fujita M Kinh nghiệm về xây dựng các kế hoạch và quy trình quốc gia cho ứng phó của ngành y

tế ở Việt Nam: Cách nhìn của người cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, trình bày tại Hội nghị các tổ chức triển khai chương trình PEPFAR tại Kampala, Uganda, 6/2008

25 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (Sở LĐTBXH): chịu trách nhiệm ở cấp tỉnh và quận/huyện về (ngoài những trách nhiệm khác) việc dự phòng và quản lý ‘tệ nạn xã hội’ gồm có vấn đề sử dụng

ma túy và mua bán dâm qua Cục Phòng chống tệ nạn xã hôi.

26 Một nhóm công tác thường có 5 thành viên ở cấp quận/huyện bao gồm y tế, công an, LĐTBXH, hội phụ nữ và đoàn thanh niên

Trang 20

triệu chiếc năm 2007, 30 trong khi đó số liệu của năm 2008 cho thấy số lượng BKT

đã phân phát còn tăng thêm nữa (hơn 22 triệu chiếc).31 Sự mở rộng của chương

trình BKT này là đáng ngạc nhiên trong bối cảnh có một số lượng BKT tương đối

lớn có vẻ như được người TCMT mua tại các cửa hàng (hiệu thuốc) bán lẻ truyền

thống (qua quan sát riêng)

Hình 3 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người TCMT ở Việt Nam từ 1994 –

2008.

Vì không có nghiên cứu đầu kỳ nên rất khó định lượng được tác động của hợp phần

BKT/TCMT của Dự án Phòng lây nhiễm HIV Tuy nhiên, bằng việc bình thường hóa

sử dụng bao cao su, có thể so sánh các chỉ số từ Điều tra Giám sát Hành vi32 và

Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/NKLTQĐTD 33 để thấy được

sự thay đổi hành vi của người TCMT và sự thay đổi này có thể được xem là một tác

động do Dự án đem lại Trong tất cả các tỉnh, thành phố thực hiện chương trình

BKT đồng thời có triển khai Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/

NKLTQĐTD (Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học), đều thấy có sự giảm

đáng kể về hành vi dùng chung BKT Sự giảm hành vi dùng chung BKT cũng đã

được ghi chép tại các tỉnh, thành phố không có Dự án, tuy nhiên, theo số liệu của

Điều tra Giám sát Hành vi (2000) 34 và Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh

học (2006)35 thì những thay đổi đó là ít hơn Có thể đó là do tác động thay đổi

hành vi của Dự án mở rộng ra các mạng lưới của người TCMT vượt ra khỏi phạm

vi dự án

Dữ liệu về giảm hành vi sử dụng chung BKT trong nhóm người TCMT ở Hà Nội,

thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) và Đà Nẵng đã cho thấy có sự tương quan với

chất lượng của chương trình Dự án Phòng lây nhiễm HIV ở những thành phố này

Giảm sử dụng chung BKT nhiều nhất được thấy ở Hà Nội, nơi có độ bao phủ lớn

nhất trong số 3 thành phố, theo sau là TP HCM, nơi nhìn chung có độ bao phủ

30 Báo cáo thường niên của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam, 2007

31 Các báo cáo quý về tiến độ thực hiện của Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam 2008 và Báo

cáo tiến độ thực hiện Dự án Ngân hàng Thế giới 2008

32 Bộ Y tế: Điều tra giám sát hành vi về HIV/AIDS ở Việt Nam 2000 (Kết quả điều tra vòng 1) 2000

http://www.fhi.org/en/HIVAIDS/pub/survreports/BSSVietnam2000.htm

33 Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/NTLTQĐTD, 2006.

34 Điều tra Giám sát Hành vi, 2000.

HUPH

Trang 21

thấp và mức giảm sử dụng chung BKT thấp nhất là ở Đà Nẵng, nơi có không có chương trình BKT nào của Dự án (Bảng 5).

Bảng 5 Tỷ lệ % người TCMT ở Hà Nội, TP HCM và Đà Nẵng báo cáo có sử

dụng chung BKT trong 6 tháng vừa qua, so sánh với hoạt động của Dự án.

Người TCMT sử dụng chung BKT trong 6 tháng vừa qua người TCMT/nămBKT đã phân phát/

sự tham gia của công an trong việc quản lý dự án là một đóng góp đáng kể vào sự thay đổi này

Hình 4 Số BKT đã được Dự án Phòng lây nhiễm HIV và Chính phủ phân

phát ở các tỉnh của Dự án từ năm 2005 đến năm 2008 38

36 Điều tra Giám sát hành vi, 2000.

37 Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/ NTLTQĐTD, 2006

38 Báo cáo thường niên của Dự án Phòng lây nhiễm HIV và Dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ (2004-2007) và các báo cáo tiến độ 2008

HUPH

Trang 22

Bình thường hóa việc sử dụng bao cao su qua việc thực hiện

Chương trình 100% Sử dụng Bao cao su

Dự phòng lây truyền HIV qua đường tình dục bằng cách khuyến khích sử dụng bao

cao su (BCS) trong các hoạt động mua bán dâm đã trở thành chiến lược chủ chốt

trong việc ứng phó với HIV/AIDS của chính phủ Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của

Bộ Y tế và sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Tổ chức Y tế Thế giới, Chương trình

100% Sử dụng Bao cao su đã được thí điểm ở Quảng Ninh năm 2000 và ở Cần Thơ

năm 2001 [Xem các nghiên cứu tình huống 1 và 2] Cả 2 tỉnh đã báo cáo rằng, với

sự gia tăng sử dụng bao cao su trong nhóm PNBD, có sự giảm lây nhiễm HIV, giang

mai và các NKLTQĐTD khác, mà không có dấu hiệu tăng hoạt động mua bán dâm

ở các điểm thí điểm Sau đó, Dự án Phòng lây nhiễm HIV đã mở rộng việc khuyến

khích và phân phát BCS ra 21 tỉnh, thành phố Hoạt động này đã thiết lập 1 nền

tảng và tiếp tục được mở rộng thông qua các dự án dự phòng khác cũng như các

dự án của chính phủ Ví dụ, vào năm 2007, các chương trình khuyến khích sử dụng

và phân phát BCS đã được triển khai ở 58 tỉnh, thành phố và đã bao phủ 61% các

quận, huyện và 33% các xã, phường ở Việt Nam Cùng năm đó, gần 13,1 triệu BCS

đã được các đồng đẳng viên phân phát miễn phí thông qua các trung tâm y tế; và

58,3 triệu BCS đã được bán qua kênh tiếp thị xã hội.39

Các thay đổi về môi trường

chính trị cũng là chìa khóa

của việc bình thường hóa

sử dụng BCS Sau các hội

thảo quốc gia về giảm tác

hại tập trung vào việc phân

phát BKT cho người TCMT

và khuyến khích sử dụng

BCS cho người bán dâm

năm 2006 và năm 2007,

các chính quyền địa phương

trong cả nước đã cam kết

Các thay đổi trong chính sách của chính quyền địa phương này cũng gây ảnh

hưởng đến thái độ của công an Trước kia, việc mang BCS theo người thường được

xem là dấu hiệu của mại dâm và là cơ sở để bắt giữ Kể từ khi bắt đầu chương

trình này, tại các tỉnh, thành phố của dự án, công an không còn bắt giữ một người

phụ nữ chỉ đơn giản vì người đó mang bao cao su trong người

_

39 Cục Phòng, Chống HIV/AIDS (2008): Báo cáo về công tác tiếp cận cộng đồng và giảm tác hại dự

phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam

Quảng cáo trên báo lần đầu tiên về việc khai trương Chương trình 100% sử dụng bao cao su

HUPH

Trang 23

2 Các quần thể đích được đồng đẳng viên tiếp cận và bằng các hình thức khác

Chiến lược chính để tiếp cận người bán dâm và người TCMT ở Việt Nam là thông qua việc sử dụng “các tình nguyện viên” tiếp cận cộng đồng (“Đồng đẳng viên”) được lựa chọn từ các nhóm nguy cơ và được nhận tiền trợ cấp Những người được chọn hoặc là những người đã từng TCMT hoặc đã từng bán dâm, các chủ/người quản lý CSVCGT, hoặc là người hiện đang bán dâm/TCMT nhưng đã chuyển sang hành vi tình dục/tiêm chích an toàn hơn

Sau khi được các nhà chức trách cấp xã/phường phê duyệt, các đồng đẳng viên được tập huấn và giám sát để tiếp cận, thường xuyên cung cấp các thông điệp giáo dục về dự phòng lây nhiễm HIV, tài liệu truyền thông và các vật dụng dự phòng (BKT và bao cao su) tới càng nhiều người trong nhóm mạng lưới có hành vi nguy

cơ cao càng tốt

Hoạt động mua bán dâm ở Việt Nam hầu hết là xảy ra tại các CSVCGT (các nhà nghỉ, nhà hàng karaoke, v.v) hoặc tại các tụ điểm Chiến lược của chính quyền địa phương, với mục tiêu rõ ràng là để triển khai chương trình 100% sử dụng BCS, đã tiến triển tới mức lôi cuốn được sự tham gia của các chủ CSVCGT làm cộng tác viên/đồng đẳng viên cho các tiếp viên nhà hàng (TVNH) và những người quản lý của các

cơ sở đó Những người bán dâm (đường phố hoặc TVNH) làm đồng đẳng viên cho người bán dâm đường phố

Để tiếp cận người TCMT, chiến lược ban đầu cơ bản là tuyển dụng những người đã từng sử dụng ma túy làm đồng đẳng viên Qua thời gian, hầu hết các quận, huyện của dự án đều tăng cường tuyển dụng những người hiện đang TCMT làm đồng đẳng viên vì họ đáng tin cậy hơn trong việc tiếp cận những người đang và mới TCMT và vì thế họ làm việc có hiệu quả hơn

Các chủ CSVCGT – cộng tác viên/đồng đẳng viên cho các tiếp viên nhà hàng

Nét riêng ở Việt Nam là việc sử dụng các chủ CSVCGT có mạng lưới với người bán dâm làm cộng tác viên/đồng đẳng viên để hỗ trợ việc triển khai chương trình bao cao su Khi các cộng tác viên/đồng đẳng viên cho nhóm tiếp viên CSVCGT đầu tiên được tuyển dụng và tập huấn ở Việt Nam, ý tưởng lúc đó là tuyển những người

đã từng bán dâm làm đồng đẳng viên Bằng việc tuyển các chủ CSVCGT làm cộng tác viên/đồng đẳng viên, không những họ có thể tiếp cận với tất cả các tiếp viên làm trong cơ sở của mình mà họ còn có khả năng tiếp cận và thuyết phục các chủ CSVCGT khác tham gia vào công tác dự phòng lây nhiễm HIV và những người đó

dễ dàng tiếp cận và gây ảnh hưởng tới những phụ nữ làm việc trong chính cơ sở của họ

Đồng đẳng viên cho những người bán dâm đường phố

Ở Việt Nam, các can thiệp hướng tới mại dâm đường phố khác với can thiệp hướng tới các tiếp viên CSVCGT Cách thức hiệu quả nhất đã cho thấy là sử dụng các đồng đẳng viên, ví dụ như những người bán dâm đường phố khác Ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, chính quyền cấp tỉnh đã triển khai một chương trình sử dụng những người hiện đang bán dâm đường phố để cung cấp các thông điệp giáo dục về dự phòng HIV cho những người bán dâm đường phố mới hơn [Xem nghiên cứu tình huống 6] Các cán bộ y tế tỉnh đã thấy được lợi ích của việc sử dụng những người hiện đang bán dâm đường phố là họ ‘gần gũi’ với cộng đồng người bán dâm,

HUPH

Trang 24

dễ được tin cậy hơn và thoải mái thảo luận những chủ đề nhạy cảm hơn, bao gồm

cả vấn đề sử dụng ma túy và phân phát BKT

Đồng đẳng viên cho người sử dụng ma túy

Người ta đã chấp nhận rằng có 2 vấn đề lớn của việc sử dụng những người đã từng

TCMT để cung cấp các dịch vụ cho những người hiện đang sử dụng ma túy: nguy

cơ tái nghiện cao khi họ có liên hệ gần gũi và thường xuyên với việc sử dụng ma

túy và họ khó tiếp cận với các mạng lưới những người mới TCMT và còn trẻ Để

ứng phó với những nhược điểm này, một số tỉnh đã tuyển dụng những người hiện

đang TCMT làm đồng đẳng viên hoặc một nhóm cặp đôi những người đã từng và

hiện đang sử dụng ma túy để cải thiện tình hình này Tỉnh Thanh Hóa nổi bật lên

như một ngoại lệ [Xem nghiên cứu trường hợp 8] Thay vì tuyển dụng lẫn lộn cả

những người đã và hiện đang TCMT làm đồng đẳng viên, Trung tâm Phòng chống

AIDS tỉnh đã quyết định chủ yếu tuyển những người hiện đang TCMT vì họ cho

rằng những người này có hiệu quả hơn Nhiều tỉnh dường như đã làm theo cách

này Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là tỉnh đầu tiên và có nhiều ảnh hưởng nhất trong

việc xác nhận hướng đi này

Có sự khác nhau giữa các tỉnh về các ứng phó cấp tỉnh trong việc xây dựng cơ cấu

giám sát đồng đẳng viên: hoặc là sử dụng nhân viên y tế hoặc đại diện của các tổ

chức đoàn thể (đôi khi cả hai) Nhìn chung, các nhân viên y tế có vẻ được tin cậy

nhất và hiệu quả nhất trong việc quản lý đồng đẳng viên, có thể là do các nhân viên

y tế hiểu việc giữ bí mật cho khách hàng hơn Các nhân viên y tế dường như thực

hiện các hoạt động tốt hơn so với đại diện của các tổ chức đoàn thể khi làm việc với

những người TCMT vì họ không thu thập các thông tin nhận dạng hoặc thỏa hiệp

Trang 25

3 Thái độ thay đổi giữa các nhóm nguy cơ và nhân viên y tế

Trước khi Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam bắt đầu được triển khai, không

có bộ máy nào trong hệ thống y tế giúp nhân viên y tế tiếp cận trực tiếp với những

người hiện đang là thành viên của các quần thể có nguy cơ cao nhất Bằng cách phân phát BKT và BCS thông qua mạng lưới đồng đẳng và dựa vào các chương trình chăm sóc và điều trị HIV trong hệ thống y tế nhà nước, một cơ chế đã được xây dựng và qua đó các nhân viên y tế tiếp cận thường xuyên và chuyên nghiệp với các đồng đẳng viên tiếp cận cộng đồng tuyển từ các quần thể có nguy cơ cao nhất đó Từ kết quả của việc tiếp cận thường xuyên này, các nhân viên y tế và các thành viên của các quần thể có nguy cơ cao nhất đã có thể xây dựng lòng tin, sự đồng cảm và các mối quan hệ công tác đáng tin cậy với nhau

Tỉnh Hà Tĩnh là một ví dụ tốt về việc các nhân viên y tế tiếp cận với những người TCMT [Xem nghiên cứu trường hợp 9] Chỉ sau 2 tháng có dịch vụ chương trình BKT “tự phục vụ” đặt tại các trạm y tế xã, các cán bộ quản lý Dự án Phòng lây nhiễm HIV ở đó đã thấy có sự thay đổi rõ ràng về thái độ của nhân viên y tế đối với những người TCMT Bằng việc người TCMT nhiều lần tới trạm y tế xã để lấy BKT, các nhân viên y tế đã được tạo cơ hội để cung cấp các thông điệp giáo dục và phát triển các mối quan hệ thân thiện và tin cậy Người TCMT bây giờ dường như cảm thấy thoải mái hơn với nhân viên của trạm y tế xã và cảm thấy được bảo đảm khi tiếp cận với các dịch vụ khác ở đó Do đó, cũng như ở nhiều quốc gia khác, người TCMT đã có lòng tin vào hệ thống y tế và tiếp cận các dịch vụ y tế thông qua việc tiếp cận chương trình BKT

Trung tâm Y tế huyện Từ Liêm ở Hà Nội là một ví dụ khác về sự tương tác tích cực

giữa người TCMT và nhân viên y tế [Xem nghiên cứu trường hợp 5] Trong khi ở

Hà Tĩnh người TCMT tiếp cận hệ thống y tế thông qua các hộp BKT ‘tự phục vụ’, thì ở Từ Liêm người TCMT tiếp cận cả hệ thống y tế nhà nước và chương trình BKT thông qua nhân viên y tế và thành viên nhóm tự lực của chương trình chăm sóc

và điều trị HIV Đại đa số những NSCVH tiếp cận phòng khám ARV ở Từ Liêm là những người đã từng hoặc hiện đang TCMT Ban đầu, đây là một thách thức cho cả

2 nhóm vì chẳng nhóm nào biết họ có thể tin cậy nhau ở mức độ nào Tuy nhiên, qua thời gian, đã có sự chuyển đổi về thái độ với sự chấp nhận và tin cậy lẫn nhau Đồng đằng viên tuyển dụng từ mạng lưới những NSCVH và cũng là người đã từng hoặc hiện đang TCMT đó được xem là một bộ phận đáng tin cậy và không thể thiếu được của đội ngũ y tế huyện

Một kết quả tích cực tương tự của việc tăng cường tương tác giữa người TCMT và

hệ thống y tế là sự thành lập các nhóm của NSCVH Bởi vì những người TCMT có

tỷ lệ nhiễm HIV cao, có rất nhiều người TCMT tiếp cận với nhân viên của chương trình BKT cần được hỗ trợ, chăm sóc và điều trị HIV Các điểm điều trị ARV khác nhau đã thành lập được các nhóm hỗ trợ NSCVH của riêng mình, mỗi nhóm có mục đích riêng phục vụ nhu cầu cụ thể của các thành viên trong nhóm đó Ở Vân Đồn, Quảng Ninh, các thành viên của nhóm những NSCVH cung cấp các dịch vụ tiếp cận cộng đồng và dịch vụ tại nhà cho người TCMT Ở Lạng Sơn, nhân viên trạm y

tế giúp thành lập một nhóm NSCVH để hỗ trợ thêm cho những người TCMT sống chung với HIV tiếp cận chương trình BKT [Xem nghiên cứu trường hợp 7]

HUPH

Trang 26

4 Hợp tác liên tỉnh và các sáng tạo ở địa phương

“Tôi sẽ ủng hộ bất kỳ biện pháp hiệu quả nào mà chính quyền địa phương quyết

định là cần thiết để ngăn chặn đại dịch HIV ở Việt Nam.”

- Ts Long, Cục trưởng, Cục Phòng, chống HIV/AIDSViệc thực hiện dự án đã cho thấy có sự

chia sẻ giữa các địa phương với nhau cùng

với sự sẵn sàng và hăng hái nhiệt tình thử

nghiệm các biện pháp mới, thông qua sự

sáng tạo của chính họ và cả qua những

kinh nghiệm học được từ các tỉnh, thành

phố khác Việc giao thêm trách nhiệm cho

các điểm dự án cấp quận/huyện và xã/

phường đã khuyến khích họ linh hoạt hơn

trong việc triển khai dự án

Sáng tạo và nhân rộng các

điểm BKT cố định

Một trong những sáng tạo phổ biến nhất

mà các tỉnh đã phát triển là các điểm phát

BKT cố định Bởi vì đã phát hiện được ở

hầu hết các tỉnh là nếu chỉ sử dụng biện

pháp dựa vào đồng đẳng viên để tiếp cận

các quần thể có nguy cơ cao nhất thì sẽ

không đạt được độ bao phủ đủ để kiểm

soát dịch HIV nên trong những năm gần

đây, Tổ chức Y tế Thế giới và Cục Phòng, chống HIV/AIDS đã khuyến khích các

tỉnh xác định và xây dựng các biện pháp thay thế để mở rộng độ bao phủ của các

dịch vụ chương trình BKT Trong năm 2007-2008 các mô hình thí điểm phát BKT

cố định đã được xây dựng ở Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, TP HCM, Cần Thơ,

Khánh Hòa và Hà Nội Nhìn thấy sự thành công của các điểm phát BKT cố định của

các tỉnh khác, Sở Y tế Hà Nội đã huy động nguồn lực của chính mình, với sự bổ

sung ngân sách của Dự án Phòng lây nhiễm HIV, để triển khai một số điểm phát

BKT cố định

Các cá nhân tận tụy tạo ra sự khác biệt

Cũng có một số ví dụ về các cá nhân tích cực có sáng kiến Ở quận Hồng Bàng,

thành phố Hải Phòng, một trong những thành viên chủ chốt của nhóm chăm sóc

và điều trị HIV, đồng thời là một người sống chung với HIV, mong muốn được trở

thành một đồng đẳng viên cho dự án Giảm tác hại [Xem nghiên cứu trường hợp

10] Mặc dù không phải là một người TCMT, nhưng với sự hỗ trợ của Trung tâm

Phòng chống AIDS thành phố cô đã thành lập một trung tâm thuận tiện

(drop-in-centre) và điểm phân phát cố định cho NSCVH và người TCMT tại nhà của mình

Các dịch vụ phân phát/thu nhặt BKT, phân phát bao cao su, và các dịch vụ chăm

sóc và hỗ trợ về HIV đều có ở đó

Các trung tâm thuận tiện do các đồng đẳng viên phụ trách trên thế giới đã cho

thấy là rất thành công và cuốn hút được thêm nhiều người bị cách ly khỏi xã hội

hoặc thành viên trẻ tuổi của các nhóm có nguy cơ đến trung tâm Họ cũng đã rất

Hộp cố định đựng BKT mới – do 1 bà chủ già của 1 quán hàng duy trì nguồn cung cấp

HUPH

Trang 27

thành công trong việc lôi cuốn những người có các hành vi nguy cơ tham gia vào các hoạt động giảm tác hại và chuyển gửi tới các dịch vụ về HIV, NKLTQĐTD, điều trị lệ thuộc ma túy.

Một điều phối viên (một phụ nữ sống chung với HIV) là người giám sát một đồng đẳng viên TCMT khác làm việc theo ca tại điểm đó Chương trình Chăm sóc & Điều trị ở quận Hồng Bàng hỗ trợ người phụ nữ sống chung với HIV này để tạo ra một nhóm NSCVH mạnh mẽ và tích cực, trong đó hầu hết là những người đã và hiện đang TCMT Nhóm NSCVH này đã mở đường cho Trung tâm Y tế quận Hồng Bàng

có thể liên hệ thường xuyên với người TCMT, đặc biệt là dưới hình thức chuyển gửi những người TCMT sống chung với HIV tới dịch vụ chẩn đoán, chăm sóc và điều trị HIV và các dịch vụ khác

Ở Nam Định [Xem nghiên cứu trường hợp 4], một người đang làm chủ một CSVCGT tình nguyện trở thành một người bán bao cao su cho chương trình tiếp thị xã hội bao cao su

Sự cam kết cá nhân của cô nhằm bảo vệ sức khỏe cho các TVNH ở khu vực bãi biển nơi

có CSVCGT của cô, và hàng ngày đi kiểm tra nhu cầu bao cao su của gần 100 CSVCGT khác đã thu được kết quả: thuyết phục được các CSVCGT khác mua bao cao su thường xuyên và bất kỳ lúc nào cần cho các tiếp viên của họ Cô đã kịp thời bổ sung phần thiếu hụt bao cao su khi đột ngột bị thiếu nguồn cung cấp từ chương trình tiếp thị xã hội

Ở Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa [Xem nghiên cứu trường hợp 6], một người đã từng bán dâm làm trưởng nhóm đồng đẳng viên cho người bán dâm đường phố đã thiết lập một

cơ chế hiệu quả và chi phí thấp để giám sát hoạt động của các đồng đẳng viên trong nhóm của mình Cô tới các tụ điểm và nói chuyện tại chỗ với các đồng đẳng viên để xác minh các báo cáo của từng đồng đẳng viên và đánh giá chất lượng công việc của họ một ngày trước khi họp tuần Nhóm đồng đẳng có điều phối này được một người tận tâm như vậy phụ trách đã đóng góp vào việc duy trì tỷ lệ cao sử dụng bao cao su trong nhóm người bán dâm đường phố (95% vào thời điểm tháng 11/2008) và một tỷ lệ chuyển gửi cao (trên 80%) tới khám bệnh LTQĐTD định kỳ tự nguyện

Các tỉnh chia sẻ các vật dụng khi cần thiết

Ngoài các ý tưởng, đã thấy có các trường hợp chia sẻ trang thiết bị trong chương trình BKT và BCS giữa các tỉnh với nhau Để đảm bảo tính liên tục của các hoạt động, các tỉnh đã vay hoặc mua các vật dụng hoặc trang thiết bị của nhau khi họ hết hoặc phải đợi hàng về lâu hơn dự kiến Tỉnh Thanh Hóa mua bao cao su từ Hà Nội Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh vay bơm kim tiêm của nhau để tránh

bị hết bơm kim tiêm trong khi đợi lô hàng mới về Ngoài ra Dự án đã cung cấp BKT cho các dự án khác nhằm làm tăng tính toàn diện cho các hoạt động của các dự

án đó Hình thức điều phối giữa các tỉnh của Dự án và giữa các dự án với nhau rất hữu ích trong việc duy trì các chương trình

HUPH

Trang 28

Nhân rộng chương trình phiếu dịch vụ sức khỏe

Chương trình phiếu dịch vụ sức khỏe được khởi xướng ở Lạng Sơn năm 2002 dưới

một chương trình hợp tác riêng với Trung tâm Y tế tỉnh Lạng Sơn, do Quỹ Ford tài

trợ và là một phần của một dự án nghiên cứu về dự phòng lây nhiễm HIV “xuyên

biên giới” cho người TCMT [Xem nghiên cứu trường hợp 7] Sau khi tham dự hội

thảo chia sẻ kinh nghiệm và tham quan tại Lạng Sơn, Ban quản lý Dự án tỉnh Bà

Rịa - Vũng Tàu đã quyết định triển khai mô hình sử dụng phiếu dịch vụ sức khỏe

như của Lạng Sơn để cải thiện tiếp cận chương trình BKT cho người TCMT

Những người hiện đang TCMT và bán dâm làm đồng đẳng

viên

Các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm giữa các tỉnh của Dự án đã có ảnh hưởng tích cực

tới việc tuyển dụng những người hiện hiện đang TCMT và bán dâm làm đồng đẳng

viên Đã có rất nhiều kinh nghiệm tốt về những người ‘hiện đang’ TCMT và bán dâm

này cũng làm việc tốt như, hoặc tốt hơn, những người đồng đẳng viên là người đã

từng TCMT hoặc đã từng bán dâm Điều này giúp tháo bỏ một mức độ nào đó sự

không thoải mái liên quan tới sự tham gia của họ vào chương trình

Qua các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, có thể đảm bảo với các tỉnh, thành phố về

giá trị và tính hợp lệ của việc tuyển chọn và sử dụng những người ‘hiện đang’ TCMT

“đã chuyển sang các hành vi an toàn” (không dùng chung BKT) để làm công tác

tiếp cận cộng đồng hiệu quả hơn Các hội thảo này không những tạo điều kiện cho

các cán bộ Ban quản lý Dự án tỉnh, thành phố gặp gỡ với các cán bộ ở những tỉnh,

thành phố có nhiều kinh nghiệm làm việc với người ‘hiện đang’ TCMT (như Thanh

Hóa) và người ‘hiện đang’ bán dâm (như Khánh Hòa), mà còn gặp gỡ chính những

đồng đẳng viên tiếp cận cộng đồng có chính kiến và cá tính

Nhiều đồng đẳng viên đã cảm thấy yên tâm sau những cuộc hội thảo này về sự

bình thường hóa vấn đề sử dụng ma túy trong nhóm đồng đẳng viên ma túy Các

cuộc hội thảo đã đem lại một cơ hội quý báu để chia sẻ kinh nghiệm về việc tuyển

chọn, các tiêu chí lựa chọn và quản lý các đồng đẳng viên ‘hiện đang’ TCMT

Vai trò của Tổ chức Y tế Thế giới trong việc hỗ trợ các lớp tập huấn về giảm tác

hại cho các tỉnh, thành phố của Dự án đã tạo ra cơ hội (trong quá trình tập huấn)

để thách thức một phần trong quy trình lập kế hoạch thụ động và “từ trên xuống”

của dự án Bằng cách làm việc với từng tỉnh, thành phố và các nhóm cán bộ cùng

lĩnh vực, có thể xác định được và thảo luận về các vấn đề không nhất quán giữa

tình hình/nhu cầu tại thực địa và nội dung cũng như quy mô của các hoạt động

trong phạm vi của Dự án Với việc sử dụng số liệu thật và kiến thức của từng địa

phương, quy trình lập kế hoạch công tác năm đã được chỉnh sửa lại và cân nhắc để

các mục tiêu về độ bao phủ gần với thực tế hơn Đội ngũ cán bộ dự án của nhiều

tỉnh, thành phố đã tỏ ra có hiệu quả trong việc duy trì và chia sẻ sự hăng hái nhiệt

tình mà họ có được trong các buổi tập huấn với các đồng nghiệp khi trở lại làm việc

ở tỉnh nhà

5 Hỗ trợ Chương trình Thí điểm Quốc gia về Điều trị Duy trì

bằng Methadone

Được Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng phê duyệt và theo Luật Phòng, chống HIV/

AIDS và Nghị định 108/2007/ND-CP, Chương trình thí điểm điều trị duy trì bằng

methadone bắt đầu triển khai ở Hải Phòng và TP HCM năm 2008 Chương trình này

HUPH

Ngày đăng: 21/09/2023, 18:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w