Nguồn gốc, thuộc tính, bản chất và chức năng của pháp luật Pháp luật là hệ thống những nguyên tắc xử sự do Nhà nước ban hành và thừa nhận, bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
Trang 22
Nhóm biên soạn:
PGS.TS Nguyễn Thanh Hương PGS.TS Phạm Trí Dũng NCS Hoàng Khánh Chi
TS Nguyễn Huy Quang
TS Trần Thị Diệu Oanh ThS Hứa Thanh Thủy
Thư ký biên soạn:
ThS Hứa Thanh Thủy
HUPH
Trang 33
MỤC LỤC
BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT
NAM 6
PHẦN 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 6
1.1 Nguồn gốc, thuộc tính, bản chất và chức năng của pháp luật 6
1.2 Pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 8
PHẦN 2 KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CĂN CỨ PHÂN CHIA NGÀNH LUẬT 10
2.1 Khái niệm và cấu trúc của hệ thống pháp luật 10
2.2 Căn cứ để phân chia ngành luật 11
PHẦN 3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC VIÊT NAM 13
3.1 Các ngành luật trong hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam 13
3.2 Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta và thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 19
BÀI 2 PHÁP LUẬT Y TẾ VIỆT NAM 25
PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐÊ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT Y TẾ 25
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của pháp luật Y tế 25
1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật y tế với các ngành luật khác 29
1.3 Đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh 31
1.4 Phạm vi điều chỉnh 33
1.4 Hình thức, nguồn và quy phạm của pháp luật y tế 36
1.5 Quan hệ pháp luật y tế 39
1.6 Mối quan hệ giữa pháp luật y tế và quản lý nhà nước về y tế 41
PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Y TẾ 43
2.1 Khái quát chung 43
2.2 Đánh giá hệ thống pháp luật y tế 43
2.3 Ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật y tế 46
2.4 Những văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu hình thành hệ thống pháp luật y tế 49
PHẦN 3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Y TẾ TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC 51
3.1 Pháp luật y tế dự phòng 51
3.2 Pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 52
3.3 Pháp luật về Khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng bao gồm cả y học cổ truyền 54
3.4 Pháp luật về Dược, vắc xin và sinh phẩm y tế 56
3.5 Pháp luật về Trang thiết bị y tế 57
HUPH
Trang 44
3.6 Pháp luật về Kinh tế y tế (Viện phí, BHYT, NSNN, viện trợ và vốn vay
ODA nước ngoài) 57
3.7 Pháp luật về Tổ chức hệ thống y tế (công và tư) 59
3.8 Pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức y tế bao gồm cả đào tạo 60
PHẦN 4 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Y TẾ 61
4.1 Khái niệm và ý nghĩa của thực hiện pháp luật y tế 61
4.2 Các hình thức thực hiện pháp luật y tế 62
4.3 Các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật y tế 64
PHẦN 5 VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT Y TẾ 68
5.1 Vi phạm pháp luật y tế 68
5.2 Xử lý vi phạm pháp luật y tế 74
BÀI 3 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CUNG CẤP VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ 92
PHẦN 1 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ 93
1.1 Người cung cấp dịch vụ trong các cơ sở y tế công 93
1.2 Đảm bảo cung cấp dịch vụ có chất lượng cho người bệnh 95
PHẦN 2 QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ 97
2.1 Quyền lợi của người sử dụng các dịch vụ y tế 97
2.2 Trách nhiệm của người sử dụng các dịch vụ y tế 98
2.3 Mười quyền cơ bản của người sử dụng dịch vụ y tế 99
PHẦN 3 HỘI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 101
3.1 Khái niệm bảo về người tiêu dung và Hội bảo vệ người tiêu dùng 101
3.2 Một số nguyên tắc của Hội bảo vệ người tiêu dùng 102
3.3 Trách nhiệm của Hội bảo vệ người tiêu dùng 102
PHẦN 4 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 104
BÀI 4 CÁC MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN 107
PHẦN 1 CÁC QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN 107
PHẦN 2 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN: 108
2.1 Yếu tố dịch vụ công 108
2.2 Yếu tố đạo đức 108
2.3 Yếu tố pháp luật 109
PHẦN 3 NỘI DUNG CÁC MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN
109
3.1 Quan hệ giữa thầy thuốc và người bệnh 109
3.2 Quan hệ giữa thầy thuốc và gia đình người bệnh 114
HUPH
Trang 55
3.3 Quan hệ giữa cán bộ và nhân viên y tế trong bệnh viện 115
3.4 Quan hệ giữa lãnh đạo bệnh viện và thầy thuốc 116
PHẦN 4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GẮN KẾT VÀ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG BỆNH VIỆN 117
4.1 Nâng cao y đức 117
4.2 Tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước 118
4.3 Cải thiện điều kiện hành nghề cho thầy thuốc và nhân viên y tế 119
4.4 Xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về khám chữa bệnh 120
BÀI 5 ĐẠO ĐỨC Y TẾ/Y ĐỨC 122
PHẦN 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG 122
1.1 Đạo đức 122
1.2 Đạo đức trong y tế 124
PHẦN 2 BA CÁCH TIẾP CẬN CƠ BẢN TRONG ĐẠO ĐỨC 126
2.1 Đạo đức vị mục đích 126
Đạo đức vị mục đích (Goal-based morality) 126
2.2 Đạo đức vị trách nhiệm (duty-based morality) 127
2.3 Đạo đức vị nhân quyền 128
PHẦN 3 ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG 130
PHẦN 4 ĐẠO ĐỨC KHI RA QUYẾT ĐỊNH THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH Y TẾ CÔNG CỘNG 133
PHẦN 5 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC 136
5.1 Các vấn đề đạo đức trước khi bắt đầu nghiên cứu 136
5.2 Đạo đức trong khi thực hiện nghiên cứu 139
5.3 Các vấn đề đạo đức sau nghiên cứu 142
PHẦN 6 HỘI ĐỒNG ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC 143
PHẦN 7 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐỂ THẢO LUẬN 145
7.1 Trường hợp 1 145
7.2 Trường hợp 2 146
7.3 Trường hợp 3 146
7.4 Trường hợp 4 147
HUPH
Trang 66
BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
MỤC TIÊU:
1 Trình bày được một số khái niệm cơ bản về Pháp luật
2 Trình bày được khái niệm và cấu trúc của hệ thống pháp luật
3 Phân tích được các tiêu chí cơ bản trong việc phân chia ngành luật
4 Trình bày được hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay và một số ngành luật
cơ bản có liên quan đến Ngành Y tế
NỘI DUNG
PHẦN 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
1.1 Nguồn gốc, thuộc tính, bản chất và chức năng của pháp luật
Pháp luật là hệ thống những nguyên tắc xử sự do Nhà nước ban hành và thừa nhận, bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh của các quan hệ xã hội nhằm tạo ra một xã hội ổn định và trật tự Pháp luật của một quốc gia được hình thành bằng hai con đường:
Thứ nhất, giai cấp thống trị thông qua bộ máy Nhà nước của mình cải tạo,
sửa chữa các quy tắc phong tục, tập quán, đạo đức sẵn có cho nó phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và các quy tắc đó trở thành pháp luật
Thứ hai, bằng bộ máy nhà nước của mình, giai cấp thống tri đặt ra thêm các
quy phạm mới, dùng quyền lực buộc mọi thành viên xã hội phải tuân theo nhằm duy trì một trật tự xã hội trong vòng trật tự của giai cấp thống trị, đồng thời bảo vệ lợi ích, củng cố sự thống trị đối với xã hội
Thuộc tính của pháp luật chính là những đặc trưng riêng biệt phân biệt nó với các hiện tượng xã hội khác và có bốn thuộc tính cơ bản:
Tính quy phạm phổ biến: pháp luật là những quy tắc xử sự vì nó luôn luôn là
khuôn mẫu, là tiêu chuẩn cho các hành vi và cách cư xử của con người đối với nhau Trong các mối quan hệ xã hội, con người căn cứ vào các quy tắc đó mà xác định hành vi của mình, xem mình làm được gì, phải làm gì, hoặc không được làm gì và nếu vượt qua giới hạn đó là vi phạm pháp luật Khoa học pháp lý gọi các quy tắc xử
HUPH
Trang 77
sự đó là các quy phạm Tuy nhiên, trong xã hội, không phải chỉ có pháp luật mới có tính quy phạm Các quy tắc xử sự khác trong xã hội khác như đạo đức, các tín điều của một tôn giáo, các quy tắc hoạt động của một tổ chức xã hội được ghi nhận trong điều lệ cửa nó cũng có tính quy phạm Nhưng so với các quy tắc xử sự khác, các quy phạm của pháp luật mang tính phổ biến hơn, tức là nó bao quát, rộng khắp hơn
so với các quy phạm xã hội khác Nếu các quy phạm xã hội khác chỉ bao quát một
số lĩnh vực hay đối tượng nào đó thì quy phạm pháp luật có thể tác động đến tất cả các lĩnh vực, các đối tượng trong xã hội
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: nội dung của các quy tắc, khuôn
mẫu pháp luật được quy định rõ ràng, chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản và được thể hiện trong các hình thức xác định, đó là các văn bản pháp luật có tên gọi được quy định chặt chẽ Tên gọi của các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật, Đạo luật, Pháp lệnh, Nghị định
Tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước: về bản chất, pháp luật thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị Nhưng bản thân ý chí của giai cấp thống trị lại chưa trực tiếp trở thành pháp luật Muốn có pháp luật, giai cấp thống trị phải có các phương cách thích hợp biến ý chí của mình thành ý chí nhà nước Trên cơ sở đó nhà nước thống qua các cơ quan chuyên môn của mình thể hiện ý chí đó thành pháp luật dưới những hình thức cụ thể thích hợp Pháp luật phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc bộ máy nhà nước xây dựng, ban hành bằng các văn bản của nhà nước, mang dấu ấn của nhà nước Và để thực hiện pháp luật, nhà nước đưa vào các quy phạm pháp luật tính quyền lực áp đặt đối với mọi chủ thể, bằng cách gắn cho pháp luật tính bắt buộc chung Nhà nước sử dụng các phương tiện khác nhau để thực hiện pháp luật, phương pháp hành chính, kinh tế, tổ chức tư tưởng, tuyên truyền, giáo
dục pháp luật và biện pháp cưỡng chế
Tính hệ thống, thống nhất, ổn định và năng động: tất cả các văn bản pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và không được trái với Hiến pháp Tính ổn định của pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phải phù hợp trong một thời gian tương đối dài và phải phù hợp với điều kiện khách quan Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi, pháp luật cũng sẽ được điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:
Chức năng điều chỉnh: Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò
và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh
các quan hệ xã hội Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực
hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong
xã hội Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Như
HUPH
Trang 88
vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội
Chức năng bảo vệ: Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội
mà nó điều chỉnh Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các
quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn
hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hành
vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự
Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện
thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người
xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật Việc
giáo dục có thể được thực hiện thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự,…)
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng: “Pháp luật là hệ thống các quy
phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) thể hiện ý chí Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bởi các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước” Pháp
luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có Nhà nước
1.2 Pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Bản chất pháp luật Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân lao động Pháp luật của nhà nước ta là thể hiện ý chí của nhân dân lao động - số đông trong xã hội, vì vậy, pháp luật là phuơng tiện để phản ánh và
bảo vệ quyền lực của nhân dân lao động
Pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng thể hiện tính chất xã hội rộng rãi Pháp luật Việt Nam hiện nay là phương tiện để nhà nước quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nó cũng đồng thời là phương tiện để thể chế hóa những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng về các vấn đề
HUPH
Trang 99
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển của xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động Hơn nữa, pháp pháp luật của chúng ta còn có vai trò quan trọng trong việc thiết lập và bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm việc thực hiện nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa
Bản chất của pháp luật nước ta thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện để đảm bảo công bằng
xã hội, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Dân chủ là một trong những đặc
trưng cơ bản của nhà nước ta Tính chất dân chủ đó được thể hiện và ghi nhận trong
hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật khác Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận và xác định các biện pháp để đảm bảo cho việc thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân Bên cạnh đó, thông qua pháp luật, Nhà nước ta cũng đó thực hiện các biện pháp để
hỗ trợ và đảm bảo sự phát triển của các khu vực khó khăn như miền núi, vùng sâu,
Pháp luật của nhà nước ta là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam Bộ máy nhà nước là một hệ thống các cơ quan nhà nước có chức
năng và nhiệm vụ khác nhau Để đảm bảo cho bộ máy nhà nước nói chung và từng
cơ quan trong bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, phát huy được sức mạnh của quyền lực nhà nước cũng như đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân, thì cần phải có các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước Các quy định
đó không chỉ là cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước mà nó còn là phương tiện để nhân dân có thể tiến hành việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và của các nhân viên nhà nước
Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn là phương tiện để thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc Điều 5 Hiến pháp 2013 quy định:
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
HUPH
Trang 10Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân
tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”
Trên cơ sở này, nhà nước đó ban hành ra hàng loạt các văn bản pháp luật cụ thể hóa và thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc
PHẦN 2 KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CĂN
CỨ PHÂN CHIA NGÀNH LUẬT
2.1 Khái niệm và cấu trúc của hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân thành các chế định pháp luật, các ngành luật và quy phạm pháp luật phù hợp với đặc điểm tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau
Hệ thống pháp luật được chia thành ngành luật, Các ngành luật được chia thành các chế định pháp luât Các chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật
• Quy phạm pháp luật:
Quy phạm pháp luật chính là hệ thống quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích xây dựng một xã hội ổn định và trật tự
Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống cấu trúc bên trong của pháp luật
Quy phạm pháp luật cấu thành chế định pháp luật, các ngành luật và cả hệ thống pháp luật Chính vì vậy quy phạm pháp luật không tồn tại với tư cách như bộ phận độc lập trong hệ thống pháp luật
Quy phạm pháp luật là hạt nhân của hệ thống pháp luật Mỗi quy phạm pháp luật có ba bộ phận hợp thành:
HUPH
Trang 1111
- Giả định là bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật nói lên điều kiện,
hoàn cảnh, thời gian xảy ra hành vi trong cuộc sống, thông thường trả lời câu hỏi:
“Ai? Trong hoàn cảnh nào?”
- Quy định là bộ phận quan trọng nhất của quy phạm pháp luật, nó thể hiện ý
chí của Nhà nước, Nhà nước quy định những khuôn mẫu, thước đo của hành vi xử
sự khi gặp phải các điều kiện của giả định, nhằm trả lời câu hỏi: “Được làm gì?
Phải làm gì? Làm như thế nào?” Thông thường có các quy định cấm đoán bắt
buộc, quy định tuỳ nghi, quy định giao quyền
- Chế tài là bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật, nói lên cách thức, biện
pháp Nhà nước dự kiến áp dụng đối với các chủ thể không áp dụng đúng bộ phận
của quy phạm pháp luật, nhằm trả lời câu hỏi: “Hậu quả sẽ như thế nào nếu không
thực hiện đúng quy định?” Pháp luật của ta có các chế tài: Hình sự, hành chính,
hệ hữu cơ như một chỉnh thể thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối
Ví dụ: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm những quan hệ xã hội giữa
chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái phát sinh do việc ly hôn tạo nên chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân-gia đình
• Ngành luật
Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan hệ
xã hội có cùng tính chất thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội
2.2 Căn cứ để phân chia ngành luật
Mỗi quốc gia có thể chia hệ thống pháp luật theo cách khác nhau nhưng nhìn
chung dựa trên hai căn cứ: Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh:
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những quan hệ xã hội cùng loại thuộc một lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật
Ví dụ:
HUPH
Trang 12+ Luật Hành chính có đối tượng điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước;
+ Luật Hình sự: Điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và tội phạm
Trên thực tế, việc nhận thức đối tượng điều chỉnh để phân định ngành luật là vấn đề rất phức tạp, bởi vì một lĩnh vực quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau, không có quan hệ nào là biệt lập và bất biến
Việc xác định cơ cấu ngành luật là yêu cầu khách quan và cần thiết trong việc quản lý xã hội bằng luật pháp Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xác định được cơ cấu các ngành luật, trên cơ sở đó xây dựng được hệ thống pháp luật thống
nhất và hoàn chỉnh
Phương pháp điều chỉnh:
Do quan hệ xã hội rất đa dạng và phức tạp, liên quan trực tiếp với nhau, nhiều khi cùng một loại quan hệ nhưng có thể là đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật Vì vậy trong nhiều trường hợp, để phân định quan hệ xã hội đó thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật nào còn phải căn cứ vào phương pháp điều chỉnh, nghĩa là căn cứ vào cách thức tác động nào có hiệu quả hoặc loại quan hệ xã hội đó thuộc phương pháp tác động, điều chỉnh nào là hợp pháp
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là những cách thức, biện pháp tác động vào quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật đó
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật phụ thuộc vào đặc điểm của quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật không phải là sản phẩm chủ quan, duy ý chí mà nó được xác lập dựa vào đặc điểm, tính chất của loại quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh-loại quan hệ xã hội nào thì tương ứng với phương pháp điều chỉnh ấy
Các phương pháp điều chỉnh:
- Mệnh lệnh, quyền uy thường được dùng trong hình sự, hành chính, đất đai
- Thoả thuận, bình đẳng dùng trong dân sự, hôn nhân, pháp luật kinh tế
HUPH
Trang 13+ Luật Hành chính lại cần sử dụng phương pháp mệnh lệnh, quyền uy;
+ Luật Hình sự lại dùng phương pháp cưỡng bức;
Ngoài ra, trong hệ thống ngành luật còn chia ra hai nhóm pháp luật: Nhóm pháp luật nội dung và nhóm pháp luật hình thức
PHẦN 3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC VIÊT NAM
3.1 Các ngành luật trong hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam
Xác định đúng đắn các ngành luật và ranh giới giữa các ngành luật có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc hệ thống hóa ngành luật Vấn đề phân chia ngành luật không phải là một việc làm cứng nhắc, bất biến mà có sự thay đổi nhất định qua từng thời
kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay, tuy mức độ phát triển của các ngành luật có khác nhau nhưng nói chung có các ngành luật chủ yếu sau đây: Luật nhà nước, luật hành chính, luật tài chính, luật đất đai, luật dân sự, luật lao động, luật hôn nhân và gia đình, luật hình sự, luật kinh tế, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân
sự, luật tố tụng hành chính, luật quốc tế (gồm công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế)
Dưới đây sẽ giới thiệu một số luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam:
3.1.1 Luật Nhà nước
Luật Nhà nước là ngành luật đặc biệt và chủ đạo trong hệ thống pháp luật
Việt Nam bao gồm một tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và trọng yếu nhất trong tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội đảm bảo quyền lực của nhân dân
Ngành luật Nhà nước là một ngành luật đặc biệt, có các đặc điểm sau:
- Ngành luật Nhà nước không điều chỉnh một quan hệ nhất định mà nó điều chỉnh nhiều quan hệ khác nhau, mà các quan hệ đó lại là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác
- Ngành luật Nhà nước là ngành luật xét về nội dung nó thể chế hoá một cách trực tiếp toàn diện đường lối cách mạng của Đảng trong từng thời kỳ lịch sử
HUPH
Trang 1414
- Ngành luật Nhà nước là một ngành luật duy nhất điều chỉnh các quan hệ về
tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước
- Ngành luật Nhà nước có một nguồn đặc biệt đó là Hiến pháp - là văn bản quy phạm pháp luật đặc biệt, là luật cơ bản có hiệu lực cao nhất
- Ngành luật Nhà nước là ngành luật chủ đạo xem xét trên hai phương diện: (1) Nội dung quy định quan trọng, cơ bản nhất trong tổ chức Nhà nước-xã hội; và (2) Là cơ sở chỉ đạo sự hình thành các ngành luật khác đảm bảo liên kết, phối hợp, tác động với nhau giữa các ngành, tạo ra hệ thống các ngành luật
Nội dung luật nhà nước bao gồm những chế định sau đây: Chế định về chế
độ chính trị; Chế định về chế độ kinh tế; Chế định về văn hóa, giáo dục, khoa hoc, công nghệ; Chế định bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Chế định quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân; Chế định về bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như trên đã nói, nguồn chủ yếu của nhà nước là Hiến pháp Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – ngày nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – từ khi ra đời đến nay đã ban hành bốn Hiến pháp, phù hợp với tình hình nhiệm vụ của Cách mạng và đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử:
Hiến pháp 1946 được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 tại kỳ họp thứ hai của Quốc dân đại hội ở Hà Nội, là Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Hiến pháp
1946 gồm: Lời nói đầu, 7 chương, 70 điều Hiến pháp năm 1946 xác định những thành quả của Cách mạng Tháng tám, xác định hình thức chính thể của nhà nước ta
là nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân, đặt nền móng cho việc tổ chức và hoạt
động của một bộ máy nhà nước kiểu mới
Hiến pháp 1959 (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959 và được Chủ tịch nước công bố ngày 1-1-1960 gồm lời nói đầu, 112 điều chia thành 10 chương Hiến pháp năm 1959 đã cụ thể hóa đường lối chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba đã đề ra là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc
Hiến pháp 1980 được thông qua ngày 18 tháng 12 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá IV, gồm lời nói đầu, 147 điều, chia thành 12 chương Hiến pháp năm 1980 được coi là bản Hiến pháp của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
cả nước
Hiến pháp 1992 được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII ngày 15/04/1992 và được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 17/04/1992, bao gồm lời nói đầu, 147 điều, chia thành 12 chương Tiếp tục kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946, 1959 và 1980, Hiến pháp 1972 tiếp tục thể chế hóa
HUPH
Trang 15- Luật Hành chính được sửa đổi do yêu cầu của quản lý Nhà nước
- Do nhiều cơ quan xây dựng các văn bản quy phạm
- Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý hành chính Nhà nước
Những quan hệ này rất đa dạng có thể chia thành các nhóm sau:
(1) Nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân, Sở, Phòng, Ban)
- Quan hệ cơ quan hành chính Nhà nước (HCNN) cấp trên với cơ quan HCNN cấp dưới theo hệ thống dọc (chỉ huy, điều khiển)
- Quan hệ giữa cơ quan HCNN thẩm quyền chung (Chính Phủ, UBND) với
cơ quan HCNN thẩm quyền riêng cùng cấp
- Quan hệ giữa các cơ quan thẩm quyền riêng cùng cấp về những vấn đề mà mỗi cơ quan được giao quyền quản lý
- Quan hệ phát sinh giữa các cơ quan QLNN thẩm quyền riêng cấp trên với
cơ quan thẩm quyền chung cấp dưới trực tiếp về những vấn đề mà cơ quan thẩm quyền riêng được giao quyền quản lý
- Quan hệ phát sinh giữa các cơ quan QLNN đối với các đơn vị cơ sở của mình (SXKD, HCSN)
HUPH
Trang 16(3) Nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các CQNN xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình
Phần các tội phạm: các quy phạm xác định cấu thành từng tội phạm và hình phạt áp dụng đối với tội phạm đó
Luật Hình sự phân xử mối quan hệ phát sinh quan hệ giữa người phạm tội và Nhà nước khi có tội phạm xảy ra Nhà nước có quyền quyết định hành vi nào là tội phạm Người phạm tội có nghĩa vụ chấp hành và có các quyền theo luật định Nhà nước phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân
3.1.4 Luật Lao động
Bộ luật Lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người
sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần giải phóng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước Khuyến khích việc khai thác và sử dụng tiềm năng lao động xã hội, tạo điều kiện và môi trường pháp lý để mọi người lao động được làm việc, tự do lao động Phát huy trí
HUPH
Trang 1717
sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản
lý lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần CNH-HĐH đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Luật lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ lao động và những quan hệ liên quan chặt chẽ đến quan hệ lao động như quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện tập thể lao động, quan hệ bồi thường thiệt hại, quan hệ bảo hiểm xã hội và quan hệ giải quyết tranh chấp lao động
Quan hệ lao động theo nghĩa rộng bao gồm quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình sử dụng lao động ở các cơ quan, tổ chức Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan, tổ chức nước ngoài ở Việt Nam và các cá nhân hay
hộ gia đình có nhu cầu lao động
3.1.5 Luật Kinh tế (Luật Kinh doanh)
Luật Kinh tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm một tổng thể các quy phạm pháp luật và nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế, nhằm thực hiện mục đích, kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước
Để có được Luật Kinh tế là một quá trình đấu tranh lâu dài giữa Luật Dân sự
và chủ trương ra Luật Kinh tế
Pháp luật Dân sự cho rằng các quan hệ trong sản xuất, kinh doanh là tài sản:
Do Luật Dân sự điều chỉnh Quan hệ trong quản lý Nhà nước do Luật Hành chính điều chỉnh Chính vì vậy trước đây các nước XHCN không có luật Kinh tế
Pháp luật kinh tế là toàn bộ các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế
và hoạt động tổ chức, quản lý kinh tế của Nhà nước
HUPH
Trang 1818
3.1.7 Luật Tố tụng dân sự
Luật Tố tụng dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước
ta, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng dân sự phát sinh giữa toà án với những người tham gia tố tụng trong quá trình toà án giải quyết các
vụ án dân sự để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các công dân, các pháp nhân, tập thể và lợi ích Nhà nước
Luật Tố tụng dân sự là luật về trình tự và thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự, xét xử các vụ án dân sự Nếu Luật Dân sự là luật về nội dung thì Luật Tố tụng dân sự là luật về hình thức
- Công pháp Quốc tế (luật quốc tế): là hệ thống các nguyên tắc, những quy phạm pháp luật mà do các quốc gia và các chủ thể khác của công pháp quốc tế xây dựng lên, nhằm để điều chỉnh các quan hệ nhiều mặt giữa các chủ thể đó với nhau
và trong trường hợp cần thiết thì nó được bảo đảm bằng những biện pháp cưỡng chế
do chính các chủ thể đó hoặc các tổ chức Quốc tế liên quốc gia thi hành
- Tư pháp quốc tế: Là tập hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Theo Điều 758 Bộ luật Dân sự 2005, “Quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ đó ở nước ngoài”
HUPH
Trang 19xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích nhất định
Văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau:
- Văn bản do chủ thể là cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành;
- Chứa đựng những quy tắc sử xự mang tính bắt buộc chung;
- Áp dụng nhiều lần trong đời sống đối với những trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra;
- Sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó;
- Tên gọi, nội dung và trình tự xây dựng, ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật
Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ở nước ta hiện nay có các loại văn bản quy phạm pháp luật sau:
Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành quy định
những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Các quy định của Hiến pháp là cơ
sở để hình thành một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta, các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban hành đều phải dựa trên
cơ sở Hiến pháp và phải phù hợp với Hiến pháp
Luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa
Hiến pháp có nội dung điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định hoặc các quan
hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Luật quy định các vấn
đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Nghị quyết của Quốc hội được Quốc hội ban hành để quyết định kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc,
HUPH
Trang 2020
tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội
Pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành để quy định về những
vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật Pháp lệnh phải phù hợp với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội
Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được cơ quan này ban hành để
giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật quy định
Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; hoặc quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện để xây dựng thành Luật hay Pháp lệnh phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ
trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ
Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp
HUPH
Trang 2121
lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành
để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử
Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện
việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định các biện
pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ
Thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó
Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ, cơ quan ngang Bộ
Thông tư liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó
Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi
hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà nước
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp quy định các biện pháp bảo đảm
thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách, về các biện pháp ổn định và nâng cao đời sống nhân dân địa phương
Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp
HUPH
Trang 2222
Quyết định của Ủy ban nhân dân quy định các chủ trương, biện pháp cụ thể để
tổ chức thực hiện pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp của các cơ quan, tổ chức ở địa phương và quy định về những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân
Chỉ thị của Ủy ban nhân dân quy định các biện pháp và chỉ đạo việc thực hiện các chủ trương, chính sách của trung ương, các cơ quan nhà nước cấp trên và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
Thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có thể được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1: Thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Nghị quyết của Quốc hội
2 Uỷ ban thường vụ Quốc hội Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc
7 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Thông tư
8 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao
Nghị quyết
9 Tổng kiểm toán nhà nước Quyết định
10 Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa
Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ
chức chính trị - xã hội
Nghị quyết liên tịch
11 Chánh án Toà án nhân dân tối cao với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao; giữa các Bộtrưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ
Thông tư liên tịch
HUPH
Trang 2323
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Bản chất và những đặc điểm cơ bản của nhà nước?
2 Bản chất, đặc điểm, chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam?
3 Các nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam?
4 Vị trí, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992?
5 Khái niệm, đặc trưng của pháp luật?
6 Bản chất của pháp luật nước CHXHCN Việt Nam?
7 Khái niệm và cấu trúc của hệ thống pháp luật?
8 Hãy phân tích các tiêu chí cơ bản trong việc phân chia ngành luật ?
9 Trình bày hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay?
HUPH
Trang 2424
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2013
2 Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật năm 2013
3 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội 2008
4 Khoa Luật, trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Giáo trình Pháp luật đại cương, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012
5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51 của Quốc hội ngày 25/12/2001)
6 Luật Tổ chức Quốc hội 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007
7 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
8 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003
9 Luật Tổ chức Toàn án nhân dân 2002
10 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002
HUPH
Trang 25PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐÊ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT Y TẾ
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của pháp luật Y tế
1.1.1 Khái niệm và bản chất của pháp luật y tế
Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật khác nhau Những ngành luật này điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội khác nhau Pháp luật trong lĩnh vực y tế là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống đó, nó điều chỉnh các quan hệ
xã hội cơ bản, quan trọng trong lĩnh vực y tế
Pháp luật y tế là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước về y tế
Cũng giống như các kiểu pháp luật khác, pháp luật y tế cũng có bản chất giai
cấp và xã hội sâu sắc Trong đó bản chất xã hội được thể hiện rất rõ nét do ngành y
tế là một ngành khoa học xã hội có tính nhân đạo, nhân văn, tính xã hội sâu sắc, rộng lớn
Ngoài ra, xét trên những khía cạnh cụ thể, bản chất của pháp luật y tế còn thể hiện qua những nội dung sau:
- Pháp luật y tế có tính thống nhất cao: Pháp luật y tế bao gồm hệ thống các
quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực y tế Các quan hệ pháp luật y tế
HUPH
Trang 2626
rất đa dạng và phong phú, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành trong những thời điểm nhất định nhưng lại có tính thống nhất với nhau Tính thống nhất thể hiện trước hết ở việc tất cả các quy phạm pháp luật y tế khi ban hành đều bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, các quy phạm pháp luật y tế luôn gắn liền với đặc trưng của y tế
là cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức sức khoẻ cho toàn xã hội Trong nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa, y tế là một loại dịch vụ công do Nhà nước điều tiết, Nhà nước kiên trì mục tiêu bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Do vậy, các quy phạm pháp luật y tế khi ban hành phải luôn thể hiện được điểm đặc trưng này
- Pháp luật y tế bảo vệ và dung hoà quyền, lợi ích về y tế của mọi người dân trong xã hội nên có tính xã hội rộng lớn Quyền được chăm sóc sức khoẻ và tiếp
cận các dịch vụ y tế là một trong các quyền cơ bản của con người Mọi người dân, bất kể giàu, nghèo đều phải được hưởng một mức chăm sóc y tế tối thiểu như nhau Dân cư mạnh khoẻ sẽ tạo ra năng xuất lao động cao hơn cho xã hội Do vậy, bảo đảm các quyền liên quan đến sức khoẻ của mọi người dân phải được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật y tế Nhờ thế, pháp luật y tế thực sự mang tính xã hội sâu sắc, thể hiện ý chí của đông đảo các tầng lớp nhân dân
- Pháp luật y tế thể hiện ý chí của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước Đây là bản chất của pháp luật nói chung vừa là bản chất của pháp luật y
tế nói riêng Con người là nguồn lực quý nhất của xã hội Việc chăm lo, bồi dưỡng cho nguồn lực đó vừa là trách nhiệm vừa là cơ hội để phát triển đất nước Nhà nước
ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên pháp luật nói chung và pháp luật y tế nói riêng phải phục vụ lợi ích của nhân dân, thể hiện ý chí của nhân dân Xuất phát
từ việc pháp luật y tế bảo vệ quyền lợi của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong việc thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nên chỉ có Nhà nước với quyền lực tổng hợp của mình mới có thể bảo đảm sự công bằng trong xã hội về cung cấp dịch
vụ y tế cho mọi người dân Một trong những quyền lực ấy chính là pháp luật Cho nên, pháp luật y tế vừa là phương tiện để biểu đạt ý chí, nguyện vọng của Nhà nước, vừa là công cụ để bảo vệ và bảo đảm cho ý chí ấy được thực hiện
- Pháp luật y tế có mối quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Pháp luật y tế luôn phản ánh đường lối, chính sách của Đảng, là sự
thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng về y tế thành các quy phạm pháp luật
có giá trị bắt buộc thực hiện đối với tất cả mọi người Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật y tế Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội, bởi vậy, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng chính là ý chí nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Trong
HUPH
Trang 2727
suốt quá trình phát triển của mình, Đảng ta luôn coi trọng việc chăm sóc và nâng cao nguồn lực con người, coi đó là động lực để phát triển đất nước
1.1.2 Vai trò của pháp luật y tế
Pháp luật y tế với tư cách là một hệ thống các quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh liên quan đến lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhân dân Vai trò của pháp luật y tế được thể hiện qua các quá trình xây dựng,
tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật
- Pháp luật y tế là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước về y tế Hoạt động quản lý Nhà nước về y tế được thực hiện chủ yếu
thông qua hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế - hệ thống cơ quan chấp hành, điều hành, tổ chức thực hiện pháp luật y tế Để hệ thống cơ quan này hoạt động hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của mỗi cơ quan, mối quan hệ giữa các cơ quan, phương thức hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực Nhà nước Các nội dung này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của pháp luật nói chung và pháp luật y tế nói riêng Nếu không có một hệ thống các quy phạm pháp luật y tế đồng bộ, đầy đủ, phù hợp để làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước về y tế thì sẽ dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế từ đó gây ra sự cồng kềnh, kém hiệu quả của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về y tế Do đó, vai trò của pháp luật y tế góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về
có pháp luật với những tính chất đặc thù của nó mới là cơ sở để bảo đảm cho Nhà nước hoàn thành chức năng quản lý của mình đối với lĩnh vực y tế
HUPH
Trang 28- Pháp luật y tế có tác dụng giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và cho cả cộng đồng Pháp
luật là phương tiện quan trọng để giáo dục đối với mọi người từ những người có trình độ học vấn cao cho đến những người dân bình thường có hiểu biết thấp Điều này xuất phát từ đặc điểm của các quy phạm pháp luật là luôn xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, định ra khuôn mẫu cho các hành vi xử sự của các chủ thể trong các tình huống đã được dự kiến Pháp luật luôn bảo đảm tính dễ hiểu và rõ ràng trong các hành vi xử sự Chính vì vậy, bằng việc ban hành các quy phạm pháp luật y tế, Nhà nước hướng đến giáo dục và giúp người dân hiểu để bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và cho cộng đồng, họ cần phải làm gì và không được làm gì Từ đó tạo thành ý thức cho mọi người dân khi tham gia các quan hệ pháp luật y tế trong cuộc sống hàng ngày Ý nghĩa giáo dục của pháp luật y tế còn thể hiện ở việc pháp luật y
tế định ra các hình thức khen thưởng, khuyến khích về vật chất và tinh thần cho những tổ chức, cá nhân có những cống hiến cho xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và định ra những chế tài nghiêm khắc để xử lý những hành vi gây ảnh hưởng, xâm hại đến quyền của con người trong chăm sóc sức khoẻ
- Pháp luật y tế tạo cơ sở giữ gìn an ninh trật tự và phát triển kinh tế xã hội
Đây vừa là vai trò vừa là ý nghĩa của các quy phạm pháp luật y tế Thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích của mọi người dân trong chăm sóc sức khoẻ, pháp luật y tế góp phần tạo dựng niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân vào bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, vào chính sách của Nhà nước Bên cạnh đó, xuất phát
từ việc pháp luật y tế định ra các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc thực hiện để thiết lập trật tự xã hội trong lĩnh vực y tế, quy định những biện pháp xử lý nghiêm khắc các hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của nhân dân trong
HUPH
Trang 2929
lĩnh vực y tế đã có tác động hướng mọi chủ thể nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật y tế, phòng ngừa các hành vi gây nguy hiểm cho cộng đồng Trong lĩnh vực này, pháp luật y tế là một trong những công cụ sắc bén bởi nó thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong việc giữ gìn ổn định xã hội, đồng thời góp phần tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước Bằng việc bảo vệ sức khoẻ - một nguồn vốn quý giá nhất của con người, pháp luật y tế góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lực con người, một trong những yếu tố quan trọng để làm động lực cho sự phát triển kinh tế
- Pháp luật y tế góp phần tạo môi trường ổn định, hỗ trợ cho hội nhập và hợp tác quốc tế Đây là hệ quả tất yếu của việc pháp luật y tế đã góp phần ổn định
xã hội và tạo đà phát triển kinh tế đất nước Bất cứ quốc gia nào, để phát triển và
mở rộng hợp tác quốc tế đều cần phải có một môi trường xã hội ổn định Xuất phát
từ việc pháp luật có ưu thế trong việc xác lập trật tự xã hội nên pháp luật y tế là cơ
sở để hướng các quan hệ xã hội liên quan đến y tế phát triển theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra Để tham gia hội nhập quốc tế bình đẳng, khẳng định được vị thế của đất nước, chúng ta cần có một môi trường ổn định và thân thiện để hấp dẫn đầu
tư trong đó có việc bảo đảm các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh chất lượng, có hiệu quả Bên cạnh đó, công tác chăm sức khoẻ được tổ chức tốt sẽ tạo điều kiện để nâng cao thể chất và trí tuệ của người Việt Nam, phát triển nhân tố con người, bảo đảm nguồn lực đủ mạnh để tham gia hợp tác quốc tế Những nội dung này chỉ có thể đạt được khi có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với xu thế quốc tế trong đó có pháp luật y tế Trong lĩnh vực hợp tác khoa học công nghệ, một lĩnh vực đang có sự tham gia sôi nổi của các nước trên thế giới, pháp luật y tế
sẽ góp phần hỗ trợ và nâng cao năng lực khoa học kỹ thuật của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, tạo cơ sở để chúng ta có vị thế chủ động trong hợp tác quốc tế
1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật y tế với các ngành luật khác
Pháp luật y tế không phải là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam Pháp luật y tế có mối liên hệ và sự giao thoa với rất nhiều ngành luật khác Nội dung này thể hiện trên những điểm sau:
- Pháp luật y tế là một nhánh của luật hành chính và có mối liên hệ chặt chẽ với luật hành chính: Pháp luật y tế chủ yếu điều chỉnh các quan hệ pháp luật y tế
phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước về y tế Quá trình quản lý Nhà nước về
y tế là hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan Nhà nước điều tiết các quan
hệ y tế theo ý chí của Nhà nước trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình để đạt được các mục tiêu quản lý mà Nhà nước đề ra Luật hành chính là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước Chính vì vậy, pháp luật y tế có mối liên hệ chặt chẽ với luật
HUPH
Trang 3030
hành chính trên một số phương diện về đối tượng, phương pháp điều chỉnh, thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật y tế và xử lý vi phạm pháp luật y tế
- Pháp luật y tế có mối tương quan với nhóm ngành luật kinh tế - thương mại:
Điều này xuất phát từ xu hướng xã hội hoá các hoạt động y tế của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân, các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực y tế cũng có sự thay đổi Mức chi dùng cho các nhu cầu của người dân có sự thay đổi trong đó có nhu cầu về dịch vụ y tế Do
đó, Nhà nước đã từng bước cải cách cơ chế quản lý Nhà nước về y tế, cho phép tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ y tế đối với những lĩnh vực mà Nhà nước xét thấy có thể
mở rộng xã hội hoá, từ đó Nhà nước chỉ giữ vai trò giám sát và điều tiết Các quan hệ pháp luật y tế từ đó đã mở rộng hơn, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đặc biệt trong các lĩnh vực như dược phẩm, trang thiết bị y tế, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Các yếu tố kinh tế, kinh doanh, thương mại, tài chính đã từng bước tham gia vào quá trình vận hành của các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực y tế Điều này làm cho pháp luật y tế từng bước có sự điều chỉnh và các yếu tố kinh tế thương mại đã có ảnh hưởng đến pháp luật y tế Tuy nhiên, yếu tố kinh tế, thương mại trong pháp luật y
tế lại có đặc điểm riêng do đặc trưng của y tế mang lại Bản chất của y tế là tính phi thương mại Dù Nhà nước hay tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ y tế, tham gia vào lĩnh vực y tế đều phải bảo đảm tính nhân đạo, không đặt lợi ích kinh tế, yếu tố thương mại cao hơn yêu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng Chính vì vậy, một mặt pháp luật y tế có liên quan với luật kinh tế, thương mại nhưng yếu tố kinh tế, thương mại trong pháp luật y tế lại luôn có sự kết hợp hài hoà và tương quan với các lợi ích xã hội của cộng đồng và được Nhà nước điều tiết hợp lý Pháp luật y tế luôn được xây dựng và phát triển theo hướng này
- Pháp luật y tế có mối quan hệ với pháp luật hình sự mà cụ thể là giữa Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân với Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự điều chỉnh những
vấn đề liên quan đến những hành vi vi phạm trong lĩnh vực y tế được coi là tội phạm ví dụ như: Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99); tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117); tội cố ý lây truyền HIV cho người khác (Điều 118); tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; về an toàn nơi đông người (Điều 227), tội vi phạm quy định
về khám chữa bệnh, sản xuất pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ
y tế khác (Điều 242); tội phá thai trái phép (Điều 243); tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201); tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 244) Đây là những nội dung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật y tế và là đối tượng điều chỉnh của pháp luật y tế Khi các quan hệ pháp luật này bị xâm hại thông qua các hành vi
HUPH
Trang 3131
vi phạm pháp luật mà được coi là tội phạm thì Bộ luật hình sự với tư cách là một Bộ luật quy định về xử lý vi phạm hình sự sẽ là cơ sở để áp dụng
- Pháp luật y tế có mối quan hệ với pháp luật dân sự cụ thể là giữa Luật Bảo
vệ sức khoẻ nhân dân với Bộ luật Dân sự: Các quy định trong Bộ luật dân sự liên
quan đến lĩnh vực y tế là cơ sở để xây dựng các quy định tương ứng, chi tiết trong pháp luật y tế như: Quy định về việc giải phẫu tử thi, quy định về quyền xác định lại giới tính, quy định về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người Đây là những quy định có liên quan đến quyền nhân thân của mỗi cá nhân Vì vậy, Bộ luật dân sự với
tư cách là một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực dân sự
sẽ quy định những nội dung khái quát chung và trên cơ sở đó, pháp luật y tế sẽ quy định cụ thể, chi tiết
Sự giao thoa giữa pháp luật y tế với các ngành luật khác cho thấy pháp luật y
tế có mối liên quan rất rộng đến các mặt khác nhau của đời sống xã hội Đây cũng là đặc điểm chi phối các quan hệ pháp luật y tế cũng như các nội dung liên quan đến pháp luật y tế
1.3 Đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh
1.3.1 Đối tượng điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật y tế là các quan hệ được hình thành trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về y tế của các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế
Các quan hệ pháp luật y tế bao gồm rất nhiều loại quan hệ khác nhau tuỳ thuộc vào các đặc điểm của mỗi loại quan hệ
(1) Căn cứ vào các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật y tế, có thể phân loại các quan hệ pháp luật y tế thành các nhóm sau:
- Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình các cơ quan quản lý Nhà
nước về y tế thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về y tế: Đây là nhóm
quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật y tế Nhóm quan hệ này bao gồm:
* Quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền chung với các cơ quan quản lý chuyên ngành y tế cùng cấp Đây là mối quan hệ giữa Chính phủ với Bộ Y tế, giữa
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với Sở Y tế
* Quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế cấp trên với cấp dưới theo hệ thống dọc Đây là mối quan hệ giữa Bộ Y tế với Sở Y tế tỉnh, giữa Sở Y tế với Phòng Y tế huyện
HUPH
Trang 3232
* Quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về y tế ở trung ương với cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương Đây là mối quan hệ giữa
Bộ Y tế với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
* Quan hệ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương với các đơn
vị trực thuộc Bộ Y tế đóng trên địa bàn Đây là mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân tỉnh với các Bệnh viện tuyến trung ương
* Quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế với các đơn vị trực thuộc Đây là quan hệ giữa Bộ Y tế với các đơn vị trực thuộc, giữa Sở Y tế với các đơn vị trực thuộc
* Quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Đây là mối quan hệ giữa Bộ Y tế với các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến y tế như các Hội nghề nghiệp, cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, cá nhân hành nghề y, dược tư nhân
- Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động nội bộ của các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế, các cơ sở y tế Nhà nước: Trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế, các cơ sở y
tế phải tổ chức và thực hiện các hoạt động trong nội bộ cơ quan như: xây dựng cơ chế hoạt động, phân công trách nhiệm, tổ chức bộ máy, điều hành và thực hiện các hoạt động quản lý, chuyên môn, quy chế phối hợp hoạt động, thanh tra, kiểm tra Tất cả các hoạt động này được điều chỉnh bởi pháp luật, là nhóm các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật y tế
- Nhóm các quan hệ phát sinh liên quan đến các tổ chức, cá nhân có các hoạt động liên quan đến y tế: Nhóm này bao gồm rất nhiều loại trong đó có thể kể
đến một số quan hệ chủ yếu sau:
* Các quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các hoạt động y tế Ví dụ quan hệ về quyền và nghĩa vụ của thầy thuốc và nhân viên
y tế; quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân hành nghề y, dược tư nhân; quyền, nghĩa vụ của người bệnh
* Các quan hệ phát sinh trong quá trình các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động y tế Ví dụ quan hệ liên quan đến điều kiện hành nghề y, dược tư nhân, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chuyên môn, cơ sở vật chất khám chữa bệnh, cơ chế chính sách y tế, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
(2) Căn cứ vào nội dung của hoạt động quản lý Nhà nước về y tế có thể phân loại các quan hệ pháp luật y tế theo các nhóm sau:
- Các quan hệ pháp luật về Y tế dự phòng
HUPH
Trang 3333
- Các quan hệ pháp luật về phòng chống HIV/AIDS
- Các quan hệ pháp luật về Khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng bao gồm cả y học cổ truyền
- Các quan hệ pháp luật về Dược, mỹ phẩm, vaccin và sinh phẩm y tế
- Các quan hệ pháp luật về Trang thiết bị y tế
- Các quan hệ pháp luật về Kinh tế y tế (Viện phí, BHYT, NSNN, viện trợ và vốn vay ODA nước ngoài)
- Các quan hệ pháp luật về Tổ chức hệ thống y tế (công và tư)
- Các quan hệ pháp luật về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật y tế
1.4 Phạm vi điều chỉnh
Phạm vi điều chỉnh của pháp luật y tế là các lĩnh vực liên quan được áp dụng các quy định pháp luật y tế Phạm vi điều chỉnh của pháp luật y tế gồm các
lĩnh vực sau:
- Những bảo đảm pháp luật, trách nhiệm pháp lý liên quan đến sức khoẻ
- Sức khoẻ liên quan đến các công ước, điều ước quốc tế và các hình thức tương tự
- Quy định các hệ thống chăm sóc sức khoẻ
- Tổ chức hệ thống y tế
- Kinh tế y tế
- Mối quan hệ phối hợp
- Sự tham gia của cộng đồng
- Nghiên cứu sức khoẻ và giáo dục sức khoẻ
Trang 3434
- Kiểm soát chất cồn, thuốc gây nghiện và thuốc lá
- Y đức, trách nhiệm chuyên môn
- Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và vấn đề chuyên môn
- Dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm
- Chất độc, thuốc trừ sâu và chất thải y tế
- Sức khoẻ, vệ sinh lao động
- Điều dưỡng và phục hồi chức năng
- Thông tin và thống kê y tế
- Quảng cáo trong y tế
1.3.2 Phương pháp điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật y tế là cách thức mà Nhà nước sử dụng pháp luật để tác động đến các quan hệ liên quan đến y tế nhằm hướng các quan hệ y tế theo đúng mục tiêu của hoạt động quản lý Nhà nước về y tế và ý chí của Nhà nước
Các quan hệ pháp luật y tế có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, thương mại, dân sự, lao động, khoa học công nghệ Do đó, phương pháp điều chỉnh của pháp luật y tế có ảnh hưởng bởi tính đa dạng này Pháp luật y tế sử dụng tổng hợp các phương pháp điều chỉnh của các ngành luật có liên quan và phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật y tế bao gồm:
- Phương pháp quyền lực
Đây là phương pháp điều chỉnh đặc trưng của pháp luật y tế Các bên tham gia quan hệ pháp luật y tế chủ yếu là các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế Do vậy, yếu tố quyền lực xuất hiện và phương pháp này được sử dụng để nhân danh Nhà nước ra những mệnh lệnh thể hiện ý chí của Nhà nước và có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên tham gia quan hệ nhằm đạt được mục tiêu mà Nhà nước đã đề
ra trong quá trình quản lý Nhà nước về y tế
HUPH
Trang 3535
Phương pháp quyền lực của pháp luật y tế cũng giống như phương pháp quyền lực sử dụng trong Luật hành chính vì nó đều liên quan đến quá trình quản lý
hành chính Nhà nước Cả hai phương pháp này đều có đặc điểm là thể hiện tính bất
bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ thông qua một số điểm:
- Một bên chủ thể của quan hệ có quyền nhân danh Nhà nước để áp đặt ý chí của mình lên đối tượng quản lý
- Một bên có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc đối tượng quản lý phải thực hiện mệnh lệnh của mình
- Các mệnh lệnh do các chủ thể của quan hệ đưa ra có tính chất đơn phương
và bắt buộc thực hiện
Tuy nhiên phương pháp quyền lực trong pháp luật y tế có tính mềm dẻo hơn so
với phương pháp quyền lực của Luật Hành Chính nói chung Tức là có những quan
hệ Nhà nước không thể hoàn toàn áp đặt ý chí của mình lên các đối tượng quản lý Điều này là do các quan hệ pháp luật y tế rất phong phú và đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như đã nói ở trên bao gồm kinh tế, thương mại, dân sự là những lĩnh vực có tính mềm dẻo cao
- Phương pháp bình đẳng
Phương pháp bình đẳng được coi là một trong các phương pháp điều chỉnh của pháp luật y tế xuất phát từ việc các quan hệ pháp luật y tế cũng hàm chứa cả các yếu tố kinh tế và dân sự Với việc duy trì và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các quan hệ pháp luật y tế cũng đa dạng và phong phú, cả Nhà nước và tư nhân đều tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho toàn xã hội Các bên tham gia vào quan hệ này đều có vị trí pháp lý bình đẳng: bình đẳng giữa các tổ chức và cá nhân, bình đẳng giữa tổ chức của Nhà nước và của tư nhân, bình đẳng giữa tất cả mọi người dân Tuy vậy, trong một số loại quan hệ mà Nhà nước cần giữ vai trò điều tiết để bảo đảm lợi ích xã hội chung và lợi ích của Nhà nước thì yếu tố bình đẳng cũng chỉ mang tính chất tương đối
- Phương pháp tự nguyện, phương pháp hướng dẫn
Ngoài hai phương pháp chủ yếu trên, pháp luật y tế còn sử dụng phương pháp tự nguyện, phương pháp hướng dẫn để điều chỉnh các quan hệ pháp luật y tế
Phương pháp tự nguyện cho phép mọi tổ chức, cá nhân có quyền tự quyết khi tham gia các quan hệ pháp luật y tế Phương pháp này liên quan đến các nhóm quy phạm về quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ pháp luật y tế Đó là các quyền tự do chọn thầy, chọn thuốc; tự do lựa chọn hình thức kinh doanh các dịch vụ
y tế
HUPH
Trang 3636
Phương pháp hướng dẫn được Nhà nước sử dụng để định ra các chuẩn mực, tiêu chuẩn các điều kiện, các quy chế, quy định để tạo cơ sở cho các tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị thực hiện sau đó Nhà nước sẽ kiểm tra, giám sát
Cả hai phương pháp này có quan hệ chặt chẽ với nhau và mỗi phương pháp đều phải trên cơ sở ý chí của Nhà nước
1.4 Hình thức, nguồn và quy phạm của pháp luật y tế
1.4.1 Hình thức của pháp luật y tế
Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp cầm quyền sử dụng để thể hiện
ý chí của giai cấp mình thành pháp luật Theo đó, hình thức của pháp luật y tế là
cách thức mà Nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của Nhà nước thành các quy phạm pháp luật y tế có giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể
Cho đến nay, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đã tồn tại 3 hình thức pháp luật là: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật
- Tập quán pháp: Nhà nước phê chuẩn hoặc thừa nhận một số tập quán đã
lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị để nâng chúng lên thành pháp luật
- Tiền lệ pháp là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định của các cơ
quan hành chính hoặc các cơ quan xét xử cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể, làm cơ sở để áp dụng đối với các trường hợp tương tự
- Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật được thể hiện dưới
dạng văn bản, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có chứa các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng của Nhà nước và được áp dụng nhiều lần trong thực tế cuộc sống
Hình thức chủ yếu được pháp luật nước ta sử dụng là hình thức văn bản quy
phạm pháp luật, do đó, pháp luật y tế, một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt
Nam, cũng chủ yếu sử dụng hình thức này
1.4.2 Nguồn của pháp luật y tế
Nguồn của pháp luật y tế là các văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật y tế do các cơ quan có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước
HUPH
Trang 3737
Hiện nay, việc phân loại nguồn của pháp luật y tế chủ yếu dựa trên hai căn cứ: Cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật y tế và trình tự ban hành, giá trị pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật y tế
(1) Căn cứ vào cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật y tế, nguồn của luật y tế gồm có:
+ Văn bản quy phạm pháp luật y tế được ban hành bởi các cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân
+ Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân
+ Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch (do các Bộ phối hợp ban hành) (2) Căn cứ vào trình tự ban hành, giá trị pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật y tế, nguồn của luật y tế gồm có:
+ Các văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước ban hành Các văn bản luật là nguồn của luật y tế gồm có: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội có chứa các quy phạm pháp luật y tế
+ Các văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật,
vì vậy khi ban hành cần bảo đảm phù hợp với các quy định của Hiến pháp và Luật Các văn bản dưới luật là nguồn của luật y tế gồm có: Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Thông tư liên tịch; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp, Quyết định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp có chứa các quy phạm pháp luật y tế
1.4.3 Quy phạm pháp luật y tế
Quy phạm pháp luật y tế là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ liên quan đến lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khoẻ nhân dân theo những định hướng nhất định
Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, quy phạm pháp luật y tế
có những điểm chung của quy phạm pháp luật nói chung và cả những đặc điểm riêng do những đặc trưng của y tế mang lại:
- Quy phạm pháp luật y tế luôn gắn liền với Nhà nước: do các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
HUPH
Trang 3838
- Quy phạm pháp luật y tế thể hiện ý chí Nhà nước: Nhà nước thể hiện ý chí
của mình trong quy phạm pháp luật bằng cách xác định những đối tượng (tổ chức,
cá nhân) nào trong những hoàn cảnh, điều kiện nào thì phải xử sự theo pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp cưỡng chế nào buộc họ phải gánh chịu nếu họ không thực hiện đúng những nghĩa vụ đó
- Quy phạm pháp luật y tế được đặt ra không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ y tế Mọi tổ
chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật y tế đã quy định đều bắt buộc phải thực hiện Quy phạm pháp luật được đặt ra không phải chỉ
để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, nghĩa là, nó được sử dụng trong tất cả mọi trường hợp khi xuất hiện những hoàn cảnh điều kiện đã được dữ liệu
- Nội dung mỗi quy phạm pháp luật y tế thường thể hiện hai mặt: Cho phép
và bắt buộc tương ứng với quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ
Như các quy phạp pháp luật khác, quy phạm pháp luật được cấu thành bởi ba
bộ phận: giả định, quy định và chế tài (xem Bài 1)
Ví dụ, pháp luật y tế quy định: Người có chứng chỉ hành nghề y, dược tư nhân chỉ được đứng đầu hoặc chịu trách nhiệm quản lý chuyên môn một cơ sở y, dược tư nhân phù hợp với phạm vi chuyên môn được quy định trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y, dược tư nhân (Điều 11, Pháp lệnh Hành nghề y
dược tư nhân) Trong trường hợp này, giả định sẽ là “Người có chứng chỉ hành
nghề y, dược tư nhân”; quy định là “chỉ được đứng đầu hoặc chịu trách nhiệm quản lý chuyên môn một cơ sở y, dược tư nhân phù hợp với phạm vi chuyên môn được quy định trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y, dược tư nhân”
Còn Điều 26 Nghị định 45/2005/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 3.000.000
đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi hành nghề vượt quá khả năng chuyên môn,
HUPH
Trang 3939
không đúng phạm vi được quy định trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề”
sẽ là chế tài của quy phạm pháp luật
Quan hệ pháp luật y tế có những đặc điểm sau:
- Quan hệ pháp luật y tế luôn gắn liền với hoạt động quản lý Nhà nước về y
tế Đây là đặc điểm hết sức quan trọng xuất phát từ việc các quan hệ pháp luật y tế
chủ yếu phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước về y tế Trong quá trình Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết xã hội theo một trật tự nhất định thì các quan hệ
y tế là loại quan hệ liên quan đến một đối tượng quan trọng cần bảo vệ đó là sức khoẻ của con người Chỉ có vai trò điều tiết của Nhà nước thì các quan hệ y tế mới
có điều kiện đầy đủ nhất để phát triển và mang lại lợi ích công bằng, bình đẳng cho các bên tham gia quan hệ
- Trong một quan hệ pháp luật y tế thì quyền của một bên chủ thể này thường tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Việc phân tích các quy phạm
pháp luật ở phần trên đã cho thấy rất rõ điều này Việc pháp luật quy định quyền của người bệnh được khám và chữa bệnh thì tương ứng là nghĩa vụ của thầy thuốc
là phải khám chữa bệnh cho mọi người, hay quy định người nghèo được miễn giảm viện phí thì có nghĩa là Nhà nước sẽ có nghĩa vụ cấp ngân sách để thực hiện chính sách này
- Quan hệ pháp luật y tế rất đa dạng và phong phú Đây là một điểm hết sức
đặc thù của các quan hệ pháp luật y tế xuất phát từ yếu tố pháp luật y tế có sự giao thoa của rất nhiều ngành luật như đã nói ở trên Quan hệ pháp luật y tế có thể là quan hệ giữa các chủ thể là các cơ quan hành chính Nhà nước theo cả chiều ngang
và chiều dọc, quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về y tế với các tổ chức, cá nhân, quan hệ giữa các tổ chức cá nhân với nhau Tương quan giữa các quan hệ này rất đa dạng Trong quá trình phát triển của đất nước hiện nay, cùng với việc mở rộng xã hội hoá các hoạt động y tế thì các quan hệ pháp luật y tế có sự tham gia của Nhà nước sẽ được điều tiết dần theo hướng Nhà nước chỉ giữ vai trò trong các quan
hệ nòng cốt, quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân với nhau sẽ ngày càng được phát triển phù hợp với xu thế khách quan
HUPH
Trang 40Ngoài những đặc điểm riêng trên đây thì quan hệ pháp luật y tế còn có một
số đặc điểm khác gần với một số ngành luật mà nó chịu ảnh hưởng như luật dân sự, luật thương mại và đặc biệt là luật hành chính
Thành phần của quan hệ pháp luật y tế gồm có: Chủ thể, nội dung và khách thể
- Chủ thể: Chủ thể của quan hệ pháp luật y tế là các bên tham gia vào quan
hệ pháp luật y tế, có năng lực chủ thể, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật y tế Chủ thể của quan hệ pháp luật y tế bao gồm:
+ Các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế: Bộ Y tế, Sở Y tế
+ Các cơ quan chuyên môn, các đơn vị sự nghiệp y tế: Bệnh viện, Viện, Trung tâm y tế, Trường y dược, Trạm y tế xã
+ Các tổ chức, cá nhân: Bao gồm các cán bộ, công chức trong ngành y tế, các
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến các hoạt động y tế Trong tương lai các chủ thể này sẽ tham gia ngày càng nhiều vào các quan hệ pháp luật y tế và là các chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật y tế
- Nội dung: là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong các quan hệ pháp luật
y tế Các quyền và nghĩa vụ của chủ thể xuất phát từ hai khía cạnh: Năng lực pháp luật của chủ thể và thông qua hoạt động của chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật y tế Điều này thể hiện như sau:
+ Các quyền và nghĩa vụ của chủ chế gắn liền với năng lực pháp luật của chủ thể là các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho chủ thể Ví dụ, pháp luật y tế quy định mọi người khi ốm đau, bệnh tật, bị tai nạn được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở nơi công dân cư trú, lao động, học tập Như vậy, mọi người khi ở vào các điều kiện như quy định thì đều có quyền được khám bệnh, chữa bệnh và quyền này được pháp luật ghi nhận
+ Các quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh thông qua hoạt động của chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật y tế là các quyền và nghĩa vụ mà pháp
HUPH