Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, phụ nữ đang gặp nhiều khó khăn, thách thức; một bộ phận không nhỏ phụ nữ đang phải đối mặt với thiên tai, bệnh dịch; nhiều phụ nữ đang phải sống trong
Trang 1Bùi Thị Mai Đông (chủ biên), Nguyễn Thị Thu Hường, Nguyễn Văn Thanh
TẬP BÀI GIẢNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
Hà Nội, 2013
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM
HUPH
Trang 21.1.4 Như ̃ng khó khăn của phu ̣ nữ có hoàn cảnh đặc biệt 16
1.1.4.4 Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội 20
1.1.5 Nhu cầu cu ̉ a phu ̣ nữ có hoàn cảnh đặc biệt 25
1.1.5.4 Nhu cầu được tiếp cận với các dịch vụ xã hội 27
1.2 CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 30
HUPH
Trang 31.2.1 Khái niệm Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB 30
1.2.2 Mục đích của công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB 31
1.2.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ CHCĐB 32
2.1.1.1 Quyền của người phụ nữ trong công ước CEDAW 39
2.1.1.2 Các chính sách liên quan đến phụ nữ trong các mục tiêu thiên niên kỷ 41
2.1.2 Quyền của phụ nữ trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam 42
2.1.3 Chính sách, pháp luật mới của việt nam có liên quan đến phụ nữ từ
khi có Luật Bình đẳng giới đến nay
2.1.5 Chủ trương Công tác phụ nữ của Hội LHPN Việt Nam 63 2.2 CÁC MÔ HÌNH TRỢ GIÚP PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 68
2.2.2 Trung tâm Chữa bệnh - giáo dục lao động xã hội 70
2.2.3 Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập 74
HUPH
Trang 42.2.8 Các mô hình trợ giúp tại cộng đồng 86
2.2.8.1 Mô hình Ban chỉ đạo/đại diện/Hội đồng tư vấn 86
3.1.4 Tiến trình quản lý trường hợp phụ nữ có HCĐB 109 3.1.5 Một số kỹ năng quản lý trường hợp phụ nữ CHCĐB 113
Trang 53.3.5.3 Kỹ năng trình bày 130
3 4 LÀM VIỆC NHÓM VỚI PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 133
3.4.3 Các giai đoạn phát triển của nhóm phụ nữ có HCĐB 135 3.4.4 Tiến trình làm việc nhóm phụ nữ có HCĐB 138 3.4.5 Một số kỹ năng làm việc nhóm với phụ nữ có HCĐB 141
3.4.5.3 Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn trong nhóm 143
3.5 TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC VẬN ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM
GIA CTXH VỚI PHỤ NỮ CÓ HCĐB
145
3.5.1 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, hành
vi của cộng đồng đối với phụ nữ CHCĐB và nghề CTXH
145
3.5.1.1 Khái niệm Mục đích tuyên truyền, giáo dục 145 3.5.1.2 Nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục 147
3.5.1.3 Tổ chức các hình thức tuyên truyền, giáodục 148
3.5.2 Vận động cộng đồng đối tham gia CTXH với phụ nữ có HCĐB 168
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Chiếm hơn 50% dân số và trên 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng đóng vai trò quan trọng, là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng và là nhân tố phát triển của xã hội Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và gữ nước, phụ nữ Việt Nam đã chứng tỏ vai trò và tiềm năng to lớn của mình trong trong gia đình và ngoài xã hội; Trong gia đình, phụ nữ vừa là người lao động chính tạo nguồn thu nhập cho gia đình, đồng thời là người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Trong xã hội, phụ nữ là lực lượng quan trọng, tham gia vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
từ lĩnh vực kinh tế, chính trị đến lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và an ninh, quốc phòng, đối ngoại…
Sau 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010, mặc dù có nhiều tiến bộ, song khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong mọi lĩnh vực vẫn còn khá xa Phụ nữ vẫn bị “yếu thế” hơn so với nam giới Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, phụ nữ đang gặp nhiều khó khăn, thách thức; một bộ phận không nhỏ phụ nữ đang phải đối mặt với thiên tai, bệnh dịch; nhiều phụ nữ đang phải sống trong cảnh nghèo đói; không ít phụ nữ đang sống chung với thương tật hoặc những căn bệnh hiểm nghèo, nhiều phụ nữ là nạn nhân của tội phạm buôn bán người, của bạo lực gia đình
và các tệ nạn xã hội, hầu hết phụ nữ đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ CNH –HĐH đất nước và quá trình hội nhập quốc tế
Để xóa bỏ dần khoảng cách về giới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, luật pháp có liên quan đên phụ nữ, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động Vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phụ nữ; cho Công tác xã hội như : Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân – Gia đình; Luật phòng chống bạo lực gia đình; Luật phòng chống buôn bán người; Luật Người Khuyết tật….đồng thời ban hành nhiều chính sách có liên quan đến phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn và bình đẳng giới như: Chính sách cho vay vốn đối với các họ nghèo do phụ nữ làm chủ hội, chính sách trợ giúp người cao tuổi, đơn thân…cũng được ban hành tạo hành lang pháp lý cho Công tác xã hội Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến luật pháp, chính sách có liên quan đến phụ nữ; tuyên truyền về các nhóm phụ nữ
có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; về nghề công tác xã hội; các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ phụ nữ giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải như: vấn đề nghèo đói, vấn đề khuyết tật, bệnh dịch, bạo hành, cô đơn, cao tuổi, mại dâm, ma túy, nhiễm HIV/AIDS….cũng đã
và đang được các bộ, ngành, đoàn thể quan tâm, đặc biệt là Ủy ban quốc gia, các ban Vì
sự tiến bộ của phụ nữ và các cấp Hội LHPN Việt Nam
Tuy nhiên, các hoạt động nói trên chủ yếu được thực hiện qua các chương trình, dự
án triển khai các mục tiêu của Chiến lươc quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ; hoặc thông qua các phong trào thi đua, các cuộc vận động mà Hội LHPN phát động; các hoạt động này tuy đạt được các thành tích đáng kể song chưa mang tính chuyên nghiệp; Nhiều hoạt động mạng nặng tính chất từ thiện, chỉ giải quyết được những khó khăn trước mắt, không mang tính bền vững, nhất là các hoạt động trợ giúp phụ nữ là các đối tượng yếu thế trong cộng động
Để trợ giúp phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt giải quyết các vấn đề của cá nhân, gia đình
họ một cách hiệu quả và bền vững; ngành Công tác xã hội cần đào tạo đội ngũ nhân viên
HUPH
Trang 7xã hội chuyên nghiệp, được trang bị những kiến thức liên quan đến các nhóm phụ nữ ; được huấn luyện những kỹ năng làm việc với những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt; giúp
họ phát huy tiềm năng của bản thân, tự giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình và tham gia các hoạt động chung, giải quyết các vấn đề của cộng đòng mà họ đang chung sống
Để đáp ứng nhu cầu về tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu, nhóm tác giả của
Học viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức biên soạn tập bài giảng: “Công tác xã hội với phụ nữ
có hoàn cảnh đặc biệt” Tập bài giảng cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản về thực
trạng, đặc điểm, nhu cầu và những khó khăn của một số nhóm đối tượng phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm: phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ bị bạo hành, phụ nữ bị buôn bán, phụ nữ tiêm chích ma túy, phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS… Tập bài giảng đã hệ thống lại các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến các nhóm phụ nữ nói trên giúp cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu
và sử dụng các thông tin, kiến thức đó của giảng viên, sinh viên Học Viện phụ nữ Việt Nam cũng như của các trường đào tạo nghề Công tác xã hội được thuận lợi và hiệu quả Tập bài giảng cũng cung cấp những kỹ năng phân tích, đánh giá, tiếp cận, lựa chọn cách can thiệp trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giải quyết các khó khăn của mình và tái hòa nhập cộng đồng
Nội dung tập bài giảng được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về phụ nữ và công tác xã hội vớiphụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
- Chương 2: Luật pháp, chính sách về phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt và các mô hình dịch vụ trợ giúp phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
- Chương 3: Thực hành công tác xã hội với phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
Để hoàn thành tập bài giảng này, tập thể tác giả đã nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn và
kỹ thuật cũng như nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia đến từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Lao động; Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn cùng nhiều cán bộ từ các Viện, các trung tâm đang nghiên cứu, giảng dạy và thực hành trong lĩnh vực Công tác xã hội, Công tác phụ nữ Do mới tiếp cận với lĩnh vực hoạt động này nên nhóm tác giả gặp nhiều khó khăn trong quá trình biên soạn cũng như việc biên soạn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia và đồng nghiệp
để tài liệu được hoàn thiện hơn
NHÓM TÁC GIẢ
HUPH
Trang 8CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHỤ NỮ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHỤ NỮ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
Ngay từ khi còn là bào thai, thai nhi đã thừa hưởng cặp nhiễm sắc thể giới tính của cha mẹ: nếu là cặp nhiễm sắc thể XX sẽ là bé gái; nếu là cặp nhiễm sắc thể XY sẽ là bé trai Do bẩm sinh, di truyền nên sự khác biệt về cấu tạo cơ thể của phụ nữ và nam giới sẽ
là bất biến, không thay đổi được Nhìn theo khía cạnh sinh học, phụ nữ chỉ những người thuộc giống cái, bất kể tuổi tác
Theo Từ điển Tiếng Việt “Phụ nữ là người lớn thuộc nữ giới”1, trong đó nữ giới là một khái niệm để chỉ giới tính của một người hay một nhóm người trong xã hội, những người mang đặc điểm giới tính nữ là những người có khả năng mang thai và sinh nở khi
cơ thể họ trưởng thành và chức năng giới tính hoạt động bình thường
- Phụ nữ dưới góc độ tâm lí:
Tâm lý học giới tính là những đặc điểm tâm lý chủ yếu của mỗi giới trong từng giai đoạn phát triển lứa tuổi; sự khác biệt giữa các đặc điểm đó và các nguyên nhân gây ra
sự khác biệt trong tâm lý giới tính ở nam và nữ
Những đặc điểm về tâm sinh lý của mỗi giới làm cho hành vi, cử chỉ, tư thế, tác phong, nếp sống của nam giới có những điểm khác biệt so với nữ giới Chẳng hạn: nữ giới
có dáng đi nhẹ nhàng, giọng nói trong hơn và những thói quen, nề nếp sinh hoạt đáp ứng yêu cầu giới tính khác với nam giới: nam giới thường có dáng đi, cách nói năng, ăn uống mạnh bạo hơn, giọng nói thường đục hơn, sinh hoạt phóng khoáng, tùy hứng
Những nét cá tính đó là tiền đề của nhân cách mỗi cá nhân và cũng chịu sự chi phối của tâm lí giới tính Vì vậy việc chăm sóc và giáo dục tâm lí giới tính cho con cái là điều vô cùng cần thiết cho sức khoẻ và cho sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ, giúp cho thanh thiếu niên nhận thức và biết tôn trọng, giữ gìn những nét tâm lí giới tính đặc thù vừa biết bổ sung những nét tâm lí giới tính giữa nam và nữ một cách phù hợp, hài hòa
Trong lĩnh vực tình cảm sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ tạo nên những xúc cảm đặc biệt khi có sự giao tiếp giữa hai người khác giới, làm cho con người trở nên ý
tứ, tế nhị, duyên dáng hơn hoặc thận trọng hơn, lịch sự hơn trong giao tiếp, giúp con người
HUPH
Trang 9phát triển nhân cách hài hoà hơn Đó chính là những cảm xúc giới tính Những cảm xúc đó
có thể tạo nên những mối quan hệ lành mạnh của tình bạn khác giới, của tình yêu lứa đôi, của quan hệ vợ chồng giúp con người biết ứng xử với người bạn đời phù hợp hơn Đó là điều kiện cần thiết để xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc
- Phụ nữ dưới góc độ xã hội học:
Trong xã hội pháp quyền, phụ nữ và nam giới đều được xã hội công nhận các quyền con người, các quyền công dân; tương đồng với các quyền đó là các vai trò, vị thế
xã hội của phụ nữ cũng được xác định
Vai trò là những hành vi, hành động, những khuôn mẫu tác phong mà xã hội chờ đợi ở người phụ nữ phải thực hiện trên cơ sở vị thế của họ Từ xưa đến nay, phụ nữ luôn thực hiện các vai trò kép- vừa là người công dân- người lao động, vừa là người vợ, người mẹ - người chăm lo công việc sinh sản nuôi dưỡng Xã hội nói chung nhìn nhận về vai trò của người phụ
nữ thường thiên về vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ hơn là vai trò xã hội Quan niệm người phụ nữ biết đảm đang, thu vén việc nhà, thực hiện tốt chức năng người vợ người mẹ sẽ được đánh giá cao hơn người phụ nữ chỉ giỏi giang công việc xã hội
Vị thế là vị trí của người phụ nữ trong cơ cấu tổ chức xã hội theo thẩm định, đánh giá của xã hội Nói đến phụ nữ dưới góc độ xã hội học là nói đến cách thức phân định vai trò, vị thế xã hội của phụ nữ, liên quan đến hàng loạt các vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ giữa một nam giới hay một phụ nữ nào đó Chính vì vậy, tuỳ theo thể chế xã hội mà cách đánh giá và phân định vai trò, vị thế của phụ nữ cũng có
sự khác nhau
Trong xu thế phát triển của xã hội, con người - kể cả nam giới và phụ nữ - ngày càng được xã hội quan tâm, đáp ứng các quyền, lợi ích, các nhu cầu một cách đầy đủ hơn Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm môi trường văn hóa- xã hội với cách nhìn nhận và đánh giá
về vai trò, vị thế của con người khác nhau mà nam giới hoặc phụ nữ còn chịu những thiệt thòi, hạn chế do định kiến giới, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại ở dạng này hay dạng khác
- Phụ nữ trong tương quan với nam giới:
Phụ nữ và nam giới khác biệt về đặc điểm sinh học Còn về mối tương quan xã hội giữa nam và nữ thì tùy theo các giai đoạn lịch sử mà mối quan hệ đó được xã hội nhìn nhận khác nhau Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ lịch sử, xã hội lại có cách nhìn nhận khác nhau về tương quan giữa phụ nữ với nam giới về vị thế, vai trò trong gia đình và xã hội
Dưới góc độ của nhà nước pháp quyền- của dân, do dân, vì dân- thì phụ nữ và nam giới đều là công dân, đều có đầy đủ các quyền công dân như nhau Tuy vậy, mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ trong xã hội cho đến nay trên toàn thế giới vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề bất bình đẳng; kể cả những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao Có thể nói, hầu hết các vấn đề bất bình đẳng hiện nay gây tác động tiêu cực đến phụ nữ; nhưng không phải là không còn những vấn đề bất bình đẳng đối với nam giới Để đạt được mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang nhấn mạnh quá mức vào sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ Phụ nữ và nam giới cần có sự tôn trọng, bình đẳng và hợp tác lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình và xã hội
Xét trong mối tương quan, phụ nữ là một nửa của xã hội, gồm những người mà xét về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với nửa kia của xã hội là nam giới thuộc
HUPH
Trang 10giống đực (Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, 2000; Viện Ngôn ngữ học, 2000) Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người
Tóm lại, khái niệm “phụ nữ” để chỉ những người mà về mặt sinh học thuộc về giống cái, đã hoàn thiện về mặt cơ thể, chức năng giới tính và trưởng thành về mặt xã hội2
1.1.1.2 Phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt (CHCĐB)
Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 cho thấy phụ nữ Việt Nam có nhiều tiến bộ trong một số lĩnh vực như trong lĩnh vực lao động, việc làm, trong chăm sóc sức khỏe, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo…song, trong giai đoạn hiện nay, phụ nữ đang gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn; một bộ phận không nhỏ phụ nữ đang phải đối mặt với thiên tai, bệnh dịch; nhiều phụ nữ đang phải sống trong nghèo đói; không ít phụ nữ đang sống chung với thương tật hoặc những căn bệnh hiểm nghèo, nhiều phụ nữ là nạn nhân của tội phạm buôn bán người, của bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội, hầu hết phụ nữ đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và quá trình hội nhập quốc tế Những phụ nữ này là một trong những đối tượng được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm; đồng thời cũng là một trong những đối tượng quan trọng của Công tác xã hội
Mặc dù chưa có văn bản nào của Nhà nước xác định phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
là những phụ nữ như thế nào song trong các nhóm đối tượng cần xã hội trợ giúp thì phụ
nữ chiếm tỷ lệ khá cao
Dưới cách tiếp cận công tác xã hội, phụ nữ CHCĐB được hiểu là những phụ nữ đang
có vấn đề, thường là những vấn đề khó khăn mà bản thân họ không có khả năng tự giải quyết được, cần có sự trợ giúp của xã hội để giải quyết và phòng ngừa sự tái diễn vấn đề
Theo cách hiểu trên thì phụ nữ CHCĐB bao gồm tất cả những phụ nữ đang gặp khó khăn đặc biệt mà bản thân họ chưa tự giải quyết được, đó là : Phụ nữ nghèo; Phụ nữ khuyết tật; Phụ nữ bị bạo hành; Phụ nữ bị buôn bán; Phụ nữ mại dâm; Phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS; Phụ nữ đơn thân, Phụ nữ cao tuổi, Phụ nữ bị mắc bệnh lây qua đường tình dục… Tuy nhiên, trong khuôn khổ cho phép, tài liệu này chỉ đề cập đến một số nhóm phụ
nữ đặc thù sau:
- Phụ nữ bị bạo hành:
Là những phụ nữ bị những hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói của người khác cố tình
gây ra những tổn thương về thể xác cũng như tinh thần, trong cuộc sống riêng tư cũng như nơi công cộng
- Phụ nữ bị mua bán:
Là phụ nữ bị một người hay một nhóm người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương, giao, nhận tiền hoặc giao, nhận một lợi ích vật chất khác để đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột
2
HUPH
Trang 11tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ, hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể)
- Phụ nữ nghèo:
Là phụ nữ có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản lý hộ nghèo Phụ nữ
nghèo có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, có mức thu nhập thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo của quốc gia, trong đó có phụ nữ làm chủ hộ và có phụ nữ không phải chủ hộ
- Phụ nữ mại dâm:
Là những phụ nữ dùng cơ thể của mình và các hình thức làm tình để làm phương tiện thực hiện mục đích kiếm tiền hoặc các giá trị vật chất khác nhằm thỏa mãn tình dục cho khách hàng
- Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS:
Phụ nữ bị nhiễm HIV là những phụ nữ bị nhiễm loại vi rút gây ra bệnh AIDS, còn khi
nói tới phụ nữ bị bệnh AIDS là nói đến phụ nữ nhiễm HIV ở giai đoạn sức đề kháng đã suy giảm nên cơ thể không còn khả năng chống lại các virut, vi khuẩn và nấm gây bệnh
- Phụ nữ khuyết tật:
Phụ nữ khuyết tật là phụ nữ bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn
Dạng thứ hai là những phụ nữ không lấy chồng hoặc đã cao tuôi mà chưa lấy chồng; trong đó có người có con (ngoài giá thú), có người không có con
Những phụ nữ trên gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, cả khía cạnh vật chất
và tinh thần Họ là những nhóm xã hội cần được quan tâm và có các chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp họ sống tốt hơn
1.1.2 Thực trạng một số nhóm phụ nữ CHCĐB
1.1.2.1 Phụ nữ bị bạo lực gia đình
Từ lâu, vấn đề bạo lực gia đình (BLGĐ) đã trở thành mối quan tâm của nhân loại Hiện nay, trên phạm vi cả nước, BLGĐ đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều đối tượng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là bạo lực thể xác và tinh thần đối với phụ nữ, trẻ
em gái mà người gây ra bạo lực là chính người chồng/cha của họ Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, trung bình mỗi năm, cả nước có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân là
do bạo lực gia đình còn theo thống kê của các bệnh viện, trung tâm y tế, các phòng cấp cứu lớn của cả nước, hàng năm có trên 27% phụ nữ bị ngược đãi phải nhập viện, hơn 10%
HUPH
Trang 12phụ nữ phải điều trị y khoa nghiêm trọng do bạo lực gia đình3 Theo báo cáo của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức bằng nhiều hình thức do người chồng gây ra Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc và Tổng cục Thống kê thì 58% phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của bạo lực gia đình Nhiều vụ bạo hành thương tâm diễn ra, để lại di chứng rất nặng nề cho người phụ nữ
Phụ nữ không chỉ bị bạo lực từ chồng mà còn là nạn nhân của bạo lực từ người khác Tỷ lệ phụ nữ từng bị bạo lực do người khác từ khi họ trên 14 tuổi là 9,9%, tỷ lệ này
ở thành thị là 10,2% và nông thôn là 9,7% Đáng chú ý là trong số này, tỷ lệ bị bạo lực một lần là 3,2%, từ 2-5 lần là 5,6% và trên 5 lần là 1%
Các hành vi bạo lực thường là không phải một lần mà là những hành vi lặp đi, lặp lại Bạo lực tình dục và thể xác đối với phụ nữ thường bắt đầu sớm trong mối quan hệ của người phụ nữ Bạo lực tình dục và tinh thần có xu hướng tiếp diễn trong nhiều năm hơn là bạo lực thể xác
Bạo lực gia đình đang diễn ra khắp nơi trên toàn quốc ở các nhóm đối tượng khác nhau về đặc điểm xã hội và chủng tộc Bạo lực gia đình gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần
Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bạo hành Khoảng 5% phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian mang thai Trong hầu hết các trường hợp này, họ đã bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng lạm dụng
Bạo lực đối với phụ nữ có một tác động sâu hơn so với những tác hại tức thì và dễ nhận biết Nó gây tác động đáng kể đối với sức khỏe thể chất và tâm thần của người phụ
nữ, ảnh hưởng tới năng suất lao động của các thành viên trong gia đình và vấn đề giáo dục, chăm lo sức khỏe cho con cái Bạo lực đối với phụ nữ cũng làm phát sinh những chi phí mà cộng đồng và quốc gia phải gánh chịu
Mặc dù bạo lực gia đình xảy ra phổ biến đối với phụ nữ nhưng nó gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới trẻ em thông qua những gì mà trẻ em phải chứng kiến Cứ bốn phụ nữ có con dưới 15 tuổi thì có một người cho biết con của họ đã từng bị chồng họ bạo hành thể xác Bạo lực gia đình là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống của trẻ em
Tỷ lệ lớn phụ nữ có chồng từng bị chồng gây bạo lực trong đời ở mọi nhóm tuổi và trình độ học vấn cũng như những hậu quả do bạo lực gây ra đòi hỏi xã hội cần quan tâm đến vấn đề này một cách đầy đủ và toàn diện hơn Từ việc nhận diện tình hình và xác định nguyên nhân đến việc đưa ra các giải pháp cụ thể với sự tham gia của các bên, đặc biệt là nam giới ở mọi nhóm xã hội
1.1.2.2 Phụ nữ bị mua bán
Tại Việt Nam, theo Báo cáo tổng kết Chương trình hành động phòng chống tội
HUPH
Trang 13phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em của Chính phủ (viết tắt là chương trình 130 CP) giai đoạn 2004-2009, trong 05 năm thực hiện Chương trình, cả nước đã xảy ra 1.586 vụ buôn bán người trong đó có 2.888 đối tượng, lừa bán 4.008 nạn nhân và con số này đã tăng so với 5 năm trước là 1.090 vụ, 2.117 đối tượng và 2.935 nạn nhân
Theo Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 130/CP từ năm 2005 đến 2010, trong tổng số 4.300 phụ nữ trẻ em bị mua bán có 60% tổng số vụ mua bán sang Trung Quốc, 11% tổng số vụ bán sang Campuchia, số còn lại mua bán sang Lào, qua tuyến hàng không, tuyến biển để bán ra một số nước khác Địa phương xảy ra tình trạng này nhiều nhất là: Hà Giang; Lào Cai; Lạng Sơn; Quảng Ninh, Hà Nội; Nghệ An; Lai Châu; Bắc Giang
Những con số trên cho thấy rằng, tệ nạn buôn bán người đang diễn ra ngày càng tăng, tuy nhiên, đây mới chỉ là số nạn nhân được phát hiện, giải cứu nên vẫn chưa phản ánh chính xác số nạn nhân thực tế của tệ nạn này Và theo nhận định của Ban chỉ đạo chương trình 130/CP của Chính phủ, tình hình hoạt động tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em diễn biến phức tạp, đa dạng, tính chất quy mô và thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức chặt chẽ và xuyên quốc gia
Buôn bán người luôn được hiểu như là hệ quả của đói nghèo do nạn nhân bị mua bán thường xuất thân từ các vùng nông thôn và từ các gia đình nông thôn nghèo, cha mẹ thường có trình độ học vấn thấp, giáo dục gia đình kém, hay có những vấn đề xã hội như rượu chè, bạo lực gia đình, cha mẹ đơn thân, ly dị hoặc cuộc sống không có hạnh phúc Tuy vậy, nạn nhân của buôn bán người vì thế không đơn thuần chỉ là những phụ nữ trẻ
mà nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trường hợp bị bán thường là những phụ nữ ở trong độ tuổi từ 15 cho đến 35 tuổi, và bất kỳ ai cũng có thể bị buôn bán Trẻ em đang ngày càng trở thành một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương hơn, độ tuổi trung bình của trẻ em bị buôn bán là 10 tuổi Chủ yếu trẻ em bị buôn bán là các bé gái nhưng trong một số trường hợp lại là bé trai Bên cạnh nhóm nạn nhân thuộc dân tộc đa số (dân tộc Kinh) ở Việt Nam thì cũng có một số lượng lớn các đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa Đây là nhóm có nguy cơ bị buôn bán cao nhất vì họ ở những nơi hẻo lánh, biệt lập về địa lý, trình độ kinh tế, xã hội thấp kém
Hàng năm, có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam bị buôn bán trái phép qua biên giới (theo số liệu Liên hợp quốc) Các tổ chức quốc tế cũng như Hội LHPN Việt Nam đã có nhiều chương trình phòng chống buôn bán phụ nữ, tuy nhiên, vẫn còn nhiều phụ nữ bị bán qua biên giới Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan
Nhiều phụ nữ và trẻ em Việt Nam sinh sống tại vùng biên đã bị bắt cóc bán sang Trung Quốc làm vợ hoặc phục vụ trong các động mại dâm Hầu hết phu ̣ nữ bi ̣ mua bán đều trong hoàn cảnh khó khăn về tâm lý, kinh tế, xã hội và mặt pháp lý do hậu quả của quá trình bị buôn bán và trải nghiệm hoàn cảnh bị buôn bán Theo kết quả nghiên cứu của
tổ chức Action Aid Việt Nam tại 4 tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Hải Phòng và Vĩnh Long, chỉ có 20,4% số phụ nữ bị buôn bán trở về đã ổn định và hòa nhập với cộng đồng Đây là vấn đề xã hội mà ngành Công tác xã hội cần quan tâm giải quyết
1.1.2.3 Phụ nữ nghèo
Theo báo cáo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010 của Tổng cục thống kê:
HUPH
Trang 14hành giai đoạn 2006-2010 (năm 2008 là 13,4%, năm 2006 là 15,5%và năm 2004 là 18,1%) Nếu tính theo chuẩn nghèo mới do Chính phủ ban hành giai đoạn 2011-2015 thì tỉ
lệ hộ nghèo cả nước năm 2010 là 14,2%, thành thị là 6,9% và nông thôn là 17,4%
Cuối năm 2011 cả nước còn 2.580.885 hộ nghèo, trong đó có 800.722 hộ nghèo
do PN làm chủ hộ4 Năm 2012, cả nước vẫn còn 2.149.110 hộ nghèo (chiếm 9,45% tổng
số hộ gia đình trong cả nước)
Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi
là những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất Phụ nữ nghèo lao động nhiều thời gian hơn, nhưng thu nhập ít hơn, họ ít có quyền quyết định trong gia đình và cộng đồng do đó có ít
cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại
Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với ngưỡng nghèo đói, do vậy, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo
Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn so với mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện điều kiện sống không đồng đều
Đa số phụ nữ nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không
ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước dẫn đến sự dôi dư lao động, mất việc làm của một bộ phận người lao động ở khu vực này, làm cho điều kiện sống của họ càng thêm khó khăn hơn Số lao động này phải chuyển sang làm các công việc khác với mức lương thấp hơn, hoặc không tìm được việc làm và trở thành thất nghiệp
Phụ nữ nghèo đô thị phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém, khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi trường, thoát nước, ánh sáng và thu gom rác thải ) Họ là nhóm người dễ bị tổn thương, thường không có hoặc có
ít khả năng tiết kiệm và gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn tạo việc làm
Đây là vấn đề cần được giải quyết cấp bách, đó không chỉ là vấn đề nhân đạo mà còn là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước, nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.1.2.4 Phụ nữ mại dâm
Theo báo cáo “Công tác phòng chống mại dâm và cai nghiện ma túy” 9 tháng đầu
năm 2011 của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động Thương binh Xã hội: trên cả nước hiện có 86.547 cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm, cụ thể: 48.213 cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ), 7.198 quán karaoke, 367 vũ trường, 1.831 cơ
sở xông hơi, mát xa và 27.512 quán cà phê, giải khát, cơ sở hớt tóc, gội đầu Gái bán dâm ngày càng trẻ hóa, từ 16 - 18 tuổi chiếm 15,3%, từ 25 - 35 tuổi chiếm 35% và đông nhất là lứa tuổi rất trẻ: từ 18 - 25 tuổi chiếm 42%, đa số có trình độ học vấn thấp
HUPH
Trang 15Hiện tượng mại dâm vẫn diễn ra phức tạp, trá hình tinh vi dưới nhiều hình thức và
gây quan ngại cho người dân sống xung quanh khu vực có tụ điểm mại dâm Hiện nay, theo số liệu báo cáo thống kê chưa đầy đủ của các địa phương, số người bán dâm có hồ sơ quản lý là 14.802 đối tượng trong tổng số ước tính trên 30.000 người bán dâm Hoạt động mại dâm vẫn diễn ra công khai và biến tướng trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ, mại dâm
sử dụng công nghệ thông tin hiện đại qua mạng, qua internet, mại dâm tại khu vực biên giới, cửa khẩu, bến cảng; vẫn còn tình trạng mua bán phụ nữ, trẻ em đưa vào các tụ điểm mại dâm trong nước
Tại Việt Nam hiện nay, do vấn đề kinh tế, đặc biệt tại các vùng khó khăn, tình trạng mại dâm nữ diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng tăng lên Phụ nữ mại dâm phần lớn trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình thường khó khăn hoặc phức tạp, đa phần thuộc các hộ gia đình nghèo Họ luôn là nhóm người bị coi là bên lề xã hội, không có bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội
Đa số phụ nữ mại dâm khó khăn trong việc rời bỏ nghề do họ đã quen cách sống
và mức thu nhập cao nên không thể dứt ra được hoặc vì lệ thuộc vào ma túy, vì trình độ thấp, không biết làm việc gì khác nếu không bán dâm
1.1.2.5 Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS
Dịch HIV/AIDS đã trở thành mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới từ nhiều năm nay, trong đó có Việt Nam Đại dich này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế,
xã hội, đến cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng bất chấp các nỗ lực của quốc gia
và quốc tế trong phòng chống sự lây lan HIV/AIDS
Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực can thiệp trong hỗ trợ dự phòng, chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS: chương trình giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS; Chương trình chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS, chương trình dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con; chương trình an toàn truyền máu… Tuy nhiên tỷ lệ người nhiễm HIV vẫn ở mức rất đáng lưu tâm: tính đến 30/11/2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 208.866 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 59.839 và 62.184 trường hợp tử vong do AIDS Về hình thái dịch HIV tiếp tục ghi nhận có sự thay đổi, trong số người nhiễm HIV báo cáo năm 2012 có 31,5% người nhiễm là nữ giới, cao hơn 0,5% so với năm 2011, đường lây truyền HIV lần đầu tiên báo cáo ghi nhận số người nhiễm HIV bị lây nhiễm qua quan hệ tình dục cao hơn lây truyền qua tiêm chích ma túy (45,5% so với 42,1%), trong khi năm 2011 tương ứng là (41,8% so với 46,4%) 5
Nhiều bằng chứng cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm nghiện chích ma túy và tỷ lệ nam quan hệ tình dục đồng giới nghiện chích ma túy gia tăng làm tăng nguy cơ lây truyền qua đường tình dục từ nhóm này sang các loại bạn tình của họ, do đó số người nhiễm HIV
do lây truyền qua đường tình ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các năm trước đây
Trong những năm trở lại đây, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới tăng nhanh tử 8% năm 2007 thì đến năm 2011 tỷ lệ này đã là 22,5% Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm năm 2011 có giảm (2,97%) so với năm 2010 (4,6%), tuy
5 Báo cáo tổng kết Phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và kế hoạch công tác 2013, Cục PC HIV/AIDS, Bộ
HUPH
Trang 16nhiên năm 2011 giám sát trọng điểm chỉ lấy mẫu những phụ nữ bán dâm tại cộng đồng, thông thường tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm đang giáo dục tại Trung tâm
05 cao hơn tại cộng đồng, do đó việc giảm tỷ lệ này vẫn cần được theo dõi tiếp để đảm bảo tính bền vững Một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm rất cao và tiềm ẩn nguy cơ lây truyền cao cho người mua dâm như Hà Nội 22,5%, Lạng Sơn 17,06%, Cần Thơ 10,67%, Điện Biên 8%
Tỷ lệ phụ nữ bán dâm cho biết đã từng tiêm chích ma túy cao ở Hà Nội 15%, Điện Biên 8,6%, các tỉnh này có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm cao và có hành vi nguy cơ cao về tình dục không an toàn làm tiềm ẩn nguy cơ lây truyền HIV lớn, cần có các biện pháp can thiệp phù hợp để hạn chế lây truyền HIV
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai tiếp tục có xu hướng giảm trong 3 năm gần đây, tỷ lệ này năm 2011 là 0,21% Tuy nhiên ở một số tỉnh tỷ lệ này vẫn đang ở cao như Điện Biên (1%), Hà Nội và Lào Cai (0,63%)
Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống thường ngày, đặc biệt là những khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Nhóm đối tượng này cần được hỗ trợ về thuốc men và tài chính Để làm được điều đó, các chính sách hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS cần được cải thiện và được thực thi để đáp ứng nhu cầu của họ
1.1.2.6 Phụ nữ khuyết tật
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều tồn tại một bộ phận người khuyết tật Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới năm 2007, Người khuyết tật chiếm 10% dân số trên thế giới, tương đương với hơn 650 triệu người
Theo báo cáo tổng kết Đề án trợ gúp người khuyết tật giai đoạn 2006-2010 của cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động thương binh – xã hội, năm 2009, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, trong đó hơn 5 triệu người khuyết tật sống ở nông thôn, 3,6 triệu người khuyết tật là phu nữ Có gần 35%/80% phụ nữ khuyết tật sống ở thành thị và 30%/70% phụ nữ khuyết tật sống ở nông thôn dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; phần lớn thuộc diện nghèo, sống ở nhà tạm
Phụ nữ khuyết tật là người bị thiếu, bị hỏng hoặc giảm khả năng hoạt động về thể chất hoặc tinh thần do nhiều nguyên nhân khác nhau: bẩm sinh, tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh, bị bệnh tật, tai nạn giao thông… Khả năng hoạt động của phụ nữ khuyết tật bị suy giảm, họ thường mặc cảm, e ngại trong giao tiếp, khó hòa nhập cộng đồng, né tránh hoặc không tham gia các hoạt động xã hội
Phụ nữ khuyết tật ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội; ít có cơ hội vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập với xã hội và cộng đồng Họ chịu nhiều tác động của nghèo đói do các rào cản về giới; những khó khăn mà phụ nữ khuyết tật gặp phải cao ít nhất 3 lần
so với nam giới và là đối tượng yếu thế cần được bảo vệ Hầu hết phụ nữ khuyết tật có trình độ học vấn thấp, thiếu cơ hội trong giáo dục dạy nghề và tìm kiếm việc làm nên họ
có thu nhập và mức chi tiêu thấp
Tuy có những điểm khác biệt trên cơ thể nhưng điều đó không có nghĩa là phụ nữ khuyết tật không có khả năng hoặc không có giá trị riêng của mình Phụ nữ khuyết tật có
HUPH
Trang 17thể làm tốt và phát huy được khả năng của mình nếu họ được gia đình, nhà nước, xã hội, cộng đồng tin tưởng và tạo điều kiện
1.1.2.7 Phụ nữ đơn thân
Theo điều tra Dân số và nhà ở tại Việt Nam năm 2009, nhóm dân số độc thân (chưa bao giờ kết hôn) trong cả nam và nữ đều gia tăng từ nĕm 1999, đặc biệt là đối với nhóm tuổi 35-54 Điều tra cho thấy trong thời gian từ năm 1999-2009, tỷ lệ phụ nữ góa chồng đã tăng lên đáng kể ở tất cả các nhóm tuổi trưởng thành Đến năm 2009, hơn 50% phụ nữ Việt Nam từ 60 tuổi trở lên sống độc thân (chưa kết hôn, ly dị/ly thân hoặc góa)
Một phân tích khác về hôn nhân tập trung phân tích tỷ lệ ly hôn/ly thân của nam
và nữ từ 15 tuổi trở lên ở Việt nam theo tuổi, thành thị/nông thôn cho thấy ở tất cả các nhóm tuổi, tỷ lệ ly dị hoặc ly thân của nữ giới luôn cao hơn của nam giới Điều này đặc biệt đúng đối với nữ giới ở thành thị Giải thích cho hiện tượng này có thể là do nam giới
có khả năng tái hôn cao hơn nữ giới, tuy nhiên cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn về các nguyên nhân và tác động của hiện tượng này
Kết quả từ ba cuộc điều tra dân số ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hộ gia đình độc thân
đã tăng lên, từ 5% trong tổng số hộ gia đình trong năm 1989 lên đến 7,3% trong nĕm
2009 Đa số hộ gia đình độc thân là nữ, mặc dù tỷ lệ hộ gia đình độc thân là phụ nữ đã giảm từ 72,9% trong năm 1989 xuống 67% trong năm 2009
Nghiên cứu về số lượng các hộ gia đình độc thân trong năm 2009 cho thấy một kết quả thú vị: ở độ tuổi dưới 25, số lượng nam và nữ sống độc thân gần như tương đương Tuy nhiên, đối với nhóm tuổi từ 25 - 39, tỷ lệ nữ sống độc thân giảm, nhưng sau đó lại tăng ở độ tuổi 44 trở lên Sự gia tăng tỷ lệ các hộ gia đình độc thân là nữ này có thể là do
tỷ lệ phụ nữ chưa kết hôn trong độ tuổi này cao hơn so với nam giới do tỷ số giới tính nam/nữ thấp Thứ hai, tỷ lệ tử vong của nam cao hơn của nữ một chút, điều này có nghĩa
là ở các nhóm tuổi lớn hơn, nhiều hộ gia đình độc thân là các góa phụ Thứ ba, sau khi ly hôn hoặc góa, khả năng tái hôn của phụ nữ thấp hơn của nam giới
So sánh các hộ gia đình nam và nữ sống độc thân theo nhóm kinh tế - xã hội cho thấy phụ nữ sống độc thân thuộc nhóm dễ bị tổn thương hơn Các số liệu này cho thấy cần tăng cường hỗ trợ cho những hộ gia đình dễ tổn thương nhất, đặc biệt là các hộ gia đình độc thân với chủ hộ là nữ Thực tế là rất nhiều hộ gia đình này là người già, cần chú trọng hơn nữa tới việc xây dựng các dịch vụ chăm sóc công cộng hoặc dựa vào cộng đồng dành cho người già
1.1.3 Đặc điểm của phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lý
Nhìn chung, phụ nữ CHCĐB đều có một số đặc điểm tâm lý sau:
Do hoàn cảnh của mình, phụ nữ CHCĐB thường có mặc cảm cho thân phận của mình Họ thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp, không mạnh dạn tham gia vào các hoạt động mang tính tập thể, không dám mơ ước làm những việc lớn lao, quan trọng, và họ thường luôn nghĩ rằng mình không bao giờ làm được những việc như thế Bị hạn chế bởi tính tự ti nên họ không dám vươn lên học hỏi những kiến thức mới, hiện đại,
từ đó dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng tạo thu nhập
HUPH
Trang 18Bên cạnh đó, phụ nữ CHCĐB thường có tâm lý chán nản, buông xuôi, phó mặc cam chịu số phận, thiếu nghị lực và sự cố gắng cần thiết để vươn lên làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cuộc đời mình Họ có tâm lý bằng lòng với cuộc sống hiện tại, chấp nhận cuộc sống nghèo khó, thiếu thốn
Ngoài ra, tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề, mỗi dạng phụ nữ CHCĐB lại có những đặc điểm đặc thù của nhóm, cụ thế như sau:
Một bộ phận phụ nữ nghèo có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước,
của các cá nhân và tổ chức từ thiện, không có hoặc mất hẳn ý chí vươn lên Nguyên nhân của hiện tượng tâm lý này là do chính bản thân phụ nữ nghèo và môi trường xã hội xung quanh họ Một mặt, họ không được đảm bảo các nhu cầu cơ bản; họ thường không có điều kiện học hành lâu dài, không có điều kiện giao lưu, tiếp xúc và mở rộng các mối quan hệ nên vốn tri thức, sự hiểu biết của họ rất hạn chế Mặt khác, cũng từ đặc điểm trên mà xã hội không tin tưởng và thừa nhận sự tham gia của họ, ý kiến đóng góp của họ cũng khó được mọi người chấp nhận
Đa số phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS, do bị cộng đồng xa lánh, thậm chí bị chính cả
những người thân trong gia đình, họ hàng ghẻ lạnh nên họ thấy mình đơn độc, bị cô lập, không còn niềm tin Đặc điểm tâm lý rõ nét của họ là thiếu tình cảm ruột thịt, thiếu tình yêu thương, có tâm trạng cô đơn, lo sợ, mặc cảm, tủi phận Tất cả các cảm xúc tiêu cực đó làm cho phụ nữ bị nhiễm HIV rơi vào trạng thái cô đơn, buồn bã, thu mình và không muốn giao tiếp, không thấy ý nghĩa của cuộc sống, thậm chí có ý nghĩ tự sát Họ luôn
có cảm giác mọi người đang bàn luận về họ Họ cảm thấy mình không xứng đáng với gia đình, bạn bè, người thân Tình trạng này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng rất xấu đến tâm trạng, sức khoẻ của phụ nữ bị nhiễm HIV Phụ nữ nhiễm HIV cần sự giúp đỡ, cảm thông, chia sẻ của gia đình, cộng đồng, xã hội Họ cần được giúp để sống tích cực, hữu ích và có ý nghĩa
để hoà nhập vào cuộc sống
Những phụ nữ bị mua bán mặc dù đã đã trở về song họ lại cảm thấy mất niềm tin
trong cuộc sống, mặc cảm với bản thân và rất bi quan Họ luôn có cảm giác có tội về việc mình bị buôn bán, tâm trạng hoang mang, lo âu, sợ hãi; cảm thấy mình vô giá trị, bị phản bội, thường bị mộng mị trong giấc ngủ, cùn mòn về cảm xúc, mất khả năng kiểm soát bản thân, trí nhớ suy giảm…Họ rất khó hòa nhập với cuộc sống và cộng đồng, dễ sa vào các tệ nạn xã hội hoặc trở thành tội phạm mua bán người; đó là hậu quả của quá trình bị mua bán
và trải nghiệm hoàn cảnh bị mua bán của mỗi nạn nhân Họ phải chịu đựng những tổn thương về thể chất và tinh thần, tình cảm, kinh tế và mất khả năng tự kiểm soát cuộc sống
Đặc điểm tâm lý nổi bật của phụ nữ mại dâm là xúc cảm, tình cảm của họ thường không ổn định, có nhiều xáo trộn, hay xúc động, hay nổi nóng, dễ bị tổn thương Phụ nữ mại dâm thường thiếu nghị lực, thiếu tự tin trong cuộc sống Do suy nghĩ nông cạn, hời hợt, ít hiểu biết xã hội, họ ý thức được việc mình làm nhưng không quan tâm đến hậu quả cũng như tác hại của việc đang làm Phụ nữ mại dâm dễ bị rủ rê, lôi kéo, thiếu tính quyết đoán và không tự hành động theo bản thân Quan niệm cuộc đời và định hướng giá trị của phụ nữ mại dâm thường mang tính chất tiêu cực Có không ít phụ nữ mại dâm có tâm lý bất cần, trả thù đời, buông xuôi, đặc biệt là phụ nữ mại dâm nghiện ma túy, nhiễm HIV
Sự kỳ thị đã phá vỡ lòng tự tôn của phụ nữ mại dâm làm cho họ cảm thấy bẽ bàng và không nhìn thấy tia sáng nào trong cuộc đời Họ cảm thấy cuộc đời không còn lối thoát,
HUPH
Trang 19thấy mình không còn chỗ đứng, thấy vô vọng, nghi ngờ về bản thân nên có thể buông xuôi tất cả, trở nên bất cần, tìm kiếm sự trả thù hoặc tìm đến bài bạc, ma túy
Phụ nữ khuyết tật có nỗi lo sợ thường xuyên do sự khủng khoảng về sức khoẻ dẫn
đến sự bất an, sợ hãi, buồn phiền, thất vọng Do vậy họ hay bi quan, chán nản, tự ti, cáu gắt, nóng nẩy, cho mình là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, họ lo âu, thất vọng cho tương lai Từ đó có thể gây ra những khó khăn cho các mối quan hệ, giao tiếp và sự tổn thương tình cảm ngay cả trong gia đình của phụ nữ khuyết tật Hầu hết phụ nữ khuyết tật cho rằng mình là người kém cỏi hơn những người khác, họ thường mặc cảm, e ngại trong giao tiếp, khó hòa nhập cộng đồng, né tránh hoặc không tham gia các hoạt động xã hội Có rất ít người khuyết tật cho rằng mình “bình thường” như những người khác Phụ nữ khuyết tật thường có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, họ dễ thông cảm với những khó khăn của người khác, nhưng họ thường nhút nhát, rụt rè, ít nói, dễ tự ái
Phụ nữ đơn thân thường rơi vào tình trạng mặc cảm nặng nề, thiếu tự tin và từ
“đơn thân” dễ trở thành “đơn chiếc” Đối với những phụ nữ không chồng, đặc biệt là những phụ nữ không có chồng mà có con, họ phải chịu nhiều áp lực do định kiến xã hội từ bao đời nay, đặc điểm tâm lý rõ nét ở họ là sự mặc cảm, tủi hổ, chịu đựng để nuôi con Đối với những phụ nữ có chồng đi làm ăn xa, đặc điểm ở họ là sự kiên nhẫn, chịu đựng, chờ chồng nuôi con, chăm lo gia đình nhà chồng
Đặc điểm tâm lý tình cảm của phụ nữ bị bạo lực gia đình là cảm thấy nhân phẩm
bị xúc phạm, cảm thấy cô đơn, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, tuyệt vọng, trầm cảm; có cảm giác bị cô lập, bị bỏ rơi, bị khống chế và bị kiểm soát; tình cảm với chồng bị rạn nứt, tổn thương, mất mát, chán ghét đàn ông; phụ thuộc chồng về tài chính, không tự quyết định được những vấn đề của bản thân… Họ cảm thấy cuộc sống nặng nề, tuyệt vọng và có thể dẫn đến tự tử Những ảnh hưởng này còn tác động đến cả con cái của họ như bị ám ảnh, buồn rầu, tuyệt vọng, hốt hoảng, mất lòng tin, thiếu tự tin, dễ có phản ứng tiêu cực như uống rượu và lạm dụng chất ma túy, chất kích thích, thậm chí có thể tự tử…
Phụ nữ CHCĐB cũng có những tiềm năng nhất định chỉ có điều chính họ có nhận
ra điều đó hay không và cơ hội để thể hiện và phát triển nó như thế nào mà thôi Chính sự mặc cảm, tự ti nên bản thân phụ nữ CHCĐB không nhận ra hết những giá trị và tiềm năng sẵn có của mình và cũng chưa có môi trường thuận lợi để thể hiện và bồi dưỡng những tiềm năng đó Vì vậy, xã hội cần tạo môi trường thuận lợi cho họ thể hiện tiềm năng của mình, nâng cao năng lực, xóa bỏ tâm lý mặc cảm tự ti Những nhóm phụ nữ này rất cần được xã hội cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ Họ rất cần được sự quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ tham gia vào các hoạt động cộng đồng
1.1.3.2 Đặc điểm thể chất
Phụ nữ CHCĐB rất thiếu điều kiện trong việc chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe Phụ nữ CHCĐB gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, môi trường tự nhiên khắc nghiệt, vốn tri thức và hiểu biết xã hội ít, thiếu thông tin nên họ càng gặp khó khăn trong chăm sóc y
tế và bảo vệ sức khỏe Trạm y tế, bệnh viện huyện, tỉnh xa xôi, chi phí tốn kém; điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, không đảm bảo vệ sinh; tập tục sinh hoạt, chữa bệnh lạc hậu…là những cản trở lớn đối với phụ nữ CHCĐB trong chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe
Nhóm phụ nữ nghèo thường ít điều kiện ăn uống đủ dinh dưỡng và đúng cách nên
HUPH
Trang 20kháng bệnh còn thấp, sức khỏe nhanh chóng giảm sút Mặt khác, tình trạng nghèo khó, thiếu thốn của các cơ sở y tế ở cơ sở cũng như trình độ chuyên môn thấp kém của nhân viên y tế làm cho các nhóm phụ nữ nghèo càng khó tiếp cận với chăm sóc y tế hơn
Nhóm phụ nữ bị mua bán bị tổn thương nghiêm trọng tới sức khỏe, suy nhược cơ thể, suy dinh dưỡng, ốm yếu, bệnh tật, tàn tật, lây nhiễm HIV/AIDS hoặc gây ra một số phản ứng sinh lý như đau dạ dày, mất ngủ, toát mồ hôi, run rẩy, tim đập nhanh, ăn uống không ngon… Trong quá trình bị mua bán họ bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn, bị cưỡng bức, bóc lột tình dục, nguy cơ mắc các bệnh lây truyền tình dục, mang thai ngoài ý muốn… Một số người bị thương tích, tàn phế suốt đời, bị ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe sinh sản và tình dục của phụ nữ
Phụ nữ khuyết tật bị ảnh hưởng của các dạng khuyết tật nên khả năng hoạt động của họ bị suy giảm Do có khuyết tật nên các bộ phận hoặc các chức năng của cơ thể không được thực hiện đầy đủ, bình thường: khả năng vận động, khả năng ngôn ngữ, thính giác, thị giác, nhận thức, điều khiển hành vi… bị giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn Vì vậy
họ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong sinh hoạt, trong lao động và học tập Tuy nhiên, cơ chế bù trừ chức năng các cơ quan cảm giác ở người khuyết tật được thể hiện rõ rệt Khi họ mất đi khả năng hoạt động của cơ quan cảm giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển và sự nhận biết thế giới xung quanh được thực hiện chủ yếu thông qua các giác quan còn lại này Ví dụ như ở người mù do mất đi khả năng thị giác, nên độ nhạy cảm của cơ quan thính giác, xúc giác phát triển
Phụ nữ bị bạo lực gia đình chịu ảnh hưởng nặng nề cả về thể chất và tinh thần Về thể chất: sức khỏe của họ bị hủy hoại do bị đánh đập hoặc suy sụp về tinh thần, có thể bị tàn tật suốt đời, thậm chí có thể dẫn đến tử vong Đối với phụ nữ bị bạo lực tình dục họ sẽ
bị ảnh hưởng về sức khỏe tình dục như gây tổn thương về cơ thể như lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, tổn thương bộ phận sinh dục; đau đớn khổ sở về tinh thần vì bị cưỡng bức và xúc phạm; gây nguy hiểm cho thai nhi nếu người phụ nữ đang mang thai
Phụ nữ mại dâm do đặc thù công việc nên hay phải thức đêm dẫn đến thể trạng mệt mỏi, mất ngủ kéo dài Nhiều phụ nữ bị bạo dâm dẫn đến nguy hại về sức khỏe như rách vùng tiền đình, rách thành âm đạo, túi cùng (nơi thành âm đạo bám vào cổ tử cung), thủng cùng đồ… Đặc biệt phụ nữ mại dâm rất dễ bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình
dục như trùng roi, lậu và chlamydia, giang mai , mụn rộp sinh dục, virus papilloma, bệnh
hạ cam, rận mu, viêm gan B, HIV/AIDS…
Đặc điểm thể chất của phụ nữ nhiễm HIV là sức đề kháng đã suy giảm nên cơ thể không còn khả năng chống lại các virut, vi khuẩn và nấm gây bệnh Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được Giai đoạn sơ nhiễm sẽ có một vài biểu hiện như sốt mệt mỏi, nhức đau tay chân… kiểu như bị cảm cúm Giai đoạn nhiễm trùng cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng Giai đoạn có liên quan đến AIDS sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đổ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy… Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp Giai đoạn bệnh AIDS: hệ miễn dịch
bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch… Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm Có một số thuốc được dùng trong giai đoạn này nhưng chỉ giúp kéo
HUPH
Trang 21Những phụ nữ CHCĐB rất cần sự quan tâm của cộng đồng xã hội, đặc biệt là các chính sách về y tế bởi đa số trong số họ không có bảo hiểm y tế, không có tiền chi phí chữa bệnh Chính vì sức khỏe không đảm bảo nên họ càng gặp khó khăn trong hoạt động kinh tế, tạo thu nhập
1.1.3.3 Quan hệ xã hội
Phụ nữ CHCĐB có tâm lý rụt rè, e sợ, tự ti nên họ rất ngại tham gia các hoạt động tập thể Nếu phải tham gia thì họ cũng rất e ngại khi phải trình bày ý kiến, quan điểm, hơn nữa họ lại không đủ tri thức, sự hiểu biết để tham gia tích cực Chính vì điều này mà phụ
nữ CHCĐB thường không có chính kiến, tiếng nói trong cộng đồng Phụ nữ CHCĐB cũng không được tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, địa phương với tư cách tham mưu, đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề của cộng đồng Nếu chúng ta không thực sự quan tâm tới họ, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng thì chúng ta không thể biết họ như thế nào, họ cần ở xã hội cái gì để thay đổi tâm lý, thay đổi cách nghĩ, cách tư duy, thay đổi quan điểm sống, thay đổi cuộc sống khó khăn của họ
Vốn xã hội, chẳng hạn như các mối quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội của phụ
nữ CHCĐB cũng rất hạn chế nên khả năng giúp đỡ từ người khác là rất ít Đa số phụ nữ CHCĐB không tham gia hoạt động giao lưu, các hoạt động đoàn thể Họ không tha thiết tham gia hoạt động xã hội cũng như không quan tâm đến mọi người và môi trường xung quanh, bởi chính cuộc sống của họ luôn là mối lo ngại lớn nhất Vì vậy cơ hội phát triển của họ bị hạn chế theo Nếu không có sự hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở phụ nữ CHCĐB sẽ bị thu hẹp
Đối với một số nhóm phụ nữ đặc thù như phụ nữ khuyết tật, phụ nữ nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ mại dâm, phụ nữ bị mua bán do sự kỳ thị và phân biệt đối xử nên các mối quan hệ xã hội của họ càng hạn hẹp Thậm chí gia đình, người thân cũng không chấp nhận họ, cộng đồng xã hội xem họ là hạng người thấp kém, tư cách đạo đức tồi, nhất là đối với phụ nữ nhiễm HIV và phụ nữ mại dâm Phụ nữ bị mua bán trở về họ phải chịu những lời đồn đại thi phi không tốt, bị cho rằng bị mua bán đồng nghĩa với việc làm gái mại dâm, vì tiền mà sẵn sàng bán thân Điều đó dẫn đến họ thu mình lại, ngại giao tiếp và tiếp xúc, tự cô lập bản thân, tự tách mình ra khỏi gia đình và cộng đồng
Thực tế cho thấy phụ nữ CHCĐB ít có cơ hội giao lưu học hỏi để nâng cao sự hiểu biết, học hỏi kinh nghiệm từ người khác, trải nghiệm cuộc sống Nếu được động viên,
hỗ trợ tạo điều kiện để những nhóm phụ nữ này được tham gia vào các hoạt động của tập thể và cộng đồng thì sẽ nâng cao ở họ khả năng hội nhập, khả năng tự khẳng định mình
1.1.3.4 Đặc điểm khác
- Nguy cơ dễ bị tổn thương
Ở những nhóm phụ nữ CHCĐB, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với sự khốn cùng về vật chất và con người Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là gì? Nó chính
là nguy cơ mà họ phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai,
bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác, những rủi ro mà phụ nữ CHCĐB phải đối mặt
do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thương Những người này do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu
HUPH
Trang 22cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ dàng vượt qua được Do thu nhập thấp, phụ nữ CHCĐB có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởng kinh tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn Chẳng hạn, do thiếu tài sản nên để chạy chữa cho một người bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những phương tiện lao động cần thiết của gia đình Như vậy, nếu có thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là điều khó tránh khỏi với phụ nữ CHCĐB
Dù ở khía cạnh nào, nhóm phụ nữ CHCĐB luôn là những người dễ bị tổn thương nhất trong khủng hoảng kinh tế Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của phụ nữ CHCĐB là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn
đề mang tính rủi ro cao Chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trường và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn
- Không có tiếng nói và quyền lực
Những nhóm phụ nữ phụ nữ CHCĐB thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ Trong cuộc sống những phụ nữ CHCĐB chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sự thô bạo, nhục
mạ, họ bị tước đi những quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên được hưởng Phụ nữ CHCĐB luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại Kể cả khi họ tham gia được các cuộc họp của cộng đồng thì họ cũng không thể quyết định được vấn đề gì dù rằng vấn đề đó liên quan đến lợi ích của chính họ
- Thiếu hoặc không có khả năng ra quyết định
Đây là hạn chế của phụ nữ CHCĐB bởi họ thường khó có thể phân tích, nhận thức đầy đủ những vấn đề mà cuộc sống đặt ra Họ thiếu khả năng giải quyết vấn đề của cuộc sống dựa trên nguồn lực của của chính họ, không biết khai thác và tận dụng tài nguyên bên ngoài Nhận thức vấn đề và tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu sa của vấn đề đi đến giải quyết nó là một khó khăn, thách thức lớn đối với những nhóm phụ nữ này Chính
vì vậy họ không có khả năng hành động, tác động hay ảnh hưởng đến môi trường xã hội xung quanh cho dù nó liên quan đến cuộc sống của chính họ
Nguyên nhân của việc hạn chế khả năng ra quyết định của phụ nữ CHCĐB một mặt là hạn chế về nhận thức, thiếu kỹ năng xã hội, tâm lý e ngại, sợ sệt, ỷ lại, không dám tạo ra bước đột phá, giao lưu hẹp, mối quan hệ xã hội ít; mặt khác là hạn chế từ chính môi trường mà họ đang sống như hạn chế về tài nguyên, hạn chế về vốn tự nhiên, vốn tài sản, vốn vật chất và vốn xã hội, các nếp sinh hoạt và các thể chế, chính sách…
Chính vì vậy, để giúp phụ nữ CHCĐB thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống,
HUPH
Trang 23chia sẻ của cộng đồng trong việc giúp đỡ họ vươn lên Giải quyết các vấn đề của phụ nữ CHCĐB là vô cùng khó khăn và lâu dài, rất cần sự chung tay của toàn xã hội, và của những người có chuyên môn, tâm huyết với nghề công tác xã hội
1.1.4 Như ̃ng khó khăn của phu ̣ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.4.1 Chỗ ở và điều kiện sinh hoạt
Tình trạng nhà ở và diện tích cư trú phản ánh khá rõ mức độ nghèo của nhóm phụ
nữ CHCĐB Đa số phụ nữ CHCĐB là những người nghèo nên nhà ở càng tạm bợ và diện tích cũng hẹp hơn nhiều Nhà ở không chỉ là vấn đề nhạy cảm của người dân mà còn tạo
áp lực không nhỏ lên những nhà quản lý trước tình trạng nhà ở trái phép, không đúng quy hoạch, chưa xác định sở hữu, đặc biệt là sự phân hóa xã hội trên lĩnh vực nhà ở Nhà ở cho nhóm người nghèo là một trong những mục tiêu căn bản đang được quan tâm
Tính di chuyển năng động của phụ nữ CHCĐB rất thấp Thường họ không có điều kiện chọn nơi cư trú tốt hơn, và do đó khi đã ở đâu thì ở đó lâu dài trừ khi có một sự chuyển đổi bắt buộc Còn về nhà ở, đại đa số họ sống trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho những người sống trong đó Ở thành phố, người nghèo sống trong các túp lều tạm bợ ở khu ổ chuột, quây tạm, không đảm bảo an toàn và sức khỏe cho họ Ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, người nghèo thường sống trong các nhà tranh, vách nứa, mái lá tạm bợ
Điều quan trọng ở đây là dù sở hữu nhà ở của mình nhưng kết cấu nhà thì tạm bợ
và bán kiên cố là chính và diện tích ở tương đối nhỏ, không gian chật hẹp Hệ thống cơ sở
hạ tầng kỹ thuật (đường sá, cấp điện, cấp và thoát nước) của khu vực nhà ở không tốt, hệ thống giao thông, thoát nước, vệ sinh môi trường không đảm bảo
Đa số những phụ nữ CHCĐB có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ Họ có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Họ thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ) Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những nhóm phụ nữ này là rất hạn chế Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Do thu nhập thấp nên điều kiện sinh hoạt của họ rất thiếu thốn như không được
sử dụng nguồn nước sạch, không có điện thắp sáng, không có khả năng mua vật dụng hiện đại như tivi, tủ lạnh, quạt điện, vệ sinh môi trường không đảm bảo…Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà nhóm phụ nữ này rất khó thoát ra được
Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những nhóm phụ nữ CHCĐB Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản xã hội Tài sản con người thể hiện ở khả năng có được sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt Điều này đã hạn chế khả năng lao động của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so với những người có đủ phương tiện sản xuất Do không có những tài sản giá trị để bảo đảm nên nhóm phụ nữ này cũng có rất ít khả năng tiếp cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu
HUPH
Trang 24tài sản tài chính Còn tài sản xã hội, như các mối quan hệ đối với nhóm phụ nữ này cũng rất hạn chế Điều này đã làm cho phụ nữ CHCĐB dần bị cô lập và do đó khó nhận được
sự giúp đỡ từ các nhóm, hội khi gặp khó khăn
1.1.4.2 Việc làm và thu nhập
Phụ nữ CHCĐB thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực Nhóm người này có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở
họ thoát khỏi nghèo đói Việc làm bấp bênh là một đặc điểm khá nổi bật của các nhóm phụ
nữ CHCĐB
Ở nông thôn, những nhóm phụ nữ nghèo thường sống bằng nghề nông Nghề nông đem lại thu nhập thấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất thấp làm cho đời sống bấp bênh Nhiều người trong số họ phải bỏ`gia đình, làng xóm đi làm ăn xa, làm thuê ở thành phố, công việc và thu nhập không ổn định Ở đô thị, phụ nữ thường làm những nghề như làm thuê, bán hàng rong, giúp việc gia đình… tuy có thu nhập cao hơn ở nông thôn nhưng chi phí lại cao, họ phải “nhịn ăn, nhịn tiêu” để gửi tiền về cho gia đình
Phụ nữ khuyết tật rất khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm, do không có trình
độ văn hóa hoặc trình độ văn hóa, tay nghề thấp; đi lại, vận động khó khăn, các cơ sở doanh nghiệp thường không nhận người khuyết tật Khi đã có việc làm, phụ nữ khuyết tật cũng vấp phải nhiều khó khăn: thái độ coi thường, không tôn trọng của chủ lao động và đồng nghiệp, ví dụ: chỉ được giao một số công việc nhất định mà được cho là “phù hợp” với họ (những công việc được trả lương thấp và có vị trí thấp); không được thăng tiến bình đẳng như những người lao động khác; khó được ký hợp đồng dài hạn; ít được tập huấn hoặc dạy nghề Đối với những phụ nữ khuyết tật bán thực phẩm, bán hàng, họ khó có khách hàng do thái độ kỳ thị còn phổ biến trong cộng đồng và xã hội
Phụ nữ bị mua bán gặp khó khăn về mặt kinh tế do thiếu việc làm vì không tìm được công việc phù hợp ở địa phương hoặc do tình trạng sức khỏe không tốt hoặc thiếu kĩ năng nghề nghiệp, thiếu vốn để lập nghiệp Đa số các nạn nhân trở về đều khó khăn trong tìm kiếm việc làm, họ khó có cơ hội tiếp cận các công việc ổn định tại các nhà máy, doanh nghiệp phần vì bị kỳ thị, phần vì không có tay nghề Mặt khác họ gặp những vấn đề về mặt pháp lý như không được đăng kí hộ khẩu khi trở về, mất giấy tờ tùy thân,
từ đó khó tiếp cận được các dịch vụ xã hội; bị mất, thiếu đất đai để sản xuất, thậm chí thiếu chỗ ở ổn định….Những cản trở này khiến phụ nữ bị mua bán rất khó khăn trong tìm công việc phù hợp
Đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình phải gánh chịu kinh tế gia đình bị giảm sút do chồng bị xử phạt hành chính mà người bỏ tiền ra đóng lại là người vợ; mất chi phí chữa trị thương tật do bị chồng đánh đập, tài sản gia đình bị đập phá…Khi sức khỏe người vợ bị giảm sút thì sự đóng góp về kinh tế sẽ bị hạn chế; khi người chồng bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì gia đình sẽ mất nguồn lao động… Những điều đó khiến phụ nữ bị bạo lực gia đình vừa chịu đựng nỗi đau về tinh thần, thể xác, vừa bị mất mát trong thu nhập và tài sản
Những khó khăn chủ yếu trong hoạt động tạo thu nhập mà phụ nữ nhiễm HIV
thường gặp phải là: Sức khỏe yếu nên không thể tiếp tục công việc, phụ nữ nhiễm HIV do
bị suy giảm hệ thống miễn dịch nên dễ bị mắc bệnh hơn những người khác, dẫn đến sức
HUPH
Trang 25yếu nên khó có thể tiếp tục công việc Bên cạnh đó họ luôn bị kỳ thị và phân biệt đối xử Đối với những phụ nữ nhiễm HIV tự làm tạo thu nhập gặp khó khăn là giảm số lượng khách hàng, đặc biệt là những người làm hàng ăn uống Đối với người làm công ăn lương:
có thể bị đuổi việc nếu bị phát hiện nhiễm HIV, không được tin tưởng, bị trả lương thấp, không có cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp
Phụ nữ đơn thân cũng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do phải ở một mình hoặc một mình nuôi con Đối với phụ nữ không có chồng mà có con họ phải vừa làm cha, vừa làm mẹ, phải lo tất cả mọi công việc trong gia đình Đối với phụ nữ có chồng đi làm
ăn xa, họ vừa phải nuôi dạy con, vừa phải lo cho bố mẹ chồng, gia đình nhà chồng Một gia đình không đầy đủ tất dẫn đến những khó khăn về kinh tế dù công việc của phụ nữ đơn thân có ổn định thì cũng không thể không có khăn khăn Qua điều tra và nghiên cứu của Hội LHPN Việt Nam thì thực tế đời sống của phụ nữ đơn thân rất khó khăn, không ổn định Số phụ nữ đơn thân có việc làm đều đặn là 61,2% Do sự biến động nghề nghiệp nói chung của toàn xã hội, gia đình phụ nữ đơn thân ít có điều kiện để phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề so với gia đình phụ nữ có chồng
Đối với nhóm phụ nữ mại dâm thu nhập cao nhưng bấp bênh, mức thu thấp nhất là
ba triệu đồng trong khi mức thu cao nhất là bốn mươi lăm triệu, đa số mức thu nhập của người mại dâm nằm trong khoảng từ 8-12 triệu đồng một tháng Tuy nhiên, mức thu nhập của họ không ổn định do phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khách hàng, thời tiết, may mắn và những ngày Lễ, Tết Vì việc kiếm tiền của họ dễ dàng và bấp bênh nên họ cũng có thói quen chi tiêu phóng khoáng hơn những người khác, làm được nhiều thì tiêu nhiều, làm được ít thì tiêu ít, có rất ít chị em dành được tiền để phòng khi không có khách Họ phải gửi tiền cho gia đình nuôi chồng, nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già Đối với chị em dùng
ma túy thì tiền dành dụm chỉ đủ phục vụ cho nhu cầu hút hít của họ Vì vậy, vay lãi trở thành giải pháp “chống cháy” quen thuộc và dường như trở thành chuyện thường ngày của phụ nữ mại dâm Có nhiều lý do khiến phụ nữ mại dâm bước vào nhưng dù vào nghề với
lý do gì thì việc bỏ nghề là một hành trình đầy khó khăn Dù rằng đa số chị em khi làm công việc này đều có mong ước được bỏ nghề Tuy nhiên, việc họ đã quen với công việc, quen với cách sống, quen với mức thu nhập cao làm họ không thể dứt ra được Một số khác thì không thể bỏ nghề vì lệ thuộc vào ma túy, vì trình độ thấp, vì không biết làm việc
gì khác ngoài bán dâm Nên đa số chị em nghĩ đến việc bỏ nghề thường xảy ra khi họ đã sang tuổi 40 Một lý do nữa khiến người mại dâm không muốn bỏ nghề là vì những hỗ trợ
từ phía cộng động (1,5 triệu) và sự đánh đổi công khai tình trạng mại dâm của mình
Phụ nữ CHCĐB đã gặp rất nhiều khó khăn và rủi ro trong các lĩnh vực trong cuộc sống Những khó khăn/rủi ro này đã có ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội cuộc sống và hòa nhập nhóm đối tượng này Thực tế, Phụ nữ CHCĐB luôn có những nhu cầu chính đáng về vấn đề việc làm, sức khỏe và học tập
1.1.4.3 Điều kiện chăm sóc sức khỏe
Những phụ nữ CHCĐB có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc Họ thường sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm giảm đáng kể sức khoẻ của họ Điều này là
HUPH
Trang 26chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, họ không được quan tâm chữa trị bằng người giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế của nhóm phụ nữ này là rất thấp
Phụ nữ CHCĐB thường ít tham gia các loại bảo hiểm nên họ phải gánh chịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh, kể cả các chi phí trực tiếp và gián tiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với họ và đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội thoát khỏi vòng đói nghèo Trong khi đó khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế ) của nhóm phụ nữ này còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ
Tỉ lệ người bệnh trong các hộ gia đình nghèo thường chiếm tỉ lệ cao do họ thiếu thốn lương thực, thực phẩm, ăn uống không vệ sinh, thiếu tiền để chăm sóc sức khỏe của bản thân Người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo không chi nhiều cho chăm sóc sức khỏe
vì họ cần chi vào những khoản mục khác hơn, họ thường sử dụng nhiều dịch vụ y tế cũng như thuốc chữa bệnh rẻ tiền Như vậy, phụ nữ nghèo có thu nhập thấp thường chịu thiệt thòi hơn trong việc chăm sóc sức khoẻ
Phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe, một trong những lý do đó là do chi phí khám chữa bệnh cho những người nhiễm cao, đa số họ đều không có việc làm và thu nhập, hơn nữa ở Việt Nam vẫn là nước nghèo nên chưa có nhiều điều kiện để chi cho công tác điều trị HIV/AIDS Hơn nữa những người nhiễm HIV đến các cơ sở y tế họ bị bác sỹ và nhân viên y tế phân biệt, kỳ thị, nên cũng là một trong những yếu tố cản trở đến việc tiếp cận, khám và chữa bệnh cho những người nhiễm HIV Chính vì thế phụ nữ nhiễm HIV/AIDS thường không muốn đi khám và họ không kiểm soát được tình trạng bệnh tật của mình Đối với những Phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS sống xa cơ sở điều trị ARV hoặc ở một tỉnh không có chương trình/dự
án cung cấp ARV thì họ rất khó khăn trong việc tiếp cận điều trị ARV Bệnh nhân thường phải tự bỏ tiền làm xét nghiệm và nhiều khi phải đi đến các tỉnh và thành phố khác để làm các thủ tục xét nghiệm Thậm chí, nhiều người phải bỏ ra một số tiền khá lớn để mua thuốc với giá cao theo sự kê đơn của bác sỹ tư
Phụ nữ khuyết tật thiếu sự chăm sóc và hỗ trợ phù hợp trong gia đình và ngoài xã hội Những gia đình có phụ nữ khuyết tật thường có những hành vi chăm sóc, hỗ trợ đối với người khuyết tật rất khác nhau, nhưng phần lớn là những hành vi tiêu cực do ảnh hưởng của sự kỳ thị phân biệt đối xử Chẳng hạn, khi ốm không quan tâm chăm sóc, không đưa đi khám chữa bệnh, không quan tâm giáo dục cho họ những kỹ năng sống cần thiết, không biết được khả năng của người khuyết tật, không khuyến khích, động viên… Hơn nữa, có những gia đình mắng mỏ, đánh đập, bỏ đói không cho ăn, nhốt, xích…đặc biệt là phụ nữ tâm thần càng bị đối xử thậm tệ Hầu hết phụ nữ khuyết tật đều không có điều kiện chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc sức khỏe là một trong những vấn đề mà phụ nữ mại dâm quan tâm, đặc biệt là khám phụ khoa Vì công việc hàng ngày của họ là đi khách, nên nguy cơ lây nhiễm các bệnh tình dục
là rất cao, kể cả HIV/AIDS Vì kỳ thị mà người mại dâm đã không tiếp cận được với các dịch vụ y tế,
xã hội mà đáng ra họ được hưởng Sự kỳ thị tại cơ sở y tế sẽ làm cho người mại dâm ít quan tâm tới việc chăm sóc sức khỏe tình dục của bản thân (ví dụ, không chú trọng việc thương lượng dùng bao cao su với khách hàng và bạn tình), nên nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh qua đường tình dục sẽ
HUPH
Trang 27họ lại nhận được những ánh mắt dèm pha, khinh bỉ, những đối xử bất công, những lời bàn tán, chỉ trỏ
và mọi con mặt đều đổ dồn về phía họ Vì thế, nhiều khi họ chấp nhận tình trạng bệnh tật của mình hoặc đến những cơ sở y tế không đảm bảo chất lượng để khám chữa Những người làm mại dâm có quyền được chăm sóc sức khỏe như mọi công dân khác, được tôn trọng phẩm giá và được cung cấp các dịch vụ y tế một cách đúng đắn mà không bị trì hoãn, bị từ chối
Phụ nữ đơn thân cũng ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế bởi đa phần họ có kinh tế khó khăn Từ nghèo đói sinh ra bệnh tật, dẫn đến sức khỏe của phụ nữ đơn thân và con cái của họ (nếu có) cũng không được đảm bảo Khi ốm đau bệnh tật phụ nữ đơn thân rất vất vả bởi không có ai để chia sẻ trách nhiệm, bàn bạc giúp đỡ, một số không có bảo hiểm y tế Họ thường mua thuốc về tự chữa, chỉ đến bệnh viện khi bệnh đã quá nặng Phụ
nữ đơn thân rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng xã hội để cuộc sống của họ tốt hơn
Phụ nữ bị bạo lực gia đình thường chịu hậu quả nặng nề cả về thể chất và tinh
thần Tuy nhiên do đặc điểm cam chịu, nhịn nhục và tâm lý ngại “vạch áo cho người xem lưng”,“xấu chàng hổ ai” nên họ thường giấu đi tình trạng bị bạo lực của mình, không đi
khám chữa bệnh, không đi tư vấn tâm lý dẫn đến tình trạng sức khỏe của họ bị giảm sút, tinh thần sa sút, hoảng loạn, lo âu, thậm chí là trầm cảm Đây chính là một đặc điểm quan trọng nhân viên CTXH cần quan tâm để có cách can thiệp kịp thời
1.1.4.4 Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội
Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn Phụ nữ CHCĐB không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ
và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông, giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách
Thiếu tiếp cận những dịch vụ và hạ tầng cơ bản nhất, nhóm phụ nữ CHCĐB càng
dễ bị bệnh tật, và chính họ lại phải chi trả nhiều hơn cho chi phí khám chữa bệnh do thiếu những chế độ bảo hiểm, an sinh Chỉ cần bị bệnh nhẹ phải mua thuốc, cuộc sống của họ lập tức bấp bênh thiếu hụt Bệnh nặng, nhiều gia đình trở thành khánh kiệt phải bán hết tài sản đất đai chữa bệnh, hoặc chọn lựa không chữa trị vì quá tốn kém
Mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của nhóm phụ nữ CHCĐB rất hạn chế
do các nguyên nhân sau:
- Trình độ nhận thức của họ thấp, ít hiểu biết, các mối quan hệ giao lưu, giao tiếp hẹp, thiếu thông tin về các dịch vụ hỗ trợ
- Cơ chế không phù hợp, thủ tục hành chính phức tạp nên nhiều người ngại tìm đến các dịch vụ xã hội
- Rào cản, định kiến từ phía xã hội khiến họ e ngại trong việc tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản
Phụ nữ nghèo thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới Mặc dù trong khuôn khổ của dự án tín dụng cho người nghèo
HUPH
Trang 28rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường, đã làm cho phụ nữ nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn Thiếu tiếp cận với thông tin và chính sách làm cho phụ nữ nghèo trở thành nạn nhân của rất nhiều nhân tố: vay nặng lãi, mua vật tư chất lượng kém, nông sản/sản phẩm bị ép giá, thiếu hiểu biết về thị trường và công nghệ mới, không nắm vững chính sách và định hướng phát triển để có thể có những ứng xử thích hợp và nhạy bén hơn
Phụ nữ bị nhiễm HIV cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội như: vay vốn, tham gia các hoạt động cộng đồng, tiếp cận với những cơ hội được tiếp
cận với các dịch vụ vui chơi giải trí… Họ đặc biệt khó khăn trong việc tìm nguồn hỗ trợ
vốn vì không được cơ quan chức năng tạo điều kiện kinh doanh, sản xuất; khó tiếp cận chương trình vay vốn do chính sự thiếu tự tin của phụ nữ bị nhiễm HIV gắn với tình trạng
có HIV của họ và thiếu sự tin tưởng của cộng đồng về khả năng hoàn trả vốn Bên cạnh
đó, sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng đã cản trở người nhiễm HIV tiếp xúc với các dịch vụ tư vấn, chăm sóc và điều trị để bảo vệ họ và những người khác
Phụ nữ hoạt động mại dâm có thể gặp rủi ro về sức khỏe và các vấn đề xã hội như nguy cơ bị tổn thương, viêm nhiễm và lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, nguy cơ bị đưa vào Trung tâm – Giáo dục Lao động xã hội trong quá trình hoạt động mại dâm; gặp những rủi ro trong quan hệ với chủ hoặc người quản lý như bị chủ trừ, giữ tiền công, chửi mắng, lăng mạ Tuy nhiên, phụ nữ mại dâm lại rất khó tiếp cận các dịch vụ xã hội và các chương trình phòng, chống HIV do tính bất hợp pháp của hoạt động này Vì kỳ thị mà người mại dâm đã không tiếp cận được với các dịch vụ y tế, xã hội mà đáng ra họ được hưởng Sự kỳ thị tại cơ sở y tế sẽ làm cho người mại dâm ít quan tâm tới việc chăm sóc sức khỏe tình dục của bản thân nên nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh qua đường tình dục sẽ ngày càng tăng Khi mắc bệnh họ cảm thấy ái ngại khi phải đi khám chữa vì họ biết đến những nơi đó họ lại nhận được những ánh mắt dèm pha, khinh bỉ, những đối xử bất công, những lời bàn tán, chỉ trỏ Vì thế, nhiều khi họ chấp nhận tình trạng bệnh tật của mình hoặc đến những cơ sở y tế không đảm bảo chất lượng để khám chữa Hầu hết phụ nữ mại dâm không có bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội
Phụ nữ khuyết tật bị hạn chế trong việc tiếp cận tiếp cận các dịch vụ công cộng Phần lớn các dịch vụ công cộng ở Việt Nam hiện nay không phù hợp với người khuyết tật, nhà cửa, bệnh viên, trường học, các phương tiện giao thông công cộng, các công trình văn hóa, thể dục thể thao công cộng đều được xây dựng cho người không khuyết tật Như vậy, nhà nước, xã hội, cộng đồng đã “xao nhãng” một bộ phận công dân là người khuyết tật trong xã hội, hạn chế cơ hội tếp cận các dịch vụ công cộng của họ, không tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền bình đẳng như công dân khác trong xã hội
Phụ nữ bị mua bán khi trở về rất khó trong việc làm các thủ tục giấy tờ tại địa phương, khó khi đăng ký hộ khẩu Việc đăng ký hộ khẩu còn liên quan đến quyền cấp đất, nếu không có hộ khẩu thì họ không có quyền được nhận đất đai từ cộng đồng Vấn đề đó còn liên quan đến khả năng tiếp cận hầu hết các dịch vụ xã hội như làm giấy khai sinh cho con hay đăng ký cho con nhập học tại các trường địa phương Phụ nữ bị mua bán cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, có một số nạn nhân được hỗ trợ vay vốn, tuy nhiên như đã đề cập ở trên, do các cản trở về giấy tờ hộ khẩu cộng với nguồn ngân sách có hạn nên vốn cho nạn nhân vay là không nhiều, vì thế hiệu quả không cao
HUPH
Trang 29Từ những nguyên nhân phân tích ở trên đòi hỏi các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng phải nâng cao trách nhiệm để mang đến cho người dân nói chung và nhóm phụ
nữ CHCĐB nói riêng những dịch vụ xã hội cơ bản để họ cải thiện được môi trường sống như: nhà cửa, nước sinh hoạt, các thủ tục pháp lý, thông tin truyền thông, văn hóa, văn nghệ cần thiết, chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe…
1.1.4.5 Cơ hội và điều kiện học tập
Đa số phụ nữ CHCĐB là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái
Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; trung học cơ sở chiếm 37% Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn Nhìn chung, mức độ tham gia giáo dục của người nghèo thấp Vì cuộc sống nghèo khó, người nghèo phải lo vật lộn với cuộc sống hành ngày để mưu sinh Mặt khác, do người nghèo thường sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, địa hình hiểm trở, thiên nhiên khắc nghiệt nên ở những nơi đó rất thiếu các điều kiện cần thiết cho học tập và giáo dục
Trong giáo dục người khuyết tật nói chung, phụ nữ khuyết tật nói riêng gặp rất nhiều khó khăn như: đi lại từ nhà đến trường, từ trường về nhà; giao tiếp trong trường với thầy cô giáo, bạn bè; tham gia vào các hoạt động ở trường; cơ sở hạ tầng của nhà trường không phù hợp với người khuyết tật; sự kỳ thị và phân biệt đối xử nặng nề từ bạn bè cùng lớp (trêu chọc, giễu cợt); sự phân biệt đối xử của giáo viên; thiếu tài liệu, sách giáo khoa
và các phương tiện hỗ trợ giảng dạy, học tập cho người khuyết tật; phương pháp giảng dạy của giáo viên không phù hợp… Do những khó khăn trên nên trình độ văn hóa của người khuyết tật rất thấp, theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương bình và xã hội, có 12,5 % người khuyết tật biết đọc, biết viết; có 21,3% chưa tốt nghiệp tiểu học; 20, 5% người khuyết tật có trình độ phổ thông cơ sở; 24,13% có trình độ phổ thông trung học6
Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong hòa nhập học tập:
- Tự thân phụ nữ khuyết tật: Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn
- Rào cản xã hội: Phụ nữ khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan
6
HUPH
Trang 30giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi
Phụ nữ nhiễm HIV có những khó khăn chủ yếu trong hoạt động học tập mà họthường gặp phải là: Kỳ thị và phân biệt đối xử tại trường học từ bạn bè, thầy cô giáo, điều đó là xâm phạm tới quyền được học tập và gây tổn thương sâu sắc cho phụ nữ nhiễm HIV Bên cạnh đó, gia đình người nhiễm HIV/AIDS thường gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là khó khăn về kinh tế do phải trang trải các chi phí thuốc men, khám chữa bệnh Thực tế các chi phí liên quan đến học tập khá tốn kém (học phí, tài liệu học tập, cơ
sở vật chất…) Vì vậy, phụ nữ nhiễm HIV/AIDS càng gặp khó khăn khi phải chi phí các khoản liên quan đến học tập
Các nhóm phụ nữ khác như như phụ nữ bị mua bán, phụ nữ đơn thân, phụ nữ mại dâm, phụ nữ bị bạo lực….hầu như không có điều kiện học tập, phần lớn họ có trình độ học vấn thấp, phải bươn trải kiếm sống Cuộc sống vất vả mưu sinh, không có tiền đầu tư cho học tập, giao lưu…nên họ nghèo cả kiến thức, nghèo cả vốn liếng xã hội vì vậy dần dần họ càng trở nên thiếu năng lực tháo gỡ và thoát ra khỏi cuộc sống nghèo đói
1.1.4.6 Hôn nhân và gia đình
Khó khăn trong hôn nhân và gia đình chủ yếu xảy ra trong nhóm phụ nữ khuyết tật, phụ nữ mại dâm, phụ nữ nhiễm HIV/AIDS và phụ nữ bị mua bán
Phụ nữ nhiễm HIV gặp nhiều khó khăn trong vấn đề hôn nhân: Khi phát hiện mình bị nhiễm HIV những phụ nữ bị nhiễm đều gặp phải những khó khăn trong cuộc sống hôn nhân Nếu phụ nữ đó chưa lập gia đình có nguy cơ bị người yêu của mình chia tay và
họ thường quyết định sẽ không xây dựng gia đình, nếu có gia đình có thể bị ly hôn hoặc ly thân hay sống tách biệt khỏi gia đình
Trong hôn nhân và gia đình, phụ nữ khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong việc kết hôn và sinh con Do sức khỏe yếu vì bị khuyết tật họ không có hoặc ít có cơ hội giao tiếp, tiếp xúc với xã hội; bên cạnh sự tự kỳ thị về bản thân, sự kỳ thị và phân biệt đối xử của cộng đồng, xã hội… là những rào cản khiến cho phụ nữ khuyết tật khó thực hiện được quyền kết hôn của mình Khi đã kết hôn, phụ nữ khuyết tật cũng gặp phải không ít khó khăn như khó sinh con (đẻ khó, vô sinh, sảy thai, đẻ non); khó chăm sóc con; khó đảm bảo được cuộc sống gia đình; không được chồng thông cảm, chia sẻ, khuyến khích…
Ở Việt Nam việc kết hôn, sinh con và duy trì hôn nhân của người khuyết tật hiện nay đang gặp phải rất nhiều trở ngại Khó khăn lớn nhất là chăm sóc con cái và đảm bảo điều kiện sống gia đình Theo một báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) thực hiện: Trong những người khuyết tật đã kết hôn ở Thái Bình, thì có đến 38% cho rằng khó đảm bảo được điều kiện sống cho gia đình; 30% cảm thấy nuôi con rất vất vả và 10% sinh con bị dị tật bẩm sinh; 8% không hài lòng với đời sống tình dục và 5% thiếu sự thông cảm và khuyến khích từ vợ hoặc chồng Vì thế việc giúp những thanh niên khuyết tật những kỹ năng cần thiết để có việc làm, có thu nhập duy trì gia đình là một phần quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho hôn nhân và xây dựng gia đình
Đối với phụ nữ mại dâm, việc kết hôn hay duy trì hạnh phúc gia đình là một điều rất khó khăn Đối với phụ nữ mại dâm chưa kết hôn, họ khó tìm được người chồng ưng ý, trong thực tế rất nhiều người tình hoặc chồng của họ sau này là những người có tiền án,
HUPH
Trang 31nghiện ma túy, tham gia đường dây mua bán dâm… Hiện nay, rất nhiều phụ nữ rời bỏ gia đình ra thành phố kiếm sống và vì nhiều lý do khác nhau họ trở thành người bán dâm Khi trở về quê, nếu bị phát hiện ra thì nguy cơ tan vỡ gia đình là rất lớn Với con, phụ nữ mại dâm không dám nuôi con và luôn phải giấu con về công việc mình làm để giữ hình ảnh tốt đẹp của người mẹ
Họ thường thuê nhà ở cùng bạn bè, nhường quyền nuôi con cho chồng hoặc gửi bố mẹ nuôi Hàng tháng họ kiếm tiền gửi về cho con ăn học Đây là một sự thiếu hụt trong đời sống tình cảm của phụ nữ mại dâm và con của họ Tuy nhiên, họ không có sự lựa chọn, họ phải chấp nhận vì họ không đủ thời gian và điều kiện để chăm sóc cho con
Phụ nữ bị mua bán trở về, đặc biệt là những cô gái trẻ gặp cản trở trong việc kết hôn do sự kỳ thị của cộng đồng xã hội, cho rằng bị mua bán đồng nghĩa với việc làm gái mại dâm Vì vậy, nếu vẫn sống tại địa phương hầu như họ không có cơ hội xây dựng gia đình Đối với phụ nữ bị mua bán để làm chồng xứ người họ có nỗi đau phải chịu đựng là việc xa rời những đứa con thân yêu của mình
Như vậy chúng ta thấy rằng các phụ nữ CHCĐB gặp khó khăn trong nhiều lĩnh vực, nếu những khó khăn này không được hỗ trợ kịp thời có thể dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến họ Chính vì lý do đó nên các nhân viên công tác xã hội, tác viên phát triển cộng đồng là những người thúc đẩy và tăng cường các dịch vụ xã hội để họ có thể khắc phục được những khó khăn nêu trên và vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng tốt hơn
1.1.4.7 Kỳ thị và phân biệt đối xử
Cản trở lớn nhất với phụ nữ CHCĐB là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng nó có thể đẩy người khuyết tật ra bên lề của cuộc sống Kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học kỹ thuật - nó là vấn đề thuộc tâm lý, và sự ý thức sâu xa giá trị sống của con người
Phụ nữ nhiễm HIV bị gia đình và cộng đồng xã hội phân biệt, kỳ thị: hầu hết những phụ nữ nhiễm HIV đều bị gia đình và cộng đồng kỳ thị và phân biệt đối xử, điều này khiến cho bản thân những phụ nữ bị nhiễm chịu những hậu quả nặng nề về mặt tâm
lý, sức khỏe và khó khăn trong việc giao tiếp tạo lập mối quan hệ với những người xung quanh Có những phụ nữ do bị gia đình, cộng đồng kỳ thị và phân biệt đối xử nên đã khiến
họ có những hành vi tiêu cực như: tự tử, sử dụng ma túy, trả thù đời và đàn ông bằng cách
để cho HIV lây sang những người khác… Sự kỳ thị làm tổn thương lòng tự trọng của phụ
nữ nhiễm HIV Họ cảm thấy nghi ngờ, chán ghét chính bản thân mình và cảm thấy rất cô độc vào lúc họ thực sự cần sự hỗ trợ từ người khác Điều này gây tác động nghiêm trọng tới hành vi chăm sóc sức khỏe của bản thân phụ nữ nhiễm HIV Họ có thể không quan tâm tới bảo vệ sức khỏe bản thân và của chồng hoặc bạn tình Như vậy sự kỳ thị không chỉ ảnh hưởng tới bản thân phụ nữ nhiễm HIV mà còn ảnh hưởng tới người khác
Phần đông trong xã hội và cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về quyền và khả năng của người khuyết tật, họ cho rằng người khuyết tật là những người “không bình thường”, không có khả năng thực hiện các quyền cơ bản của công dân như quyền hôn nhân gia đình, quyền học tập, quyền có việc làm…Bản thân phụ nữi khuyết tật, gia đình
họ và cộng đồng đều định kiến cho rằng người khuyết tật là những người “không bình thường” nên họ không thể có cuộc sống bình thường: học tập, đi làm, kết hôn, sinh con, nuôi dạy con như những người khác Mọi người không nhận thức được đó là những quyền
cơ bản, tự nhiên của một con người trong đó có người khuyết tật Người khuyết tật phải
HUPH
Trang 32chịu các hình thức phân biệt đối xử tàn tệ khác như: nhốt, xích người khuyết tật trong nhà
để họ không thể ra ngoài, bị buộc tội làm xấu mặt gia đình với hàng xóm; bỏ mặc không chăm sóc, không cho ăn uống; phụ nữ khuyết tật bị người không khuyết tật cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục
Phụ nữ hoạt động mại dâm luôn phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử trong nhiều bối cảnh khác nhau và từ nhiều người khác nhau: gia đình, cộng đồng, nơi họ làm việc, trong các cơ sở y tế, khách làng chơi, ma cô (chủ chứa/bảo kê), cán bộ thực thi pháp luật và cán bộ trung tâm lao động xã hội ….Cho dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, trong bất cứ mối quan hệ nào thì người mại dâm cũng đều chịu sự kỳ thị và phân biệt đối
xử của những người xung quanh Chính vì vậy đã làm cho họ tự kỳ thị bản thân Họ che giấu công việc với gia đình và người thân
Những nhóm phụ nữ khác như phụ nữ bị mua bán, phụ nữ đơn thân… cũng chịu
sự kỳ thị từ phía gia đình, cộng đồng xuất phát từ những định kiến xã hội Chính từ những
kỳ thị và phân biệt đối xử đó đã kéo theo những khó khăn về tâm lý, kinh tế, cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục và những dịch vụ xã hội khác Những khó khăn của bản thân, gia đình
và sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng đã đẩy nhiều phụ nữ yếu thế ra bên lề của cuộc sống Vì vậy, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với các đối tượng yếu thế từ trong gia đình, trong trường học, trong các cơ sở y tế, trong các cơ sở sử dụng lao động, trong cộng đồng…sẽ giúp cho các đối tượng yếu thế có được sự tự tin cần thiết để tham gia các hoạt động xã hội, hòa nhập cộng đồng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Với nhiều chính sách xã hội ngày càng hoàn thiện và nâng cao, Nhà nước ta cũng rất quan tâm và từng bước cải thiện, hỗ trợ nâng cao chất lượng sống về mọi mặt cho phụ
nữ nói chung, phụ nữ CHCĐB nói riêng Tuy nhiên so với thực tế thì những nhóm phụ nữ này vẫn cần rất nhiều sự hỗ trợ để cải thiện cuộc sống, nâng cao dân trí, được cung cấp nhiều loại dịch vụ Việc này không chỉ trông chờ vào sự giúp đỡ của cấp trung ương mà còn cả sự giúp đỡ của các địa phương, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các cộng đồng dân cư chung tay giúp đỡ
1.1.5 Nhu cầu cu ̉ a phu ̣ nữ có hoàn cảnh đặc biệt
Như những người khác, phụ nữ CHCĐB cũng có những nhu cầu cơ bản về giáo dục, việc làm, được chăm sóc sức khỏe, hôn nhân, tham gia các hoạt động xã hội, được tôn trọng các quyền cơ bản và sống hòa nhập cộng đồng…
1.1.5.1 Nhu cầu được hỗ trợ về nhà ở
Phụ nữ CHCĐB đa số là người nghèo, điều kiện sống rất thấp, nhà ở chật chội, tạm bợ Họ không có đủ thu nhập để cải thiện nhà ở của mình Một số phải thuê nhà để ở như phụ nữ nghèo di cư từ nông thôn ra thành phố, phụ nữ mại dâm, phụ nữ bị mua bán… Nhìn chung, họ đều có nhu cầu được hỗ trợ để dựng nhà ở khang trang, sạch sẽ
Phụ nữ CHCĐ có những trường hợp không có nhà ở, không có gia đình hoặc gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hộ nghèo thì cần quan tâm huy động mọi nguồn lực
để cung cấp nơi tạm trú, nơi ở lâu dài cho nạn nhân Việc huy động nguồn lực thông qua
hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm bằng tiền hoặc ngày công, nguyên vật liệu, lồng ghép trong các chương trình như: nhà Tình thương, nhà Đại đoàn kết của các tổ chức
HUPH
Trang 33đoàn thể xã hội như Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ và chương trình xóa đói giảm nghèo Có một chỗ ở ổn định, đảm bảo điều kiện sống tối thiểu sẽ tạo điều kiện để họ yên tâm lao
động tạo thu nhập, chăm sóc con cái và gia đình
Hỗ trợ về nhà ở là một chủ trương đúng đắn và là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước cần triển khai các chương trình hỗ trợ người nghèo một cách sâu rộng đến cơ sở, địa bàn dân cư và các tầng lớp nhân dân Trong đó, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể xã hội quyết tâm cao trong việc tập trung vận động, ủng hộ thêm kinh phí để hộ nghèo được xây dựng nhà ở mới, ổn định cuộc sống và tự vươn lên trong cuộc sống
1.1.5.2 Nhu cầu về y tế
Được chăm sóc, đảm bảo sức khỏe và thông tin thường xuyên về sức khỏe là một trong những nhu cầu cần thiết cơ bản đối với phụ nữ CHCĐ Thực tế cho thấy rằng các nhóm phụ nữ này ít có điều kiện để được tiếp cận với các dịch vụ thăm khám sức khỏe cơ bản chứ chưa dám nói đến là những dịch vụ thăm khám sức khỏe cao cấp và thường xuyên Họ sống trong điều kiện khó khăn về kinh tế, về môi trường tự nhiên, về vốn hiểu biết xã hội nên càng khó khăn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mình Điều này làm cho phụ nữ CHCĐ có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao, sức khỏe nhanh giảm sút và khả năng kháng bệnh tật thấp… Vì vậy việc hỗ trợ cho phụ nữ CHCĐ thay đổi được nhận thức, quan điểm xã hội của mình cũng như tiếp cận được với các dịch chăm sóc sức khỏe cơ bản thực sự là cần thiết và hữu ích
Phụ nữ khuyết tật vốn được coi là những người bị hạn chế về mặt sức khỏe nên nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của họ càng cao Nếu không được chăm sóc y tế đầy đủ trước mắt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, sau đó là cuộc sống tinh thần lo lắng, mệt mỏi, rồi những ảnh hưởng đến việc làm, học tập do tình trạnh sức khỏe kém Việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ khuyết tật không chỉ được quan tâm qua việc hỗ trợ các chính sách về bảo hiểm y tế, thẻ khám chữa bệnh, hỗ trợ các phương tiện trợ giúp (chân, tay giả, máy trợ thính, gậy dò đường…) mà còn ở các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật để họ có được một cuộc sống mạnh khỏe, trọn vẹn
Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu được chăm sóc đầy đủ về y tế như được tiếp cận điều trị ARV, thuốc điều trị, tư vấn dinh dưỡng, sức khoẻ, phòng ngừa lây nhiễm cho gia đình và cộng đồng; hỗ trợ kinh phí điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội và trang trải các chi phí y tế khác; đào tạo đội ngũ chăm sóc bệnh nhân HIV ở cộng đồng và gia đình… Ngoài ra họ còn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ tinh thần: được tiếp cận các dịch vụ tham vấn tâm lý giải toả những căng thẳng, khủng hoảng tinh thần khi biết bị nhiễm HIV; được tham gia các hoạt động xã hội khẳng định mình là người có ích cho xã hội
Phụ nữ bị mua bán phải chịu đựng của quá trình bị khai thác, bóc lột hay lạm dụng nên vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục… cần được ưu tiên, quan tâm Việc điều trị, chăm sóc sức khỏe cần được triển khai trong giai đoạn ban đầu, tại cơ sở tiếp nhận, cơ sở hỗ trợ nạn nhân và lâu dài tại cộng đồng Với phụ nữ bị mua bán vì mục đích tình dục cần được thăm khám các bệnh lây qua đường tình dục, với những trường hợp không may bị nhiễm HIV thì cần được giới thiệu ngay đến các cơ sở y tế hay các chương trình hỗ trợ tại địa phượng Các điều trị về y tế cũng phải đạt được mục tiêu cả về nhu cầu tâm lý, sinh lý của nạn nhân, giáo dục, hướng dẫn cho nạn nhân về các bệnh, nguyên nhân và cách điều trị một cách phù hợp
HUPH
Trang 34Phụ nữ mại dâm cũng gặp rất nhiều vấn đề về sức khỏe như dễ bị lây các bệnh qua đường tình dục, nguy cơ nhiễm HIV rất cao do đặc thù công việc Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ y tế đối với họ là điều khó khăn do định kiến và sự kỳ thị của cộng đồng xã hội, đặc biệt là sự kỳ thị và phân biệt đối xử tại các cơ sở y tế Vì vậy, thay đổi cách nhìn nhập, chủ động cung cấp dịch vụ y tế cho nhóm đối tượng này là rất cần thiết để họ có thể kiểm soát được sức khỏe cũng như hạn chế được tình trạng bệnh của họ
Các nhóm phụ nữ khác như phụ nữ bị bạo lực gia đình, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe, tiếp cận dịch vụ y tế mặc
dù họ cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này tới bản thân họ cũng như tương lai của họ và gia đình nhưng do thu nhập thấp nên họ đành phải chấp nhận Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ, giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau
1.1.5.3 Nhu cầu về giáo dục
Hầu hết những phụ nữ CHCĐ không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Trình độ học vấn thấp là đặc điểm chung của nhóm phụ nữ này, đặc biệt ở nhóm phụ nữ nghèo, phụ nữ khuyết tật tỷ lệ thất học, mù chữ lại càng cao Có tình trạng như vậy là do đa số họ xuất thân từ những gia đình nghèo, không thể trang trải được các chi phí về học tập như tiền học phí, tiền sách vở Tuy vậy, họ vẫn có nhu cầu được học tập, nâng cao trình độ hiểu biết
Với phụ nữ khuyết tật, giáo dục giúp họ tự tin trong cuộc sống, khẳng định bản thân để hòa nhập xã hội Do vậy, dù khuyết tật ở dạng nào, mức độ nặng hay nhẹ, phụ nữ khuyết tật luôn mong muốn được tham gia giáo dục, học tập ở tất cả các cấp học từ thấp đến cao, bên cạch kiến thức văn hóa, kiến thức nghề nghiệp, họ mong muốn được trang bị những kiến thức về kỹ năng sống giúp họ hòa nhập trong cuộc sống
Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu học tập nâng cao trình độ, học nghề; được các cấp chính quyền can thiệp, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử tại trường học; được hỗ trợ kinh phí liên quan đến học tập bởi họ phải chịu gánh nặng cho chi phí chữa bệnh và trang trải cuộc sống Khi được học tập, nâng cao trình độ họ sẽ tự tin hơn để hòa nhập cộng đồng
Phụ nữ bị mua bán nếu tiếp tục đi học họ mong muốn được hỗ trợ tiền học phí, tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập Việc hỗ trợ học văn hóa luôn là một phần của
hỗ trợ tái hòa nhập đối với nạn nhân bị mua bán trở về Trình độ văn hóa thấp là một trong những nguyên nhân khiến họ bị lừa gạt, lôi kéo, trở thành nạn nhân Vì vậy, việc nâng cao trình độ, hiểu biết cho phụ nữ là cách tốt nhất giúp họ không trở thành nạn nhân của tệ buôn bán người
Các nhóm phụ nữ khác cũng đều có nhu cầu được học tập, nâng cao trình độ, được trang bị kiến thức về kỹ năng sống, các kiến thức về làm ăn kinh tế…Bởi thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật, khó tiếp cận các dịch vụ
y tế và các dịch vụ xã hội khác Được học tập là nhu cầu thiết yếu của mỗi con người và điều đó càng đặc biệt quan trọng đối với nhóm phụ nữ CHCĐ để họ có có thể thoát nghèo,
tự tin hòa nhập cộng đồng
1.1.5.4 Nhu cầu được tiếp cận với các dịch vụ xã hội
Phụ nữ CHCĐ vì nhiều lý do khác nhau họ rất khó tiếp cận các dịch vụ xã hội, bao gồm các dịch vụ về nhà ở, y tế, giáo dục, dịch vụ về giải trí, thông tin, dịch vụ kinh tế,
HUPH
Trang 35việc làm, các dịch vụ công cộng… Chính việc hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội khiến họ càng trở nên yếu thế hơn, nhất là trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay
Những nhóm phụ nữ này mong muốn được tiếp cận với các dịch vụ xã hội như khám chữa bệnh, hỗ trợ vốn vay, đào tạo nghề, giải quyết việc làm… Hiện nay việc tiếp cận việc làm và vốn vay cho nhóm đối tượng yếu thế gặp nhiều khó khăn Theo khảo sát của Bộ LĐTBXH tại 7 tỉnh, thành phố với hơn 1500 người dân thuộc nhóm đối tượng yếu thế cho thấy tỷ lệ được vay vốn của các nhóm đối tượng yếu thế là khoảng 17%, trong khi
đó nhu cầu vay vốn lên tới 85,5%7
Phụ nữ nghèo rất cần cung cấp các khoản vay vốn để giúp họ tự khởi tạo các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ Cách nhìn về tín dụng cho người nghèo đã thay đổi Mọi người nhận ra rằng còn có quá nhiều người nghèo, và ngoài sự trợ giúp của nhà nước từ ngân sách quốc gia, họ còn phải tự giúp đỡ lẫn nhau Họ có nhiều nhu cầu như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm,… vì những người nghèo vẫn có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng lại không dễ tiếp cận được các tổ chức tài chính chính thức vì có quá nhiều thủ tục ràng buộc
Đối với phụ nữ bị mua bán họ cần các dịch vụ hỗ trợ theo từng giai đoạn để họ dần thích nghi và hòa nhập cộng đồng Ví dụ, ngay sau khi trở về họ cần các dịch vụ hỗ trợ như: Nơi tạm lánh an toàn, bảo mật thông tin, an ninh, nơi ở, các nhu cầu thiết yếu (ăn, uống, mặc), tham vấn khủng hoảng, tư vấn phục hồi tâm lý, khám và điều trị bệnh, tình trạng pháp lý… Để hòa nhập cộng đồng họ cần các dịch vụ hỗ trợ tiếp theo như: Trợ giúp
về giấy tờ: chứng minh thư, khai sinh cho con…; việc làm, tư vấn định hướng nghề nghiệp; chăm sóc y tế - bao gồm cả trợ giúp tâm lý; trợ giúp pháp luật (các thủ tục đang thực hiện); trợ giúp giáo dục; vay vốn để kinh doanh nhỏ, chăn nuôi…
Các nhóm phụ nữ khác tùy thuộc vào đặc điểm hoàn cảnh mà họ có các nhu cầu tiếp cận dịch vụ khác nhau Tuy nhiên, xét về tổng thể thì họ có nhu cầu tiếp cận các loại dịch vụ xã hội cơ bản sau:
- Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm
sóc, nhà ở cho mọi đối tượng yếu thế, đặc biệt là phụ nữ khuyết tật mất khả năng lao động phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực
- Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức
năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng
- Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình
thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt
- Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất
quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao, nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng
- Dịch vụ công cộng: phục hồi chức năng, nhà dịch vụ trợ giúp, nhà chăm sóc và nuôi dưỡng, dịch vụ thức ăn, chăm sóc ban ngày…
HUPH
Trang 36Thực tế hiện nay cho thấy các tổ chức xã hội, cộng đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng và tham gia tốt hơn trong các hoạt động hỗ trợ và cung cấp các dịch xã hội cho những đối tượng yếu thế Nhiều mô hình dịch vụ hỗ trợ người nghèo, nhóm đối tượng dễ
bị tổn thương dựa vào cộng đồng được hình thành phát triển có hiệu quả, có khả năng nhân rộng
1.1.5.5 Nhu cầu học nghề, có việc làm
Phụ nữ CHCĐ hều hết là thu nhập thấp, công việc bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống Chính vì điều kiện kinh tế khó khăn nên kéo theo một loạt các khó khăn khác như không có tiền khám chữa bệnh, không có điều kiện học tập, không có vật thế chấp để vay vốn làm ăn… Chính vì vậy, việc làm là một trong những nhu cầu bức thiết của phụ nữ CHCĐ
Theo kết quả khảo sát người khuyết tật do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành năm 2005: Tỷ lệ học nghề còn thấp, có 87,9% người khuyết tật không được học nghề, 12,1% người khuyết tật được học nghề và tập trung ở thành phố 14,0% so với 10,4% người khuyết tật ở nông thôn.Về việc làm: Có khoảng 58% người tàn tật tham gia làm việc
Phụ nữ khuyết tật có nhu cầu rất lớn về việc làm vì không có việc làm, phụ nữ khuyết tật không có cơ hội để cải thiện cuộc sống, khó khăn về kinh tế sẽ kéo theo những khó khăn khác như không có điều kiện tiếp cận thông tin, không thể học tập, không thể khám chữa bệnh… Họ luôn ở trong cái vòng luẩn quẩn về nghèo đói, khuyết tật và nghèo đói Do vậy, việc làm không chỉ giúp cuộc sống của phụ nữ khuyết tật tốt hơn về vật chất
mà cả tinh thần, việc làm không chỉ đem đến thu nhập, nâng cao kỹ năng mà còn giúp người khuyết tật tự tin hơn trong cuộc sống Nhu cầu có việc làm của người khuyết tật rất cao không chỉ dừng lại ở những người khuyết tật vận động, khiếm thính, khiếm thị mà ngay cả người khuyết tật nặng, thiểu năng trí tuệ, gia đình và bản thân họ vẫn muốn được
đi làm Khi đã đào tạo nghề cho phụ nữ khuyết tật, để giúp cho họ có việc làm ổn định thì những tổ chức của người khuyết tật và các tổ chức tín dụng cần có chương trình cho phụ
nữ khuyết tật vay vốn, để giúp họ có được trang thiết bị cơ bản để họ bắt đầu công việc của mình
Với những phụ nữ bình thường tìm kiếm việc làm đã gặp khó khăn còn đối với những phụ nữ nhiễm HIV/AIDS họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm
và cơ hội tiếp cận với thị trường lao động Trên thực tế nhiều cơ quan doanh nghiệp vẫn phân biệt đối xử và không muốn nhận người nhiễm HIV/AIDS vào làm tại cơ quan đơn vị của mình Nói chung nhu cầu của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS trong hoạt động tạo thu nhập là: nhu cầu có việc làm, nhu cầu đào tạo nghề, nhu cầu hỗ trợ về vốn để phát triển kinh tế;
có chính sách tại nơi làm việc cho người nhiễm HIV dành thời gian đi khám chữa bệnh định kỳ…
Đối với phụ nữ bị mua bán trở về hầu hết họ không/chưa có việc làm hoặc chưa
có một nghề ổn định, vì vậy họ mong muốn được hỗ trợ học nghề Việc học nghề có thể thực hiện tại cơ sở dạy nghề hoặc tại địa phương Chương trình học nghề cần ngắn gọn, thiết thực, tập trung, đảm bảo thực hiện nguyên tắc tôn trọng sự riêng tư của nạn nhân ở nơi học văn hóa, học nghề Việc nạn nhân tham gia học nghề cần được đánh giá trong kế hoạch tái hòa nhập Với hoàn cảnh cá nhân của mình, nạn nhân cần được các cơ quan, tổ chức phát hiện các nguồn việc làm, liên lạc, hỗ trợ giới thiệu việc làm cho nạn nhân Việc
HUPH
Trang 37làm có thể tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ quy mô nhỏ, tại cơ sở việc làm của các hộ gia đình Nhà nước có chính sách giảm thuế cho các doanh nghiệp tiếp nhận đối tượng phụ nữ bị mua bán Việc hỗ trợ tạo việc làm cho nạn nhân ngoài nhu cầu trợ giúp về vốn, giới thiệu nơi tiếp nhận lao động, họ cần được theo dõi, giám sát tiếp theo để ổn định lâu dài
Đa số phụ nữ mại dâm khi làm công việc này đều có mong ước được bỏ nghề, tuy nhiên điều đó không hề dễ dàng bởi phần lớn trong số họ có trình độ học vấn thấp, không
có nghề nghiệp chuyên môn nên việc tìm kiếm một công việc mới đối với họ là rất khó khăn Những công việc họ có thể làm ngoài việc bán dâm lại có thu nhập quá thấp, không
đủ chi phí cho bản thân chứ chưa nói đến việc gửi tiền về cho gia đình Điều đó khiến họ
có xu hướng chung là quay lại “nghề” cũ Một lý do nữa khiến người mại dâm không muốn bỏ nghề là vì những hỗ trợ từ phía cộng động (1,5 triệu) và sự đánh đổi công khai tình trạng mại dâm của mình Vì vậy, đồng thời với việc xóa bỏ sự kỳ thị là việc quan tâm đến dạy nghề, tạo việc làm phù hợp cho nhóm phụ nữ mại dâm
Đối với phụ nữ nghèo, cùng với nhiều chính sách trợ giúp cho người nghèo, chính sách dạy nghề, tạo việc làm để người nghèo ổn định thu nhập là một trong những vấn đề căn bản cần được quan tâm Nếu thực hiện tốt thì sẽ mang lại hiệu quả đáng khích lệ, trực tiếp tác động và làm thay đổi đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo Để làm được điều đó, chính quyền đoàn thể các cấp phải thật sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong triển khai thực hiện chính sách này và tích cực tìm giải pháp tạo việc làm tại chỗ cho người nghèo, trong đó có phụ nữ nghèo
Dạy nghề và tạo việc làm cho phụ nữ CHCĐ là một trong những vấn đề quan trọng cần quan tâm giải quyết Đó là tiền đề để những nhóm phụ nữ này tiếp cận tốt hơn với dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục và các dịch vụ xã hội khác… nhằm từng bước cải thiện cuộc sống, tự tin hòa nhập cộng đồng
1.1.5.6 Nhu cầu khác
Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, phụ nữ CHCĐ còn có nhu cầu hỗ trợ tâm lý để vượt qua những khủng hoảng, lo âu, căng thẳng, mặc cảm, sợ hãi… Với những phụ nữ có khủng hoảng nghiêm trọng thì cần được tham vấn khủng hoảng hoặc trị liệu tâm lý Hỗ trợ tâm lý còn bao gồm cả những hỗ trợ truyền thông giảm kỳ thị
Ngoài ra phụ nữ CHCĐ có nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội, được thụ hưởng các thành quả lao động do chính họ làm ra, được tham gia quá trình ra quyết đinh như: quyết định hôn nhân với người họ yêu thương, quyết định số con, số lần sinh con, quyết định nghề nghiệp Phụ nữ CHCĐ cũng có nhu cầu được khẳng định và được đánh giá, nhìn nhận một cách công bằng những thành quả mà họ đã làm ra, đã đóng góp trong
đó có cả công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái và việc lao động sản xuất, kinh doanh tạo thu nhập cho gia đình; việc tham gia các hoạt động xã hội…
Hơn nữa phụ nữ CHCĐ có nhu cầu được tôn trọng, được chấp nhận trong xã hội Tiền bạc hay sức khỏe dường như không quan trọng bằng sự cảm thông, chia sẻ Họ mong muốn xã hội nhìn mình với con mắt thiện cảm hơn, thấu hiểu hơn và coi đó là điều quan trọng để giúp họ có được sự tự tin và nghị lực vươn lên trong cuộc sống
1.2 CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB
HUPH
Trang 38Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB Trên cơ sở của khái niệm công tác xã hội và xuất phát từ đặc điểm đối tượng trợ giúp, khái niệm về công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB được hiểu như sau:
“Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB là quá trình trợ giúp những phụ nữ có vấn đề/hoàn cảnh đặc biệt cùng gia đình và cộng đồng họ nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu, tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giải quyết vấn đề và phòng ngừa sự tái phát của các vấn đề xã hội đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội”
Nói cách khác, công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB là quá trình tăng năng lực cho
cá nhân, nhóm phụ nữ và cộng đồng nhằm thay đổi thái độ, hành vi, ngăn ngừa tệ nạn xã hội, giúp phụ nữ tự giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình CTXH với phụ
nữ có HCĐB được xem là một bộ phận của Công tác xã hội chung hướng tới các thân chủ
là những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và dễ bị tổn thương
Để công tác xã hội đi theo hướng chuyên môn hoá thì cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội với phụ nữ ở các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội Có như vậy mới tăng cường hiệu quả của công việc, phát huy tối đa tiềm năng của các cá nhân, gia đình phụ nữ CHCĐB và cộng đồng,
xã hội trong quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện cuộc sống
1.2.2 Mục đích của công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB
Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB nhằm giúp phụ nữ nâng cao năng lực, tăng khả năng ứng phó và kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn của họ, đáp ứng những yêu cầu
cơ bản cho nhóm phụ nữ này, giúp cộng đồng xã hội ổn định và phát triển
Phụ nữ CHCĐB là những người có chức năng xã hội suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: do tình trạng sức khỏe, do kinh tế yếu kém, do có mâu thuẫn trong các mối quan hệ xã hội… Vì vậy, mục đích của công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB là nhằm thiết lập mối quan hệ tốt với thân chủ (đối tượng), giúp thân chủ hiểu rõ bản thân, hoàn cảnh; xác định lại mối tương quan với những người xung quanh; giải tỏa tâm lý và cảm xúc tiêu cực; vượt qua những cú sốc về tâm lý xã hội, trở lại trạng thái cân bằng; tăng khả năng huy động và vận dụng các nguồn lực, tạo sự thay đổi cho bản thân
Nói cách khác, công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB nhằm phục hồi, củng cố và phát triển các chức năng xã hội của các nhóm phụ nữ đặc thù thông qua sự tham gia tích cực của cá nhân vào quá trình giải quyết vấn đề Nó nhấn mạnh đến sức mạnh của đối tượng nhiều hơn là chỉ chú ý đến những khó khăn của họ Khi đối tượng gặp khó khăn, họ thường chỉ nhìn thấy sự yếu kém của mình và có suy nghĩ tiêu cực với bản thân cũng như với bối cảnh xung quanh Nhờ sự phân tích của nhân viên xã hội mà đối tượng mới có thêm động lực vượt qua những khó khăn đó và có cơ sở để xây dựng phương hướng cho cách giải quyết vấn đề
Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề của phụ nữ Nó chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của người phụ nữ nhằm đảm bảo một phần an sinh xã hội cho đối tượng
Mục đích cụ thể của công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB là:
- Giúp người phụ nữ thoả mãn nhu cầu và tăng cường chất lượng cuộc sống, giảm
HUPH
Trang 39- Giúp phụ nữ đáp ứng được nhu cầu thông qua việc phát huy những tiềm năng, nội lực của mình và tiềm năng trong xã hội để giải quyết vấn đề của chính họ
- Giúp phụ nữ xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, hỗ trợ cho nhu cầu của phụ nữ Công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB tác động trực tiếp vào cá nhân, nhóm và cộng đồng nhưng không phải làm thay họ mà chỉ hỗ trợ bằng những cách khác nhau để họ tự giải quyết các vấn đề của chính mình, tức là thực hiện phương châm “cho đối tượng cần câu thay vì cho xâu cá"
1.2.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ CHCĐB
Vớ i đă ̣c thù là nghề trợ giúp xã hô ̣i, công tác xã hô ̣i hướng tro ̣ng tâm nghề nghiê ̣p đến viê ̣c giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cô ̣ng đồng phu ̣c hồi, phát triển các chức năng và đa ̣t được những giá tri ̣ phù hợp trong xã hô ̣i Các chức năng của công tác xã hô ̣i được thực hiện thông qua viê ̣c thực hiê ̣n các vai trò của nhân viên công tác xã hô ̣i trong tiến trình
làm viê ̣c với các thân chủ
Mỗi đối tượng khác nhau la ̣i có những vấn đề cu ̣ thể khác nhau Vì thế vai trò của nhân viên công tác xã hô ̣i trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cu ̣ thể cũng có sự khác nhau Trong công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB, nhân viên công tác xã hội cần thực hiện tốt các vai trò sau:
1.2.3.1 Vai trò người kết nối nguồn lực
Đây là một vai trò quan trọng của nhân viên CTXH với tư cách là một người trung gian kết nối thân chủ với các nguồn lực cần thiết Nguồn lực này có thể là các cá nhân, tổ chức, ban ngành, đoàn thể có liên quan đến vấn đề cần giải quyết của nạn nhân; hoặc cũng có thể là các dịch vụ sẵn có trong cộng đồng Nhân viên CTXH giúp thân chủ nhận thức, hiểu biết các dịch vụ và tiếp nhận các dịch vụ, đồng thời tìm ra phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề
Thân chủ có thể có nhiều nhu cầu cần trợ giúp khác nhau như hỗ trợ về mặt tâm lý, pháp lý, chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề… Bởi vậy, để đảm bảo được vai trò này, nhân viên CTXH cần hiểu rõ các dịch vụ, lựa chọn dịch vụ phù hợp với thân chủ của mình và trực tiếp giúp họ tiếp cận với các dịch vụ Chẳng hạn:
- Đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình, nhân viên công tác xã hô ̣i thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của những nạn nhân của bạo lực gia đình để điều phối, cung cấp các di ̣ch vu ̣ phù hợp Tùy vào từng điều kiện cụ thể mà nhân viên công tác
xã hội điều phối các dịch vụ một cách linh hoạt và phù hợp như giới thiệu cho họ những
cơ sở và dịch vụ xã hội như các trung tâm tư vấn, địa chỉ tham vấn, nhà tạm lánh…
- Đối với phụ nữ bị mua bán trở về nhân viên CTXH cần kết nối để nạn nhân tiếp cận với các dịch vụ xã hội ở địa phương, đặc biệt trong học tập, chăm sóc sức khỏe và việc làm Khi hỗ trợ nạn nhân sử dụng các dịch vụ, nhân viên CTXH có thể phải trao đổi với những người cung cấp dịch vụ về hoàn cảnh của nạn nhân để họ có cách tiếp cận phù hợp, tránh làm tổn thương nạn nhân
- Đối với phụ nữ khuyết tật nhân viên CTXH cần kết nối với các ban, ngành để hỗ trợ phụ nữ những kiến thức pháp luật, y tế, về chế độ, chính sách an sinh xã hội; tạo điều kiện để phụ nữ khuyết tật được giúp đỡ phát triển kinh tế như được vay vốn, dạy nghề, tạo
HUPH
Trang 40việc làm; tìm kiếm các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ phụ nữ khuyết tật; hỗ trợ phụ nữ khuyết tật làm các thủ tục cần thiết để nhận được sự hỗ trợ…
Để thực hiện vai trò này, nhân viên xã hội phải biết nguồn lực của xã hội, đánh giá nhu cầu của đối tượng đối với các nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài Nhân viên
xã hội phải hết sức năng động, sáng tạo trong việc tìm nguồn tài nguyên và tạo nên mối liên kết giữa đối tượng với nguồn tài nguyên đó
1.2.3.2 Vai trò người tham vấn
Vai trò của nhân viên CTXH là nhà tham vấn cho những phụ nữ gặp vấn đề khó khăn mà tự họ chưa giải quyết được Nhân viên CTXH gần gũi, gặp gỡ, tiếp xúc thân chủ, giúp họ tự tin, phát huy tiềm năng giải quyết vấn đề của chính họ Lắng nghe một cách tích cực với kỹ năng phản ánh, khuyến khích, đặt câu hỏi thích hợp… Đồng thời, nhân viên CTXH cung cấp thông tin, giúp thân chủ lựa chọn giải pháp thích hợp trên cơ sở những thông tin mà họ đưa ra
Trong tham vấn nhân viên CTXH giúp thân chủ ổn định về tinh thần, tình cảm bằng cách thường xuyên gần gũi, thân thiết, luôn cảm thông thấu hiểu và chia sẻ để hiểu được nội tâm của thân chủ Trong công tác xã hội với phụ nữ CHCĐB, nhân viên CTXH
có thể sử dụng những phương pháp trị liệu tâm lý cho những đối tượng khủng khoảng về tinh thần, bị ảnh hưởng bởi tệ nạn xã hội
Vai trò cụ thể của nhân viên CTXH trong tham vấn phụ nữ CHCĐB là:
- Giúp các nhóm phụ nữ thay đổi tình trạng cảm xúc bất lợi, tăng cường động cơ
để thay đổi hành vi khi sự thay đổi là cần thiết
- Giúp các nhóm phụ nữ tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của họ bằng cách cung cấp cho họ những thông tin có giá trị thích hợp
- Giúp đỡ các nhóm phụ nữ đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông tin mà nhân viên xã hội cung cấp, dựa trên khả năng của thân chủ cũng như tiềm năng hỗ trợ từ các nguồn lực bên ngoài
- Hỗ trợ kịp thời các nhóm phụ nữ trong thời kỳ khủng hoảng tâm lý, ngăn ngừa
và làm giảm thiểu tác hại của vấn đề
- Hướng dẫn các nhóm phụ nữ thực hiện các quyết định của họ nhằm giải quyết vấn đề họ đang mắc phải
Ví dụ, với phụ nữ bị mua bán trở về nhân viên CTXH cần tham vấn về tâm lý, giúp họ vượt qua khủng hoảng tâm lý; tham vấn về cách chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản; tham vấn về pháp luật luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại (thủ đoạn mua bán người, đối tượng mua bán người, cách thức nhận diện đối tượng, quyền của nạn nhân mua bán người…) và được trợ giúp pháp lý như: làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ trợ, quyền làm cha mẹ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người… Ngoài ra, nhân viên CTXH có thể tham vấn cho họ lựa chọn nghề nghiệp dựa trên khả năng và nhu cầu cảu họ
Hay, do định kiến của xã hội đối với người nhiễm HIV vẫn còn rất nặng nề Đối với phụ nữ thì sự kỳ thị và phân biệt đối xử càng mạnh hơn họ nên phụ nữ nhiễm
HUPH