TỔNG QUAN
KHÁI NIỆM DANH MỤC THUỐC VÀ XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC 3 1 Khái niệm Danh mục thuốc
1.1.1 Khái niệm Danh mục thuốc
DMT là danh sách các loại thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, và các bác sĩ sẽ kê đơn những thuốc trong danh sách này theo hướng dẫn của Tổ chức.
Y tế Thế giới : “ DMT là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong BV ”
DMTBV được xây dựng tốt sẽ mang lại những lợi ích sau [44]:
Việc loại bỏ các thuốc không an toàn và kém hiệu quả giúp giảm số ngày nằm viện, đồng thời giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
Giảm số lượng và chi phí mua thuốc; sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn
Mỗi bệnh viện (BV) có danh mục thuốc (DMT) khác nhau, được xây dựng hàng năm dựa trên nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng Việc xây dựng DMT phù hợp không chỉ nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giúp quản lý tốt hơn trong BV Một DMT chứa quá nhiều thuốc không cần thiết sẽ gây lãng phí nguồn kinh phí của nhà nước và bệnh nhân.
1.1.2 Các bước xây dựng Danh mục thuốc
Việc xây dựng danh mục thuốc (DMT) trong bệnh viện cần tuân thủ các nguyên tắc như: phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí thuốc, đáp ứng phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, dựa trên hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được áp dụng tại bệnh viện, đồng thời cập nhật các phương pháp và kỹ thuật mới trong điều trị DMT cũng phải phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện và thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu cũng như danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành.
Khoa Dược sẽ xây dựng DMTBV và thông qua HĐT&ĐT góp ý chỉnh sửa, sau khi HĐT&ĐT thống nhất, KD tổng hợp thành DM dự thảo và trình
4 lên Giám đốc BV xem xét và ký duyệt ban hành DM chính thức Việc lựa chọn DMT phải căn cứ vào các yếu tố sau:
- Mô hình bệnh tật của địa phương và cơ cấu bệnh tật thống kê hàng năm
- Trình độ cán bộ và theo DM kỹ thuật mà BV được thực hiện
- DMT chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh do BYT ban hành
- Khả năng kinh phí của BV: ngân sách Nhà nước, thu một phần viện phí và BHYT
- Xem xét một số tiêu chí như an toàn, hiệu quả điều trị, hiệu quả - chi phí hoặc nguồn cung ứng tại chỗ
DMTBV phải được rà soát, bổ sung, hiệu chỉnh hàng năm cho phù hợp với tình hình thực tế điều trị
Hình 1.1 Các yếu tố làm căn cứ để xây dựng danh mục thuốc
Việc xác định rõ ràng các tiêu chí lựa chọn trong quá trình xây dựng DMTBV là rất cần thiết Điều này không chỉ giúp tạo ra giá trị mà còn nâng cao sự tin tưởng của các thầy thuốc khi sử dụng Tổ chức Y cần thực hiện quy trình này một cách bài bản để đảm bảo hiệu quả.
Mô hình bệnh tật Phác đồ điều trị
Danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc chủ yếu
Trình độ chuyên môn, kỹ thuật
K/n chi trả của BN, quỹ BHYT, kinh phí Hội đồng thuốc và điều trị
5 tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong BV bao gồm 4 giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn đầu, HĐT&ĐT thu thập thông tin nhằm giúp Ban giám đốc bệnh viện nhận diện rõ ràng hiệu quả của việc quản lý tốt DMT Điều này sẽ thuyết phục các nhà quản lý đưa ra quyết định về DMT và xem đây là quy định chính thức của bệnh viện.
Bước tiếp theo trong quy trình xây dựng danh mục thuốc (DMTBV) là lựa chọn các nhóm thuốc phù hợp Trước khi tiến hành, cần thu thập dữ liệu quan trọng để phân tích mô hình sử dụng thuốc hiện tại, bao gồm tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh viện, số lượng thuốc và nhóm thuốc đang sử dụng, cũng như giá trị thuốc bị huỷ trong năm Ngoài ra, cần ghi nhận tên thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại đã được báo cáo, số ca tử vong liên quan đến thuốc, cùng với thông tin về thuốc bị cấm, thuốc giả và thuốc kém chất lượng.
Giai đoạn tiếp theo, HĐT&ĐT sẽ xây dựng một cuốn Cẩm nang DMT nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho cán bộ Y tế trong bệnh viện, đặc biệt là các thầy thuốc, giúp họ hiểu rõ về hệ thống DMT và chức năng của HĐT&ĐT.
Giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng DMTBV là duy trì DMT, tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không hợp lý vẫn xảy ra ngay cả khi có DMT lý tưởng Để nâng cao kê đơn hợp lý, cần thiết phải có hướng dẫn điều trị chuẩn hoặc phác đồ điều trị Bước đầu tiên trong việc xây dựng DMTBV là thu thập và phân tích tình hình sử dụng thuốc của năm trước, sau đó đánh giá khách quan các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng.
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
Thông tư số 21/2013/TT-BYT đã đưa ra một số phương pháp phân
6 tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc [6, 28] để đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trong các BV
1.2.1 Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp đánh giá mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, giúp xác định những loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách thuốc của bệnh viện Phương pháp này cho phép bệnh viện tối ưu hóa chi phí và quản lý hiệu quả nguồn lực thuốc.
Các loại thuốc thay thế với chi phí thấp và có sẵn trên thị trường được chỉ ra trong danh mục này Thông tin này được sử dụng để cung cấp lựa chọn hiệu quả cho người tiêu dùng.
+ Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn;
+ Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế;
+ Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
Lượng tiêu thụ thuốc là chỉ số quan trọng phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng, giúp phát hiện những bất hợp lý trong việc sử dụng thuốc Bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật, chúng ta có thể nhận diện và giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng.
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện
Phân tích ABC có thể áp dụng cho số liệu tiêu thụ thuốc trong chu kỳ từ một năm trở xuống, đồng thời cũng phù hợp cho các đợt đấu thầu đơn lẻ hoặc nhiều đợt đấu thầu khác nhau.
Sau khi hoàn thành phân tích ABC, cần đánh giá lại các thuốc, đặc biệt là nhóm A, và xem xét việc sử dụng thuốc không có trong danh mục cũng như thuốc đắt tiền Dựa trên đó, lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả tương đương nhưng chi phí thấp hơn.
- Phân tích ABC cũng có thể được sử dụng để đánh giá một phác đồ điều trị khi tất cả các thuốc sử dụng có hiệu quả tương đương
Phương pháp phân tích ABC đã cho thấy những ưu, nhược chính sau:
7 Ưu điểm chính: Giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào
Nhược điểm chính: Không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau [6]
1.2.2 Phương pháp phân tích VEN
Phân tích VEN là một phương pháp hiệu quả trong việc lựa chọn thuốc ưu tiên cho bệnh viện khi ngân sách hạn chế Thuốc được phân loại theo tác dụng thành ba nhóm: sống còn, thiết yếu và không thiết yếu, giúp tối ưu hóa việc mua sắm và dự trữ thuốc.
Phân tích VEN giúp so sánh hiệu quả điều trị và khả năng sử dụng của các loại thuốc khác nhau, điều này khác với phân tích ABC, chỉ cho phép so sánh những nhóm thuốc có cùng hiệu lực điều trị.
- Các thuốc sống còn (V): Gồm các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
Các thuốc thiết yếu (E) là những loại thuốc cần thiết để điều trị các bệnh nặng, tuy nhiên không phải lúc nào cũng cần có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản.
Các thuốc không thiết yếu (N) là những loại thuốc được sử dụng để điều trị các bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong danh mục thuốc thiết yếu và không yêu cầu phải lưu trữ trong kho.
Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V, E, N được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V, E, N:
Tính chất của thuốc cần phân loại Nhóm V Nhóm E Nhóm N
% BN mắc trong dân số
Số BN trung bình mỗi ngày tại một cơ sở y tế trung bình
1 Độ nặng của bệnh Đe doạ tính mạng
Tính chất của thuốc cần phân loại Nhóm V Nhóm E Nhóm N Tác dụng điều trị của thuốc
Chữa bệnh nhẹ/triệu chứng tự hồi phục được Chứng minh được hiệu lực tác dụng
Chưa được chứng minh hiệu lực tác dụng
Có Có Không Luôn luôn
Có thể Luôn luôn Hiếm khi
Phân tích VEN có các ưu - nhược điểm sau: Ưu điểm:
- Cho phép so sánh các thuốc khác nhau về hiệu lực tác dụng;
- Phối hợp với phân tích ABC cho phép phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc
- Không gặp khó khăn trong phân tích thuốc khác nhau về hiệu lực điều trị;
- Phân loại nhóm V và nhóm E gặp khó khăn tuy nhiên không quá quan trọng vì chủ yếu quan tâm tới thuốc nhóm N [31]
Kết hợp phân tích ABC và VEN tạo ra ma trận ABC/VEN, giúp kiểm soát hiệu quả việc lựa chọn và mua sắm Ma trận này được chia thành ba nhóm: Nhóm I (AV, BV, CV, AE, AN), Nhóm II (BE, CE, BN) và Nhóm III (CN) Đây là phương pháp quan trọng để phát hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc và là bước khởi đầu trong quy trình xây dựng danh mục thuốc (DMT) cho bệnh viện.
1.2.3 Phân tích thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Nhóm điều trị được tổ chức dựa trên danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới và các tài liệu tham khảo khác, như hệ thống phân loại dược lý của Hiệp hội Dược thư bệnh viện Mỹ (AHFS) và hệ thống phân loại Giải phẫu-Điều trị-Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới.
Phân tích nhóm điều trị giúp xác định các nhóm thuốc trong DMTBV có mức tiêu thụ và chi phí cao, từ đó chỉ ra những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Qua đó, có thể xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc sử dụng quá mức, tạo cơ sở cho việc tìm kiếm giải pháp mua sắm thuốc thay thế Do đó, việc đánh giá tình hình sử dụng thuốc là cần thiết để thực hiện các can thiệp phù hợp.
MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP QUY LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC
Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định chức năng hoạt động của Khoa Dược, với nhiệm vụ quản lý và tư vấn cho Giám đốc về công tác dược trong bệnh viện Khoa Dược đảm bảo cung cấp thuốc chất lượng kịp thời và giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đóng vai trò chủ đạo trong quản lý thuốc tại bệnh viện.
Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT), nêu rõ chức năng của Hội đồng là tư vấn cho Giám đốc Bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, đồng thời thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện Hội đồng có 6 nhiệm vụ cơ bản.
- Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc;
- Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị;
- Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc;
- Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị;
- Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc
HĐT&ĐT có vai trò quan trọng trong việc điều phối và xử lý các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc, với trọng tâm là xây dựng và quản lý danh mục thuốc bảo vệ sức khỏe (DMTBV) theo các quy định cụ thể.
+ Nguyên tắc xây dựng DM: ưu tiên thuốc SXTN
Khi lựa chọn thuốc, ưu tiên nên dành cho các dạng đơn chất Đối với thuốc phối hợp nhiều thành phần, cần có tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng hiệu quả điều trị cho nhóm bệnh nhân cụ thể và mang lại lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện lợi so với thuốc đơn chất Ngoài ra, nên ưu tiên thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế sử dụng tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
Thông tư số 23/2011/TT-BYT, ban hành ngày 10/6/2011 bởi Bộ Y tế, hướng dẫn việc sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh Việc lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh cần dựa vào tình trạng sức khỏe, mức độ bệnh lý và đặc tính của thuốc Đường tiêm chỉ được sử dụng khi bệnh nhân không thể uống thuốc hoặc khi thuốc uống không đáp ứng yêu cầu điều trị, hoặc khi thuốc chỉ có thể sử dụng qua đường tiêm.
Thông tư số 30/2018/TT-BYT, ban hành ngày 30/10/2018, quy định danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán cho thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu trong phạm vi bảo hiểm y tế Danh mục thuốc hóa dược và sinh phẩm được phân loại thành 27 nhóm lớn dựa trên tác dụng điều trị của chúng.
Thông tư số 03/2019/TT-BYT, ban hành ngày 28/3/2019 bởi Bộ Y tế, quy định về việc xây dựng Danh mục thuốc SXTN nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu điều trị, giá thuốc hợp lý và khả năng cung cấp thuốc.
Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ Y tế Quy định việc đấu thầu thuốc tại các CSYT công lập
Thủ trưởng cơ sở y tế (CSYT) và nhà thầu trúng thầu có trách nhiệm thực hiện hợp đồng cung cấp thuốc theo đúng quy định pháp luật về hợp đồng kinh tế, với yêu cầu tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng Đối với các loại thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền và các tình huống khác, CSYT phải đảm bảo thực hiện tối thiểu 50% giá trị của từng phần trong hợp đồng sau khi báo cáo cơ quan có thẩm quyền Nếu CSYT không thực hiện được tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng, Thủ trưởng CSYT phải báo cáo và giải trình lý do với người có thẩm quyền.
Các trường hợp được phép mua vượt quá 20% số lượng thuốc trong hợp đồng đã ký bao gồm: khi đã sử dụng hết số lượng thuốc của các nhóm khác có cùng hoạt chất, nồng độ hoặc hàm lượng; khi các nhóm thuốc tương tự đã trúng thầu nhưng phải dừng cung ứng hoặc bị đình chỉ lưu hành; và khi nhà thầu chưa cung cấp đủ số lượng thuốc theo hợp đồng nhưng không thể tiếp tục cung cấp do lý do bất khả kháng, kèm theo thông báo và tài liệu chứng minh.
Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 của Bộ Y tế Ban hành DMTT, DMT đấu thầu tập trung, DMT được áp dụng hình thức đàm phán giá gồm:
- DMT đấu thầu gồm: 1.226 thuốc tân dược; 59 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu; 367 thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền; 403 vị thuốc y học cổ truyền
- DMT đấu thầu tập trung cấp quốc gia gồm: 150 thuốc
- DMT đấu thầu tập trung cấp địa phương gồm: 129 thuốc
- DMT được áp dụng hình thức đàm phán giá: 701 thuốc
Hệ thống văn bản trên chính là cơ sở pháp lý, là công cụ quan trọng để các
BV và đơn vị liên quan quản lý sử dụng thuốc an toàn hiệu quả, hợp lý [11].
THỰC TRẠNG CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN
1.3.1 Thực trạng phân tích danh mục thuốc trên thế giới
Phương pháp phân tích ABC hiện đang được áp dụng tại nhiều bệnh viện trên thế giới, bao gồm Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh, với quy trình cụ thể và các bước dễ thực hiện nhờ sự hỗ trợ của nhiều phần mềm phân tích Tại Pháp, phân tích ABC được chia thành nhiều giai đoạn, bắt đầu với các loại thuốc đắt tiền chiếm 60-80% ngân sách, nhằm thực hiện hiệu quả hợp đồng mua bán Tiếp theo là các thuốc đặc biệt chỉ có tại bệnh viện, chiếm 15% ngân sách, thường khó thay đổi về giá Ở Indonesia, phân tích ABC cho thấy chi phí thuốc mê là cao nhất, và lựa chọn thuốc gây mê cần đảm bảo hiệu quả nhưng vẫn tiết kiệm chi phí Qua đó, các quốc gia đã xác định nhóm A là nhóm có chi phí cao, từ đó cân nhắc lựa chọn các thuốc thay thế rẻ hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Việc xác định tần suất mua thuốc là cần thiết để đảm bảo đủ thuốc mà không làm tăng chi phí tồn kho Tại Ấn Độ, phân tích ABC trong DMTBV đã chỉ ra rằng trong số 421 thuốc, nhóm A, B, C chiếm 13,8%; 21,9%; 64,4% về SKM và 70%; 20%; 10% về giá trị ngân sách thuốc, từ đó xác định các thuốc cần kiểm soát hoặc thay thế Nghiên cứu tại Nga năm 2019 cho thấy phân tích ma trận ABC/VEN giúp kiểm soát hiệu quả nhóm A, nhưng cần xem xét thuốc sống còn (V) trong nhóm B và C Phân tích VEN được khuyến nghị là công cụ lý tưởng để xác định nhóm thuốc V và E, cho phép mua thuốc một lần mỗi năm, đảm bảo tính sẵn có và giảm chi phí dự trữ Mặc dù chỉ có 7 thuốc trong nhóm AN nhưng chúng chiếm 11% ngân sách, do đó cần điều chỉnh đơn hàng cho hợp lý Phân tích VEN yêu cầu sự đồng thuận cao từ hội đồng chuyên gia, điều này gây khó khăn cho các BVĐK do mức độ cấp thiết của thuốc khác nhau giữa các chuyên khoa Tại một BV ở Ấn Độ, nhóm thuốc V, E, N chiếm 17,1%; 72,45%; 10,5% ngân sách và 12,1%; 59,4%; 28,5% SKM, giúp tối ưu hóa nguồn lực và sử dụng ngân sách hiệu quả hơn.
14 Ở Uganda, sử dụng phân tích VEN đã đưa ra DMT, vật tư thiết yếu để mua sắm cho quốc gia
Kết hợp phân tích ABC và VEN tạo ra ma trận ABC/VEN có hiệu quả trong kiểm soát lựa chọn và mua thuốc Một nghiên cứu tại 10 bệnh viện điều trị nhiễm khuẩn ruột đã áp dụng phân tích ABC/VEN theo hướng dẫn của Tổ chức quản lý khoa học về sức khỏe của Hoa Kỳ (MSH) Kết quả cho thấy 49,5% thuốc thuộc nhóm V, 41,2% thuộc nhóm E và 9,3% thuộc nhóm N Điều này cho thấy cần xem xét lại cấu trúc mua thuốc nhằm tăng tỷ trọng của các loại thuốc tối cần và thiết yếu.
1.3.2 Thực trạng phân tích danh mục thuốc tại Việt Nam Ở Việt Nam, phân tích ABC đã được quy định theo Thông tư số 21/2013/TT-BYT, là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc, cung cấp dữ liệu quan trọng để HĐT&ĐT xây dựng
DMT của BV [6] cho thấy rằng phân tích BC được áp dụng phổ biến hơn so với phân tích Ven Nguyên nhân là do phân tích Ven tốn nhiều thời gian và khó thực hiện hơn so với phương pháp ABC trong việc phân loại các loại thuốc vào các nhóm V, E, N.
Hiện nay, Việt Nam đã định nghĩa thuốc V, E, N nhưng chưa có tiêu chí phân loại chính xác, điều này cần sự đồng thuận cao từ các thành viên trong Hội đồng Thẩm định và Đánh giá Để đánh giá sự đa dạng và tính sẵn có của dược liệu, một số nghiên cứu đã phân tích tỷ lệ số lượng sản phẩm thuốc trên số hoạt chất Việc có nhiều sản phẩm thuốc cho một hoạt chất giúp bệnh viện chủ động hơn trong cung ứng, nhưng cũng gây khó khăn trong quản lý dược phẩm và tăng nguy cơ nhầm lẫn khi kê đơn.
1.3.2.1 Cơ cấu thuốc theo phân loại thuốc hóa dược, thuốc đông y/thuốc từ dược liệu
Trong cơ cấu thuốc sử dụng tại một số bệnh viện, thuốc hóa dược luôn
Thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ cao về số lượng và giá trị sử dụng trong điều trị lâm sàng tại các bệnh viện, với hơn 90% tổng số khoản mục và giá trị sử dụng thuốc Điều này cho thấy vai trò chủ đạo của thuốc hóa dược trong hệ thống y tế.
Bảng 1.2 Cơ cấu thuốc đã sử dụng tại một số bệnh viện
1.3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Theo Thông tư 03/2018/TT-BYT, DMT SXTN được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp Tuy nhiên, nhiều bệnh viện vẫn sử dụng thuốc nhập khẩu nhiều hơn thuốc sản xuất trong nước, do các công ty nội địa chủ yếu sản xuất thuốc điều trị thông thường và chưa đáp ứng được nhu cầu về thuốc chuyên khoa có giá trị cao Thói quen sử dụng thuốc ngoại đắt tiền của người dân và thầy thuốc cũng gia tăng, cùng với sự tăng trưởng thu nhập bình quân và ý thức chăm sóc sức khỏe Hơn nữa, sự thiếu tin tưởng vào chất lượng thuốc sản xuất trong nước do cách thức đấu thầu hiện tại đã ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc nội địa, tạo gánh nặng chi phí cho bệnh nhân và ngân sách BHYT.
Tại hội nghị tổng kết thực hiện đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
Thuốc hóa dược Thuốc dược liệu, YHCT
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [14] 356 98,3 96,6 1,6 3,3
3 Đa khoa tỉnh Tây Ninh năm 2017 [17] 798 93,3 96,0 6,6 3,9
Theo báo cáo “16 hàng Việt Nam” năm 2019, tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc trong nước tại tuyến tỉnh đã tăng lên 57,03% vào năm 2018 Khi tính cả tuyến huyện và tuyến tỉnh, tỷ lệ này đạt 63,53% Hơn 50% các tỉnh có tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc trong nước từ 50% trở lên Nghiên cứu tại các bệnh viện trong những năm gần đây cũng cho thấy những kết quả khả quan.
Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc tại một số bệnh viện
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các bệnh viện tuyến tỉnh còn thấp, chủ yếu do các thuốc này chỉ đáp ứng điều trị các bệnh thông thường với dạng bào chế đơn giản Ngoài ra, các công ty dược trong nước chưa đầu tư vào sản xuất thuốc chuyên khoa, thuốc đặc trị hoặc thuốc yêu cầu công nghệ cao.
1.3.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo BDG/GN
Thuốc BDG đã được chứng minh về chất lượng, an toàn và hiệu quả điều trị, được Bộ Y tế công nhận trong danh mục biệt dược gốc Ngược lại, thuốc Generic có giá thành thấp hơn, vì vậy Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế khuyến khích ưu tiên sử dụng thuốc generic Trong những năm gần đây, Bộ Y tế và BHYT đã yêu cầu các bệnh viện ưu tiên sử dụng thuốc generic như một biện pháp hiệu quả để giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
2 Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2017
3 Đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm
17 dụng thuốc generic được coi là chính sách trọng điểm và nền tảng trong sản xuất, nhập khẩu, cung ứng và sử dụng
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc BDG, generic tại một số bệnh viện
1.3.2.4 Cơ cấu danh mục thuốc theo theo đường dùng
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giường bệnh Theo đó, bệnh viện phải căn cứ vào tình trạng và mức độ bệnh lý của bệnh nhân để lựa chọn đường dùng thuốc phù hợp Việc tiêm thuốc chỉ được thực hiện khi đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị.
Bảng 1.5 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo đường dùng tại một số bệnh viện
1.3.2.5 Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần
Theo Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế, ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với thuốc phối hợp nhiều thành phần, cần có tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu.
Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
Thuốc BDG Thuốc theo tên
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [14] 350 4,2 3,5 95,7 96,4
2 Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017 [27] 674 8,7 12,5 84,7 81,9
4 Hữu Nghi đa khoa Nghệ An năm
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [14] 356 52,2 64,6
2 Đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017 [26] 655 41,2 72,0
3 Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017 [27] 674 41,6 53,8
4 Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2017 [12] 531 42,6 61,3
18 yêu cầu điều trị đối với một quần thể bệnh nhân đặc biệt cho thấy sự vượt trội về hiệu quả, tính an toàn và tiện dụng so với các loại thuốc đơn chất.
Bảng 1.6 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo thành phần tại một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [14] 350 90 91,3 10 8,7
2 Đa khoa khu vực phía Nam Bình
3 Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017 [27] 630 85,0 77,1 14,9 22,9
4 Đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017
Năm 2017, nghiên cứu tại Quân Y 354 cho thấy rằng phần lớn các bệnh viện sử dụng thuốc đơn thành phần có số lượng và giá trị sử dụng (GTSD) chiếm tỷ lệ cao trong danh mục thuốc (DMT).
MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VIỆC SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN
1.4.1 Bất cập trong việc sử dụng các nhóm thuốc qua phân tích ABC/VEN
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các phương pháp phân tích như ABC, nhóm điều trị và VEN là công cụ quan trọng giúp quản lý danh mục thuốc và phát hiện vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Phân tích ABC/VEN được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện nhằm tiết kiệm chi phí, bằng cách thay thế thuốc hạng A có giá cao bằng các thuốc tương tự nhưng có giá thành thấp hơn.
Nghiên cứu cho thấy việc loại bỏ hoặc giảm thiểu sử dụng các loại thuốc thuộc nhóm AN có thể giúp tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị Phân tích ABC và VEN tại một số bệnh viện đã cung cấp những kết quả đáng chú ý, được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 1.7 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo phân tích ABC
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
%GTSD %KM %GTSD %KM %GTSD %KM
2 Đa khoa khu vực phía Nam Bình
4 Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017 [27] 79,8 18,4 14,2 21,5 5,9 60
Phân tích ABC tại một số bệnh viện cho thấy cơ cấu thuốc hạng B chưa phù hợp Cụ thể, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018, tỷ lệ thuốc hạng B chỉ đạt 22,7% Tương tự, tại Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Nam Bình Thuận năm 2018, tỷ lệ thuốc hạng A là 25,5% và hạng B là 26,9%, cũng không đạt yêu cầu Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017, tỷ lệ thuốc hạng B chỉ đạt 21,5%, cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu thuốc tại các cơ sở y tế này.
Bảng 1.8 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo phân tích VEN
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
%KM %GTSD %KM %GTSD %KM %GTSD
2 Đa khoa khu vực phía Nam Bình
1.4.2 Bất cập trong sử dụng thuốc AN
Việc áp dụng phân tích ABC/VEN trong các bệnh viện đã gia tăng sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư 21, hướng dẫn chi tiết về tổ chức hoạt động HĐT&ĐT Mặc dù phân tích ABC đã trở nên phổ biến, phương pháp VEN vẫn ít được sử dụng do tính phức tạp và thời gian thực hiện lâu hơn, cùng với việc thiếu tiêu chí rõ ràng để phân loại thuốc vào các nhóm V, E, N.
Trong danh mục thuốc tại bệnh viện, nhóm thuốc hạng A chiếm tỷ lệ cao về số lượng mục, mặc dù giá trị sử dụng của chúng lớn nhưng lại có tỷ trọng nhỏ trong tổng thể danh mục thuốc.
Theo nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017, thuốc hạng A, B, C lần lượt chiếm 79,98%, 15,01% và 5,01% về giá trị sử dụng Trong đó, thuốc hạng A chủ yếu bao gồm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, chiếm 31,20% tổng chi phí thuốc hạng A Ngoài ra, nhóm thuốc tim mạch và thuốc điều trị ung thư, điều hòa miễn dịch cũng là những loại thuốc có chi phí cao thuộc hạng A tại bệnh viện này.
Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2017, phân tích ABC cho thấy ngân sách được phân bổ không đồng đều cho các loại thuốc Cụ thể, 79,83% ngân sách dành cho 18,41% tổng số khoản mục thuốc hạng A, trong khi 14,24% ngân sách dành cho 21,59% khoản mục thuốc hạng B Chỉ có 5,93% ngân sách được phân bổ cho 60% số khoản mục thuốc hạng C Đặc biệt, trong nhóm thuốc hạng A, thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,49% về giá trị và 28,21% về số khoản mục, tiếp theo là thuốc tim mạch và các dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base.
Nhóm thuốc AN hay BN có chi phí cao nhưng không thiết yếu cho điều trị, với tác dụng điều trị không rõ ràng và thường bị lạm dụng trong việc kê đơn tại các cơ sở y tế.
Năm 2017, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, nhóm AN bao gồm 18 khoản mục với tổng giá trị sử dụng đạt 11,531 tỷ đồng, chiếm khoảng 14,20% tổng giá trị sử dụng Những loại thuốc trong nhóm này bao gồm Boganic, Lisimax, Piracetam, Galantanin, L-Ornithin L-Aspartate và Vitamin 3B.
Năm 2017, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, nhóm thuốc AN được xác định là nhóm có chi phí cao nhưng không cần thiết cho điều trị, chiếm 3,8% tổng giá trị sử dụng Trong đó, thuốc L-Ornithin L-Aspartate chiếm 26,7% giá trị sử dụng của nhóm này.
Tại Bệnh viện Quân y 354, nhóm thuốc AN gồm 25 loại, chiếm 4,2% số khoản mục và 11,2% giá trị Trong đó, nhóm thuốc tim mạch có giá trị tiêu thụ lớn nhất với 9 loại, đạt 4,267 tỷ đồng, tương đương 43,3% giá trị thuốc AN Tiếp theo là nhóm giãn cơ và ức chế cholinesterase Một số thuốc hiệu quả không rõ ràng nhưng có chi phí lớn bao gồm Galantamin và Pentoxifylin.
Tại bệnh viện đa khoa Nghi Lộc, trong năm 2016 đã sử dụng 19 khoản thuốc thuộc nhóm AN Trong các thuốc AN, có đến 14 khoản mục thuộc
1.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tồn tại trong việc sử dụng thuốc
Theo Thông tư số 15/2019/TT-BYT, các cơ sở y tế công lập và nhà thầu trúng thầu phải thực hiện hợp đồng cung cấp thuốc theo quy định pháp luật, với tối thiểu 80% giá trị hợp đồng Đối với thuốc cấp cứu và các trường hợp đặc biệt, yêu cầu tối thiểu là 50% Có thể mua vượt 20% số lượng thuốc trong hợp đồng nếu đã hết thuốc tương tự hoặc do các lý do bất khả kháng Tuy nhiên, việc thực hiện kết quả đấu thầu hiện nay chưa đạt yêu cầu, do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa khu vực phía Nam Bình Thuận năm
Năm 2018, một số nguyên nhân khiến thuốc trúng thầu nhưng không được sử dụng bao gồm: hoạt chất trúng thầu ở nhiều nhóm kỹ thuật khác nhau, hoạt chất có nhiều hàm lượng khác nhau, và các điều kiện thu hẹp về sử dụng.
Trong quá trình thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT), cần lưu ý rằng có những thuốc không được sử dụng và phát sinh nhu cầu ngay tại thời điểm xây dựng danh mục do Bộ Y tế Đồng thời, cũng có trường hợp nhà thầu không cung ứng được thuốc theo hợp đồng đã ký kết.
Nghiên cứu tại bệnh viện Quân dân y miền Đông năm 2018 cho thấy trong số 257 thuốc không được sử dụng, 50,2% nguyên nhân đến từ phía bệnh viện, 30,0% từ các nhà thầu và 19,8% do các văn bản Đối với nhóm thuốc trúng thầu được sử dụng dưới 80%, có 235 khoản mục chưa đạt yêu cầu, trong đó 65,5% nguyên nhân từ bệnh viện, 16,2% từ nhà thầu và 18,3% do các nguyên nhân khác.
VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN
Bệnh Viện Bà Rịa trực thuộc SYT tỉnh BRVT, được khởi công xây dựng, khánh thành và đưa vào sử dụng ngày 26/2/2015, với qui mô thiết kế
Bệnh viện có 700 giường bệnh, bao gồm 25 khoa lâm sàng và cận lâm sàng cùng 9 phòng chức năng Đội ngũ cán bộ viên chức tại đây gồm 890 người, trong đó có 1 công chức, 812 viên chức và 77 hợp đồng theo Nghị định 68/NĐ-CP.
- Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Bà rịa năm 2020 được mô tả theo bảng 1.1
Bảng1.9 Cơ cấu nhân lực Bệnh viện Bà Rịa
STT Trình độ chuyên môn Số lượng
1 Bác sĩ chuyên khoa II, Thạc sĩ 15
STT Trình độ chuyên môn Số lượng
7 Dược sĩ trung cấp, KTV dược TC 25
9 KTV Y khoa, điều dưỡng trung học 396
10 Nữ hộ sinh đại học 05
11 Nữ hộ sinh trung học 51
Vài nét về khoa Dược - Bệnh viện Bà Rịa
Khoa Dược hoạt động theo Thông tư 22/2011/TT-BYT, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Chức năng chính của Khoa Dược là quản lý và tư vấn cho Giám đốc về công tác Dược, đảm bảo cung cấp thuốc chất lượng đầy đủ và kịp thời, đồng thời giám sát việc sử dụng thuốc một cách an toàn và hợp lý.
Số lượng và trình độ nhân lực khoa Dược của Bệnh viện Bà Rịa được nêu trong bảng 1.10
Bảng 1.10 Nhân lực khoa dược Bệnh viện Bà Rịa STT Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ %
2 Dược sĩ TH, KTV dược TH 25 65,8
Mô hình bệnh tật của BV năm 2020 chia theo nhóm bệnh như sau:
Bảng 1.11 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện năm 2020
TT Nhóm bệnh Tần suất Tỷ lệ %
1 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật 58.276 17,3
2 Bệnh của hệ tuần hoàn 50.835 15,0
3 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hoá 33.201 9,8
4 Bệnh của hệ hô hấp 30.636 9,1
5 Bệnh của hệ tiêu hoá 28.663 8,5
6 Vết thương, ngộ độc và kết quả của các nguyên nhân bên ngoài 25.643 7,6
7 Bầu, sinh và sau sinh 18.620 5,5
8 Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục 16.830 5,0
9 Bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết 17.987 5,3
10 Bệnh của mắt và phần phụ 12.398 3,7
Theo bảng thống kê mô hình bệnh tật tại bệnh viện năm 2020, các bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ cao, trong đó bệnh hô hấp là loại bệnh có tỷ lệ cao nhất.
Tỷ lệ bệnh không lây nhiễm đang gia tăng đáng kể, với 17,3% thuộc nhóm hệ tuần hoàn và bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hóa Theo báo cáo tổng quan ngành y tế của Bộ Y tế, tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 50% vào năm 1996 lên 62% vào năm 2006 và đạt 72% chỉ sau bốn năm vào năm 2010.
Cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng phác đồ điều trị cho HĐT&ĐT, từ đó hỗ trợ và tư vấn với Khoa Dược trong việc lựa chọn và phát triển danh mục thuốc bảo vệ sức khỏe (DMTBV).
Trước tình hình sử dụng thuốc tại DMT hiện nay, nghiên cứu này nhằm đánh giá chính xác cơ cấu DMT tại Bệnh viện Bà Rịa, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và giảm bớt ngân sách bệnh viện cũng như chi phí cho người bệnh.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công tác cung ứng thuốc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khám chữa bệnh tại bệnh viện, trong đó việc lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc (DMT) là bước đầu tiên trong chu trình này DMT hợp lý là điều kiện quyết định để đảm bảo sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả Bệnh viện hàng năm sử dụng một lượng lớn thuốc phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của việc xây dựng DMT tại bệnh viện Do đó, đề tài "Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2020" là cấp thiết và mang tính thời sự.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bà Rịa, bao gồm các danh mục sau:
- DMT đã mua sắm theo DMTTT năm 2020
- DMT đã sử dụng năm 2020
Thời gian, địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Bà Rịa, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Xác định biến số nghiên cứu
Bảng 2.12 Nhóm biến số phân tích cơ cấu thuốc sử dụng
TT Tên biến Khái niệm Giá trị biến
Kỹ thuật thu thập số liệu
Mục tiêu 1: Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại BV Bà Rịa năm 2020
Phân loạicăn cứ Thông tư số 30/2018/TT-BYT;
Thông tư số 05/2015/TT- BYT
Thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Theo nguồn gốc xuất xứ căn cứ nước sản xuất ghi trên giấy phép lưu hành sản phẩm
Thuốc biệt dược gốc - generic
Phân nhóm thuốc generic và thuốc BDG theo Thông tư số 11/2016/TT-BYT
Là đường sử dụng của thuốc
Thuốc đơn thành phần là thuốc có 1 hoạt chất
TT Tên biến Khái niệm Giá trị biến
Kỹ thuật thu thập số liệu
Thuốc đa thành phần là thuốc có từ hai hoạt chất trở lên
Thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Phân nhóm tác dụng điều trị của thuốc hóa dược căn cứ theo Thông tư số 30/2018/TT- BYT, Thông tư số 05/2015/TT-BYT
Mục tiêu 2 của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tồn tại trong Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong năm 2020 Việc phân tích những yếu tố này sẽ giúp cải thiện quy trình quản lý thuốc và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.
Thuốc được sử dụng so với
Là GT và KM thuốc đã thực hiện so với GTTT đạt tỷ lệ:
1.Không sử dụng (nhặt các thuốc có trong DMTTT nhưng không có trong DMT sử dụng): đếm số
Phân loại Tài liệu sẵn có
BN phân chia theo nhóm dược lý
Thuốc nhóm A, B theo phân tích ABC, đồng thời thuốc thuộc nhóm N theo phân tích VEN
Phân loại Tài liệu sẵn có
GTSD chi tiết của các hoạt chất trong nhóm
Phân loại Tài liệu sẵn có
Bảng 2.13 Các chỉ số về cơ cấu danh mục thuốc
Các chỉ số Cách tính
Tỉ lệ % thuốc theo các chỉ số
Tổng SKM(hoặc GT) thuốc theo các chỉ số Tổng SKM(hoặc GT) của DMT x 100%
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng được áp dụng để phân tích tình hình tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong năm 2020, thông qua việc thu thập và xử lý số liệu từ các báo cáo hoạt động có sẵn của bệnh viện.
- Báo cáo sử dụng thuốc của BV Bà Rịa năm 2020
- Tra cứu thuốc thuộc DMT được bảo hiểm y tế chi trả theo thông tư số 30/2018/TT-BYT, Thông tư số 05/2015/TT-BYT
- DM phân loại VEN các thuốc sử dụng tại BV của HĐT& ĐT
- DMT đã mua sắm theo DMTTT năm 2020
- DMT đã sử dụng năm 2020
- Biểu mẫu thu thập số liệu: Phụ lục 1
Sử dụng kỹ thuật nghiên cứu định tính: để phân tích một số nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong DMT sử dụng tại BV
- Phỏng vấn sâu theo câu hỏi gợi ý đã xây dựng để khám phá ý kiến, thải độ của thầy thuốc, nhân viên y tế
- Biểu mẫu thu thập số liệu: câu hỏi bán cấu trúc - Phụ lục 2
Thu thập thông tin chi tiết về thuốc bao gồm tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, đường dùng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng, giá trị sử dụng và nhóm tác dụng dược lý Cần phân biệt giữa thuốc đơn thành phần và đa thành phần để đảm bảo việc sử dụng đúng cách và hiệu quả.
30 thuốc BDG, generic, phân hạng ABC, phân loại VEN) của toàn bộ các thuốc được sử dụng trong BV năm 2020
- Lấy thông tin từ nguồn thu thập điền vào phiếu thu thập thông tin (Các biểu mẫu thu thập trình bày tại phần Phụ lục 1, 2
- Số liệu được mã hóa, nhập bằng phần mềm Microsoft Excel
Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện bằng cách tiến hành phỏng vấn sâu với một số cán bộ y tế có liên quan, sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 1 bác sĩ Nội khoa, 1 bác sĩ Ngoại khoa, 1 bác sĩ Phòng khám, và 1 bác sĩ Y học cổ truyền để thu thập thông tin.
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, TRÌNH BÀY VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Phương pháp phân tích ABC
- Phương pháp phân tích nhóm điều trị
- Phương pháp phân tích VEN
- Phân tích ma trận ABC/VEN
2.3.2 Trình bày và xử lý số liệu
Sau khi thu thập, các số liệu sẽ được làm sạch bằng cách gộp các thuốc có cùng hoạt chất, hàm lượng và đường dùng, mặc dù có sự khác biệt về giá Việc này sẽ được thực hiện bằng cách cộng tổng số lượng sử dụng và tính toán đơn giá bình quân cho các thuốc đó.
Sử dụng phần mềm Excel để tính số lượng, giá trị và tỉ lệ
Các số liệu trình bày bằng bảng biểu, và sơ đồ
Báo cáo kết quả nghiên cứu bằng phần mềm Microsoft Powerpoint
* Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại B ệnh viện Bà Rịa năm 2020
Bước 1: Dữ liệu nghiên cứu được cập nhật vào biểu mẫu thu thập số liệu (Phụ lục 01) được thu thập và trích xuất từ phần mềm của Khoa dược
Bước 2: Phân tích số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu
+ Thuốc hoá dược/ thuốc YHCT
Theo Thông tư 30/2018/TT-BYT, quy định về danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu cho người tham gia bảo hiểm y tế đã được ban hành Bên cạnh đó, Thông tư số 05/2015/TT-BYT cũng đã quy định về danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế.
Phân loại thuốc hoá dược và thuốc YHCT
+ Thuốc theo nguồn gốc xuất xứ:
Dựa vào dữ liệu nước sản xuất của từng thuốc tại bảng Phụ lục 01, phân chia thành 2 nhóm: thuốc SXTN và thuốc nhập khẩu
+ Thuốc biệt dược gốc, thuốc generic:
Thuốc BDG được liệt kê trong danh mục do Bộ Y tế công bố trên trang web của Cục Quản lý Dược Việt Nam, từ đợt 1 đến đợt 20 Các loại thuốc generic là những thuốc hóa dược không có trong danh mục BDG và được phân loại thành hai nhóm: thuốc generic và thuốc BDG.
+ Thuốc sử dụng theo thành phần:
Theo bảng phụ lục 01, thuốc được phân loại dựa trên số lượng hoạt chất Những thuốc chỉ chứa một hoạt chất chính được gọi là thuốc đơn thành phần, trong khi những thuốc có nhiều hoạt chất được xem là thuốc đa thành phần.
+ Thuốc sử dụng theo đường dùng:
Căn cứ vào đường dùng của thuốc tại cột đường dùng trong bảng phụ lục 01 để chia thành: Đường tiêm và tiêm truyền; Đường uống;
Thuốc có đường dùng khác
+ Thuốc Nhập - Xuất – Tồn theo nhóm tác dụng dược lý:
Dựa vào dữ liệu tại Phụ lục 01, thuốc hoá dược sử dụng được chia theo
Theo Thông tư 30/2018/TT-BYT, có 32 nhóm thuốc được phân loại dựa trên danh mục và tỷ lệ thanh toán cho thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu, trong đó người tham gia bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi Các nhóm thuốc này được chia thành 27 nhóm Bên cạnh đó, Thông tư 05/2015/TT-BYT quy định về danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền cũng được phân loại thành 11 nhóm thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế.
Bước 3: Tính tổng số KM, GTSD của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu
+ Phương pháp phân tích ABC:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
Để tính toán chi phí cho từng sản phẩm, bạn cần thực hiện các bước sau: Đầu tiên, điền thông tin đơn giá và số lượng cho mỗi sản phẩm Tiếp theo, nhân đơn giá với số lượng để tính số tiền cho mỗi sản phẩm, sau đó cộng tổng số tiền của tất cả các sản phẩm Cuối cùng, để xác định giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm, bạn chia số tiền của từng sản phẩm cho tổng số tiền đã tính.
Bước 5: Sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự giảm dần của phần trăm giá trị Bước 6: Tính toán giá trị phần trăm tích lũy cho tổng giá trị của từng sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm đầu tiên và cộng dồn với các sản phẩm tiếp theo trong danh sách.
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
Hạng A: gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền
Hạng B: gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền
Hạng C gồm những sản phẩm chiếm 5-10% tổng giá trị tiền
+ Phương pháp phân tích VEN theo Bộ Y tế
Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các thuốc theo 3 loại V, E, N Bước 2: Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất
Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này nếu có thể
Để đảm bảo an toàn trong việc quản lý thuốc, cần xem xét lại số lượng mua dự kiến cho các loại thuốc nhóm V và E trước khi mua nhóm N, đồng thời đảm bảo rằng nhóm V và E có đủ lượng dự trữ Ngoài ra, việc giám sát đơn đặt hàng và tồn kho của nhóm V và E cần được thực hiện chặt chẽ hơn so với nhóm N.
Phân loại danh mục thuốc BV vào nhóm V, E, N
Tính tỷ lệ % số lượng của các nhóm (VEN)
Tính tỷ lệ % giá trị của các nhóm (VEN)
+ Phân tích ma trận ABC/VEN:
Kết hợp phân tích ABC và VEN giúp xếp các thuốc vào nhóm A thành các phân nhóm AV, AE, AN Tiếp theo, tính tổng số và tỷ lệ phần trăm của số lượng thuốc, số đơn vị tiêu thụ, và giá trị sử dụng thuốc trong từng phân nhóm Phương pháp này cũng được áp dụng cho nhóm B và C để tạo ra ma trận ABC/VEN Cuối cùng, phân tích các phân nhóm AV, AE, AN cùng với nhóm điều trị giúp tối ưu hóa danh mục thuốc, đặc biệt chú trọng đến phân nhóm AN và BN.
+ Vấn đề về sử dụng nhóm thuốc AN, BN
Phân tích cụ thể một số thuốc trong nhóm AN, BN để đề nghị loại bỏ các thuốc AN, BN không cần thiết
Nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn sâu theo Phụ lục 2, với việc ghi chép và ghi âm toàn bộ nội dung phỏng vấn Trước khi bắt đầu, nghiên cứu viên giới thiệu mục đích và nội dung nghiên cứu, đồng thời xin phép người tham gia để ghi âm Nếu được sự đồng ý, phỏng vấn sẽ diễn ra tại phòng làm việc của người tham gia, kéo dài khoảng 10 – 15 phút.
Mã hóa đối tượng phỏng vấn bằng các ký hiệu PV1, PV2,…
Tạo bản ghi và lưu trữ thông tin là bước quan trọng trong nghiên cứu, bao gồm việc gỡ băng ghi âm để chỉ lấy những thông tin chính cần thiết Sau đó, phân tích nội dung và mã hóa dữ liệu, xếp nội dung vào từng nhóm theo chủ đề nghiên cứu giúp tối ưu hóa quá trình thu thập và xử lý thông tin.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHÂN TÍCH CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU NĂM 2020
3.1.1 Cơ cấu thuốc sử dụng theo loại hàng hóa (thuốc hóa dược và thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu)
3.1.1.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.14 Cơ cấu theo khoản mục thuốc sử dụng theo phân loại nhóm hóa dược và thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu/vị thuốc
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
2 Thuốc đông y/thuốc từ dược liệu 84 11,55 53 7,67 51 7,43
Năm 2020, tổng SKM thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Bà Rịa là 727
S KM trong đó có 691 SKM mua sắm và đã sử dụng 686 SKM
Trong DMTTT nhóm thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ cao với 88,45%, nhóm thuốc đông y/thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ thấp hơn 11,55%
Với DMT mua sắm nhóm hóa dược chiếm 92,33%, nhóm thuốc đông y/thuốc từ dược liệu chiếm 7,67%.
Và DMT hóa dược được sử dụng chiếm 92,57%, nhóm thuốc đông y/thuốc từ dược liệu chiếm 7,43%
3.1.1.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.15 Cơ cấu theo giá trị thuốc sử dụng theo phân loại nhóm hóa dược và thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu/vị thuốc
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
2 Thuốc đông y/thuốc từ dược liệu
Tổng giá trị thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Bà Rịa năm 2020 đạt hơn 198 tỷ đồng, trong đó chi phí mua sắm hơn 120 tỷ đồng và giá trị sử dụng khoảng 110 tỷ đồng Nhóm thuốc hóa dược chiếm ưu thế với 94,87% tổng giá trị thuốc, trong khi nhóm thuốc đông y và thuốc từ dược liệu chỉ chiếm 4,87% Cụ thể, trong giá trị mua sắm, nhóm hóa dược chiếm 97,24% và nhóm đông y/thuốc từ dược liệu chiếm 2,67% Tương tự, trong giá trị sử dụng, nhóm hóa dược cũng chiếm 97,45%, còn nhóm đông y/thuốc từ dược liệu chiếm 2,55%.
3.1.2 Cơ cấu theo nguồn gốc xuất xứ
3.1.2.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.16 Cơ cấu khoản mục thuốc hóa dược theo nguồn gốc xuất xứ STT Nội dung
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Về số KM đối với thuốc SXTN trúng thầu năm 2020 là 417/727 SKM chiếm 57,36%; thuốc nhập khẩu là 310/727, chiếm 42,64% SKM
Trong DMT mua sắm, thuốc sản xuất trong nước chiếm 51,41% tổng kim ngạch, trong khi thuốc nhập khẩu chiếm 48,59% Đối với DMT đã sử dụng, thuốc sản xuất trong nước được sử dụng nhiều hơn với tỷ lệ 54,66%, so với tỷ lệ 45,34% của thuốc nhập khẩu trong tổng số thuốc đã sử dụng.
3.1.2.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.17 Cơ cấu giá trị thuốc hóa dược theo nguồn gốc xuất xứ
Trúng thầu năm 2020 Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Dựa vào thông tin về nước sản xuất được ghi trên giấy phép lưu hành sản phẩm trong hồ sơ đấu thầu, bài viết phân loại nguồn gốc xuất xứ các loại thuốc thành hai nhóm chính: thuốc sản xuất trong nước (SXTN) và thuốc nhập khẩu.
Phân tích cho thấy thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn trong DMT mua sắm, với 44,85% tổng giá trị Tương tự, trong DMT đã sử dụng, thuốc nhập khẩu cũng chiếm 44,74% tổng giá trị sử dụng.
3.1.3 Cơ cấu theo BDG/GN
3.1.3.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.18 Cơ cấu khoản mục thuốc hóa dược theo BDG/GN
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Căn cứ vào kết quả phân tích cho thấy, thuốc BDG chiếm 11,2%, thuốc generic với tỷ lệ cao chiếm 88,8% tổng SKM trúng thầu
Trong mua sắm, thuốc BDG chiếm tỷ lệ thấp hơn so với trong DMTTT chiếm 10,5% tổng số thuốc mua sắm
Trong DMT sử dụng, thuốc BDG chiếm tỷ lệ thấp nhất 10,65% tổng SKM thuốc sử dụng
3.1.3.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.19 Cơ cấu giá trị thuốc hóa dược theo BDG/GN
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Căn cứ công bố danh mục BDG của Bộ Y tế, thuốc sử dụng tại BV chia làm 2 nhóm là thuốc generic và thuốc BDG
Năm 2020, thuốc BDG chiếm 17,27%, thuốc generic trúng thầu chiếm 82,73%, tổng GTTT
Giá trị mua sắm thuốc BDG cao hơn giá trị trúng thầu (24.836 tỷ) chiếm 20,83 % Tỷ lệ sử dụng thuốc BDG/trúng thầu chiếm 18,76 % (20.845 tỷ) tổng GTTT
3.1.4 Cơ cấu theo đường dùng
3.1.4.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.20 Cơ cấu khoản mục thuốc theo đường dùng
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Phân tích số liệu thuốc theo đường dùng cho thấy thuốc đường uống chiếm tỷ lệ lớn trong DMTBV
Thuốc dùng đường uống có 433/727 SKM trúng thầu, chiếm 59,56 %; thuốc đường tiêm/TT chiếm 27,78%
Trong DMT mua sắm, thuốc đường uống chiếm 57,74%, thuốc đường tiêm/TT 29,09%
Có 57,43% thuốc đường uống; 29,30% thuốc tiêm/TT được sử dụng
Tỷ lệ thuốc đường tiêm/TT đã sử dụng tương đương với DMTTT
3.1.4.2 Cơ cấu theo giá trị
Kết quả phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo đường tiêm, đường uống và các đường khác, thành phần, nguồn gốc xuất xứ được thể hiện ở bảng dưới:
Bảng 3.21 Cơ cấu giá trị thuốc theo đường dùng
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Trong DMTTT, thuốc đường uống chiếm 42,30% giá trị; thuốc đường tiêm/TT chiếm 42,98%
Trong cả 3 danh mục, thuốc đường tiêm/TT chiếm tỷ lệ cao
3.1.5 Cơ cấu theo thành phần
3.1.5.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.22 Cơ cấu khoản mục thuốc hóa dược theo thành phần STT Nội dung
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Phân tích cơ cấu thuốc trong DMTBV cho thấy bệnh viện đã chú trọng sử dụng thuốc đơn thành phần theo quy định tại Thông tư 30/2018/TT-BYT.
Thuốc đơn thành phần có 513/727 SKM chiếm 70,56% trong tổng
S KM trúng thầu Thuốc đơn thành phần đã sử dụng có 507/686 thuốc trúng thầu, chiếm 73,91%
3.1.5.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.23 Cơ cấu giá trị thuốc hóa dược theo theo thành phần
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Trong DMTTT, thuốc đơn thành phần có giá trị hơn 132 tỷ đồng, chiếm 66,66%; thuốc đa thành phần chiếm 33,34% tổng GTTT
42 Đồng thời, tỷ lệ giá trị mua sắm (81,85%) và sử dụng (81,22%) của nhóm thuốc này lại cao hơn tỷ lệ GTTT (15,19% và 14,56%)
3.1.6.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.24 Cơ cấu khoản mục thuốc hóa dược theo VEN
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Khảo sát kết quả cho thấy, thuốc hạng E có số SKM lớn nhất trong cả 3 DMTT, mua sắm và đã sử dụng
Với DMT trúng thầu, thuốc hạng V chiếm 20,35% (148 SKM); thuốc hạng E chiếm 69,60%, thuốc hạng N chiếm 10,05%
3.1.6.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.25 Cơ cấu giá trị thuốc hóa dược theo theo VEN
STT Nội dung Trúng thầu năm 2020
Mua sắm năm 2020 Đã sử dụng năm 2020
Phân tích kết quả cho thấy, chiếm giá trị lớn nhất trong DMTTT, mua sắm và đã sử dụng là các thuốc hạng E
Trong DMTTT, thuốc hạng N chiếm tỷ lệ nhỏ với 11,82%; thuốc hạng
E chiếm 63,18%; còn lại thuốc hạng V chiếm 25%
Giá trị thuốc hạng E trong mua sắm (61,94%), sử dụng đồng thời giá trị thuốc hạng N sử dụng thấp hơn (11,16%) so với trúng thầu (11,82%)
3.1.7 Cơ cấu theo Xuất – Nhập – Tồn theo nhóm TDDL
3.1.7.1 Cơ cấu theo các khoản mục
Bảng 3.26 Cơ cấu khoản mục thuốc hóa dược theo nhóm TDDL
STT Nội dung Tồn năm 2019
Thuốc gây tê, gây mê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
Thuốc chống co giật, chống động kinh
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
7 Thuốc điều trị đau nửa đầu 2 0,29 2 0,29 3 0,44 1 0,15
Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
STT Nội dung Tồn năm 2019
11 Thuốc tác dụng đối với máu 22 3,23 25 3,62 34 4,96 13 1,89
13 Thuốc điều trị bệnh da liễu 6 0,88 6 0,87 6 0,87 6 0,87
15 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 4 0,59 5 0,72 6 0,87 3 0,44
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Thuốc huyết thanh và globulin miễn dịch
Thuốc làm mềm cơ và ức chế cholinesterase
Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng
Thuốc có tác dụng thúc sanh, cầm máu sau sanh và chống sanh non
Dung dịch lọc màng bụng, lọc máu
Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh
25 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 25 3,67 30 4,34 35 5,10 20 2,91
26 Dung dịch điều chỉnh nước, điện
STT Nội dung Tồn năm 2019
(%) giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
II Thuốc thành phẩm YHCT 40 5,87 53 7,67 51 7,43 42 6,12
2 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy
3 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 4 0,59 5 0,72 5 0,73 4 0,58
4 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
5 Nhóm thuốc an thần, đinh chí, dưỡng tâm
6 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 6 0,88 6 0,87 6 0,87 6 0,87
7 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí
8 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết
9 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 4 0,59 6 0,87 6 0,87 4 0,58
Trong 27 nhóm thuốc hóa dược và 9 nhóm thuốc đông y/thuốc từ dược liệu như phân chia trong thông tư 30/2018/TT-BYT và thông tư 05/2015/TT- BYT thì các DMT được sử dụng ở Bệnh viện Bà Rịa được phân chia thành 27 nhóm theo tác dụng dược lý và 9 nhóm thuốc đông y/thuốc từ dược liệu,trong đó, có 5 nhóm tác dụng dược lý được sử dụng chủ yếu
Trong năm 2019, thị trường thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ lớn nhất với 18,91% tổng giá trị, tiếp theo là thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn với 16,57% Các loại thuốc đường tiêu hóa, hormone và thuốc tác động lên hệ thống nội tiết lần lượt chiếm 8,94% và 8,21% Cuối cùng, dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác chiếm 6,3%.
Trong DMT mua sắm năm 2020, nhóm thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất là thuốc tim mạch với 18,18%, tiếp theo là thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm 16,21% Thuốc đường tiêu hóa chiếm 9,12%, trong khi hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết chiếm 7,67% Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác chiếm 5,35%, trong khi các nhóm thuốc còn lại có tỷ lệ nhỏ hơn.
Vào cuối năm 2020, DMT xuất và tồn tương đương về SKM, với nhóm thuốc tim mạch chiếm 15,16% và 20,52%; nhóm thuốc điều trị KST và chống nhiễm khuẩn chiếm 15,31% và 17,47% Nhóm thuốc dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác chiếm 8,02% và 3,64% Cuối cùng, nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp chiếm 5,10% và 2,91%.
3.1.7.2 Cơ cấu theo giá trị
Bảng 3.27 Cơ cấu giá trị thuốc hóa dược theo theo nhóm TDDL
1 Thuốc gây tê, gây mê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ
2 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm
TL (%) không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
3 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
4 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
5 Thuốc chống co giật, chống động kinh
6 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
7 Thuốc điều trị đau nửa đầu
8 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
9 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu
11 Thuốc tác dụng đối với máu
13 Thuốc điều trị bệnh da 16 0,09 180 0,15 175 0,15 21 0,08
15 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn
18 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
19 Thuốc huyết thanh và globulin miễn dịch
20 Thuốc làm mềm cơ và ức chế cholinesteras e
21 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng
22 Thuốc có tác dụng thúc sanh, cầm máu sau sanh và chống sanh non
23 Dung dịch lọc màng bụng, lọc máu
24 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh
26 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
2 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy
3 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp
4 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
5 Nhóm thuốc an thần, đinh chí, dưỡng tâm
6 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế
7 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí
8 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm,
9 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan
Phân tích số liệu cho thấy các nhóm thuốc chiếm tỷ lệ lớn về giá trị trong DMT tồn năm 2019 Đồng thời, các DMT Nhập - Xuất - Tồn năm 2020 có sự khác biệt rõ rệt về nhóm TDDL.
Vào năm 2019, nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ lớn nhất với 39,22%, tiếp theo là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn với 14,39% Các nhóm thuốc khác bao gồm thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh (5,38%), thuốc lợi tiểu (5,14%), thuốc đường tiêu hóa (4,98%), hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết (4,53%).
Trong năm 2020, nhóm thuốc điều trị KST và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng giá trị mua sắm với 33,40%, tiếp theo là thuốc tim mạch (9,42%) và thuốc tác dụng đối với máu (8,63%) Các dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác cũng chiếm 7,69% Tương tự, trong việc sử dụng và tồn kho, nhóm thuốc điều trị KST và chống nhiễm khuẩn chiếm 34,65% và 15,18%, trong khi thuốc tim mạch chiếm 16,09% và 1,59% Các dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và các dung dịch tiêm truyền khác lần lượt chiếm 7,95% và 3,70%.
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ TỒN TẠI
3.2.1.1 Thuốc đã cung ứng năm 2020 (Tồn 2019 chuyển sang + Nhập 2020)
Bảng 3.28 Cơ cấu theo phân loại ABC thuốc đã cung ứng năm 2020 STT Phân hạng
Giá trị cộng dồn Số Khoản mục
Phân tích cho thấy thuốc nhóm A chiếm 14,04% về số lượng sử dụng (SKM) và 76,74% về giá trị sử dụng (GTSD) Trong khi đó, thuốc nhóm B chiếm 18,96% SKM và 15,74% GTSD Cuối cùng, thuốc nhóm C có 463 SKM, tương ứng với 67% và 7,52% GTSD.
3.2.1.2 Thuốc đã tiêu thụ/sử dụng năm 2020 (xuất năm 2020)
Bảng 3.29 Cơ cấu thuốc theo phân loại ABC thuốc đã sử dụng năm 2020 STT Phân hạng Giá trị cộng dồn Số Khoản mục
Giá trị (triệu đồng) TL (%) SL TL (%)
Kết quả phân tích cho thấy, thuốc nhóm A chiếm 14% về số lượng (SKM) và 77,88% về giá trị sử dụng (GTSD) Thuốc nhóm B chiếm 18,95% SKM và 14,22% GTSD, trong khi thuốc nhóm C có 460 SKM, tương ứng với 67,05% SKM và 7,8% GTSD.
3.2.2 Phân tích ma trận ABC/VEN thuốc đã cung ứng năm 2020
Bảng 3.30 Cơ cấu thuốc theo ma trận ABC/VEN thuốc đã cung ứng năm 2020 STT Phân loại
Nhóm AE dẫn đầu về giá trị sử dụng với 68.863 triệu đồng, tiếp theo là nhóm AN với 17.002 triệu đồng Nhóm BE đạt 11.420 triệu đồng, trong khi nhóm BN chỉ có giá trị 2.124 triệu đồng Mặc dù nhóm CE có số SKM cao nhất với 304 SKM, giá trị của nhóm này chỉ đạt 7.690 triệu đồng.
Trong DMT, nhóm AV có 30 SKM, nhóm AN có 21 SKM, nhóm BN có 20 SKM, và nhóm CN có 111 SKM với tổng giá trị lần lượt là 22.358 triệu đồng, 17.002 triệu đồng, 2.124 triệu đồng và 1.616 triệu đồng.
3.2.2.1 Phân tích AN, BN a Nhóm AN:
Nhóm thuốc AN, mặc dù không thiết yếu, lại có chi phí sử dụng cao Bài viết này tiến hành phân tích việc sử dụng nhóm thuốc AN qua bảng số liệu cụ thể.
Bảng 3.31 Các thuốc nhóm AN trong danh mục thuốc cung ứng năm 2020
STT Tên thuốc Đơn vị tính
Giá Số lượng Thành tiền
Qua kết quả phân tích cho thấy, nhóm thuốc AN có 21 thuốc Trong đó, thuốc hỗn hợp vitamin chiếm tỷ lệ cao nhất 9.239.860.000 đồng, tiếp theo là
54 thuốc Calcitriol chiếm 5.159.015.000 đồng, thuốc Vitamin B1 + vitamin B6 + vitamin B12(175mg + 175mg + 125mcg) chiếm 857.500.000 đồng b Nhóm BN
Bảng 3.32 Các thuốc nhóm BN trong danh mục thuốc cung ứng năm 2020
STT Tên thuốc Đơn vị tính Giá Số lượng
1 Hoàn bát vị bổ thận dương Viên 174.993 6.740 1.179.452.820
3 Dưỡng huyết thanh não Gói 10.200 7.760 79.152.000
5 Xương khớp nhất nhất Viên 4.500 9.780 44.010.000
9 Hoạt huyết dưỡng não TP Gói 3.199 8.850 28.311.150
11 Tuần hoàn não thái dương Viên 2.916 7.600 22.161.600
13 Dưỡng tâm kiện tỳ hoàn Viên 4.000 4.280 17.120.000
14 Hoạt Huyết Nhất Nhất Viên 2.830 5.670 16.046.100
15 Bổ trung ích khí Viên 3.500 3.500 12.250.000
18 Cao lỏng bát trân Ống 7.797 1.060 8.264.820
20 Cholapan viên mật nghệ Viên 735 2.410 1.771.350
Trong nhóm bệnh nhân, thuốc hoàn bát vị bổ thận dương có giá trị cao nhất với 1.179.452.820 đồng, tiếp theo là siro ho Prospan với 509.905.000 đồng, dưỡng huyết thanh não 79.152.000 đồng, và Piascledine 67.194.400 đồng Trong khi đó, thuốc có giá trị thấp nhất là Mimosa với 2.583.000 đồng.
3.2.2.2 Phân tích BE, CE Để xác định các thuốc cần thiết (E) có trong nhóm BE, CE Đ ề tài tiến hành phân tích nhóm BE, CE và có bảng số liệu như sau: a Nhóm BE
Bảng 3.33 Các thuốc nhóm BE trong danh mục thuốc đã cung ứng năm 2020
STT Nhóm thuốc SKM Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
1 Thuốc điều trị KST, chống nhiễm khuẩn 10 24,39 1.992 17,44
2 Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid 1 2,44 1.450 12,70
5 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải 6 14,63 1.320 11,56
6 Thuốc tác dụng đối với máu 2 4,88 1.110 9,72
7 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 1 2,44 862 7,55
9 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 5 12,20 667 5,84
10 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 2 4,88 456 3,99
Kết quả phân tích cho thấy nhóm thuốc BE bao gồm 10 nhóm tác dụng dược lý khác nhau Trong đó, thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 24,39% về số lượng SKM và 17,44% giá trị Tiếp theo là nhóm thuốc tim mạch, chiếm 21,95% SKM và 12,26% giá trị Cuối cùng, nhóm dung dịch điều chỉnh nước và điện giải đứng thứ ba với 14,63% SKM và 11,56% giá trị.
Kết quả phân tích trong bảng 3.19 cho thấy cả ba nhóm thuốc CE đều chiếm vị trí cao nhất, cụ thể là thứ 1, 2 và 3 khi phân loại theo nhóm tác dụng dược lý.
Bảng 3.34 Các thuốc nhóm CE trong danh mục thuốc đã cung ứng năm 2020
STT Nhóm thuốc SKM Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
1 Thuốc tác dụng đối với máu 18 5,92 972 12,64
2 Thuốc điều trị KST, chống nhiễm khuẩn 33 10,86 906 11,78
3 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải 34 12,1 788 10,2
6 Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid 12 3,95 543 7,60
9 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 20 6,58 324 4,21
10 Thuốc làm mềm cơ và ức chế cholinesterase 10 3,29 266 3,46
11 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 5 1,64 252 3,28
13 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh 11 3,62 201 2,61
14 Thuốc chống co giật, chống động kinh 8 2,63 171 2,22
16 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 16 5,26 151 1,96
17 Thuốc điều trị đau nửa đầu 6 1,97 126 1,64
18 Thuốc điều trị bệnh da liễu 7 2,30 116 1,51
20 Thuốc điều trị mắt, tai, mũi họng 15 4,93 54 0,70
22 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu 4 1,32 36 0,47
23 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 1 0,33 18 0,23
Nhóm thuốc CE bao gồm 23 nhóm thuốc điều trị (TDDL), trong đó nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 33 loại thuốc, tương đương 10,86% tổng số thuốc và 11,78% về giá trị Nhóm thuốc tim mạch đứng thứ hai với 30 sản phẩm, cùng với 25 sản phẩm dung dịch điều chỉnh nước và điện giải Các nhóm thuốc còn lại chỉ có từ 1 đến 24 loại thuốc.
3.2.3 Phân tích ma trận ABC/VEN thuốc đã sử dụng năm 2020
Bảng 3.35 Cơ cấu danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN thuốc đã sử dụng năm 2020
Nhóm AE có GTSD cao nhất với 60.135 triệu đồng; tiếp theo là nhóm
AN với 10.117 triệu đồng; nhóm BE tương ứng 13.554 triệu đồng và nhóm
BN có GTSD là 1.483 triệu đồng Nhóm CE có SKM nhiều nhất 302 SKM nhưng chỉ chiếm 7.227 triệu đồng về giá trị
Trong danh mục thuốc nhóm AV có 30 SKM, có 21 thuốc nhóm AN,
20 SKM thuốc nhóm BN, 110 thuốc nhóm CN với giá trị là 18.536 triệu đồng 10.117 triệu đồng, 1.483 triệu đồng và 1.120 triệu đồng
3.2.3.1 Phân tích AN, BN a Nhóm AN
Nhóm thuốc AN mặc dù không thiết yếu nhưng lại có chi phí sử dụng cao Bài viết này sẽ phân tích việc sử dụng nhóm thuốc AN dựa trên bảng dữ liệu đã được cung cấp.
Bảng 3.36 Các thuốc nhóm AN trong danh mục thuốc sử dụng năm 2020
STT Tên thuốc Đơn vị tính Giá Số lượng Thành tiền
11 Engshi - OPC Viên phong thấp
18 Khang Minh Thanh Huyết Viên 428 1.929.000 82.5612.000
Nhận xét: Đối với phân nhóm AN có 21 thuốc trong đó có hoàn toàn thuốc vitamin
Thuốc Tadimax là thuốc có tỷ lệ về GTSD (1.119.680.000 đồng), tiếp theo là Calcitriol với 1.045.255.000 đồng Thuốc có GTSD thấp nhất là Vitamin A +
D 5000IU + 500IU với 21.630.000 triệu đồng b Nhóm BN:
Bảng 3.37 Các thuốc nhóm BN trong danh mục thuốc sử dụng năm 2020
STT Tên thuốc Đơn vị tính
Giá Số lượng Thành tiền
1 Hoàn bát vị bổ thận dương Viên 174.993 3.740 654.473.800
3 Dưỡng huyết thanh não Gói 10.200 5.760 58.752.000
5 Xương khớp nhất nhất Viên 4.500 7.600 34.200.000
8 Hoạt huyết dưỡng não TP Gói 3.199 7.200 23.032.800
10 Tuần hoàn não thái dương Viên 2.916 6.200 18.079.200
11 Dưỡng tâm kiện tỳ hoàn Viên 4.000 4.080 16.320.000
13 Hoạt Huyết Nhất Nhất Viên 2.830 3.670 10.386.000
14 Bổ trung ích khí Viên 3.500 2.500 8.750.000
15 Cao lỏng bát trân Ống 7.797 960 7.485.120
STT Tên thuốc Đơn vị tính
Giá Số lượng Thành tiền
20 Cholapan viên mật nghệ Viên 735 2.110 1.550.850
Trong số 20 loại thuốc được phân nhóm, Hoàn bát vị bổ thận dương có giá trị sử dụng cao nhất với 654.473.800 đồng Tiếp theo là siro ho Prospan với giá trị 484.505.000 đồng, trong khi thuốc có giá trị thấp nhất là Dưỡng huyết thanh não với 58.752.000 đồng.
Phỏng vấn sâu về nguyên nhân kê thuốc AN, BN thu được kết quả:
“Chính sách của Bộ Y tế tăng cường phối hợp điều trị giữa YHCT với y học hiện đại dẫn đến thuốc này được chỉ định tương đối nhiều (PV1)
Các thuốc thành phẩm YHCT thường có tác dụng điều trị chậm, cần sử dụng lâu dài và với liều lượng lớn Hơn nữa, giá thành của chúng cao hơn so với thuốc hóa dược Những yếu tố này làm cho giá trị sử dụng của các thuốc YHCT trở nên cao, mặc dù chúng không phải là thuốc thiết yếu.
Người bệnh chủ yếu đến từ nông thôn với tư duy coi trọng hiệu quả, vì vậy họ thường yêu cầu bác sĩ kê thêm thuốc bổ Họ tin rằng uống nhiều thuốc bổ sẽ mang lại lợi ích cho sức khỏe Nếu bác sĩ không đồng ý kê thêm thuốc, bệnh nhân sẽ không tuân thủ điều trị, gây áp lực cho bác sĩ.
3.2.3.2 Phân tích BE, CE Để xác định các thuốc cần thiết (E) có trong nhóm BE, CE Đề tài tiến hành phân tích nhóm BE, CE và có bảng số liệu như sau: a Nhóm BE
Bảng 3.38 Các thuốc nhóm BE trong danh mục thuốc đã sử dụng năm 2020
STT Nhóm thuốc SKM Tỷ lệ %
1 Thuốc điều trị KST, chống nhiễm khuẩn 8 20,00 3.709 27,36
3 Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid 1 2,50 1.635 12,06
5 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải 6 15,00 1.459 10,76
7 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
8 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 4 10,00 633 4,60
10 Thuốc tác dụng đối với máu 3 7,50 2.025 0,01
11 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 2 5,00 462 3,41