1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ

99 30 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dương Thị Thanh Tâm Phân Tích Hiệu Quả Hoạt Động Can Thiệp Trong Chương Trình Quản Lý Sử Dụng Kháng Sinh Nhằm Tối Ưu Hóa Chuyển Đổi Kháng Sinh Đường Tiêm Truyền Sang Đường Uống Tại Trung Tâm Quốc Tế Bệnh Viện Nhi Trung Ương
Tác giả Dương Thị Thanh Tâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Thúy Vân, TS. Nguyễn Thị Hồng Hà
Trường học Trường Đại học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. Chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống (IV-PO) 3 1. Đường tiêm truyền và đường uống trong sử dụng kháng sinh (12)
      • 1.1.2. Lợi ích của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống (13)
      • 1.1.3. Nghiên cứu chuyển đổi kháng sinh IV-PO (15)
    • 1.2. Can thiệp chuyển đổi kháng sinh IV-PO (21)
      • 1.2.1. Tầm quan trọng của các can thiệp chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống (21)
      • 1.2.2. Hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh IV-PO ở trẻ em (22)
    • 1.3. Hoạt động quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương (31)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nội dung phân tích thực trạng chuyển đổi đường dùng kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống. 30 1. Phân tích thực trạng chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống trên bệnh án (39)
      • 2.1.2. Phân tích quan điểm của bác sĩ về thực hiện chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống (40)
    • 2.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nội dung phân tích hiệu quả (42)
      • 2.2.1. Phân tích kết quả chuyển đổi kháng sinh IV-PO trước và sau can thiệp (42)
      • 2.2.2. Khảo sát các rào cản trong quá trình triển khai can thiệp chuyển đổi IV- (46)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. Phân tích thực trạng chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống trên bệnh án (49)
      • 3.1.1. Phân tích tỉ lệ chuyển dổi kháng sinh IV-PO trên bệnh án (49)
    • 3.2. Phân tích hiệu quả can thiệp chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền (56)
      • 3.2.1. Phân tích kết quả chuyển đổi kháng sinh IV-PO trước và sau can thiệp trên bệnh nhân (56)
      • 3.2.2. Tìm hiểu các rào cản của quá trình triển khai can thiệp chuyển đổi IV-PO thông qua ý kiến của bác sĩ (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (68)
    • 4.1. Tỷ lệ bệnh nhân đủ điều kiện chuyển đổi kháng sinh IV-PO (68)
    • 4.2. Đánh giá hiệu quả của các can thiệp IV-PO đã thực hiện (69)
    • 4.3. Tìm hiểu một số rào cản liên quan đến chuyển đổi IV-PO và một số đề xuất nhằm tăng tỷ lệ chuyển đổi (75)
  • PHỤ LỤC (86)

Nội dung

TỔNG QUAN

Chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống (IV-PO) 3 1 Đường tiêm truyền và đường uống trong sử dụng kháng sinh

1.1.1 Đường tiêm truyền và đường uống trong sử dụng kháng sinh Đường đưa thuốc vào cơ thể là yếu tố có ảnh hưởng lớn tới sự hấp thu và tác dụng của thuốc Một số thuốc khi dùng theo các đường đưa thuốc khác nhau thì tác dụng, hiệu quả và độ an toàn của thuốc cũng khác nhau Mỗi đường đưa thuốc đều có những ưu, nhược điểm riêng Việc đưa thuốc đúng đường, đúng cách dùng sẽ góp phần quan trọng mang lại hiệu quả và độ an toàn trong điều trị Hai đường dùng chủ yếu của kháng sinh đó là đường uống và đường tiêm Tùy theo tình trạng cụ thể của người bệnh, bác sĩ sẽ xem xét quyết định sử dụng đường dùng kháng sinh phù hợp Đường uống là đường đưa thuốc thông dụng nhất Hầu hết các thuốc đều có thể đưa qua đường uống, trừ một số trường hợp như: hoạt chất không hấp thu ở ruột, bị phân hủy bởi men tiêu hóa hoặc bị phá hủy quá nhiều khi qua gan ở vòng tuần hoàn đầu Đường uống là đường dùng thuốc đơn giản, thuận tiện, người bệnh lớn và người nhà bệnh nhân nhi có thể tự sử dụng Thuốc uống không được đưa thẳng tới cơ quan cần điều trị mà phải được hấp thu qua đường tiêu hóa nên thời gian xuất hiện tác dụng của thuốc thường chậm Ưu điểm của việc đưa thuốc theo đường uống là dễ sử dụng, an toàn hơn so với đường tiêm; dạng bào chế sẵn có và thường rẻ hơn các dạng thuốc khác Tuy nhiên, sử dụng thuốc qua đường uống cũng có nhược điểm là sinh khả dụng rất dao động vì sự hấp thu thuốc phụ thuộc nhiều yếu tố như pH dịch vị, thời gian uống, khoảng cách so với bữa ăn

Kháng sinh uống có thể được phân loại thành bốn nhóm dựa trên sinh khả dụng của thuốc, cho phép chuyển đổi từ đường tiêm truyền sang đường uống.

- Nhóm 1: Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống cao (>90%), hấp thu tốt và dung nạp tốt ở liều tương tự liều tiêm: levofloxacin, linezolid, fluconazol…

- Nhóm 2: Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống thấp hơn (70-80%) nhưng có thể bù trừ bằng tăng liều của kháng sinh uống: ciprofloxacin, voriconazol

Nhóm 3 bao gồm các kháng sinh có sinh khả dụng đường uống cao hơn 90%, nhưng liều tối đa đường uống lại thấp hơn so với liều tiêm, do khả năng dung nạp tiêu hóa kém Các kháng sinh trong nhóm này bao gồm clindamycin, cephalexin và amoxicillin.

- Nhóm 4: Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống thấp hơn và liều tối đa thấp hơn đường tiêm

Thuốc nhóm 3-4 có thể được sử dụng trong chuyển tiếp từ đường tiêm tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) khi nhiễm khuẩn cơ bản đã được điều trị bằng kháng sinh tiêm ban đầu Đường tiêm truyền tĩnh mạch đảm bảo sinh khả dụng cao vì thuốc được hấp thu trực tiếp vào máu, mang lại tác dụng nhanh chóng và hiệu quả Phương pháp này cũng giúp bù đắp nhanh chóng lượng nước, điện giải và tế bào mất đi do phẫu thuật hoặc tai nạn Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc đường tiêm yêu cầu kỹ thuật cao và dụng cụ phức tạp, đồng thời cần đảm bảo vô trùng để tránh nguy cơ nhiễm trùng Do đó, thuốc tiêm chỉ nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, nhiễm trùng nặng hoặc khi bệnh nhân không thể uống thuốc.

1.1.2 Lợi ích của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống

Kháng sinh là loại thuốc phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân gây tốn kém lớn trong bệnh viện Việc chọn lựa đường dùng phù hợp là yếu tố quan trọng trong việc sử dụng kháng sinh hiệu quả Một nghiên cứu năm 2014 cho thấy gần 50% trẻ em nhập viện tại Australia được kê ít nhất một loại kháng sinh tiêm, thường kéo dài thời gian sử dụng hơn mức cần thiết.

Trong những năm gần đây, liệu pháp chuyển đổi từ đường tiêm truyền sang đường uống, đặc biệt là trong việc sử dụng kháng sinh, đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và cho thấy nhiều ưu điểm Phương pháp điều trị này thường bắt đầu bằng việc sử dụng thuốc qua đường tĩnh mạch trong 2-3 ngày, sau đó chuyển sang điều trị bằng đường uống, được gọi là "liệu pháp chuyển đổi", đang được triển khai tại nhiều cơ sở y tế.

Nhìn chung, chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống ở bệnh nhân có thể mang lại những lợi ích như sau [6]:

Giảm tác dụng không mong muốn:

Việc duy trì đường tĩnh mạch có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến các dụng cụ can thiệp như kim luồn và catheter, đặc biệt là với các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc Điều này dẫn đến nguy cơ tử vong cao hơn, thời gian nằm viện kéo dài và gánh nặng tài chính trong điều trị Bệnh nhân sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch có thể gặp biến cố bất lợi như viêm tắc huyết khối tĩnh mạch, với triệu chứng đau, ngứa và nổi mẫn đỏ, thường tự cải thiện sau khi ngừng tiêm truyền Nguy cơ này tăng lên khi truyền nhanh hoặc vào tĩnh mạch nhỏ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lý (2020) cho thấy 93,6% các báo cáo ADR liên quan đến kháng sinh là do đường tiêm/truyền, với tỷ lệ phản ứng tại vị trí tiêm truyền chiếm 6,5% Chuyển đổi sớm sang đường uống có thể giúp giảm nguy cơ thừa dịch, đặc biệt ở bệnh nhân nặng hoặc có vấn đề về thận, điện giải và tim mạch.

Việc sử dụng thuốc đường uống thay vì thuốc tiêm truyền giúp giảm thời gian nằm viện và mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân Thuốc tiêm truyền yêu cầu điều dưỡng theo dõi, khiến bệnh nhân phải ở lại bệnh viện lâu hơn, trong khi thuốc uống có thể được bệnh nhân hoặc người nhà tự thực hiện, cho phép xuất viện sớm hơn Quan điểm chăm sóc dược không chỉ tập trung vào hiệu quả lâm sàng mà còn chú trọng đến sự thoải mái của bệnh nhân Do đó, việc rút ngắn thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm truyền, khi đảm bảo các điều kiện cần thiết, là rất quan trọng để giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục và trở lại cuộc sống bình thường.

Giúp giảm thiểu gánh nặng công việc và sai sót của nhân viên y tế trong thực hành thuốc:

Giảm sử dụng kháng sinh tiêm trong lâm sàng giúp rút ngắn thời gian thực hành thuốc cho bệnh nhân, bao gồm tính liều và pha chế thuốc tiêm Việc này không chỉ đơn giản hóa quy trình mà còn nâng cao hiệu quả điều trị.

Việc giảm tần suất sai sót trong y khoa, đặc biệt là trong sử dụng kháng sinh, có thể đạt được thông qua việc quản lý khối lượng công việc hiệu quả Sử dụng thuốc đường tĩnh mạch là một quy trình phức tạp, nơi các sai sót thường xảy ra và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014 cho thấy rằng đường tiêm truyền tĩnh mạch có tỷ lệ sai sót cao nhất trong thực hành thuốc cho trẻ em, gấp gần 4 lần so với đường dùng thuốc uống.

Giúp tiết kiệm chi phí:

Hầu hết các kháng sinh đường uống có giá thấp hơn so với kháng sinh đường tiêm, và việc sử dụng đường tiêm còn phát sinh nhiều chi phí ẩn như chi phí cho chuyên gia y tế, điều dưỡng, và vật tư y tế tiêu hao Do đó, kháng sinh đường tiêm có thể tạo gánh nặng tài chính cho bệnh nhân Chuyển đổi sớm từ đường tiêm sang đường uống giúp tiết kiệm đáng kể chi phí điều trị, với một nghiên cứu tại Fraser, Canada cho thấy có thể tiết kiệm 788.660$/năm khi chuyển đổi kịp thời Nghiên cứu của P.Korgelly và M.Atkinson cũng chỉ ra rằng trẻ em điều trị viêm phổi bằng kháng sinh tiêm truyền có thời gian nằm viện lâu hơn và chi phí cao hơn so với điều trị bằng kháng sinh đường uống, với sự tiết kiệm khoảng 488 £ cho mỗi trẻ khi sử dụng amoxicillin uống.

Việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống mang lại nhiều lợi ích, do đó cần chú trọng tìm kiếm giải pháp để nâng cao tỷ lệ bệnh nhân được chuyển đổi một cách hợp lý và kịp thời Điều này không chỉ đảm bảo hiệu quả điều trị mà còn giảm nguy cơ cho người bệnh và tiết kiệm chi phí cho họ.

1.1.3 Nghiên cứu chuyển đổi kháng sinh IV-PO

Từ những năm 1950, kháng sinh tiêm tĩnh mạch đã trở thành lựa chọn hàng đầu cho việc điều trị nhiễm trùng trong bệnh viện Quan điểm về hiệu quả của liệu trình kháng sinh liên tục qua đường tĩnh mạch đã được duy trì trong thời gian dài.

Sự phát triển của kháng sinh đường uống có sinh khả dụng cao đang ngày càng được chú trọng trong thực hành lâm sàng trên toàn thế giới, đặc biệt trong bối cảnh có nhiều kháng sinh mới ra đời với hiệu quả tương đương kháng sinh tiêm Vào những năm cuối thế kỷ XX, tính hiệu quả của kháng sinh đường uống đã thu hút sự quan tâm lớn, nhờ vào sự phát triển của ngành dược phẩm với các dạng bào chế phù hợp và giá thành thấp hơn, giúp kháng sinh uống dễ tiếp cận hơn cho nhiều bệnh nhân Bên cạnh đó, lo ngại về các biến cố bất lợi từ kháng sinh tiêm, như viêm tĩnh mạch huyết khối, cùng với nhu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc dược và cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân, đã thúc đẩy việc sử dụng kháng sinh đường uống Áp lực về kinh tế y tế cũng là một yếu tố quan trọng đang dần thay đổi thói quen trong thực hành lâm sàng, đặc biệt là liên quan đến kháng sinh tiêm.

Việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống mang lại nhiều lợi ích, với nhiều nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả, an toàn và chi phí của các phác đồ kháng sinh uống Các thử nghiệm lâm sàng ngày càng gia tăng, giúp bác sĩ tin tưởng hơn trong việc áp dụng phương pháp này cho nhiều bệnh lý nhiễm trùng khác nhau Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, gần 80% bệnh nhân điều trị kháng sinh tiêm tĩnh mạch có khả năng chuyển sang kháng sinh uống, nhưng thực tế chỉ có khoảng 20% được thực hiện sau 3 ngày Ngoài ra, các biện pháp can thiệp đã giúp giảm thời gian sử dụng kháng sinh IV từ 4,05 ngày xuống 2,81 ngày và rút ngắn thời gian nằm viện trung bình 1,44 ngày, đồng thời tiết kiệm chi phí kháng sinh.

Can thiệp chuyển đổi kháng sinh IV-PO

1.2.1 Tầm quan trọng của các can thiệp chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống

Lựa chọn đường dùng kháng sinh phù hợp là yếu tố quan trọng trong chính sách sử dụng kháng sinh an toàn Bộ Y tế khuyến cáo rằng kháng sinh tĩnh mạch chỉ nên được sử dụng cho các trường hợp nhiễm trùng nặng hoặc khi bệnh nhân không thể uống thuốc Tuy nhiên, nhiều bệnh viện vẫn lạm dụng kháng sinh tĩnh mạch do thói quen điều trị truyền thống, mặc dù kháng sinh đường uống có thể thay thế Nghiên cứu cho thấy 40% bệnh nhân nội trú có thể chuyển sang dùng kháng sinh đường uống sau 2-3 ngày điều trị, nhưng thực tế, 60-75% bệnh nhân đủ điều kiện không được chuyển đổi, gây ra gánh nặng y tế và kinh tế.

Một trong những chiến lược quan trọng để tối ưu hóa việc sử dụng thuốc kháng sinh là chuyển đổi từ liệu pháp tiêm tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) Các can thiệp IV-PO không chỉ giúp giảm thời gian nằm viện mà còn rút ngắn thời gian điều trị kháng sinh, đóng vai trò thiết yếu trong quản lý kháng sinh tại bệnh viện Kể từ những năm 1990, nhiều quốc gia đã áp dụng chương trình chuyển đổi này, và các nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả, an toàn và tiết kiệm chi phí của nó Tuy nhiên, việc thực hiện chuyển đổi kháng sinh đúng thời điểm vẫn gặp nhiều trở ngại trong thực tế.

Chuyển đổi đường dùng thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn và hợp lý cho bệnh nhân Nội dung này được nhấn mạnh trong Hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, được Bộ Y tế ban hành theo Quyết định 5631/QĐ-BYT năm 2020 Hướng dẫn này đề cập đến hai nội dung quan trọng liên quan đến việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống.

Bài viết đề cập đến hai hướng dẫn quan trọng trong việc chuyển đổi kháng sinh, bao gồm “Xây dựng hướng dẫn chuyển kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường uống trong điều kiện cho phép” và “Can thiệp chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống” Những hướng dẫn này nhằm tối ưu hóa việc sử dụng kháng sinh, đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

Hướng dẫn chuyển kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường uống là một trong sáu quy định quan trọng về sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Hướng dẫn này dựa trên đáp ứng lâm sàng của người bệnh và đưa ra sơ đồ chuyển đổi kháng sinh để các bệnh viện tham khảo Danh mục kháng sinh có thể chuyển đổi và các hình thức chuyển đổi cũng được gợi ý Hướng dẫn năm 2020 cung cấp sơ đồ chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống, đặc biệt cho bệnh nhi sử dụng kháng sinh tĩnh mạch, giúp các cơ sở điều trị có cơ sở vững chắc trong việc xem xét chuyển đổi đường dùng cho nhóm bệnh nhân này.

Hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện theo Quyết định 5631/QĐ-BYT năm 2020 đã đề xuất can thiệp chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống Để thực hiện điều này, cần đảm bảo rằng tất cả nhân viên y tế liên quan được đào tạo để thực hiện chuyển đổi kháng sinh trong lâm sàng Bên cạnh đó, việc rà soát và xem xét các bệnh nhân đang sử dụng kháng sinh đường tiêm là cần thiết để chuyển đổi sang đường uống phù hợp, đồng thời đánh giá hàng ngày khả năng đáp ứng các tiêu chí chuyển đổi Những nội dung này là cơ bản để triển khai hoạt động chuyển đổi kháng sinh tại các bệnh viện.

1.2.2 Hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh IV-PO ở trẻ em

Chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống là một quy trình quan trọng và hiệu quả trong điều trị Để thực hiện chuyển đổi này, cần có hướng dẫn rõ ràng Các yếu tố cần lưu ý bao gồm xác định đúng tình trạng bệnh nhân, chẩn đoán chính xác và lựa chọn thuốc phù hợp, đồng thời cần chú ý đến các chống chỉ định của thuốc Việc xác định các tiêu chí cần thiết sẽ giúp đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình điều trị.

Việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống phụ thuộc vào từng bệnh viện, nhưng thường dựa trên các yếu tố chính như sau: 14 điều kiện cần xem xét.

- Đường tiêu hóa của bệnh nhân vẫn nguyên vẹn và hoạt động bình thường;

- Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện;

- Không bao gồm các yếu tố loại trừ;

- Các yếu tố khác như có sẵn dạng bào chế đường uống phù hợp, khả năng tuân thủ điều trị tốt… cũng được đề cập

Các yếu tố loại trừ trong việc thực hiện chuyển đổi từ đường tiêm IV sang đường uống PO rất đa dạng giữa các bệnh viện, bao gồm huyết động không ổn định, kém hấp thu đường ruột, và các triệu chứng như hôn mê, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy Ngoài ra, các bệnh mắc kèm không ổn định và một số bệnh nhiễm khuẩn cũng không nên sử dụng đường uống do khó đạt nồng độ tại vị trí điều trị hoặc cần kéo dài thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm.

Bệnh nhân có hệ miễn dịch suy giảm, những người không đáp ứng với phác đồ điều trị đường uống trước đó, và trẻ sơ sinh cần được xem xét chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống Các bác sĩ có thể áp dụng những phương pháp khác nhau trong quá trình này Children's Health Queensland Hospital and Health Service đã đưa ra hướng dẫn về việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tĩnh mạch sang đường uống sớm cho trẻ em, với tiêu chuẩn xem xét chuyển đổi IV-PO sau 24 giờ.

Sau 48 giờ sử dụng thuốc kháng sinh đường tĩnh mạch, có một số tiêu chí quan trọng cần xem xét để chuyển đổi sang đường dùng khác Những tiêu chí này bao gồm: bệnh nhân có nhiệt độ dưới 38°C trong 24 đến 48 giờ, không có dấu hiệu nhiễm trùng huyết, có khả năng dung nạp đồ uống và thức ăn, và không có triệu chứng kém hấp thu qua đường tiêu hóa như nôn mửa, tiêu chảy, hội chứng ruột ngắn, hoặc chảy máu dạ dày-ruột đang hoạt động.

Một số nhiễm trùng ở trẻ em có thể xem xét chuyển đổi từ đường tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO), bao gồm nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện, nhiễm trùng ổ bụng, viêm phổi, nhiễm trùng da và mô mềm, viêm xoang, và nhiễm trùng đường tiết niệu Tuy nhiên, việc chuyển đổi này không được khuyến nghị cho các nhiễm khuẩn nặng như viêm màng não do vi khuẩn, nhiễm trùng dòng máu do vi khuẩn Gram âm, nhiễm trùng huyết do S aureus, và nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương.

Bài viết đề cập đến các tình trạng y tế như bệnh xơ nang, ap xe sâu, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng nội mạch, nhiễm trùng thiết bị tĩnh mạch trung tâm và viêm ruột hoại tử Nhóm bệnh nhân không nên chuyển từ đường dùng tĩnh mạch sang đường uống bao gồm những người bị ức chế miễn dịch, có tình trạng hấp thu kém, tiêu chảy nặng, buồn nôn và nôn không kiểm soát, cũng như trẻ sơ sinh (mặc dù không phải là chống chỉ định tuyệt đối nhưng cần thảo luận với nhóm Bệnh truyền nhiễm Nhi khoa) Hướng dẫn cũng cung cấp danh sách các kháng sinh đường uống phù hợp để thay thế cho kháng sinh đường tiêm truyền ở trẻ em.

ANZPID-ASAP gần đây đã công bố một đánh giá hệ thống về thời gian sử dụng kháng sinh và thời điểm chuyển từ đường tĩnh mạch sang đường uống cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn ở trẻ em Hướng dẫn này đề cập đến một số bệnh cụ thể và các tiêu chí như thời gian tối thiểu điều trị bằng kháng sinh đường tiêm, tiêu chí chuyển sang kháng sinh đường uống và thời gian tối thiểu điều trị Các nhóm bệnh được nhấn mạnh bao gồm nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm mạc, nhiễm khuẩn thần kinh trung ương, nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn cơ xương khớp, nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn ổ bụng, và nhiễm khuẩn sinh dục.

Vào năm 2020, Cơ quan y tế Anh (NHS) đã ban hành hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh tiêm truyền sang đường uống cho trẻ em, yêu cầu xem xét nhu cầu kháng sinh IV hàng ngày và thực hiện chuyển đổi IV-PO trong vòng 72 giờ Để thực hiện chuyển đổi này, cần đánh giá tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, bao gồm các dấu hiệu cải thiện nhiễm trùng như nhiệt độ ≤ 37,9°C, giảm điểm trong thang điểm cảnh báo sớm (PEWS), và khả năng ăn/uống, hấp thu Hướng dẫn cũng chỉ ra một số nhiễm khuẩn cần duy trì điều trị bằng đường IV, không nên chuyển sang đường uống, như nhiễm trùng thần kinh trung ương, bệnh xơ nang, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng xương/khớp, áp xe sâu không thể phân hủy, và vi khuẩn huyết Ngoài ra, CRP không phản ánh mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh.

Hoạt động quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Bệnh viện Nhi Trung ương (BVNTW) là cơ sở y tế chuyên khoa Nhi hàng đầu tại Việt Nam, tiếp nhận hàng nghìn bệnh nhân mỗi ngày Tại đây, bệnh nhân được khám và điều trị các bệnh lý phức tạp, trong đó có nhiều trường hợp cần sử dụng thuốc kháng sinh.

Việc sử dụng kháng sinh an toàn, hiệu quả và hợp lý cho người bệnh là một vấn đề quan trọng mà các bệnh viện luôn chú trọng và nỗ lực cải thiện.

Dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế về quản lý kháng sinh trong bệnh viện, Bệnh viện Nhi Trung ương đã áp dụng chương trình quản lý sử dụng kháng sinh từ đầu năm 2016 nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh Ban quản lý sử dụng kháng sinh đã được thành lập để điều phối các hoạt động liên quan đến quản lý kháng sinh tại bệnh viện, bao gồm nhiều hoạt động thiết thực nhằm cải thiện quy trình này.

- Tháng 1/2016 Bệnh viện đã ban hành tài liệu “Nguyên tắc, hướng dẫn và quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương”;

Vào tháng 6 năm 2020, tài liệu "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh" đã được phát hành, cung cấp phác đồ điều trị cho 8 bệnh nhiễm khuẩn thường gặp Tài liệu này cũng bao gồm thông tin về đặc điểm dược động lực học của các kháng sinh phổ biến và các phương pháp phòng ngừa nhằm tránh lây chéo tại bệnh viện.

Triển khai các can thiệp tại Khoa lâm sàng liên quan đến việc sử dụng kháng sinh là một chiến lược quan trọng nhằm quản lý hiệu quả việc sử dụng kháng sinh trong bệnh viện Một số hoạt động can thiệp và giám sát đã được thực hiện tại bệnh viện để nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình kê đơn kháng sinh.

Phê duyệt KS ưu tiên quản lý

Giám sát và phản hồi

Xem xét đánh giá sau 48-72h

KS dự phòng phẫu thuật

Triển khai áp dụng phê duyệt kháng sinh

Tối ưu hóa liều vancomycin thông qua tư vấn của dược sĩ lâm sàng

Triển khai nghiên cứu về nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh nhân ngoại trú và viêm phổi tại khoa điều trị tự nguyện Đánh giá lại hiệu quả sử dụng kháng sinh sau 48-72 giờ điều trị cho bệnh nhân viêm phổi tại Trung tâm hô hấp.

Giám sát: khoa Ngoại Tiết niệu,

Sọ mặt và Tạo hình, Chỉnh hình, Trung tâm Ngoại Tổng hợp

Các can thiệp lâm sàng được thực hiện với sự tham gia của bác sĩ, điều dưỡng và nhóm quản lý kháng sinh, theo các bước chính.

- Ban quản lý kháng sinh sẽ có buổi làm việc với các khoa lâm sàng để đề xuất kế hoạch triển khai

- Khoa phòng và ban quản lý thống nhất nội dung, cách thức triển khai và đề xuất thông qua nhân sự tham gia

Họp nhóm triển khai cùng các thành viên liên quan của khoa phòng nhằm phổ biến nội dung quan trọng, bao gồm vấn đề cần xem xét, hướng dẫn xem xét và quy trình thực hiện.

Việc triển khai kế hoạch theo lưu đồ cơ bản sau:

Bảng 1.3 Lưu đồ hướng dẫn thực hiện việc xem xét sử dụng kháng sinh triển khai tại BV Nhi Trung ương

Nội dung Mô tả Trách nhiệm

- Bác sỹ điều trị chỉ định kháng sinh và các thông tin liên quan

- Điều dưỡng quản lý kháng sinh điền Phiếu theo dõi theo nội dung hướng dẫn và cập nhật hàng ngày

Bác sỹ điều trị, Điều dưỡng QLKS của đơn vị lâm sàng NCG

Bác sĩ cần hoàn thiện bảng kiểm tra và xem xét kỹ lưỡng các triệu chứng lâm sàng cùng dữ liệu cận lâm sàng để đưa ra quyết định về việc dừng, tiếp tục sử dụng hoặc thay đổi kháng sinh Tất cả thông tin này phải được ghi rõ ràng vào bệnh án.

- Vào cuối thời hạn điền bảng kiểm, NCG thu lại bảng kiểm/ hồ sơ ghi lại thông tin sử dụng kháng sinh

Bác sỹ điều trị đơn vị lâm sàng; NCG

- Khi người bệnh ra viện, Điều dưỡng QLKS tổng kết lại số ngày sử dụng kháng sinh và điền vào Phiếu theo dõi

NCG tiến hành đánh giá việc sử dụng kháng sinh và ghi chép kết quả vào Phiếu đánh giá theo lịch trình cố định Điều dưỡng tại QLKS Trung tâm Hô hấp thực hiện quy trình này.

- Điều dưỡng QLKS lưu Phiếu theo dõi sử dụng kháng sinh cho đến hết thời gian thực hiện đề án;

- NCG lưu Bảng kiểm và Phiếu đánh giá sử sụng kháng sinh tại Khoa Dược; Điều dưỡng khoa lâm sàng;

Ghi chú về quản lý kháng sinh (QLKS) và nhóm chuyên gia (NCG) bao gồm bác sĩ, điều dưỡng khoa lâm sàng, dược sĩ Khoa Dược và cán bộ Phòng Quản lý chất lượng, là rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả và an toàn trong sử dụng kháng sinh.

Bắt đầu sử dụng kháng sinh Điền nội dung bảng kiểm/ xem xét các tiêu chí sử dụng kháng sinh

Lưu hồ sơ Đánh giá sử dụng kháng sinh theo nội dung triển khai

Để đảm bảo các hoạt động can thiệp phù hợp với thực tế, việc đánh giá sau can thiệp được thực hiện bởi nhóm chuyên gia và ban quản lý kháng sinh Kết quả đánh giá sơ bộ sẽ giúp xác định nguyên nhân và rào cản trong thực hành kháng sinh chưa hợp lý, từ đó điều chỉnh các giải pháp can thiệp Đánh giá cuối cùng sẽ diễn ra khi kế hoạch kết thúc, và kết quả sẽ được sử dụng để đưa ra khuyến nghị cho lãnh đạo khoa lâm sàng và Ban quản lý kháng sinh Để duy trì hiệu quả can thiệp lâu dài trong bối cảnh nhân lực hạn chế, các hoạt động quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương sẽ có sự tham gia của nhân sự từ các khoa lâm sàng Những nhân sự này sẽ được hướng dẫn và đào tạo để duy trì hoạt động can thiệp sau khi giai đoạn can thiệp tích cực kết thúc, chuyển sang giai đoạn giám sát định kỳ 3-6 tháng một lần.

Một số kết quả đạt được của các hoạt động đã triển khai:

- Về tối ưu hóa chế độ liều:

Sau khi triển khai quy trình, chúng tôi đã khảo sát 166 bệnh nhân điều trị tại khoa điều trị tích cực nội từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2020 Kết quả cho thấy 98,2% bệnh nhân sử dụng vancomycin được chỉ định TDM, với trung bình 2,2 mẫu được định lượng và thời gian trung bình để đạt được nồng độ đích là khoảng 1,5 ngày.

Chúng tôi đã phát triển và đồng thuận về các hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho từng loại phẫu thuật nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc dự phòng nhiễm trùng sau phẫu thuật.

Thực hiện giám sát ngẫu nhiên và đánh giá dựa trên các chỉ số như chỉ định, liều dùng, liệu trình sử dụng và thời điểm sử dụng của kháng sinh dự phòng là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả và an toàn trong điều trị.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nội dung phân tích thực trạng chuyển đổi đường dùng kháng sinh từ đường tiêm truyền sang đường uống 30 1 Phân tích thực trạng chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống trên bệnh án

2.1.1 Phân tích thực trạng chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống trên bệnh án

2.1.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân nhi (BN) điều trị nội trú tại Trung tâm quốc tế Bệnh viện Nhi Trung ương trước khi tiến hành can thiệp trong có thời gian nhập viện và xuất viện từ 1/1/2021 đến 30/6/2021

Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh án của BN thỏa mãn đồng thời tiêu chí sau:

- Được chẩn đoán một trong các bệnh viêm phổi hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu

- Được chỉ định kháng sinh đường tiêm truyền từ 48 giờ trở lên

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh án của BN có một trong các điều kiện sau:

- Bệnh án không tiếp cận được;

- Có bệnh nhiễm khuẩn khác kèm theo;

Nghiên cứu thiết kế theo phương pháp mô tả, hồi cứu theo dõi dọc thời gian từ khi BN nhập viện tới khi BN xuất viện

Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu

* Thu thập thông tin từ bệnh án:

Tất cả hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào nghiên cứu

Bước 1: Trích xuất từ phần mềm quản lý danh sách bệnh nhân có chẩn đoán theo mã

ICD là N39.0, J14, J18, J18.1, J18.9 trong khoảng thời gian từ 01/01/2021 đến 30/6/2021

Bước 2: Thu thập bệnh án từ kho lưu trữ bệnh án bằng cách tìm kiếm các hồ sơ có chẩn đoán viêm phổi hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu, dựa trên danh sách đã lập ở bước 1.

Bước 3: Tiến hành sàng lọc theo tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ Tạo danh sách các bệnh án đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và đồng thời không thuộc vào tiêu chuẩn loại trừ.

Bước 4: Thu thập thông tin bệnh nhân đã được lựa chọn vào Mẫu phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (Phụ lục 1) gồm:

- Thông tin hành chính của bệnh nhân

- Thông tin lâm sàng, cận lâm sàng

- Thông tin về sử dụng thuốc

Bước 5: Đánh giá quá trình chuyển đổi từ kháng sinh tiêm tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) dựa trên thông tin thu thập được, bằng cách so sánh dữ liệu trong bệnh án với các tiêu chí chuyển đổi kháng sinh IV-PO.

2.1.1.3 Nội dung nghiên cứu Đặc điểm mẫu nghiên cứu và đặc điểm sử dụng kháng sinh:

- Đặc điểm chung: tuổi, giới, bệnh nhiễm khuẩn chính, bệnh mắc kèm (nếu có)

- Thời gian nằm viện, tình trạng ra viện

- Các kháng sinh sử dụng: Kháng sinh tiêm, kháng sinh uống, số lượng kháng sinh phối hợp, số lượt đổi phác đồ

Đặc điểm vi sinh liên quan đến tỷ lệ cấy vi khuẩn và tỷ lệ dương tính cho thấy sự hiện diện của các vi khuẩn chủ yếu Ngoài ra, thực hành chuyển đổi từ đường tiêm tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) cũng cần được chú trọng.

- Tỷ lệ bệnh nhân đủ điều kiện chuyển đổi IV-PO;

- Tỷ lệ bệnh nhân được chuyển đổi đường dùng kháng sinh;

- Tỷ lệ bệnh nhân được chuyển đổi IV-PO hợp lý;

- Thời gian chậm chuyển đổi;

- Thời điểm đủ điều kiện chuyển đổi IV-PO kể từ khi bắt đầu điều trị IV

- Tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng đường truyền tĩnh mạch (như nhiễm trùng liên quan đến đường truyền, viêm tắc tĩnh mạch hoặc thoát mạch)

2.1.1.5 Phương pháp xử lý số liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm EXCEL và SPSS 25.0 Các biến liên tục với phân phối chuẩn được thể hiện qua giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn, trong khi các biến không phân phối chuẩn được biểu diễn bằng trung vị Đối với các biến phân loại, kết quả được trình bày dưới dạng tần suất n (%).

2.1.2 Phân tích quan điểm của bác sĩ về thực hiện chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống

Các bác sĩ tham gia kê đơn tại Trung tâm Quốc tế Bệnh viện Nhi Trung ương

Các bác sĩ không tiếp cận được thông tin trong thời gian khảo sát

Phương pháp khảo sát bằng bộ câu hỏi nhiều lựa chọn được gửi đến các bác sĩ tham gia khảo sát

Phương pháp thu thập dữ liệu

Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát để thu dữ liệu

Bộ câu hỏi khảo sát nhằm tìm hiểu quan điểm của bác sĩ về việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) và đánh giá sự đồng thuận trong việc triển khai các can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ chuyển đổi kháng sinh.

+ Các thông tin chung của bác sĩ tham gia khảo sát: tuổi, giới, thâm niên công tác; + Quan điểm chung về vấn đề chuyển kháng sinh IV-PO;

+ Sự đồng thuận với việc áp dụng thực hiện chuyển đổi IV-PO

Bộ câu hỏi đã được Dược sĩ thiết kế và được nhóm nghiên cứu rà soát, hoàn thiện, sau đó tiến hành khảo sát thử để chỉnh sửa trước khi thực hiện khảo sát chính thức Chi tiết về bộ câu hỏi có thể xem trong Phụ lục 2A.

Các bác sĩ tham gia khảo sát đã được thông báo về mục đích của chương trình quản lý kháng sinh, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh một cách an toàn và hợp lý tại bệnh viện.

Bộ câu hỏi được gửi đến các bác sĩ và sau 1 tuần sẽ thu thập lại

Nếu quá thời gian trên không nhận lại được phản hồi sẽ coi như không tiếp cận được

Thông tin thu thập đươc nhóm nghiên cứu nhập liệu và xử lý

- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: giới, tuổi, số năm kinh nghiệm, trình độ

Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát

Trao đổi với nhóm nghiên cứu để chỉnh sửa, hoàn thiện

Khảo sát thử trên 3 bác sỹ với vai trò, kinh nghiệm khác nhau và ghi nhận các phản hồi

Chỉnh sửa và hoàn thiện bộ câu hỏi khảo sát

Gửi bộ câu hỏi cho đối tượng khảo sát và thu thập lại

Hình 2.3 Quy trình khảo sát

- Quan điểm chung về việc thực hành chuyển đổi kháng sinh IV-PO

- Sự đồng thuận với việc triển khai hoạt động can thiệp chuyển đổi kháng sinh IV-PO

Các phiếu khảo sát sau khi thu về được nhập thông tin và phân tích, xử lý số liệu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nội dung phân tích hiệu quả

2.2.1 Phân tích kết quả chuyển đổi kháng sinh IV-PO trước và sau can thiệp

2.2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân viêm phổi hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu điều trị nội trú tại Trung tâm quốc tế Bệnh viện Nhi Trung ương nhập viện và kết thúc điều trị trong thời gian thực hiện can thiệp thực hành chuyển đổi IV-PO đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ được lựa chọn đưa vào nghiên cứu đánh giá

Tiêu chuẩn lựa chọn và Tiêu chuẩn loại trừ: như mục 2.1.1.1;

Nghiên cứu thiết kế theo phương pháp tiến cứu can thiệp theo dõi dọc thời gian từ khi bệnh nhân nhập viện tới khi bệnh nhân xuất viện

Can thiệp chuyển đổi từ kháng sinh tiêm truyền sang kháng sinh đường uống là một phần quan trọng trong chương trình quản lý kháng sinh do Bộ Y tế khuyến cáo Chúng tôi xem đây là một tiêu chuẩn chăm sóc bệnh nhân cần được thực hiện kịp thời, và nghiên cứu của chúng tôi nhằm thúc đẩy tiêu chuẩn chăm sóc này Hoạt động can thiệp chuyển đổi kháng sinh IV sẽ góp phần nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương được thực hiện nhằm duy trì các biện pháp can thiệp và đảm bảo đủ nhân lực cho các hoạt động liên quan Nhóm can thiệp bao gồm nhân viên lâm sàng, được tập huấn để chuyển giao công việc, đảm bảo hoạt động vẫn tiếp tục khi Dược sĩ và Ban quản lý kháng sinh rút nhân sự Dược sĩ tham gia vào các hoạt động can thiệp tại các đơn vị trong bệnh viện Trong quá trình triển khai, chúng tôi sẽ tìm hiểu các rào cản và khó khăn để có điều chỉnh kịp thời.

Hình 2.4 Xác định rào cản và điều chỉnh can thiệp

Các hướng dẫn thực hành đã được chia sẻ trong nhóm nội bộ của đơn vị, tuy nhiên, các bác sĩ lâm sàng vẫn giữ vai trò quyết định cuối cùng về việc lựa chọn liệu pháp kháng sinh, thời gian sử dụng kháng sinh, thời điểm chuyển đổi từ IV sang đường uống (PO) và thời điểm xuất viện cho bệnh nhân.

Bảng 2.2 Lưu đồ thực hiện can thiệp “Xem xét chuyển đổi kháng sinh IV_PO”

Nội dung Mô tả Trách nhiệm

- BQLSDKS thống nhất với BLĐ trung tâm trong việc triển khai hoạt động

- Xây dựng và thống nhất các nội dung can thiệp chuyển đổi IV-PO

- Xin phê duyệt kế hoạch triển khai can thiệp chính thức

- Phổ biến các hướng dẫn và các quy định liên quan đến việc thực hành chuyển đổi IV-PO với nhân viên liên quan tại Trung tâm Quốc tế

Dược sĩ tiến hành rà soát danh mục thuốc tại bệnh viện cũng như danh mục thuốc tủ trực của khoa nhằm đảm bảo cung cấp đủ các loại kháng sinh uống theo khuyến cáo sử dụng.

Dược sĩ, NCG, Ban quản lý kháng sinh Khoa lâm sàng

- BS điều trị chẩn đoán bệnh phù hợp: ghi rõ triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng gợi ý, chẩn đoán và chỉ định kháng sinh vào bệnh án

Dược sĩ và Điều dưỡng được phân công sẽ thực hiện việc rà soát danh sách bệnh nhân hàng ngày, đảm bảo điền thông tin phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ.

Bác sỹ điều trị, Dược sĩ, Điều dưỡng QLKS khoa;

Bác sĩ sẽ xem xét lại các triệu chứng lâm sàng và dữ liệu cận lâm sàng của bệnh nhân sau khi sử dụng kháng sinh đường tiêm truyền trong 48-72 giờ, từ đó quyết định có nên thay đổi hoặc chuyển sang kháng sinh đường uống hay không.

Trong quá trình điều trị tại khoa, các rào cản đã được ghi nhận qua các buổi họp và trao đổi trong Đợt 1 và Đợt 2 Cuối Giai đoạn 2, phiếu khảo sát đã được gửi tới các bác sĩ nhằm tìm hiểu rõ hơn về những rào cản này Sau đó, các can thiệp đã được điều chỉnh trong Đợt 2 và Đợt 3 để cải thiện tình hình.

Bắt đầu sử dụng kháng sinh

- Đánh giá lại hàng ngày với các trường hợp chưa được chuyển đổi

Khi bệnh nhân ra viện, Dược sĩ sẽ hợp tác với Điều dưỡng QLKS để ghi nhận thông tin ngày ra viện cùng với việc xác định xem bệnh nhân có được kê đơn kháng sinh trong đơn thuốc ngoại trú hay không.

Theo lịch hàng tuần, Dược sĩ và NCG dựa trên danh sách bệnh nhân được cung cấp để lựa chọn bệnh án, thực hiện thu thập thông tin và đánh giá tính hợp lý của việc chuyển đổi kháng sinh cho bệnh nhân đã ra viện.

Dược sĩ và NCG làm việc cùng các bác sĩ được phân công và bác sĩ điều trị để thảo luận về bệnh án đã được đánh giá là chuyển đổi không phù hợp, nhằm tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục kịp thời.

Dược sĩ, Điều dưỡng QLKS khoa; NCG

Hàng tháng, dữ liệu được thu thập và phân tích, sau đó kết quả được thông báo kịp thời đến các bên liên quan thông qua các cuộc họp định kỳ giữa NCG, ban quản lý sử dụng kháng sinh, thành viên Trung tâm Quốc tế và đại diện ban lãnh đạo bệnh viện.

Dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc trong cuộc họp hàng tháng, Dược sĩ, NCG và khoa lâm sàng đã thảo luận và đề xuất các giải pháp điều chỉnh cần thiết nhằm khắc phục những khó khăn trong quá trình triển khai Mục tiêu là tăng tỷ lệ bệnh nhân chuyển đổi hợp lý từ kháng sinh tiêm truyền sang đường uống và giảm thời gian chậm chuyển đổi.

Dược sĩ, Các bác sỹ, điều dưỡng khoa, NCG, ban QLSDKS

- NCG lưu Phiếu thu thập thông tin và báo cáo tổng kết đánh giá NCG

NCG là một nhóm chuyên gia bao gồm bác sĩ, dược sĩ và nhân viên phòng quản lý chất lượng, đóng vai trò là thành viên trong ban quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện.

Thu thập dữ liệu và trao đổi thông tin, đánh giá

Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu

Hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được lựa chọn đưa vào nghiên cứu

Bước 1: Xác định các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ để lập danh sách theo dõi đánh giá

Bước 2: Thu thập thông tin bệnh nhân đã được lựa chọn vào Mẫu phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (Phụ lục 1) gồm:

-Thông tin hành chính của bệnh nhân

-Thông tin lâm sàng, cận lâm sàng

-Thông tin về sử dụng thuốc

Bước 3 : Đánh giá việc thực hành chuyển đổi IV-PO theo thông tin thu thập được, so sánh với các kết quả thu được ở giai đoạn trước can thiệp

Nội dung nghiên cứu Đặc điểm mẫu nghiên cứu và đặc điểm sử dụng kháng sinh:

- Đặc điểm chung: tuổi, giới, bệnh nhiễm khuẩn chính, bệnh mắc kèm (nếu có)

- Thời gian nằm viện, tình trạng ra viện

- Các kháng sinh sử dụng: Kháng sinh tiêm, kháng sinh uống, số lượng kháng sinh phối hợp, số lượt đổi phác đồ

Đặc điểm vi sinh liên quan đến tỷ lệ cấy vi khuẩn và tỷ lệ dương tính cho thấy sự hiện diện của các vi khuẩn chủ yếu Thực hành chuyển đổi từ IV sang PO cần được chú trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

- Tỷ lệ bệnh nhân đủ điều kiện chuyển đổi IV-PO;

- Tỷ lệ bệnh nhân được chuyển đổi đường dùng kháng sinh;

- Tỷ lệ bệnh nhân được chuyển đổi IV-PO hợp lý;

- Thời gian chậm chuyển đổi;

- Thời điểm đủ điều kiện chuyển đổi IV-PO kể từ khi bắt đầu điều trị IV

- Tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng đường truyền tĩnh mạch (như nhiễm trùng liên quan đến đường truyền, viêm tắc tĩnh mạch hoặc thoát mạch)

-Tình trạng bệnh nhân sau 7 ngày sau ra viện

- Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn khi sử dụng kháng sinh uống

Quy ước đánh giá tính phù hợp trong nghiên cứu: Như mục 2.1.1.2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 21/09/2023, 17:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2020), "Quyết định 5631/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện", pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 5631/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2020
4. Shrayteh Z. M., Rahal M. K., et al. (2014), "Practice of Switch From Intravenous to Oral Antibiotics", SpringerPlus, 717(3), pp. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practice of Switch From Intravenous to Oral Antibiotics
Tác giả: Shrayteh Z. M., Rahal M. K., et al
Nhà XB: SpringerPlus
Năm: 2014
5. Hart C. A., Cuevas L. E. (2007), "Acute respiratory infections in children", Revista Brasileira de Saúde Materno, 7(1), pp. 23-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute respiratory infections in children
Tác giả: Hart C. A., Cuevas L. E
Năm: 2007
6. Children's Health Queensland Hospital and Health Service (2021), Antimicrobial Treatment: Early Intravenous To Oral Switch - Paediatric Guideline, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antimicrobial Treatment: Early Intravenous To Oral Switch - Paediatric Guideline
Tác giả: Children's Health Queensland Hospital and Health Service
Nhà XB: Australia
Năm: 2021
8. Wetzstein G. A. (2000), "Intravenous to Oral (IV:PO) Anti-infective Conversion Therapy", Cancer Control, 7(2), pp. 170-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intravenous to Oral (IV:PO) Anti-infective Conversion Therapy
Tác giả: Wetzstein G. A
Nhà XB: Cancer Control
Năm: 2000
12. ASHP (2008), "Intravenous to Oral Therapy Conversion", in Competence Assessment Tools for Health-System Pharmacies, pp. 347-360, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competence Assessment Tools for Health-System Pharmacies
Tác giả: ASHP
Nhà XB: USA
Năm: 2008
14. Nguyễn Thị Lý (2020), "Đánh Giá Khả Năng Phòng Tránh Được Của Phản Ứng Có Hại Liên Quan Đến Kháng Sinh Trong Cơ Sở Dữ Liệu Báo Cáo ADR Tự Nguyện Tại Việt Nam", pp. 1-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh Giá Khả Năng Phòng Tránh Được Của Phản Ứng Có Hại Liên Quan Đến Kháng Sinh Trong Cơ Sở Dữ Liệu Báo Cáo ADR Tự Nguyện Tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lý
Năm: 2020
23. Broom J., Broom A., et al. (2016), "What prevents the intravenous to oral antibiotic switch? A qualitative study of hospital doctors' accounts of what influences their clinical practice", Journal Of Antimicrobial Chemotherapy, 71(8), pp. 2295-2299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What prevents the intravenous to oral antibiotic switch? A qualitative study of hospital doctors' accounts of what influences their clinical practice
Tác giả: Broom J., Broom A., et al
Năm: 2016
31. Greater Glasgow & Clyde Antimicrobial Utilisation Committee (2020), Paediatric IV to Oral Antibiotic Switch Therapy (IVOST), UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paediatric IV to Oral Antibiotic Switch Therapy (IVOST)
Tác giả: Greater Glasgow & Clyde Antimicrobial Utilisation Committee
Nhà XB: UK
Năm: 2020
32. "Pediatric Intravenous to oral/enteral (IV to PO) Antimicrobial Conversion Policy, SAINT JOHN’S PEDIATRIC CHILDREN’S HOSPITAL.", pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatric Intravenous to oral/enteral (IV to PO) Antimicrobial Conversion Policy, SAINT JOHN’S PEDIATRIC CHILDREN’S HOSPITAL
37. Phạm Thu Hà (2022), “Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương”, Hội nghị dược Bệnh viện Nhi Trung ương lần thứ 2 năm 2022, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả: Phạm Thu Hà
Nhà XB: Hội nghị dược Bệnh viện Nhi Trung ương
Năm: 2022
2. Cyriac J. M., James E. (2014), "Switch Over From Intravenous To Oral Therapy: A Concise Overview", J Pharmacol Pharmacother, 5(2), pp. 83-87 Khác
3. McLaughlin C. M., Bodasing N., et al. (2005), "Pharmacy-implemented Guidelines On Switching From Intravenous To Oral Antibiotics: An Intervention Study", QJMed, 98(10), pp. 745-752 Khác
7. McMullan B. J., Andresen D., et al. (2016), "Antibiotic duration and timing of the switch from intravenous to oral route for bacterial infections in children:systematic review and guidelines", The Lancet Infectious diseases 2016, 16(8), pp. 139-152 Khác
9. Kan T., Kwan D., et al. (2019), "Implementation of a Clinical Decision Support Tool to Improve Antibiotic IV-to-Oral Conversion Rates at a Community Academic Hospital", The Canadian Journal of Hospital Pharmacy, 72(6), pp.455-461 Khác
10. Jensen K. M., Paladino J. A. (1997), "Cost-Effectiveness of Abbreviating the Duration of Intravenous Antibacterial Therapy with Oral Fluoroquinolones", PharmacoEconomics, 11(1), pp. 64-74 Khác
11. McMullan B. J., Mahony M., et al. (2021), "Improving Intravenous-to-oral Antibiotic Switch In Children: A Team-based Audit and Implementation Approach", BMJ Open Quality, 10(1), pp. 1-9 Khác
13. Sevinc F., Prins J. M., et al. (1999), "Early switch from intravenous to oral antibiotics: Guidelines and implementation in a large teaching hospital", Journal Of Antimicrobial Chemotherapy, 43(4), pp. 601-606 Khác
15. Mok M., Kinkade A., et al. (2016), "Identification of Patients Eligible for IV- to-PO Conversion: A Cost-Minimization Study", The Canadian Journal of Hospital Pharmacy, 69(4), pp. 301-305 Khác
16. Lorgelly P. K., Atkinson M., et al. (2010), "Oral Versus I.V. Antibiotics For Community-Acquired Pneumonia In Children: A Cost-Minimisation Analysis", European Respiratory Journal, 35(4), pp. 858-64 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1  Sơ đồ nghiên cứu  26 - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
2.1 Sơ đồ nghiên cứu 26 (Trang 9)
Hình 1.1: Lưu đồ chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống trên bệnh - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 1.1 Lưu đồ chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống trên bệnh (Trang 30)
Bảng 1.3. Lưu đồ hướng dẫn thực hiện việc xem xét sử dụng kháng sinh - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 1.3. Lưu đồ hướng dẫn thực hiện việc xem xét sử dụng kháng sinh (Trang 32)
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 35)
Hình 2.2. Hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống. - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 2.2. Hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống (Trang 36)
Bảng 2.2. Lưu đồ thực hiện can thiệp “Xem xét chuyển đổi kháng sinh IV_PO” - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 2.2. Lưu đồ thực hiện can thiệp “Xem xét chuyển đổi kháng sinh IV_PO” (Trang 43)
Hình 3.1. Tóm tắt quá trình thu thập bệnh án trước can thiệp - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 3.1. Tóm tắt quá trình thu thập bệnh án trước can thiệp (Trang 49)
Bảng 3.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh (KS) và vi sinh của bệnh nhân - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 3.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh (KS) và vi sinh của bệnh nhân (Trang 51)
Hình 3.2. So sánh DOT và LOT của mẫu khảo sát giai đoạn trước can thiệp - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 3.2. So sánh DOT và LOT của mẫu khảo sát giai đoạn trước can thiệp (Trang 52)
Bảng 3.5. Quan điểm của bác sĩ tham gia khảo sát thực hiện chuyển đổi IV-PO - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 3.5. Quan điểm của bác sĩ tham gia khảo sát thực hiện chuyển đổi IV-PO (Trang 55)
Bảng 3.8 Đặc điểm sử dụng KS và vi sinh của BN giai đoạn can thiệp - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 3.8 Đặc điểm sử dụng KS và vi sinh của BN giai đoạn can thiệp (Trang 58)
Bảng 3.10 Đặc điểm thực hiện chuyển đổi kháng sinh IV-PO giai đoạn can thiệp - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Bảng 3.10 Đặc điểm thực hiện chuyển đổi kháng sinh IV-PO giai đoạn can thiệp (Trang 60)
Hình 3.4 Thời gian chậm chuyển đổi sang đường uống - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 3.4 Thời gian chậm chuyển đổi sang đường uống (Trang 62)
Hình 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân chuyển đổi hợp lý qua các đợt can thiệp - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân chuyển đổi hợp lý qua các đợt can thiệp (Trang 62)
Hình 3.6 Tình trạng bệnh nhân sau 7 ngày ra viện - Dương thị thanh tâm phân tích hiệu quả hoạt động can thiệp trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh nhằm tối ưu hóa chuyển đổi kháng sinh đường tiêm truyền sang đường uống tại trung tâm quốc tế bệnh viện nhi trung ươ
Hình 3.6 Tình trạng bệnh nhân sau 7 ngày ra viện (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w