Bởi thế đến với Đường thi, ta không chỉ đến với cái đẹp của những phong, hoa, tuyết, nguyệt mà còn tìm thấy ở đấy những giá trị nhân sinh, “có thể nuôi được cái khí hạo nhiên của người t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN DƯƠNG THỊ THUÝ HẰNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khoá học 2000-2004 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NHỮNG BÀI THƠ TÌNH BẰNG HỮU TIÊU BIỂU TRONG
ĐƯỜNG THI GVHD: Thạc sĩ GVC Phùng Hoài Ngọc
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn thầy Phùng Hoài Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên
em trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin cám ơn các thầy cô trong bộ môn Ngữ văn khoa sư phạm và các thầy cô trường Đại học An Giang, các thầy cô thỉnh giảng từ Đại học Sư phạm và Đại học Khoa học XH-NV thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn em nghiên cứu học tập hoàn thành khoá trình đại học Ngữ văn trong suốt bốn năm qua
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn cán bộ Thư viện Đại học An Giang tạo điều kiện giúp em nghiên cứu tài liệu và làm luận văn
Xin ghi nhận nơi đây tình bằng hữu của các bạn học khoá 1C đã giúp tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Dương Thị Thuý Hằng
An Giang tháng 5 năm 2004
díc
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1- Lí do chọn đề
2- Mục đích nghiên cứu
3- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 4.1- Đối tượng nghiên cứu 4.2- Phương pháp nghiên cứu NỘI DUNG Chương 1: Khái quát về thơ Đường
1- Thời đại nhà Đường 2- Khái quát về thơ Đường
2.1- Cội nguồn của thơ Đường 2.2- Nguyên nhân phát triển
2.3- Qúa trình diễn biến 2.4- Đề tài Chương 2: “Bằng hữu chi tình” trong thơ Đường
1- Cơ sở hình thành của đề tài “bằng hữu chi tình” trong thơ Đường
2- Khái quát về 112 bài “Đường thi trung bằng hữu chi tình”
3- Đặc điểm nghệ thuật của Đường thi trong những bài thơ “bằng hữu chi tình”
3.1- Quan niệm nghệ thuật về con người
3.1.1- Con người cô đơn khát khao tìm kiếm tri âm
3.1.2- Con người tri âm
3.1.2.1- Con người tri âm trong thơ Đỗ Phủ
12
Trang 43.1.2.2- Con người tri âm trong thơ Lí Bạch
3.1.2.3- Con người tri âm trong văn chương của Bạch Cư Dị
3.1.2.4- Con người tri âm trong bài thơ “Chương đài liễu” của Hàn Hồng
3.2- Không gian nghệ thuật của “bằng hữu chi tình” trong Đường thi
3.3- Thời gian nghệ thuật của “bằng hữu chi tình” trong Đường thi
Trang 5MỞ ĐẦU
1- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Văn hoá là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học được tất cả” Thơ Đường là một trong những đỉnh cao của văn hoá Đường, “là mũi tên bắn đi bay vĩnh viễn cùng thờigian” Thơ Đường đã làm nên đỉnh cao phồn thịnh của một thời đại thi ca – thời đại nhà Đường Hôm nay, ngày trước hay ngày sau, dù đã trải qua bao lớp bụi thời gian thì Đường thi muôn đời vẫn toả sáng, nói như Tế Hanh :
Đây những tập thơ Đường bất tuyệt
Thơ Lí Bạch, Đỗ Phủ tinh hoa
Cùng với trăng sao vằng vặc,Triệu ngàn năm mà mới tựa hôm qua
“Cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả” của Đường thi phải chăng là ở cái “kĩ thuật tinh thần”, như Kim Thánh Thán nhận xét “ôi luật thi đời Đường, chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời, mà
là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh” Thơ Đường là “sự chưng cất của 12 thế kỉ thơ ca Trung Quốc”[7- tr16] Đến thời này, các thể tỉ hứng của Kinh thi, thể thơ 5 chữ của Hán nhạc phủ, thơ 7 chữ của thời Lục triều, các phép đối, các yêu cầu về luật thi mới manh nha ở các đời trước đã đạt tới mức hoàn thiện,trở thành chuẩn mực về thi pháp sáng tác cho thơ ca ở các thời sau không chỉ ở Trung Quốc, mà cả ở nước ngoài, đặc biệt là Việt Nam Về các thể thơ 7 chữ, 5 chữ của Đường thi có thể kể đến Vương Duy được xem là bậc thầy của thơ ngũ ngôn, bên cạnh đó còn có Mạnh Hạo Nhiên với hơn 260 bài thơ còn lại thì phần lớn là thơ 5 chữ ; về thể thất ngôn tứ tuyệt người thành công nhất phải nói đến là Vương Xương Linh, hiện còn khoảng 70 bài chiếm 2\5 trong tổng số thơ còn lại của ông; thơ thất ngôn luật, người đạt đến mức cổ điển là thi thánh Đỗ Phủ
“Cái vẫn thiếu khi người ta đã học được tất cả”có lẽ lại là “ nguồn cảm hứng”của Đường thi, là nội dung biểu hiện, là đề tài của thơ Đường Bước vào thơ Đường là bước vào thế giới của sự hoà điệu, vào thế giới nội cảm của các thi nhân với những nỗi niềm ưu tư ẩn ức của những trái tim sôi nổi đau đáu tình đời, tình người Bởi thế đến với Đường thi, ta không chỉ đến với cái đẹp của những phong, hoa, tuyết, nguyệt mà còn tìm thấy ở đấy những giá trị nhân sinh, “có thể nuôi được cái khí hạo nhiên của người ta tức là di dưỡng được cái tinh thần cao thượng và chân chính” (Trần Trọng Kim)
Yêu nước thương dân, đối xử với người thì chân thành chung thuỷ… là những tình cảm đẹp, được thể hiện một cách sâu sắc trong Đường thi Trong đó đáng kể là tình bạn thi nhân Ai cũng có nhu cầu tìm bạn, ai cũng muốn có một tri âm, ai cũng viết thơ về tình bạn như thơ tiễn bạn lên đường, thơ tặng bạn, thơ trao đổi tâm tình lẫn nhau…Thông qua các vần thơ những tưởng là rất riêng tư thầm kín ấy, người
ta tìm thấy ở trong ấy chuyện đời, chuyện người nồng nhiệt và đầm ấm, nhờ những vẻ đạp vẻ sáng do tựthân nó mang lại
Vấn đề đặt ra là từ trước đến nay khi nghiên cứu về thơ Đường, người ta chỉ đặc biệt quan tâm đến các chủ đề như thơ hiện thực của Đỗ Phủ, thơ lãng mạn của Lí Bạch…mà ít ai chú ý đến đề tài “bằng hữu
Trang 6chi tình”, cái quan trọng góp phần làm nên diện mạo phong phú của thơ Đường Khi tìm hiểu về nó sẽ mang lại cho ta những giá trị thiết thực, nhất là trong điều kiện thời đại ngày nay, quan hệ giữa người vàngười được giải quyết và xử sự theo lối kim tiền Hiểu biết phần nhiều về những giá trị tinh thần, về quan niệm tình bạn, cách xử thế trong giao tình bằng hữu của Đường thi chắc hẳn sẽ mang đến cho con người chút niềm tin, cách hiểu và cách sống với mọi người, nhất là với những ai mà ta xem là bạn.
Dạy văn là dạy người, dạy các em biết sống tốt hơn và đẹp hơn giữa biết bao mối đời chộn rộn Với những hữu ích của việc tìm hiểu đề tài tình bạn trong thơ Đường, cộng với đề tài tình bạn chưa được nghiên cứu rõ ràng từ trước tới nay, người viết thấy cần thiết phải lựa chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật của những bài thơ Đường thi trung bằng hữu chi tình” làm chủ đề cho bài viết của mình
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài có một phạm vi bao quát khá rộng, nó không chỉ dừng lại ở vấn đề giao tiếp ứng đối giữa những người bạn thơ với nhau mà còn chứa đựng cả các vấn đề hiện thực xã hội Đó là cuộc đời làm quan chìm nổi như “Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử kí” của Lí Bạch, “Văn Bạch Lạc Thiên tả giáng Giang Châu Tư Mã” của Nguyên Chẩn Đó là cuộc sống tha hương của đông đảo người dân lao khổ trong xã hội giai đoạn trung vãn Đường, trong các sáng tác của Đỗ Phủ như “ Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh”, “ Kí Đỗ Vị”, “Tặng Vệ Bát xử sĩ”… Vì vậy khi đi vào nghiên cứu đề tài bằng hữu chi tình trong thơ Đường, người viết giới hạn, chỉ tìm hiểu cái hay cái đẹp trong nghĩa kim bằng của các thi nhân đời Đường
Trong nhiều năm qua việc giảng dạy thơ Đường cũng như các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại, một nền văn học vốn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm văn hoá, văn học cổ Trung Quốc, giáo viên thường là
đi theo lối mòn truyền thống, phân tích theo kết cấu đề, thực, luận, kết (bát cú), hay khai, thừa, chuyển, hợp (tuyệt cú) Điều đó không sai nhưng đó chỉ là lí thuyết sáng tác, thực ra bố cục bốn phần chỉ đúng
với một số bài thơ, nó sẽ tốt và phù hợp hơn với những ai muốn học cách làm thơ Bản thân mỗi học
sinh là một chủ thể tiếp nhận, cho nên khi giảng dạy đòi hỏi người giáo viên cần chú ý nhiều hơn đến lí thuyết tiếp nhận, hướng các em cách cảm, cách phân tích, tiếp cận một cách tốt nhất các tác phẩm văn
học cổ này
Để chuẩn bị tốt hơn cho công tác giảng dạy của mình sau này, người viết mạnh dạn tìm hiểu vấn đề thi pháp trong các bài thơ bằng hữu chi tình được lựa chọn để khảo sát Mục đích chính là qua việc nghiên cứu này sẽ tìm được một hướng tiếp cận tốt hơn không chỉ với Đường thi mà còn cả thơ cổ điển
ViệtNam Tìm hiểu thi pháp sẽ cho ta có được sự kết hợp chặt chẽ giữa nội dung và hình thức khi đi vàophân tích bất kì một bài thơ luật Đường nào Vì vấn đề thi pháp của một loại hình hay một nền văn học đều có nguồn gốc sâu sa từ nội dung tư tưởng, quan điểm triết học, tôn giáo Cho nên đặt vấn đề tìm hiểu thi pháp thơ Đường chính là cùng một lúc tiếp cận được hai lĩnh vực : cấu trúc nghệ thuật và nội dung cảm hứng
Tìm hiểu đề tài “ bằng hữu chi tình” trong Đường thi thông qua hướng tiếp cận thi pháp, người viết sẽ
đi vào 3 vấn đề chủ yếu là: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian và thời gian trong thơ bằng hữu Qua việc tìm hiểu thi pháp này, người viết sẽ làm sáng tỏ các giá trị nội dung hay nói khác là
những vẻ đẹp vẻ sáng trong giao tình bằng hữu của các thi nhân đời Đường
3- LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Đề tài bằng hữu chi tình trong Đường thi tuy là một đề tài có phạm vi bao quát khá rộng, thế nhưng từ
trước đến nay người viết chưa đọc được một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nó Thỉnh thoảng
Trang 7trong một số sách có đề cập đến vấn đề này, nhưng hoặc là chỉ trên phương diện nội dung hoặc chỉ để
bổ sung cho phần thân thế của nhà thơ
Chẳng hạn trong “Lịch sử văn học Trung Quốc” tập 1[1], rải rác có nói về tình bạn thi nhân, như trong phần viết về nhà thơ Vương Bột, bài “Tống Đỗ thiếu phủ chi nhậm Thục Châu”, được tác giả sách viết như sau: “câu “ở đâu có bạn” là câu từ danh ngôn “tứ hải chi nội giai hữu huynh đệ dã”, ý muốn nói chỉ cần là tri kỉ, thì dù xa vạn dặm cũng như cách một bức tường mà thôi, không những nói lên tình bạn chân thành mà còn biểu hiện tấm lòng rộng mở trong sáng của nhà thơ Toàn bộ bài thơ tràn trề không khí lạc quan”
“Thơ Đường” của giáo sư Lê Đức Niệm viết về 3 tác giả : Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.Cũng có nói đến vấn đề bằng hữu chi giao này Trong phần “Lí Bạch”, Lê Đức Niệm làm rõ hơn cuộc đời và thân thế của nhà thơ họ Lí qua các cuộc hội ngộ kết giao với bằng hữu, như tình bạn sâu nặng của ông và Ngô ChỉNam, những ngày sống cảnh “ba người đi chung hai đôi giày” với năm người bạn ở Sơn Đông Đặc biệt là cuộc tương ngộ tình cờ với Đỗ Phủ ở Lạc Dương, cùng Đỗ Phủ, Cao Thích sống cuộc đời ngao du Làm rõ tính cách cũng như nội dung thơ của Lí bằng tình bạn bình đẳng với Uông Luân, tấm lòng nồng nhiệt thuỷ chung của Lí Bạch đối với bạn trong bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” “Thi tiên Lí Bạch”, giáo sư nói về mối tình tri giao đằm thắm giữa Lí Bạch và Đỗ Phủ Đây là hai nguồn tư liệu khả dĩ giúp người viết tiếp cận tốt hơn và có phương hướng cụ thể khi tiếnhành bài viết của mình
“Thi pháp thơ Đường” của Trần Đình Sử tuy không nói nhiều đến đề tài “bằng hữu chi tình”, nhưng đã tạo cơ sở cho người viết có những hiểu biết nhất định về vấn đề thi pháp, cụ thể là không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật Về không gian nghệ thuật, Trần Đình Sử cho rằng không gian trong thơ Đường thường là không gian vũ trụ, không gian vừa to lớn, vĩ mô, của những đất trời, nhật nguyệt, vạn dặm, nam bắc, đông tây…đến những đường nét tinh vi bé nhỏ của từng đường gân bé xíu trên cánh con chuồn chuồn, hay cái thoáng rơi nhẹ nhàng của một chiếc lá ngô đồng rụng khi trời đất vào thu…Về thời gian thì thường xuất hiện ở năm phạm trù : thời gian sinh mệnh cá thể; thời gian vũ trụ, tự nhiên; thời gian siêu nhiên; thời gian sinh hoạt; thời gian lịch sử
Trong phần sau của “Thi pháp thơ Đường”, Trần Đình Sử dịch các bài nghiên cứu Đường thi của các tác giả nước ngoài Tuy cũng nói đến thi pháp nhưng chủ yếu là về chi tiết nghệ thuật như các phép tỉnh lược, phép đối Điều đáng nói là tác giả bài viết sử dụng khá nhiều dẫn chứng thơ tình bạn để làm sáng
tỏ nhận định của mình Chẳng hạn hai câu “anh lại chốn mây xanh, tôi về nơi núi biếc” của Mạnh Hạo Nhiên được tác giả viết “ hai câu thơ trong một bài thơ, tác giả làm lúc tiễn người bạn vào kinh thành làm quan to, còn nhà thơ thì lui về nơi ẩn cư “Mây xanh” ý muốn nói “lên quan trên trật quan tước”, đã đặt ra rất đúng chỗ, đối xứng với “núi biếc”, tượng trưng cho sự ngao du, sự trốn tránh cuộc đời Hai hình ảnh này được lấy từ tự nhiên vừa làm nỗi bật hai con đường khác nhau (nghề nghiệp và cuộc sống khổ hạnh), vừa làm nỗi bật sợi dây tình cảm gắn bó giữa hai người”
Nói chung tìm hiểu thi pháp chi tiết nghệ thuật cũng là một hướng tiếp cận đối với thơ Đường Thế nhưng ở mỗi bài thơ thường có những chi tiết đặc sắc riêng, nhất là ở các tác giả khác nhau cho nên sẽ khó đưa ra những dẫn chứng mang tính hệ thống, vì thi pháp là một yếu tố nghệ thuật được lập đi lập lạinhiều lần mang tính hệ thống Do vậy “Thi pháp thơ Đường” của Trần Đình Sử mới chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về không gian và thời gian nghệ thuật
“Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Thị Bích Hải nói khá rõ về 3 lĩnh vực thi pháp : con người, không gian, thời gian Về con người thì theo tác giả, trong thơ Đường có hai quan niệm về con người :Con người vũ trụ và con người xã hội, tương ứng với nó sẽ có không gian vũ trụ, không gian đời thường, thời gian vũ trụ và thời gian đời thường
Trang 8Con người tri âm cũng chính là con người vũ trụ, hướng đến sự giao hoà cùng vũ trụ Con người được đặt trong mối tương quan với vũ trụ, mỗi cá thể là một tiểu vũ trụ, với ý niệm như vậy nó chi phối hoàn toàn mọi cảm thức về không gian và thời gian Không gian tống biệt, không gian lữ thứ, không gian tương hợp, không gian nỗi niềm là một bộ phận của không gian vũ trụ Mọi vật thể trong không gian, từdòng sông, con đường, đất trích, đến cánh nhạn, đám mây, nhành dương liễu…dù là to lớn hay nhỏ bé đều là những vật thể hữu linh của vũ trụ bao la, thể hiện những ẩn ức ưu tư trong tâm hồn của đôi tri kỉ Thời gian cho niềm thương nỗi nhớ của tình bè bạn là thời gian của quá khứ xa xăm, thời gian vũ trụ
Có thể nói “Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Thị Bích Hải đề cập tương đối nhiều đến đề tài bằng hữuchi tình trong thơ Đường Tác giả còn đưa ra những con số cụ thể để chứng minh đây là một đề tài đượcviết tương đối nhiều của Đường thi “ Chỉ tính riêng trong cuốn “Thơ Đường” tập 1 (Nhà xuất bản văn học Hà Nội,1987) gồm 220 bài thơ, có đến 20 bài là thơ tống biệt Nếu ta kể cả những bài “ mộng hữu”,
“ức hữu”, “kí hữu”…thì vừa tròn con số 20% Thơ Đường có rất nhiều đề tài mà tình bạn lại chiếm đến 20%, con số đó rất có ý nghĩa”
Dĩ nhiên tác giả sách khômg phải chỉ đi vào một đề tài “ bằng hữu chi tình”, nên 3 vấn đề chủ yếu của
thi pháp là :con người, không gian, thời gian của tình bạn thi nhân chưa được đề cập một cách xác đáng, gần như chỉ ở mức khái quát Con người, không gian, thời gian được đặt trong cái nhìn tổng quát về
quan niệm triết học, về lí tưởng nhân sinh nên chỉ đưa ra hai khía cạnh chung nhất là vũ trụ và xã hội
Đề tài tình bạn trong thơ Đường tất nhiên là không đi ngoài quỹ đạo đó, nhưng ở đây khi đi vào tìm
hiểu người viết sẽ đi sâu hơn vào 3 lĩnh vực con người, không gian, thời gian được thể hiện như thế nào
trong đề tài này Cụ thể, về con người thì có con người cô đơn khát khao tìm kiếm tri kỉ tri âm và con người tri âm của 3 tác giả Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị Về không gian thì tìm hiểu không gian tống biệt, không gian lữ thứ, không gian tha hương, không gian ước lệ, không gian tương cảm Thời gian thì có thời gian đồng hiện, thời gian ức hữu, thời gian tuần hoàn, thời gian vật lí
4- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1- Đối tượng nghiên cứu.
Tìm hiểu đề tài “bằng hữu chi tình” trong Đường thi trên cơ sở khảo sát 112 bài đã được lựa chọn và
phân loại, đối tượng nghiên cứu là phân tích tìm hiểu những cái hay cái đẹp về quan niệm về cách xử thế trong giao tình bằng hữu của các thi nhân đời Đường.Tìm hiểu về vấn đề này nhằm chuẩn bị cho người viết có được những vốn hiểu biết cơ bản về giá trị cuộc sống, không chỉ trong lí thuyết dạy học của mình mà cả trong thực tiễn cuộc sống, hướng học sinh có cái nhìn hoàn thiện và tốt đẹp hơn trong quan hệ giữa người và người nhất là trong quan hệ bạn bè cùng lứa với nhau
Trên cơ sở tìm hiểu thi pháp để tiếp cận đối tượng, bài luận văn sẽ mang lại những đóng góp mới Cụ thể là tìm được một hướng tiếp cận khả dĩ đối với thơ Đường và thơ văn Việt Nam thời kì trung đại, giảm dần cách phân tích lí giải truyền thống trước đây, thường rơi vào hai khuyết điểm lớn, hoặc là chỉ phân tích nội dung hoặc chỉ xem trọng hình thức.Cách tìm hiểu thi pháp này sẽ khắc phục đồng thời được hai nhược điểm đó, kết hợp chặt chẽ hai mặt cấu trúc nghệ thuật và nội dung cảm hứng
4.2 – Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê phân loại
Với phương pháp này, người viết tiến hành thống kê 6 tuyển tập thơ Đường được lựa chọn để khảo sát
Đó là “Đường thi” của Trần Trọng Kim, “Thơ Đường” tập 1 và 2 do nhóm Nam Trân biên soạn, “Thơ Đường – Từ Tống” của Lí Phúc Điền, “Đường thi tam bách thủ” của Ngô Văn Phú, “Thiên gia thi” của
Trang 9Ngô Văn Phú Kết quả là đã lựa chọn và thống kê được 112 bài bằng hữu chi tình (có nhiều bài được lặp lại ở các sách)
Tiếp theo, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, người viết đã thực hiện thao tác phân loại dựa trên hai tiêu chí là: giai đoạn lịch sử và nội dung biểu hiện Trong đó dựa vào tiêu chí nội dung biểu hiện là chính, với tiêu chí này chia làm 3 loại cũng là 3 nội dung nét đẹp của tình huynh đệ Sự phân loại này là cơ sở định hướng của bài viết
-Phương pháp phân tích, so sánh:
Khảo sát các sách được lựa chọn để tham khảo về vấn đề tiếp cận với thơ Đường, phân tích các tài liệu
lí thuyết này, so sánh chúng với nhau để tìm ra một hướng tiến hành cụ thể
Phương pháp này còn được tiến hành trên 112 bài thơ Đường đã được thống kê Phân tích và đối chiếu các bài thơ đó, lựa chọn lại khoảng hơn 20 bài tiêu biểu để đưa vào tiến hành phân tích tìm hiểu
- Phương pháp tổng hợp khái quát:
Đây là bước cuối cùng, tổng hợp các tài liệu lí thuyết đã được phân tích tìm hiểu Tổng hợp cả những nội dung cơ bản của 112 bài và riêng 20 bài đã được lựa chọn, từ đó khái quát đưa ra các đơn vị kiến thức cụ thể làm cơ sở định hướng cho toàn bộ bài viết của mình
Chương I: Khái quát về thơ Đường
1- Thời đại nhà Đường
2- Khái quát về thơ Đường
2.1- Cội nguồn của thơ Đường
2.2- Nguyên nhân phát triển
2.3- Diễn biến của Đường thi
2.4- Đề tài
Trang 10Chương II: “ Bằng hữu chi tình” trong thơ Đường.
1- Cơ sở hình thành của đề tài “ bằng hữu chi tình” trong thơ Đường
2- Khái quát về 112 bài “Đường thi trung bằng hữu chi tình”
3- Đặc điểm nghệ thuật của Đường thi trong những bài thơ “ bằng hữu chi tình”
3.1- Quan niệm nghệ thuật về con người
3.1.1- Con người cô đơn, khát khao tìm kiếm tri âm
3.1.2- Con người tri âm
3.2- Không gian nghệ thuật của “ bằng hữu chi tình” trong Đường thi
3.3- Thời gian nghệ thuật của “bằng hữu chi tình” trong Đường thi
Trang 11NỘI DUNGCHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƠ ĐƯỜNG1- Thời đại nhà Đường.
Dưới thời Nam Bắc triều (317 – 580), Trung Quốc trải qua thời kì được xem là đen tối nhất trong lịch
sử Năm 580 Dương Kiên ép vua nhàChunhường ngôi, lập nên nhà Tuỳ Thế nhưng triều đại này chỉ tồntại 37 năm ngắn ngủi, cũng như nhà Tần (221 – 206), nó xuất hiện với sứ mệnh dọn đường chuẩn bị mọimặt cho sự ra đời và thống nhất của nhà Đường
Sau khi thống nhất đất nước, Dương Kiên Tuỳ Văn Đế thi hành nhiều chính sách nhằm khôi phục lại xã hội đã bị kiệt quệ hoàn toàn sau một thời gian dài chìm trong chiến tranh Miễn thuế, khuyến nông là công việc mà bất kì vị vua khai quốc nào cũng làm Dương Kiên không đi ra ngoài vòng quay ấy, ông còn thực hiện nhiều biện pháp nhằm tiết kiệm ngân sách Tuy nhiên, Tuỳ Văn Đế lại bị chính con trai mình-Dương Quảng giết chết lên ngôi hiệu là Tuỳ Dưỡng Đế Dương Quảng là một tên bạo chúa đắm chìm trong thú vui vật dục, để thoả mãn những sở cuồng của mình, vị hoàng đế độc tài này ngay khi mới lên ngôi đã bắt tay vào làm hai việc “lớn”: một là xây dựng Lạc Dương thành một đô thị mới gọi làĐông Đô; hai là đào một con sông thông suốt nam bắc, gọi là Đại Vận Hà Đồng thời, dấy binh đánh chiếm các nước: Đột Quyết, Lam Ấp, Thổ Cốc Hồn, đặc biệt là cuộc chiến với Cao Ly đã đưa nhà Tuỳ dần đi vào con đường bế tắc và sụp đổ Có thể nói nếu Dương Kiên đã có công thống nhất đem lại hoà bình cho nhân dân, thì Dương Quảng một lần nữa đưa đất nước tái diễn lịch sử cát cứ
Nhân dân vùng lên khởi nghĩa khắp nơi, trong đó mạnh nhất và có uy tín nhất là cuộc khởi nghĩa của cha con Lí Uyên Năm 617, hay tin Dưỡng đế đã bị quân lính thắt cổ chết, Lí Uyên nhanh chóng ép vị hoàng đế 13 tuổi ở Trường An thoái vị nhường ngôi cho mình, lập ra nhà Đường, ông lấy hiệu là ĐườngCao Tổ
Thực tế lịch sử cho thấy vua bức thì dân phản và sức mạnh vùng lên khởi nghĩa của nhân dân là không
gì ngăn cản được Do đó, ngay từ buổi lập quốc, Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông đã xác định con đường trị nước của mình là phải dựa vào quan điểm “nhân vi bang bản” (dân là gốc của nước) Lí Thế Dân đã từng nói “thuyền có thể ví với nước, nước có thể ví với dân, nước có thể chở thuyền và cũng có thể lật thuyền” Để giữ cho con thuyền thống trị của mình không bị lật nhào bởi nước lũ của lực lượng nhân dân, nhà Đường đã thực hiện các chính sách thuế, tô, dung điệu Chế độ quân điền được thực hiện,mỗi tráng đinh được phát một số ruộng, không được bán, khi già hoặc không làm nữa hoặc chết thì trả lại cho triều đình để cấp lại cho người khác Ngoài ra được giữ một số, ( thường là 20 mẫu thời đó) gọi
là vĩnh nghiệp, có quyền được bán Các chính sách này tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, cùng với nó các ngành như dệt vải, làm gốm, làm giấy, chế tác các đồ dùng bằng kim loại… cũng có bước tiến rõ rệt
Nếu ở thời Tây Hán dân số trên 50 triệu thì đến đầu Tuỳ chỉ còn 20 triệu Cuối nhà Tuỳ đầu nhà Đường dân số chỉ còn ba triệu hộ gia đình, nhưng đến năm 740, đời Đường dân số lên tới 48 triệu Nhiều thành thị mọc lên như nấm, Trường An thủ đô đời Đường có quy mô lớn nhất, 120 đường phố với hàng nghìn trạm dịch, lộ, ngựa, xe, người qua kẻ lại tấp nập ồn ào Mậu dịch quốc tế mở rộng, có hơn 40 nước đặt quan hệ buôn bán với nhà Đường Việc giao lưu văn hoá với nước ngoài cũng được mở rộng Đặc biệt
là sự du nhập của Phật giáo và các giáo phái khác như Tiên giáo, Ma Ni giáo, Hồi giáo… vào trung thổ Chính Huyền Tông nhận Huyền Trang làm ngự đệ và cử sang Tây Trúc thỉnh kinh trong hơn 15 năm,
Trang 12sau đó là sư Nghĩa Tĩnh Nhờ những đóng góp của hai nhà sư này Phật giáo đã có những ảnh hưởng sâurộng trong nhân dân.
Thời đại nhà Đường trải qua bốn giai đoạn: Sơ Đường ( 618 – 713), Thịnh Đường ( 713 – 766), Trung Đường ( 766 – 835), Vãn Đường (835 – 906)
Sơ Đường:
Giai đoạn này triều đình phong kiến mở các cuộc bình phục cát cứ thống nhất đất nước, tiến hành các cuộc chinh phạt nhằm mở rộng bờ cõi, chẳng hạn đối phó với Đột Quyết, Thổ Cốc Hồn, Cao Li…Có thể nói trong các triều đại phong kiến Trung Quốc, nhà Đường lãnh thổ đất nước được bành trướng rộngnhất Phía đông được mở rộng đến bán đảo Cao Li, phía bắc lên tận Mông Cổ, phía tây bắc đến Trung
Á, phía nam tới bán đảo Ấn Độ Chi Na Lí Thế Dân thực hiện chế độ chính trị quân bình quyền lực giữaquý tộc phong kiến và nhà vua, với hình thức này vừa giảm bớt tình trạng độc quyền của vua chúa, vừa làm giảm nguy cơ cát cứ của giới quý tộc Đồng thời còn thực hiện chế độ bình đẳng giữa các nhân sĩ Hán tộc và các nhân sĩ không phải Hán tộc, điều này đã đẩy nhanh tiến độ hoà hợp giữa các dân tộc, giúp nền văn hoá Trung Hoa có thêm những “dòng máu mới” Giai đoạn này nổi lên hai sự kiện chính trị quan trọng là “ sự biến Huyền Vũ môn”, phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ chính trị nhà Đường, và vụ Võ Tắc Thiên đảo chính Nhờ cuộc chính biến này Võ hậu đã tạm thời cứu nguy cho triều Đường trước nguy cơ sụp đổ trong 11 năm (684 – 705) Giai đoạn này khép lại với sự kiện TrươngGiản Chi đem quân uy hiếp Võ hậu, đưa Đường Trung Tông trở lại ngôi vua , sau đó Vi hậu tiếp tục lậplại sự kiện Võ hậu, giết Trương Giản Chi và Trung Tông Duệ Tông lên ngôi được 3 năm rồi truyền ngôi lại cho Huyền Tông
Thịnh Đường :
“Đây là thời thịnh trị nhất, vua quan lo cho dân nhất, đoàn kết nhất, có tài có đức nhất, dân chúng sung sướng nhất” [13, tr 307] Đường Huyền Tông lúc đầu có lòng nhiệt tâm muốn cũng cố lại nền thống trị của đế chế đại Đường, cùng với sự giúp sức của các đại thần có tài như Dương Sùng, Tống Cảnh… đã dần dần loại trừ được những bất ổn về chính trị của thời Võ hậu, Vi hậu, đưa đất nước phát triển lên đếnđỉnh cao về mọi mặt, lịch sử gọi là thời “ Khai Nguyên thịnh thế” Nhưng về sau ông lại rơi vào chơi bời xa xỉ, tin dùng Cao Lực Sĩ, Lí Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, sủng ái Dương Quý Phi làm cho chínhquyền trung ương dần dần bế tắc Năm 755, An Lộc Sơn kéo quân về đánh chiếm Lạc Dương tự xưng làYên đế Lúc này, Đường Minh Hoàng dẫn theo Dương Quý Phi và bọn người của Dương Quốc Trung trốn chạy vào đất Thục, đến Mã Ngôi xảy ra cuộc binh biến buộc nhà vua phải giết Dương Qúy Phi và Dương Quốc Trung để vỗ về lòng quân Trên đường truy kích, An Lộc Sơn lại bị Sử Tư Minh giết và xưng là hoàng đế Đại Yên “ Loạn An Sử” kéo dài 8 năm, gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng về tính mạng và tài sản Sau sự kiện này cảnh thịnh trị của nhà Đường không còn nữa, nhiều mầm mống biến loạn và chia rẽ chín muồi dần trong cơ thể đầy thương tích của một triều đại từng đạt tới đỉnh cao huy hoàng của chế độ phong kiến Trung Quốc
Trung Đường:
Loạn An Sử kết thúc có thể nói là đất nước hoà bình trở lại Nhưng đó chỉ là hình thức bề ngoài, đi sâu vào đời sống nhân dân cũng như tình hình xã hội lại chứa đựng những đợt sóng ngầm sẵn sàng nổi lên lật đỗ giai cấp thống trị Lí Đường Bởi đây là giai đoạn mà chính quyền phong kiến bắt đầu bế tắc, thể hiện sự khủng hoảng về đường lối cai trị Tiết độ sứ các nơi thừa cơ chuyên quyền, mở rộng binh lực tạo nên tình hình phiên trấn cát cứ Ảnh hưởng của triều đình ngày càng hẹp, vua không còn tin dùng các quan văn võ, do tâm lí e ngại bị cưỡng đoạt quyền lực nên chỉ tin dùng hoạn quan Vì vậy giai cấp thống trị thời kì này không khác gì lũ hoạt kê chịu sự chi phối của hoạn quan, làm cho tình hình xã hội không còn giữ được quan niệm “ quân quân thần thần” của Khổng Tử mà thay vào đó là một cảnh bát nháo
Trang 13Khúc như câu, Phản phong hầu.
Vãn Đường:
Giai đoạn này nổi lên tình hình “bằng đảng chi tranh” (sự tranh chấp bè phái), giữa hai phe Lí Đức Dụ
và Ngưu Tăng Nhụ Cuộc tranh chấp này kéo dài 40 năm thì kết thúc Nhưng triều Đường trải qua biết bao biến loạn, không còn bao nhiêu sức sống nữa Năm 875 cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất đời Đường do hai thương gia buôn muối là Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo nổ ra Năm 880 Hoàng Sào chiếm Trường An lên ngôi hoàng đế lấy quốc hiệu là Đại Tề Do tương quan lực lượng quân khởi nghĩa còn non kém nên đã nhanh chóng bị dập tắt, tuy nhiên cuộc khởi nghĩa là đòn nặng nề giáng xuống chế độ phong kiến Năm 901 Nhà Đường mất về tay Chu Toàn Trung Toàn Trung trở thành vua thái tổ nhà Hậu Lương, tiếp tục đưa bánh xe lịch sử trở lại vòng quay cát cứ với thời Ngũ Đại Thập Quốc
Nhà Đường tồn tại 300 năm như thế là khá lâu trong lịch sử Trung Quốc Triều đại này tuy có nhiều khuyết điểm, trong đó lớn nhất là tin dùng hoạn quan, chính sách dùng tiết độ sứ và tin dùng ngoại nhân, làm cho ngoài mạnh hơn trong, cán nặng hơn gáo Nhưng đó là sau này, trong giai đoạn đầu nhờ thực hiện được nhiều chính sách tiến bộ nên đã tạo đà cho sự phát triển rực rỡ về mọi mặt trong xã hội, đặc biệt là về văn học mà đỉnh cao chói lọi của nó là thơ Đường
2- Khái quát về thơ Đường
Văn hoá đời Đường được coi là đỉnh cao của văn hoá nhân loại vào TK VIII – IX nếu ta nhìn tổng quát toàn bộ lịch sử văn hoá thế giới Có được điều này là nhờ những đóng góp về mọi mặt như: hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, thư pháp…trong đó thành công nhất có thể kể đến văn học
Văn học Đường với đầy đủ các lĩnh vực: tiểu thuyết truyền kì, biến văn, tản văn, ngụ ngôn, thơ, từ, lí luận văn học đã đặt nền móng cho sự hoàn thiện và phát triển đến đỉnh cao ở các giai đoạn kế tiếp Tuy nhiên, sở dĩ bầu trời văn học Đường có thể toả sáng với thời gian, bên cạnh các vì tinh tú lí luận, tiểu thuyết…thì thơ Đường xuất hiện mang lại thứ ánh sáng huyền bí lấp lánh, thơ Đường là đỉnh cao của văn hoá đường, “ muốn tìm những thơ hoàn toàn xứng đáng với hai tiếng mĩ thuật chỉ có thơ Đường” ( Ngô Tất Tố)
Trang 142.1 – Cội nguồn của thơ Đường.
Sự phát triển của 12 thế kỉ thơ ca từ Kinh thi, Sở từ, Hán nhạc phủ, Kiến An thi và cả thi phong của đời Lục Triều đã tạo tiền đề cho sự phát triển đạt đến đỉnh cao chói lọi của thơ Đường trong lịch sử văn học Trung Quốc
Kinh Thi là tập thơ đầu nguồn, là ngọn suối ở chỗ mới phát nguyên Kinh Thi đã đặt truyền thống trữ tình làm phương hướng chủ yếu cho sự phát triển của Đương thi Dù thơ bắt nguồn từ lao động, là lời
ca cất lên nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng trong lao động, nhưng lời ca đó cũng là lời buồn của trái tim, của thân phận luôn bị đày đoạ áp bức trong thời đại lúc bấy giờ Đó là cái thấp thỏm lo âu của cô gái vì
sợ bị công tử bắt, là cái thân “ trần như nhộng” giữa ngày giá rét của người thợ dệt vải, là số phận của người lính nô lệ, của người chinh phụ chờ chồng…Tất cả điều này cho thấy tính chất trữ tình trong Kinh thi thường bộc lộ một thứ tình cảm đau buồn Trong Đường thi tình cảm của các thi nhân bao giờ cũng bộc lộ một nổi buồn u uất, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị… cả một lớp người mang trong mình một mối sầu thế hệ
Điều đáng nói là Kinh thi khác về cơ bản với các sáng tác dân gian phương Tây, như thần thoại Homer chẳng hạn Nó không đưa người đọc vào thế giới siêu nhiên với các vị anh hùng ít nhiều mang tính chất thần thánh Kinh thi đi sâu vào cuộc sống đời thường, với những hỉ nộ bi hoan ai lạc của con người trần thế Kinh thi lần đầu tiên khẳng định cuộc sống của con người là ở thế gian này, sáng tác thi ca phải bắt nguồn từ hiện thực, phải toát lên từ kiếp sống lầm than của nhân dân Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị và ngay cả
Lí Bạch cũng kế thừa tinh thần này của Kinh thi
Từ Kinh thi đến Sở Từ trong đó đại diện tiêu biểu là Khuất Nguyên với thiên trường thi “ Li Tao” có một bước tiến mới về thi pháp và nghệ thuật biểu hiện Từ câu thơ bốn chữ, thỉnh thoảng có hình thức câu 2 đến 9 chữ, với lối trùng điệp tạo ra hiệu quả “ nhất xướng tam thán” và vận dụng các thủ pháp “ phú, tỉ, hứng” để tăng cường hình tượng của tác phẩm, đến hình thức câu thơ có 6 chữ một câu có thêm chữ “ hề” đệm nhịp thể hiện dấu ấn cá nhân rõ nét Nghệ thuật biểu hiện đã vượt ra ngoài những hình ảnh có thực trong sinh hoạt đời thường hướng đến thế giới siêu nhiên.Thông qua nó, miêu tả nó để biểu hiện các cung bật tình cảm thống thiết của mình đối với thế sự, do đó đến Khuất Nguyên không gian thi
ca được mở rộng, thể hiện rõ đặc trưng khoáng đạt và tráng lệ Khuất Nguyên đã mở đầu cho khuynh hướng lãng mạn, Lí Bạch, Lí Hạ đều nhận được sự gợi mở từ Khuất Nguyên
Hán Nhạc Phủ tiếp nối truyền thống của Kinh thi, mang hơi hướng của cuộc sống rất đậm đà, nhất là nólần đầu tiên phản ánh một cách sâu sắc cụ thể những khó khăn và nỗi đau khổ trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân Tiếp nối và phát triển, Hán nhạc phủ nói về nỗi thống khổ bằng một sức tưởng tượng rất sinh động và sôi nổi Môt đặc điểm quan trọng của Hán nhạc phủ là “ cảm ư ai chi tác” (cảm động trước nỗi đau buồn mà sáng tác), biểu hiện một sự nỗ lực về giải phóng tình cảm Đây là nội dung
cơ bản có ảnh hưởng sâu sắc đến các thi nhân đời Đường, bao giờ cũng thể hiện một cái nhìn đau đáu muốn giải phóng cá nhân khỏi sự bủa vây chật chội của cuộc sống quần thể Bài “ Chiến thành nam” của Lí Bạch là sự mô phỏng nhạc phủ của dân ca đời Hán Dân ca đời Hán có không ít tác phẩm thể hiện nỗi đau buồn trước sinh mệnh cá nhân quá ngắn ngủi, cuộc sống của con người quá nhiều thay đổi bất thường Thơ du tiên ra đời bắt nguồn từ ý niệm này như là một phương thức dùng ảo tưởng để chống lại sự thật là sinh mệnh quá ngắn ngủi
Cùng với thể thơ 4 chữ của Kinh thi, Hán nhạc phủ còn hình thành thể tạp ngôn và thể ngũ ngôn, góp phần làm phong phú thêm thể loại thơ ca của đời Đường
Sang thời Nguỵ có nhóm “Thất hiền” nổi bật nhất là các sáng tác của ba cha con Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực Đặc điểm quan trọng của thơ ca thời này là “ bi thương khảng khái” (buồn đau nhưng hùng
Trang 15hồn).Thương cảm trước hoàn cảnh chiến loạn, buồn đau trước cuộc đời quá ngắn ngủi, và khát vọng xây dựng một sự nghiệp bất hủ đều là những tình cảm rất sôi nổi đậm đà Cả ba thứ đó hợp lại làm một khiến văn học Kiến An có sức truyền cảm không phải tầm thường Bên cạnh thể thơ ngũ ngôn, thể thất ngôn đã bước đầu hình thành, quan niệm “ văn chương chi mĩ” trở thành một chuẩn mực trong sáng tác.Khuynh hương đối ngẫu, trau dồi chữ nghĩa tạo cho câu văn có vẻ đẹp đã bắt đầu từ thời Kiến An này Trong lí luận sáng tác của các thi nhân đời Đường, họ cho rằng văn chương thời Lục Triều là hoa hòe không đáng kể, thơ Đường cần tìm một hướng đi mới, thoát khỏi ảnh hưởng của thi phong Lục Triều Nhưng trên thực tế bản thân những sáng tác của họ lại thể hiện tính tiếp nối, kế thừa và phát triển nhữngthành tựu tích cực của văn chương thời kì này.
Trước hết trong thời Lục triều ta thấy xuất hiện một nhà thơ lớn, có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sau Đó
là Đào Uyên Minh- “ông tổ của trường phái ẩn dật” ( Lỗ Tấn) với hơn 120 bài thơ ca ngợi quê hương đồng nội, kêu gọi con người từ bỏ vinh hoa phú quý mà trở về với thiên nhiên Có thể nói Đào Uyên Minh đã đặt nền móng cho thơ sơn thuỷ được manh nha, hình thành và ngày càng phát triển dần trở thành một trong những chủ lưu của Đường thi với các tác giả như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Vi Ứng Vật…
Ảnh hưởng quan trọng của nền văn học Lục triều là đã bước đầu luật hoá thể thơ 5 chữ, lấy 2 câu làm một đơn vị cơ bản Trong mỗi câu, bình trắc phải xen kẽ nhau, giữa hai câu bình trắc phải đối lập, cần phải tránh các yêu cầu về “ tứ thanh, bát bệnh”, số lượng câu trong một bài thơ dần rút ngắn chỉ còn 8 câu Ngoài ra, trừ 2 câu đầu và đuôi, những cặp ở giữa phải đối nhau thể thơ thất ngôn có bước phát triển mới về thanh luật Văn chương có đẹp thì mới xúc động lòng người Các nhà thơ thời Lục triều cókhuynh hướng trau dồi ngôn ngữ, đưa ngôn ngữ thi ca dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của lời ca tiếng hátdân gian mộc mạc có từ Kinh thi, Hán nhạc phủ, đó là một điều tốt, làm cho ngôn ngữ văn chương mang tính điển nhã, độc lập và giàu hính tượng, giàu tính âm nhạc Chỉ có điều, đời Lục triều là một xã hội sĩ tộc, việc sáng tác thi ca chủ yếu sản sinh từ hai tập đoàn nhỏ hẹp là cung đình và giới quý tộc cao cấp, cuộc sống nhàn hạ, không ẩn ức điều gì lại quá thiên về hình thức câu chữ, thì kết quả tất yếu sẽ đưa lại thứ văn chương “ hoa hoè, không đáng quý”
Tóm lại, thơ Đường là sự chưng cất những tinh tuý của 12 thế kỉ thơ ca Thế nhưng thơ Đường sẽ khôngđạt tới đỉnh cao của văn hoá Đường nếu nó chỉ đi theo những lối mòn của cổ nhân Trên tinh thần tiếp biến các thi nhân đời Đường đã có nhiều cống hiến quan trọng nhất là trong lĩnh vực thi pháp
2.2 – Nguyên nhân phát triển.
Thơ Đường có bước phát triển rực rỡ như vậy xuất phát từ hai nguyên nhân, khách quan và chủ quan Khách quan tức là những tác động của điều kiện kinh tế xã hội, và chủ quan là sự vận động tự thân của thơ ca đời Đường
Đời Đường đất nước hoà bình thống nhất, các ông vua khai quốc như Đường Cao Tổ, Đường Thái Tôngthi hành nhiều chính sách tiến bộ thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt từ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Về kinh tế có những thay đổi rõ rệt nhất là thành thị, với nhiều phố xá đền đài, cao lâu…bước phát triển đó một mặt làm cho nhà Đường lớn mạnh, đồng thời cũng kích thích tạo đà phát triển của thơ ca
Xét về ảnh hưởng của kiến trúc thượng tầng như triết học, tôn giáo, nghệ thuật, chính sách văn hoá, chế
độ khoa cử và những chủ trương của các vua chúa của nhà Đường đối với văn học, đều có những ảnh hưởng nhất định đến thơ ca đời Đường
Khác với Hán triều chỉ độc tôn Nho giáo, làm bó hẹp tư tưởng con người trong hai vòng xuất thế và nhập thế, nhà Đường cả ba Nho, Phật, Lão đều được tự do thịnh hành.Với chủ trương này một lần nữa lại xuất hiện cảnh tượng trăm nhà đua tiếng về học thuật và văn hoá Điều đó làm cho nếp suy nghĩ của
Trang 16thi sĩ không cứng nhắc, chân trời kiến thức được mở rộng cảm hứng chủ đạo nói trên tạo ra hàng ngàn bài thơ khác nhau và tạo ra ba phong cách độc đáo : thánh thơ Đỗ Phủ, Phật thơ Vương Duy, tiên thơ LíBạch.
Thực ra yếu tố quyết định thơ Đường là “ tập đại thành của thơ ca cổ điển” không phải là số lượng mà phải nói đến chất lượng thơ, bao gồm nội dung và nghệ thuật Tiếp tục con đường của Tuỳ Văn Đế, nhà Đường không sử dụng hình thức “ cửu phẩm trung chính” để tuyển chọn quan chức, thay vào đó là chế
độ thi cử Trong các kì thi, thơ ca là hình thức bắt buộc, “ dĩ thi thủ sĩ”.Với chủ trương này một mặt tạo
ra phong khí sùng thơ trong cả nước, lực lượng sáng tác mở rộng đủ mọi tầng lớp trong xã hội Mặt khác, nội dung thơ phong phú và ngày càng phản ánh được các hiện tượng phức tạp của hiện thực xã hội Nghệ thuật thơ dần thay đổi để thích ứng với nội dung đó Đồng thời cũng phải thấy rằng, mảng thơhiện thực đời Đường phát triển đến đỉnh cao góp phần quan trọng trong việc xác định vị trí hàng đầu của thơ Đường còn là bắt nguồn từ hiện thực xã hội nhà Đường Xã hội hưng thịnh, thơ ca nghiên về khuynh hướng lãng mạn, xã hội loạn lạc, triều chính suy vi, thơ ca đã phản ánh hiện thực với tinh thần tích cực nhất
Ngoài ra còn phải nói đến khẩu vị mới của giai cấp thống trị dưới triều đại này Các ông vua đời Đường rất yêu thích văn học và thơ ca Đường Trung Tông còn đặt ra lệ thi thơ trong ngày tết thượng nguyên Giai thoại về Tống Chi Vấn được Vũ Hậu “ giật áo bào tặng cho” là một điển hình cho phong khí sùng thơ của triều đình phong kiến Phong trào yêu thơ không chỉ bó hẹp chốn cung đình, mà cuộc sống ngoài nhân gian đặc biệt là ở các trà lâu tửu điếm còn được hưởng ứng mạnh mẽ hơn, trong đó các kĩ
nữ là người thích và thuộc nhiều thơ nhất Câu chuyện Vương Xương Linh, Vương Chi Quán, Cao Thích được kĩ nữ thết rượu là môt ví dụ Và không chỉ kẽ sĩ biết làm thơ và thích làm thơ, ngay đến thương nhân như Hoàng Sào cũng làm được thơ Cả một xã hội đều yêu và thích làm thơ, đây là nét đặcthù của văn hoá Đường
Các ngành nghệ thuật như âm nhạc, vũ đạo, hội hoạ đều rất phát triển, có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của thơ ca Nó có tác dụng nâng cao khiếu thẫm mĩ và làm giàu thêm tứ thơ Trong đó âm nhạc và thi ca vốn là chị em sinh đôi, vì không ngừng đưa vào những nhân tố mới của âm nhạc nên âm luật và cách điệu của thơ ca ngày càng hoàn thiện hơn Đặc biệt giữa thơ ca và hội hoạ có mối quan hệ khắng khít với nhau, và hội hoạ còn được gọi là “ vô thanh thi”, giữa hai ngành nghệ thuật này có những điểm chung với nhau, như quan niệm về “ý cảnh”, “ nhập thần”, “ hư” và “ thực” và thơ Vương Duy, nói như Tô Thức đời Tống: “ trong thơ có hoạ, trong hoạ có thơ”
Cuối cùng là quá trình vận động tự thân của thơ ca đời Đường, do yêu cầu của hiện thực đòi hỏi phải được phản ánh vào thi ca, hình thức thơ phù hoa diễm lệ chịu ảnh hưởng của Tề Lương không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đó Vì thế, các nhà thơ mở đầu là Trần Tử Ngang chủ trương phục cổ, kế thừa tinh thần hiện thực của Kinh thi, nhạc phủ, thơ Kiến An, bút pháp châm biếm của thơ Chính Thuỷ, tinh thần yêu nước và bút pháp lãng mạn của Khuất Nguyên, phong cách hào phóng của dân ca BắcTriều, phong cách uyển chuyển của dân ca Nam Triều những lí luận, cách đánh giá của Chung Vinh, Lưu Hiệp, cho đến cả thuyết “tứ thanh bát bệnh” của Thẩm Ước đều được các nhà thơ vận dụng một cách sáng tạo
Đó là tất cả các nguyên nhân cơ bản làm cho thơ ca đời Đường đặc biệt phát triển, phong phú về nội dung, điêu luyện về hính thức tạo nên một thời kì hoàng kim của thơ ca
2.3 – Qúa trình diễn biến : Tương ứng với sự phân kì lịch sử, thơ Đường cũng được chia làm bốn giai
đoạn : Sơ Đường, thịnh Đường, trung Đường và vãn Đường
Trang 17Sơ Đường : Thơ ca thời kì này chịu ảnh hưởng khá nặng của thi phong thời Lục triều Cùng với sự
giàu mạnh của đế quốc phong kiến nhà Đường nên giai cấp thống trị cần có các nhà thơ chuyên ca công tụng đức Ngay từ buổi đầu đã có các thi nhân bồi bút như: Ngô Thế Nam, Thượng Quan Nghi, Lí BáchDược, Dương Sư Đạo…xuất hiện muộn hơn có nhóm “ văn chương tứ hữu” ( Tô Vi Đạo, Lí Kiểu, Đỗ Thẩm Ngôn và Thôi Dung) Ngoài ra còn có nhóm Thẩm – Tống ( Thẩm Thuyên Kì, Tống Chi Vấn)
Tuy nhiên trên dòng chảy thơ ca hoa lệ phù phiếm trong giai đoạn sơ Đương này vẫn xuất hiện những con nước ngược dòng, tìm mọi cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của Tề – Lương, tìm một hướng đi mới cho thi ca như Vương Tích, “ văn đàn tứ kiệt” ( Dương Quýnh, Vương Bột, Lạc Tân Vương, Lư Chiếu Lân) và Trần Tử Ngang
Vương Tích noi theo phong cách Đào Uyên Minh Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chất phác không trau chuốt, hoàn toàn khác hẳn thơ ca cung đình, bài” Dã vọng” là một điển hình tiêu biểu nhất
Nhóm “ văn đàn tứ kiệt”, tuy được xã hội đề cao và có địa vị nhất định trong triều đình, nhưng ở họ vẫntoát lên vẻ bất mãn đối với chế độ Trong bốn người, Vương Bột là nhà thơ nổi tiếng nhất, cuộc đời lưu lạc, nhiều ưu hoạn, nhưng đến với thơ ông, ta không bị lạc vào một cõi lòng u uẩn mà trái lại cảm thấy tâm hồn mình thanh thoát, nhẹ nhàng như nâng lên, bay lên tựa như cánh cò đang chấp chới giữa trời chiều lẫn với màu mây Có được điều này, vì thơ ông thấm đẫm tình đời, tình người và niềm lạc quan vững tin vào con đường phía trước
Vương Bột cũng không hề tỏ ra tự hào, hân hoan về những thắng lợi trong các cuộc chiến tranh khai biên Chiến tranh gắn liền với mất mát và đau thương Đây là điểm khác của thi nhân so với Dương Quýnh thiên về ca ngợi tráng chí và cuộc sống sôi nổi nơi biên ải Lạc Tân Vương, Lư Chiếu Lân lại đi sâu vào các đề tài xã hội kết hợp với cảnh ngộ của bản thân, tác phẩm của họ có sức tố cáo mạnh mẽ đốivới xã hội nhà Đường trong giai đoạn mới bắt đầu cường thịnh nhưng đã bộc lộ các mâu thuẫn giai cấp sâu sắc
Trần Tử Ngang là người khởi xướng cho phong trào phục cổ của thơ Đường Ông cho rằng thơ ca phải như thời Kiến An Nhưng ông không hoàn toàn đi trên lối mòn của cổ nhân mà có cách tân sáng tạo Văn chương vừa phải có kí thác vừa phải có phong cốt lành mạnh sáng sủa hàm chứa nội dung tư tưởngđầy đủ, hai mặt này phải kết hợp một cách hoàn mĩ mới có thể đạt được sự thống nhất giữa nội dung và hình thức.Thực tiễn sáng tác với 38 bài “ Cảm Ngộ”, 7 bài “ Kế khâu lãm cổ”, 4 bài “Đăng U Châu đài ca” chứng minh cho lí luận sáng tác của ông
Thịnh Đường :Có người bảo: từ sơ Đường tới thịnh Đường thơ phát triển như từ đất bằng vọt lên ngọn
núi Hi Mã Lạp Sơn Qủa vậy chỉ trong gần 60 năm ngắn ngủi nhưng chính những thành tựu thơ ca giai đoạn này đã đưa thơ Đường trở thành tập đại thành của thơ ca cổ điển Và quả vậy, trong 5 vạn bài thơ của “ Toàn Đường thi” thì số lượng thơ thịnh Đường chiếm tới 3\4, trên 1500 thi sĩ với non 4 vạn bài thơ, riêng Đỗ Phủ có tới ngàn bài
Tình hình xã hội giai đoạn này diễn ra nhiều ba động dữ dội nhất, chế độ phong kiến Lí Đường từ đỉnh cao phồn thịnh trượt dài xuống suy yếu dẫn đến nguy cơ sụp đỗ hoàn toàn, có tác dụng sâu sắc đến thơ
ca với đủ các trường phái khác nhau: phái biên tái, phái điền viên, trong đó có hai trường phái sáng tác tiêu biểu là lãng mạn và hiện thực
Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên là hai đại biểu lớn của phái điền viên Thơ Mạnh Hạo Nhiên vừa có
cái u tĩnh, nhàn hạ thanh thoát chốn làng quê đồng thời cũng có cái hùng tráng của giang sơn kì vĩ trong
đó mối quan hệ giữa tình và cảnh trong thơ chẳng những tương hỗ nhau, tôn nhau lên, mà còn hoà quyện rất chặt chẽ Thơ sơn thuỷ của Vương Duy có sự kết hợp nhuần nhuyễn với hoạ, ngôn ngữ giàu màu sắc, với bố cục và cấu trúc chặt chẽ đã truyền đến cho người đọc những mĩ cảm thanh tú và đẹp đẽ
Trang 18Phái biên tái : hầu như nhà thơ nào cũng viết về chiến tranh, về cảnh biên cương khốc liệt Trong đó
tiêu biểu nhất là Cao Thích, Sầm Tham, Vương Xương Linh, Lí Kì Ngoài ra còn có thể nói đến Vương Chi Hoán, thơ ông còn lại 6 bài tuyệt cú rất hay như bài “Đăng Quán Tước lâu”, thơ biên tái có “ Lương Châu từ nhị thủ” gợi lên tính bi hùng của chiến tranh, chưa đi sâu vào phê phán Thơ Vương Xương Linh chủ yếu viết về ba đề tài : biên tái; khuê tình, cung oán và tống biệt Thơ biên tái của ông chủ yếu thiên về phê phán, nói lên cảnh bất hạnh của tướng sĩ trước và sau cuộc chiến như nhóm thơ “ Tòng quân hành xuất ngũ” Lí Kì sở trường về thất ngôn cổ, thường dùng thể ca hành, thơ biên tái của ông nổi tiếng với các bài “ Cổ ý”, “ Cổ tòng quân hành”, đả kích thẳng vào tầng lớp thống trị vì muốn thoả mãn tham vọng riêng tư mà không hề tiếc máu xương bá tánh
Cao Thích, Sầm Tham thuộc về một dòng riêng thiên về ngợi ca Trong thơ của Cao Thích, loại thơ cảmhoài, vịnh sử rất nhiều, ông sở trường về cổ thể, nhất là loại cổ thể thất ngôn Thơ biên tái của ông có đặc điểm trầm hùng thâm hậu thiên về ngợi ca những nhân vật lập nhiều chiến công đương thời như trong bài “ Tam quân vịnh” Tuy nhiên đó không phải là biểu hiện của thái độ tiêu cực trước cuộc chiến tranh đẫm máu phi nghĩa mà nó thể hiện niềm khát khao của một người lính về chiến công và tự do, “ Tái hạ khúc”,” Yên ca hành” là những bài thơ như thế
Sầm Thanh sống ở biên tái lâu hơn Cao Thích, cho nên thơ biên tái của ông phong phú và đa dạng hơn thơ Cao Thích Thơ của ông đã phát hoạ nên bức tranh tráng lệ của cuộc sống biên tái với đủ các sắc thái đa dạng, từ cảnh đến người Đó là hoàn cảnh khắc nghiệt nơi biên giới xa xôi với cái nóng gay gắt của núi Hoả sơn, cái rét thấu xương của tuyết Thiên Sơn, đó là hình ảnh các chiến sĩ biên phòng gan dạ quả cảm, chiến đấu với một tinh thần anh dũng, “ Luân Đài ca phụng tống Phong đại phu xuất sư tây chinh”, đó còn là niềm tin yêu lạc quan của người chiến sĩ nơi biên ải “Điền sứ quân mĩ nhân như liên hoa bắc diễn ca” Bên cạnh cảm hứng ngợi ca, ông còn đi sâu vào phê phán cuộc sống xa hoa của đại tướng nơi biên đình đối lập với sự đói rét của sĩ tốt nơi chiến địa, về nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi uất giận đối với triều đình
Lí Bạch là đại biểu kiệt xuất của trường phái lãng mạn Người ta gọi ông là nhà thơ lãng mạn vì hai lẽ, xét ở hình thức nghệ thuật, thơ ông phóng túng không bó buộc Qủa thật, 1000 bài thơ mà trong đó chỉ
có 70 bài ngũ luật, 12 bài thất luật, còn lại là thơ tự do Xét về nội dung ta thấy nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là cảm hứng Đạo giáo và hiệp sĩ
Là một nhà thơ lãng mạn, đề tài chiếm phần lớn trong thơ Lí Bạch là thiên nhiên, từ một dòng sông, một làn gió, một cánh chim bơ vơ giữa trời chiều, một bông hoa tuyết, một thác nước ở Lư Sơn đều trởthành một thực thể sinh động chứa đựng nổi niềm của thi nhân Đặc biệt với Lí Bạch vầng trăng đi vào thơ ông như một niềm ám ảnh khôn nguôi, trăng mang bóng dáng của quê nhà (Tĩnh dạ tứ), là chiếc cầunối cho niềm thương nỗi nhớ của đôi bạn xa nhau (Tống Trương xá nhân chi Giang Đông), là người bạnđồng hành với cuộc sống phiêu linh của nhân dân (Ngô ca), trăng nối liền quá khứ với hiện tại ( Bá tửu vấn nguyệt) và hơn hết ánh trăng là tri kỉ tri âm của thi nhân, trăng ca hát, nhảy múa, đối ẩm với kẻ langbạt kì hồ trong niềm cô đơn bất tận ( Nguyệt hạ độc chước)
Đề tài lịch sử là một mảng quan trọng trong sáng tác của Lí Bạch, thi nhân sống trong hiện tại “ Khai Nguyên thịnh thế” nhưng lại hay có những vần thơ hoài cổ xa xôi Ông ca ngợi các vị anh hùng như Khương Thái Công (Lương phụ ngâm), Lỗ Trọng Liên (Cổ phong) Trong bài “ Hành lộ nan” ông đã cangợi những bậc danh thần xuất thân áo vải Viết như thế không phải chỉ do tình cảm hoài cổ mà thi nhâncòn muốn thông qua những nhân vật đó để bộc lộ nhiệt tình và khí khái, “ tâm hùng vạn phu” của mình,thể hịên nguyện vọng muốn xây dựng thành tích huy hoàng, tích cực sáng tạo giá trị của bản thân.Trong các bước ngoặt của đời mình, từ những năm trải gót phong trần ở huyện Chương Minh, kiếm gậyrời quê để đi nát vạn dặm đường, ba năm đại náo cung đình nhà vua và những năm tháng đi trong chiến
Trang 19loạn để tìm lẽ sống cho đời, Lí Bạch có dịp tiếp xúc với những cảnh đời bất công ngang trái, cho nên trong thơ ông còn có những giá trị hiện thực nhất định Ông nói về cảnh sống khổ sở của nhân dân do chiến tranh phi nghĩa gây ra, đặc biệt là chủ đề người phụ nữ trong xã hội phong kiến, từ nàng cung nữ chốn thâm cung đến cô gái hái sen đời thường, ngòi bút của thi nhân bao giờ cũng thể hiện thái độ trân trọng, làm toát lên cái đáng yêu đáng quý từ tâm hồn đến hình thể của họ Bên cạnh đó ông cũng khắc hoạ những nỗi bất hạnh mà người phụ nữ phải chiụ đựng, đó là nỗi đau khổ do thống trị gây nên, sự o
ép thúc bách của lễ giáo phong kiến, sự cưỡng bức chồng họ đi lính thú xa xôi
Nếu Lí Bạch là đỉnh cao của thơ trữ tình cổ điển thì Đỗ Phủ lại chính là đỉnh cao của thơ hiện thực cổ điển, là chủ soái của thơ hiện thực đời Đường Cả Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai ngọn núi song song sừng sững trên cánh đồng thi ca lúc bấy giờ Hoài Thanh nhận xét “Thơ Lí Bạch đưa ta vào tiêu dao trên mấytừng mây, thơ Đỗ Phủ lại bắt ta đi sâu vào giữa tình đời cay đắng.Văn Thơ Đỗ Phủ hình như chỉ riêng tảnhững nỗi đau thương Đau thương vì thân thế mình, vì những biến cố của quốc gia và nhất là vì những đau thương của hạng cùng dân không tên tuổi” Nhận định trên của Hoài Thanh có phần không xác đáng về Lí Bạch, nhưng về Đỗ Phủ ông đã có nhận xét khá chính xác
Xuất thân trong gia đình thuộc dòng dõi Nho quan đến mười ba đời, Đỗ Phủ ngay từ thuở thiếu thời đã tắm mình trong những lề thói khắc kỉ của Nho gia, quý trọng đức hạnh, danh tiết, luôn giữ gìn lễ giáo, quy củ và xem đó là chuẩn mực của cuộc sống Đỗ Phủ đồng thời còn chịu ảnh hưởng không ít không khí của thời đại.Trong giai đoạn đầu sáng tác của ông ta luôn bắt gặp hình ảnh một cá nhân kiêu ngạo, luôn tự tin ở tài năng của mình với những bài thơ viết về cảnh núi non, chim ưng, ngựa hồ…nói chung
đó là loại thơ “ ngôn chí”, thể hiện lí tưởng của mình muốn làm một “ tể tướng thời bình”, trong một phong thái hết sức tự tin “ Tư vị pha đỉnh xuất, lập đăng yếu tộ tân” ( tự cho mình bước ra, sẽ được địa
vị tốt) Đỗ Phủ đã thất bại ngay từ lần đầu tiên va chạm với hệ thống quyền lực phong kiến Cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn đòi hỏi ông phải có một chỗ dựa vững vàng, Đỗ Phủ làm phú thơ dâng tặng mong được tiến cử nhưng tất cả chỉ hoài công Tiếc thay mảng thơ đề tặng của ông lúc đầu vừa nêulên khát vọng công danh, vừa khiêm tốn hạ mình đến mức cầu cạnh Tuy vậy thơ Đỗ cũng vẽ lên được cảnh nghèo khổ cơ cực của nhà Nho nghèo và sự bất mãn thấm vẻ bất lực
Giai đoạn thứ hai trong cuộc đời sáng tác của Đỗ Phủ là những khúc bi ca thời loạn, lên án trực tiếp giaicấp thống trị và phản ánh sâu sắc đời sống cực khổ của nhân dân Những năm tháng sống lao đao chốn kinh thành, Đỗ Phủ thực sự đã qua nỗi bất hạnh của cá nhân mình, thấy được nỗi bất hạnh của quốc gia cũng như nỗi bất hạnh của nhân dân Sáng tác thi ca của ông đã hấp thu chất dinh dưỡng từ máu và nước mắt của nhân dân Bài “ Binh xa hành” đã đánh dấu bước chuyển biến trong thi ca, từ đó hình thành nội dung cơ bản và quán xuyến trong sáng tác thi ca của cả đời ông Nội dung tư tưởng đó bao gồm bốn đặc điểm: một là tinh thần tả thực nghiêm túc, dưới tiền đề trung thành với nhà vua và vương triều phong kiến, nghiêm khắc phê phán hiện tượng hủ bại trong tập đoàn thống trị; đồng tình một cách sâu sắc nỗi đau khổ của nhân dân; ưu tư nặng nề đối với vận mệnh của quốc gia và dân tộc 9 bài trong nhóm “ Tiền xuất tái” tiếp tục nêu lên nghi vấn về cuộc chiến tranh mở rộng, “ Lệ nhân hành” vạch trần đời sống xa hoa cùng cực của bọn thân tộc Dương Ngọc Hoàn, “ Tự kinh phó Phụng Tiên vịnh hoài Ngũ Bắc tự” nêu lên một sự so sánh ngày càng gay gắt hơn giữa cuộc sống xa hoa của tầng lớp thống trị
tối cao với cảnh sống cơ hàn của nhân dân Những bài như: Xuân vọng, Nguyệt dạ, Bi trần đào, Bi thanh bản, Bắc chinh, Khương thôn, Tam lại, Tam biệt, Thạch hào lại, Tân hôn biệt…được sáng tác chủ
yếu trong loạn An Sử phản ánh một cách sâu sắc tình cảnh khốn cùng của nhân dân bị cuốn hút vào cuộc chiến tranh phi nghĩa đồng thời cũng nói lên tấm lòng tràn ngập niềm lo âu trước cuộc đời
Thời kì cuối, thơ ông chủ yếu là thơ trữ tình Cuộc sống nghèo khổ phiêu bạt càng làm tăng thêm nỗi niềm thương nhớ quê hương da diết, khi tỉnh khi mơ, lời thơ dạt dào tình cảm Ứơc mơ mãnh liệt về
một cuộc sống hoà bình hạnh phúc khiến thơ ông bớt phần ảm đạm, u tối Những bài thơ như: Văn quan quân thu Hà Nam Hà Bắc, Hựu tình Ngô Lang, Thu hứng, Chư tướng, Vịnh hoài cổ tích, Lữ dạ thu hoài…đều là những tác phẩm ưu tú trong thời kì này, có thể nói giai đoạn này là đỉnh cao thứ hai trong
thơ ca Đỗ Phủ
Trang 20Đỗ Phủ là một thi nhân đã thu gom nhiều thành quả của các thi nhân đời trước, là người kế thừa đời trước và mở đường cho đời sau Thành công cũng như cống hiến của Đỗ Phủ về mặt nghệ thuật có thể thấy ở ba loại hình tiêu biểu sau: một là những bài thơ có tính tự thuật theo thể thơ ngũ ngôn cổ thi như
các bài : Tự kinh phó Phụng Tiên vịnh hoài ngũ Bắc tự, Bắc chinh; hai là những bài thơ kể chuyện viết
theo thể thất ngôn cổ thi, ngũ ngôn cổ thi; ba là thơ thất ngôn luật Ngôn ngữ thơ Đỗ Phủ rất tinh xảo điêu luyện
Trung Đường : Tiếp nối truyền thống thơ ca hiện thực của Đỗ Phủ, các nhà thơ trong giai đoạn Đại
Lịch đến Trinh Nguyên này tập trung sáng tác dưới ngọn cờ “vị quân, vị dân nhi trước” của Bạch Cư
Dị Ông là nhà thơ có nhiều tác phẩm nhất dưới thời nhà Đường, với khoảng 3000 bài Tạm chia làm 4
loại : thơ cảm thương, thơ phúng dụ, thơ nhàn thích và thơ tạp luật Thơ phúng dụ điển hình có các bài: Tần trung ngâm và 50 bài trong nhóm Tân nhạc phủ Xoáy vào hai vấn đề chủ yếu : một là miêu tả hiện
tượng giàu nghèo chênh lệch nhau một cách gay gắt trong thời đại này cũng như các tầng lớp dưới do bịbóc lột vơ vét mà lâm vào một thảm trạng khó khăn bi đát Hai là chú ý đến các cuộc chiến tranh liên miên xảy ra ngoài biên giới, dẫn đến bá tánh vô tội bị chết chóc đến hàng nghìn hàng vạn người Bài “ Tân phong chiết tý ông” miêu tả một cụ già từng trốn binh dịch trong những năm Thiên Bảo, vừa nói lên nỗi khổ của nhân dân trong thời chiến vừa phản ánh một cách sâu sắc bản chất hiếu chiến của giai tầng thống trị Nói chung, với loại thơ phúng dụ Bạch Cư Dị đã lột bỏ tấm vải che mặt của họ để phơi bày ra sự đen tối nhơ nhớp và bất hợp lí của xã hội
Thơ cảm thương của ông còn lại hai bài là “ Tì bà hành” và “Trường ca hành” Mặc dù sinh thời Bạch
Cư Dị rất chú trọng đến thơ phúng dụ vì nó phù hợp với chủ trương văn học của ông, nhưng trên thực tếnhững tác phẩm đó đôi khi không tránh khỏi khô khan hình thức vì quá thiên về chính trị Ảnh hưởng của ông đối với đời sau chủ yếu là ở hai bài cảm thương này
Gỉa Đảo, Mạnh Giao lại tách riêng theo một hướng sang tác khác, có thể gọi thơ của họ thuộc phái quái đản tức là chủ trương viết phải khác người, làm kinh dị người đọc thì mới là khéo, cố tìm những tiếng lạlùng, những vấn đề khó khăn Liễu Tông Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất sở trường, phản ánh nổi khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị Lí Hạ là nhà thơ có biệt tài xây dựng tứ thơ độc đáo, hình ảnh kì
lạ, từ ngữ mới mẻ Ngoài ra còn có thể kể đến nhiều nhà thơ khác cũng được người đời truyền tụng như Lưu Vũ Tích, Lí Đoan, Vi Ứng Vật
Vãn Đường : trước một xã hội tao loạn, hoàn toàn không có khả năng cứu vãn, tình cảm tư tưởng của
các thi nhân giai đoạn này trở nên u ẩn thâm trầm Có thi nhân chủ trương duy mĩ trở về thời Lục triều như Đỗ Mục, Lí Thương Ẩn, Ôn Đình Quân…trong đó Lí Thương Ẩn là người nổi tiếng trên thi đàn thời vãn Đường, ông sở trường về thất ngôn luật và ngũ ngôn luật, rất ít dùng và dùng rất khéo các điển tích điển cố, kết cấu chặt chẽ, gãy gọn hơn so với những người đi trước Ôn Đình Quân là bạn thân của
Lí Thương Ẩn nhưng thành công cũng như sở trường của ông là ở lĩnh vực sáng tác Từ Nhà thơ được xem là ông tổ của thể loại này Nói chung các nhà thơ dù chủ trương duy mĩ nhưng lời thơ của họ khôngphải là sáo rỗng không có kí gửi điều gì mà nó là nỗi niềm ai oán, là tiếng lòng của một tâm hồn đầy niềm ưu tư dằn vặt với đời nhưng hoàn toàn bất lực đứng bên lề của những ba động đảo điên đó
Một số khác lại sáng tác theo lối điền viên như Lí Tần, Triệu Hỗ, Tiết Phùng, Mã Đới Bên cạnh đó có hàng loạt nhà thơ như Bì Nhật Hưu, Diếp Di Trung, Đỗ Tuân Hạc…vẫn kiên trì khuynh hướng Tân nhạc phủ do Bạch Cư Dị đề xướng Tác phẩm của họ đã phản ánh một cách chân xác đời sống cùng khổcủa nhân dân cũng như thực tại ngày càng đen tối của xã hội trong giai đoạn Vãn Đường này
Trang 21
Tìm hiểu thơ Đường qua 4 giai đoạn để thấy quá trình diễn biến từ thịnh đến suy Tình cảm trong thi ca
từ chỗ trong sáng trở thành tối tăm, khí thế từ chỗ sôi nổi trở thành âm trầm, ngôn ngữ từ chỗ bình dị trôi chảy chuyển thành trau chuốt cầu kì, kết cấu từ chỗ tự nhiên thư thái chuyển thành tinh tế, tỉ mỉ Và
do vậy cho thấy thơ Đường trong tiến trình từ sơ đến vãn thì thi pháp vẫn không ngừng được hoàn thiện, hoàn mĩ Điều này giải thích vì sao “thơ Đường – những mũi tên bắn đi bay vĩnh viễn cùng thời gian đến mai sau” ( Hữu Ngọc), nó có sức sống sức ảnh hưởng mảnh liệt đến văn học trong các thời kì sau không chỉ trong nước mà cả ngoài nước
2.4 – Đề tài.
Tìm hiểu đề tài trong thơ Đường ta nên bắt đầu từ nội dung cảm hứng Đường thi thường được gợi hứng
từ ba nguồn tư tưởng chủ đạo là Nho, Lão và Phật
Nho giáo quan niệm “ khắc kỉ phục lễ vi nhân”, “nhân dã trung thứ dã”, “ kỉ sở bất dục vật thi ư nhân”, như vậy chữ Nhân là nội dung trung tâm trong quan niệm của Nho giáo, nó khác về cơ bản với chủ nghĩa nhân đạo của phương Tây Nhân gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ Do đó cảm hứng của Nho giáo là cảm hứng trách nhiệm, trách nhiệm trước dân tộc, cộng đồng, thời đại Thơ Đường được khơi nguồn từ cảm hứng trách nhiệm thường có các đề tài như: tình bạn, tình yêu, chiến tranh …
Lão giáo lại cho rằng “vô vi nhi bất tranh” – thuận theo tự nhiên mà sống, cảm hứng của Lão giáo là cảm hứng hoà đồng với thiên nhiên, thoát tục, với các đề tài như : thiên nhiên, du tiên, cuộc sống điền dã
Phật giáo với nhận thức đời là bể khổ, với thuyết “ tứ diệu đế” gieo vào tâm thức con người tâm trạng biquan chán nản, nhất là khi số phận gặp nhiều bất trắc, không thoả mãn trên bước đường hoạn lộ, cảm hứng của Phật giáo là cảm hứng nhân sinh như mộng, bụi trần vấn vương sống gửi thác về Đề tài Phật giáo cũng viết về thiên nhiên, nhưng đó là thiên nhiên với cảnh núi non chủa chiền, u nhã, trầm tịch.Nói chung đề tài trong thơ Đường phong phú đa dạng phản ánh đủ các khía cạnh trong xã hội nhà Đường Tuy vậy ta có thể tổng kết các đề tài nổi bật như: Tình yêu, tình bạn, chiến tranh, lịch sử, du tiên, thiên nhiên…
Riêng đề tài về tình bạn có lẽ được sáng tác nhiều, thấy rõ trong số thơ Đường đã được dịch ở ViệtNam.Tìm hiểu điều này trong thơ Đường ta thấy, các thi nhân có thể mạnh về đề tài này hay đề tài khác, chẳng hạn Cao Thích nghiêng về thơ biên tái, Vương Duy lại tỏ ra ưu ái với đề tài sơn thuỷ Nhưng trong sáng tác của họ bao giờ cũng có ít nhiều các bài thơ nói về tình bạn, các nhà thơ hầu như ai cũng viết về bằng hữu chi tình Khi cuộc sống bình yên nhàn hạ, thì họ lấy thơ để thù tạc ứng đối cùng nhau, khi hoạn nạn lại lấy thơ ca chia sẻ những nỗi niềm riêng tây, thông qua tình bạn cái tôi cá nhân phần nào được giải phóng khỏi những lề thói khắc kỉ của Nho gia, đây là điều mà kẻ sĩ Trung Quốc bao giờ cũng mong muốn đạt được “ Sự xuất hiện tình cảm bằng hữu như là một phạm trù mới của văn học Một mặt nó làm phong phú cho nền văn học đời Đường, mặt khác nó phản ánh sự phát triển của xã hội đời Đường, nhất là sự giải phóng cái tôi cá nhân” ( Nguyễn Sĩ Đại – Thơ Đường Tứ Tuyệt)
Trong 6 quyển sách được chọn để tham khảo, người viết rút ra được 112 bài thơ nói về tình bạn, con số này dĩ nhiên là không nhỏ, vì có những bài được lặp lại ở các sách, như bài “ Vị Thành khúc” của Vương Duy Chỉ tính riêng trong thơ Đường tập II viết về ba tác giả : Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị với tổng số là 143 bài thì đã có 23 bài là bằng hữu chi tình, quyển Đương thi – Trần Trọng Kim có 374 bài thì có 54 bài viết về tình bạn Từ thực tế khảo sát này, người viết thấy cần thiết phải chọn đề tài về tình bạn làm chủ đề cho bài viết của mình
Trang 22CHƯƠNG 2 “BẰNG HỮU CHI TÌNH”
TRONG THƠ ĐƯỜNG
1- Cơ sở hình thành của đề tài “bằng hữu chi tình” trong Đường thi
Cổ văn có câu “đắc nhất tri kỉ, khả dĩ bất hận” (ở đời có được một người tri kỉ thì không còn gì ân hận nữa) Trong cuộc hành trình của kiếp người không ai muốn tự phong toả đời mình, mãi làm kẻ lãng du
cô độc, ai cũng có niềm khát khao giao cảm với người, mong muốn có một tri âm
Trong lịch sử Trung Quốc cũng đã lưu truyền nhiều giai thoại đẹp về tình bằng hữu.Vào thời nhà Chu, Bão Thúc Nha mến tài Quản Di Ngô, hiểu được tâm tư, chí hướng và hành động của bạn Thế nhân có thể cho Di Ngô là ngớ ngẩn, tham tiền, nhút nhát, phản bội, nhưng Thúc Nha thì không, trước sau ông vẫn hiểu, tin và dọn đường tiến thân cho bạn Đấy chẳng phải là thâm tình tri kỉ đó sao! Tử Kì mất, Bá Nha đau đớn tưởng như mất đi chính cuộc đời của mình, vì rồi đây sẽ có ai là người hiểu được tiếng đàncao sơn lưu thuỷ của ông Hiểu Bá Nha, có tâm hồn đồng điệu với Bá Nha chỉ có một tấm lòng tri âm của Tử Kì Lưu Bị, Trương Phi, Quan Công kết nghĩa vườn đào không vì một mục đích thù tạc nào mà
ở họ có chung một con đường để đi là khôi phục chủ quyền nhà Hán Quan Công, Trương Phi tử trận, Lưu Bị vì họ xông pha vào nơi tử địa bỏ lại sau lưng cả một sự nghiệp đế vương Ai cũng bảo đó là ngu tình nhưng cũng không khỏi cảm phục tấm lòng ông dành cho huynh đệ, đúng với câu “ bằng hữu chi giao mạc khả vong” Như thế tương tri giữa người với người trở thành một vấn đề về lẽ sống Đặc biệt dưới triều đại nhà Đường có hàng loạt mối tình thâm giao tri kỉ của các thi nhân như Lí – Đỗ (Lí Bạch –
Đỗ Phủ ), Mạnh – Vương (Mạnh Hạo Nhiên – Vương Duy), Hàn – Liễu (Hàn Dũ – Liễu Tông Nguyên),Bạch – Nguyên (Bạch Cư Dị – Nguyên Chẩn )…
Triều đại nhà Đường được xem là thời đại hoàng kim của các tài tử giai nhân, từ vua đến dân đều rất yêu và thích làm thơ Tổ Vịnh dám bỏ qua lối cầu kì hình thức của văn chương thi cử, chỉ cốt tả đủ cái tình của mình trong bài “ Chung Nam vọng dư tuyết”, vẫn được lấy đỗ đầu tiến sĩ Vương Xương Linh chỉ viết “ ba chữ bảy chấm” lấy hơn nghìn lạng bạc trả ơn người thợ da nghèo khổ mà tốt bụng… Mỗi
cá nhân đều có thể dựa vào thơ ca để bộc lộ tâm, chí của mình đối với cuộc đời của mình, để khẳng định
vị trí của mình trong xã hội Thế nhưng có không ít nhà thơ thường rơi vào tâm trạng bất đắc chí Lí Bạch được đời dành cho danh hiệu “ thi tiên”, được Đường Minh Hoàng sủng ái, vậy mà đời thi nhân vẫn ngập chìm trong niềm bi phẫn u uất, muốn hoà nhập vời đời nhưng lại cũng xa lánh cuộc đời Không riêng gì Lí Bạch, rất nhiều những thi nhân khác như Mạnh Hạo Nhiên, Hàn Dũ, Bạch Cư Dị… đều rơi vào tâm trạng như thế
Đến đây, ta cần hiểu ý nghĩa và mục đích của đời người mà phần đông kẻ sĩ Trung Quốc quan niệm Nếu theo tinh thần cơ đốc giáo của Phương Tây cho rằng sống là nhẫn nhục mong chờ được giải thoát ởcõi thiên đàng, thì người Trung Quốc khẳng định một cách rõ ràng : cuộc sống của kiếp người là ở tại thế gian này, dù cuộc đời ấy có thảm sầu chát đắng, đó cũng là nơi của thế nhân Bởi thế, họ không dụng công tìm kiếm một ảo ảnh cụôc đời, mà tìm thấy hạnh phúc niết bàn ở ngay chính cuộc đời trần thế Theo Mác “ bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội” Ý thức về
Trang 23cuộc sống hiện thực là điểm nổi bật trong chủ nghĩa nhân văn của người Trung Quốc Vì thế, ở họ cá nhân bao giờ cũng được đặt trong đời sống chung của cộng đồng, hướng đến các quan hệ xã hội, hoà mình vào cuộc sống chung của thời đại.
Nhà Đường chủ trương tam giáo đồng nguyên Nho giáo thiên về tính kinh điển hướng con người đến các hoạt động nhập thế theo quan điểm chính danh định phận, quan hệ giữa người và người lấy nhân làm gốc và lễ là con đường để thực hiện điều nhân Nói chung, Nho giáo thiên về lí tính, hoàn toàn hiện thực chủ nghĩa Không có ý niệm về cái chết và thế giới siêu nhiên, như Khổng Tử đã nói “vị tri sinh yên tri tử” ( chưa biết được cái sống cần gì biết được cái chết) Thế nhưng dẫu người Trung Quốc thiên
về lí tính, nhưng tự trong thăm thẳm một cõi tâm linh của mỗi người vẫn chứa đựng những tư tưởng huyễn hoặc li kì Trong họ vừa có nỗi sợ hãi về thế giới tâm linh ma quái và cái chết, vừa chất chứa niềm tin vào sự phù trợ của lực lượng siêu nhiên và niềm khát khao bất tử Khổng giáo không đề cập đến vấn đề này, nhưng đây là tinh thần chủ yếu của Lão giáo và Phật giáo Lão giáo đã phá mọi triết lí của Nho gia , thay vào đó là quan điểm vô vi, chủ trương quay về với thiên nhiên, hướng về cuộc sống điền dã Hay nói khác, Khổng giáo và Lão giáo là hai giáo phái đứng ở hai cực của triết lí nhân sinh nhưng cùng thống nhất trong bản chất của một con người : vừa lãng mạn vừa hiện thực Cũng như Lão giáo, Phật giáo góp phần bổ sung vào những khuyết điễm của Khổng giáo
Chủ trương tam giáo đồng nguyên như vậy làm cho tư tưởng con người không rơi vào cực đoan, hoặc chỉ theo Nho hoặc chỉ theo Đạo, mà nó là sự dung hoà của mọi tư tưởng Nhưng ở mỗi con người hoặc
ở từng chặng đường của đời người sẽ có những tư tưởng chủ đạo riêng, Lí Bạch khi mới vào đời lấy tư tưởng “ kiêm tế thiên hạ” của Nho gia làm tiêu chí sống Điều này giải thích vì sao các thi nhân đời Đường luôn có xu hướng giao hoà cởi mở lòng mình với đời, với người hay cụ thể hơn là với tri âm Vì chỉ có như vậy, họ mới có thể sống trọn vẹn với đầy đủ tính cách của một con người Hiệp sĩ chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa là hai tư tưởng chủ đạo mà suốt đời Lí Bạch ôm ấp, với tư tưởng tự do ngạo đời vượt ra ngoài vòng cương toả của chế độ phong kiến Đỗ Phủ suốt đời đeo đuổi lí tưởng Nho gia Hai con người ở hai thái cực nhân sinh tìm đến với nhau trong mối tình vong niên tri kỉ, họ nhìn thấy lí tưởng và hoài bão của bạn, đó là sự đồng điệu tri âm mà con người luôn khát khao đạt được
Con người với bản tính tự nhiên là khát vọng hướng đến tự do cá nhân, thoả mãn mọi ham muốn của cánhân Tuy nhiên, cũng như Mác đã nói “ con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, đồng thời là sản phẩm của lịch sử”, mọi tính năng của con người đều không vượt ra ngoài những quy định của thời đại Đường triều được xem là phồn thịnh nhất trong các triều đại phong kiến Trung Hoa cả về kinh tế vàvăn hoá, nhưng đồng thời cũng là triều đại có nhiều ba động dữ dội nhất Thời kì rực rỡ nhất của nó chấm dứt ngay sau sự biến An – Sử, thay vào đó là cảnh tịch mịch bao trùm trong hơn 100 năm còn lại Tầng lớp văn nhân thi sĩ được trọng vọng nhất và cũng là lớp người có nhiều tâm huyết nhất với thế sự,
họ muốn đem tài học của mình “giúp vua vượt Nghiêu Thuấn; lại làm cho phong tục thuần hoá” Và bằng con đường “dĩ thi thủ sĩ” hoặc “cửu phẩm trung chính”, miễn sao được ra làm quan được đứng giữa triều đình, hoạch định con đường cho dân cho nước Cuộc đời lênh đênh của Lý Bạch, Đỗ Phủ, cuộc sống quan trường chìm nổi của Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên… là minh chứng cho những trái tim nồng cháy ấy
Thế nhưng giữa quan trường đầy sóng gió, họ phải đối phó với những thế lực đen tối, để cuối cùng thất bại hoàn toàn tạo nên bi kịch của đời mình Hàn Dũ hơn một lần bị biếm chức khi thì làm quan lệnh ở Sơn Dương, lúc thì thứ sử ở Triều Châu Bạch Cư Dị lại bị ném đi làm quan Tư Mã ở Giang Châu Thấtbại về lý tưởng có thể nói là điều hãi hùng nhất của kiếp người, họ thấm thía bao nỗi cơ cực, sự trơ trọi không nơi bấu víu Thành công thì sống với Nho giáo, thất bại thì tìm về với Lão giáo , Phật giáo đó là
lẽ xử thế thường tình của kẻ sĩ Trung Quốc Nhưng điều đặc biệt là họ không chỉ trốn vào sự huyền bí của tôn giáo mà còn trốn vào tình người, tình bạn Họ tìm thấy một sự đồng điệu từ tri âm, đó vừa là chốn bình yên để lắng dịu bao sóng gió cuộc đời vừa là nơi gửi gắm bao niềm tâm sự
Trang 24Sống giữa một xã hội với bao biến cố dữ dội, khi mà tầng lớp thống trị tỏ ra bất lực về đường lối cai trị thì số phận con người trở thành một vấn đề thống thiết nhất Chính tình trạng này đã đưa những người đồng chí hướng đến với nhau dựa vào nhau mà sống thanh thản Họ hiểu được hòai bão và chí nguyện của nhau cùng động viên nhau vượt lên trên mọi hoàn cảnh để có thể sống tốt hơn Có thể nói những phong ba của lịch sử xã hội còn là điều kiện cơ bản để đưa con người tìm đến với nhau, đưa tri âm tìm gặp tri âm Đó là tình tri âm của những người cùng chí hướng cùng cảnh ngộ và cùng thân phận.
Người Nhật Bản vẫn hay chê người Trung Quốc có một thứ bệnh đặc biệt là “nghiện văn chương”, say sưa với thơ ca như là một căn bệnh của mọi thời đại Và ở Trung Quốc, thơ ca chính là hóa thân của tôn giáo và thần linh để người trí thức tôn sùng, ngưỡng mộ Thơ ca dạy cho người ta biết tìm lẽ sống, mục đích sống, là nơi vi diệu để họ tìm thấy tâm hồn mình trong ấy Nó dạy người ta biết yêu thiên nhiên, hướng thiện, biết trân trọng cái đẹp, đặc biệt nó còn là liều thuốc giúp người ta di dưỡng tinh thần Thơ đồng thời còn là tiếng nói đồng điệu để tâm hồn tìm gặp tâm hồn.Thơ ca xét ngay từ bản chất của nó là một thông điệp để người nghệ sĩ tìm thấy bạn lòng.Viết văn làm thơ đâu chỉ để thỏa mãn cái nhu cầu muốn và cần được viết mà trước hết là bộc lộ nỗi niềm giãi bày tâm sự, điều này chỉ có người tri kỉ là hiểu được Như Nguyễn Khuyến có nói “Câu thơ nghĩ đắn đo chưa viết; Viết cho ai, ai biết mà đưa”
Do vậy, có thể nói tình bạn ở thế gian này gắn bó với nhau không vì một mục đích tối thượng nào mà ở
sự ngưỡng mộ tài năng của nhau Bạch Cư Dị – Nguyên Chẩn mỗi người có quan niệm và cách sống khác nhau, nhưng họ vẫn gắn bó, trở thành đôi tri kỉ, vì giữa họ nảy sinh tình cảm liên tài, yêu chuộng tài năng của nhau, có thể đối diện đàm tâm về thơ ca học thuật vốn là cái chủ yếu là niềm say mê trong cuộc sống của họ Tình bạn vong niên của Lý-Đỗ đâu chỉ đơn thuần xây dựng trên cơ sở tư tưởng mà phần quan trọng còn là ngưỡng mộ tài năng của nhau
Đất nước Trung Hoa nằm ngạo nghễ giữa tinh cầu, thiên nhiên phong phú đa dạng, với núi Hy Mã Lạp Sơn chọc trời được xem là nóc nhà của vũ trụ, với dòng Trường Giang trải dài Chính các yếu tố này làm cho các thi nhân đời Đường thường có thị hiếu “xê dịch”, họ thích sống đời phiêu lãng, tắm mình trong sự huyền bí của thiên nhiên hoa lệ, thả cho tâm hồn mình ngao du và quán tưởng Đây cũng là điều kiện để con người kết giao bằng hữu, “tứ hải giai huynh đệ”, bốn biển đâu cũng là anh em bè bạn Sống giữa thiên nhiên, một mặt vừa đem đến cho con người những khoái cảm, những phút giây tự do hòa mình với trời đất, mặt khác nó cũng mang đến cho con người nỗi hãi hùng về sự cô độc, những nẻo đường giang hồ mênh mông dễ gây trong lòng người-cá nhân bé nhỏ cái cảm giác trơ trọi Từ đó làm nảy sinh một tình cảm khác là mong có người cùng chia sẻ bao ám ảnh về thiên nhiên và cùng hưởng thụ những ưu đãi mà thiên nhiên mang đến
Tóm lại, bằng hữu tri giao đã trở thành một quan niệm sống, một lẽ đời không chỉ có ở thời xưa mà ngày nay hay muôn đời vẫn vậy.Với những điều kiện về tư tưởng, lịch sử, xã hội như đã trình bày, có thể là chưa đầy đủ nhưng nó là những tác nhân quan trọng lí giải hiện tượng bằng hữu tri tình trong Đường thi
2-Khái quát về 112 bài “Đường thi trung bằng hữu chi tình”.
Lịch sử nhà Đường được chia làm bốn giai đoạn (như đã trình bày ở chương1)
, tương ứng với nó, thơ ca cũng được chia làm bốn giai đoạn sơ – thịnh – trung – vãn, với các mức độ phát triển khác nhau Thơ về tình bằng hữu là một đề tài được viết tương đối nhiều trong Đường thi nên cũng được chia làm bốn giai đoạn Sự phân chia như thế không phải để tìm hiểu về quá trình phát triển của hình thức thơ ca, mà chủ yếu ở nội dung biểu hiện, hay nói khác đi là những tư tưởng tình cảm của thơ bằng hữu chi tình Qua mỗi thời kì với những tác động của điều kiện lịch sử xã hội sẽ có những ảnh hưởng khác nhau trong nhận thức của con người
Sơ Đường: chỉ có 6 bài trong tổng số 112 bài Đây là thời điểm mà giai cấp thống trị liên tục giành
được thắng lợi, thơ ca tuy cũng được chú trọng phát triển ngay từ đầu, nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng
Trang 25của lối thơ “đùa gió tuyết giỡn cỏ hoa” của thời Lục triều Lại nữa, triều đình phong kiến chỉ muốn dùng thơ ca để tô hồng cho những vinh hoa của thời đại Vừa thoát khỏi những bão táp ở giai đoạn cuối Tuỳ, bước vào phong khí có chiều hướng thịnh vượng của nhà Đường con người thường nảy sinh tư tưởng cầu an Các văn nhân thi sĩ chỉ muốn tìm một chỗ đứng trong xã hội nên họ cũng không ngại gì việc làm những thi nhân bồi bút ngự dụng như nhóm Thẩm – Tống, nhóm “văn chương tứ hữu” Cho nên thơ tình bằng hữu giai đoạn này chỉ là những bài thù tạc ứng đối mua vui cùng nhau, ít khi có được những bài như “Tống Đỗ thiếu phủ chi nhậm Thục Châu” của Vương Bột, “Tặng Kiều thị ngự” của Trần Tử Ngang.
Thịnh Đường:Trong tổng số 112 bài, giai đoạn thịnh Đường có số lượng thơ tình bằng hữu nhiều nhất,
52 bài.Thơ tình bằng hữu không còn dừng lại ở mức độ xướng hoạ cùng nhau mà nó đã thực sự đi vào tâm hồn người nghệ sĩ Với họ tình bạn đã thực sự trở thành một quan niệm một lẽ sống ở đời Tình cảm
đó thường được thể hiện ở các hình thức thơ như: ký , hoài, ức, hoạ… đặc biệt là thơ “tống biệt”
Trong tổng số 112 bài thì đã có đến 45 bài là thơ tống biệt (ở đây là chỉ chung cho cả bốn giai đoạn) Lí giải điều này ta sẽ thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có hai nguyên nhân chính: thiên nhiên là yếu tố quan trọng để những tâm hốn phiêu lãng xích lại gần nhau và cũng chính thiên nhiên đưa họ từ hợp rồi tan Lí Bạch, Đỗ Phủ, Cao Thích từng có thời gian bầu bạn ở Lạc Dương nhưng sau
đó mỗi người lại tiếp tục xuôi về một miền viễn du mới Làm quan dưới triều đại nhà Đường có thể nói
là rày đây mai đó, nói như Cao Thích :
Kim niên nhân nhật không tương ức,
Minh niên nhân nhật tri hà xứ.
(Năm nay mồng bảy nhớ ai đây,Năm sau mồng bảy rồi sau nhỉ?)
Thế giới quan trường đầy sóng gió, tình bạn quan trường cũng thế không có một cái gì vững chắc để níugiữ họ lại với nhau Hôm nay là “thượng phẩm” ngày mai đã là kẻ “hàn môn”, không sao đoán định được, họ có thể bị biếm, bị trích đi bất cứ lúc nào
Điểm nổi bật trong tình bạn thi nhân thời Thịnh Đường là tình cảm đau buồn khi phải chia xa, là sự đồng điệu đồng cảm của những người cùng quan niệm, cùng lí tưởng sống Trong bài “Qúa cố nhân trang” là tình tri âm của những lạc tử vui với phong vị điền dã, thoát ngoài vòng danh lợi
Khai hiên diện trường phố,
Bá tửu thoại tang ma
(Cửa nhòm cảnh vườn tược, Rượu hứng chuyện tằm tơ)
Lí Bạch cảm mến thái độ an nhiên tự tại của Mạnh Hạo Nhiên, không vướng chút bụi trần ai
Tuý nguyệt tần trung thánh
Mê hoa bất sự quân.
Trang 26(Trăng say, thánh đáng bậc,Hoa chuộng, vua chẳng cầu.) (Tăng Mạnh Hạo Nhiên – Lí Bạch)
Trung Đường: (46/112) Nếu như ở hai thời kì đầu, các thi nhân luôn có nỗi ám ảnh về sự chia biệt
không hẹn ngày gặp lại, thì đến giai đoạn này giống như một sự tình cờ của định mệnh, chính những taoloạn của cuộc đời vô tình đã đưa họ tái ngộ cùng nhau, trên một dòng sông, hay trong một quán xá…Tất
cả đều gợi nên bao cảm thúc về sự chìm nổi của kiếp người
Hoan tiếu tình như cựu,
Tiêu sơ phát dĩ ban.
(Vui cười tình cũ khôn cùng,
Lơ thơ đầu bạc hoa râm còn gì.) (Hoài thương hĩ hổi Lương Xuyên cố nhân – Vi Ứng Vật)
Sạ kiến phiêu nghi mộng
Tương bi các vấn niên.
(Gặp nhau còn tưởng trong mơ,Bùi ngùi hỏi tuổi thẩn thờ nhìn nhau
Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt – Tư Không Thự )
Cho nên tình bằng hữu đến giai đoạn này là tình cảm của những người đồng phận, đồng cảnh ngộ Chính tình cảm này là niềm vỗ về duy nhất đối với những tâm hồn đã bao lần tả tơi trước giông bão cuộc đời, là điểm tựa, nơi bấu víu duy nhất của con người đối với cuộc đời đầy những khổ đau này
Vãn Đường: với 8/112 bài, con người đã hoàn toàn tỏ ra bất lực trước thời cuộc Họ không làm sao có
thể gia nhập với đời để gíúp đời, đành chỉ quay về với nỗi đau riêng Tình cảm của thi nhân nói chung vẫn giống với giai đoạn Trung Đường, đó là tình bạn của những kiếp đời đồng cảnh ngộ, là cảm thức chung về một cuộc sống tha hương
Điểm khác so với tình bạn thi nhân giai đoạn thịnh Đường, trung Đường đó là tình cảm của những người bất đắc chí cùng ngán ngẩm trước sự thế Họ tìm đến tình tri giao tri kỉ như một sự lẩn trốn của tâm hồn để tiêu pha ngày tháng Nó không còn nỗi thảng thốt bâng khuâng của người đưa tiễn, phần nào
đã có điểm giống với giai đoạn sơ Đường, tình bạn thù tạc bên chén rượu li trà Nhưng ở đây tình cảm
ấy có phần sâu sắc hơn, các thi nhân gắn bó với nhau để tìm quên mối sầu thời thế , cùng nhau bàn về vấn đề nhân sinh học thụât…Tình tri âm của Bạch Cư Dị – Lưu Vũ Tích, Lí Thương Ẩn – Đỗ Mục,… đều là như thế
Thực ra vấn đề tình bạn là một trong những nội dung đạo đức của Nho giáo, Khổng Tử quan niệm “ bạn
để giúp nhau làm điều nhân, khuyên nhau làm điều lành, giàu nghèo không quên nhau, sống chết hoạn nạn không bỏ nhau” Như thế bằng hữu chi tình ngay từ đầu đã là một ý thức, một quan niệm sống của
kẻ sĩ Trung Quốc, hướng mỗi người có cách xử sự theo đúng cái lẽ của kẻ sĩ Với các thi nhân đời
Trang 27Đường, tình bạn vừa là lí vừa là tình Lí là cái giữ cho tình bạn được đúng mực, trọn vẹn, còn tình là yếu tố đưa họ đến với nhau, là cái làm nên độ bền độ son sắt trong bằng hữu chi tình Căn cứ vào cách thể hiện tình cảm ta sẽ có một cách phân loại mới, với 3 loại sau:
Một là nỗi niềm vương vấn khi phải chia xa người tri kỉ Đây là nhóm thơ chiếm số lượng lớn nhất
58/112 bài Tình cảm này được thể hiện khắp các bài thơ tống biệt, ký, gửi, hoài, ức…đặc biệt là thơ tống biệt Như đã nói hình thức thơ tống biệt xuất hiện nhiều nhất trong thơ bằng hữu chi tình, nó nói
lên tất cả tâm sự của người đi hoặc kẻ ở Kẻ ở lại bâng khuâng, nhớ thương ray rứt, người ra đi không đành lòng và khôn nguôi vẻ ưu tư
Hoa ánh thuỳ dương, khê thuỷ thanh,
Vi phong lâm lí nhất chi khinh.
Tức kim Giang Bắc hoàn như thử,
Sầu sát Giang Nam li biệt tình.
(Thuỳ dương lồng bóng suối trong xanh,Gío thoảng rừng cây phất nhẹ cành
Giang Bắc giờ đây còn đã thế,GiangNamsầu biệt biết bao tình.)
(Tống Vũ Văn Lục – Thường Kiến)
Nỗi buồn tràn ngập cả không gian và thời gian Nơi tiễn đưa là Giang Bắc đã sầu như thế, đến
GiangNamtình li biệt còn buồn biết chừng nào Bài thơ gợi lên tình cảm thương nhớ khôn nguôi của đôibạn
Thơ viết dưới hình thức “kí” là 12/112 bài, tất cả đều nói lên tấm lòng hoài vọng của những tri kỉ tri âm
Dù xa nhau nhưng họ luôn tưởng nhớ về nhau, tha thiết mong có ngày được tương phùng cùng bạn Có người cho rằng “nếu trong toán học một với một là hai thì trong tình bạn một với một là một” Như vậy, phải chăng sự thuỷ chung, son sắc là vẻ đẹp đầu tiên trong bằng hữu chi tình Thuỷ chung không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi của tình yêu, tình chồng vợ mà rộng rãi hơn nó còn là tình người, tình bạn Khổng Tử có nói “bạn bè nên ăn ở với nhau chân thực trước sau một lời” Nét đẹp này được thể hiện qua nỗi nhớ nhung, lòng ưu tư luôn hướng về nhau
Hai là lòng ưu tư trăn trở lo nghĩ cho số phận của nhau (32/112) Tình bạn ở đây được xây dựng
trên cơ sở cùng đồng quan niệm, lí tưởng sống, cùng ngưỡng mộ tài năng của nhau Trong chế độ phongkiến, cái vô ngã che lấp cái bản ngã Cá nhân muốn tồn tại giữa tha nhân phải tự hoà mình trong môi trường cộng đồng, mỗi bản ngã phải luôn ý thức giữ được thế trung lập , như người Trung Quốc đã quan niệm:
Các nhân tự tảo môn tiền tuyết,
Mạc quản tha nhân ốc thượng sương.
Trang 28(Mọi người hãy quát sạch tuyết trước cửa nhà của mình,
đừng bận tâm đến sương khói phủ trên nóc nhà người khác)
Tình bạn thi nhân đời Đường vượt ra ngòai quan niệm sống tri túc đó, tình tri giao của họ gắn kết với nhau thiên về tình hơn là lí, đó là quá trình của tâm hồn tìm đến với tâm hồn
Bạch phát bi hoa lạc,
Thanh vân tiện điểu phi.
Thánh triều vô khuyết sự,
Tự giác giản thư lai.
(Hoa rơi tóc bạc càng thương,Mây xanh chim lượn, dịu dàng đẹp thay
Thánh triều đâu có lầm sai,Dâng thư tự biết ít lời khuyên can.) (Kí tá tỉnh Đỗ thập di – Sầm Tham)
Bài thơ được làm khi tác giả hay tin Đỗ Phủ đã nhậm chức Tá tĩnh, vừa thể hiện niềm vui khi đời bạn không còn phải lênh đênh giữa “thiên nhai”, đã có được một cuộc đời an định Nhưng cũng không khỏi
lo âu vì chức quan của Đỗ Phủ là can gián vua, biết bạn là người thẳng thắn cương trực không vì chút phù phiếm của cuộc đời mà khuất phục trước quyền uy, sợ rồi đây Đỗ Phủ sẽ lại sống kiếp phong trần nếu vẫn cá tính ấy giữa quan trường Thi nhân khuyên bạn hãy ít lời thôi, thế mới yên thân Lời khuyên
có vẻ tiêu cực làm mất nhuệ khí và tính chiến đấu của bạn, nhưng đấy cũng là điều đáng quý trong giao tình bằng hữu Bởi có nghĩ về nhau thương nhau, người ta mới lo lắng khuyên bảo mong rằng số phận của bạn không ngập chìm trong bể khổ của tha nhân
Cho rằng số phận con người chỉ là do hoàn cảnh, do điều kiện lịch sử xã hội tạo ra là hơi phiến diện Cáigóp phần tạo ra số phận còn do chính bản thân, do ý thức của con người tạo nên Cá nhân trong lịch sử xét trong chừng mực nào đó thì họ không phải là hệ quả một chiều của xã hội Nói khác, chính hoàn cảnh và tính cách đã tạo ra số phận con người, vinh hay nhục một phần là nơi họ Có thể nói, Vương Xương Linh là bạn đồng chí hướng với Lí Bạch, thi nhân luôn tỏ ra ngao ngán với xã hội đương thời, thậm chí có khi là bất hợp tác, cá tính ấy sẽ bị xã hội phi ngã đào thải
Dương hoa lạc tận tử quy đề,
Văn đạo Long Tiêu quá ngũ khê.
Ngã lí sầu tâm dữ minh nguyệt,
Tuỳ quân trực đáo Dạ Lang tê
(Hoa dương rụng cuốc buồn ghê,
Trang 29Long Tiêu nghe nói vượt khe năm dòng.
Tấm sầu với mảnh trăng trong,
G ửi theo tiễn bác tới vùng Dạ Lang) (Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử kí – Lí Bạch)
Lời thơ có vẻ bình tĩnh, u trầm Với tâm hồn nhạy cảm, thi nhân đã sớm nhận ra bản chất thối nát và sự sụp đổ tất yếu của triều đại nhà Đường Những người như Vương Xương Linh đón nhận kết quả như vậy cũng là lẽ tất nhiên Nhưng dầu sao Lí Bạch cũng không dấu được lòng ưu tư đối với bạn, lo lắng vềnhững trở ngại mà bạn gặp phải trên đường luân chuyển Bâng khuâng, lo lắng rồi cũng đành bất lực trước thực tại, chỉ có tấm lòng sầu thương là mãi gửi theo người
Ba là : sự đồng điệu tri âm (22 / 112) Tình bạn sỡ dĩ quý và hiếm hơn mọi thứ tình cảm khác trên đời
vì đó là tình cảm của những con người xa lạ, họ yêu mến gắn bó nhau một cách chân tình không vì một mục đích lợi danh nào Hơn nữa đó là thứ tình bình đẳng nhất trong mọi thứ tình dưới xã hội phong kiến, có bình đẳng cùng nhau con người mới dễ dàng tương thông tương ái, có thể bộc bạch nỗi niềm riêng tây mà không phải với ai cũng nói được Thông qua bạn, con người có thể tâm sự được những lẽ đời và hoài bão của mình Vô hình chung, người bạn là người đã thực sự mang trên mình họ những tâm
tư hoài vọng của ta Nói như Mangoni “một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời này là tình bạn và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gấm tâm sự thầm kín” Sự đồng cảm đồng điệu của thi nhân chính là ở chỗ họ đã bộc lộ cho nhau những “tâm sự thầm kín” Đỗ Phủ không
có cơ hội giúp đời, thi nhân gửi gắm hoài bão ấy vào bạn
Huy lộ lâm đại giang,
Cao thiên ý thê trắc.
Hành hành thụ giai chính,
Uý ngã tâm tương ức.
(Gạt hàng lệ lúc trên sông tiễn bước,Trời cao cao man mác nghĩ buồn thay
Trang 30Căn cứ vào cách thể hịên tình cảm chia thành ba tiểu loại như đã trình bày, mục đích là thông qua đó để
phát hiện những nét đẹp trong giao tình bằng hữu của các thi nhân đời Đường: sự thuỷ chung, lòng ưu
tư đắn đo cho số phận của bạn và sự đồng điệu đồng cảm của tri âm Đây là ba nét đẹp cơ bản cũng
là ba nội dung chính trong 112 bài Đường thi Không có nội dung nào nằm ngoài hình thức và cũng không có hình thức nào lại không chứa đựng nội dung trong nó Hình thức ở đây có thể hiểu là vấn đề thi pháp về đặc điểm, quan niệm nghệ thuật Trong giới hạn của đề tài,người viết sẽ chỉ tìm hiểu quan
niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian trong 20 bài Đương thi đã được chọn như sau: Lưu
biệt Vương Duy (Mạnh Hạo Nhiên), Phù Dung lâu tống Tân Tiệm (Vương Xương Linh), Tống Nguyên Nhị sứ Tây An (Vương Duy), Tương tư (Vương Duy), Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ (Vương Duy),Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu Thư Thư Thúc Vân (Lí Bạch), Dạ bạc Ngưu Chữ hoài cổ (Lí Bạch), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch), Tặng Uông Luân (Lí Bạch), Thiên mạt hoài Lí Bạch (Đỗ Phủ), Bất kiến (Đỗ Phủ), Mộng Lí Bạch (Đỗ Phủ), Kí Đỗ Vị (Đỗ Phủ), Tì Bà Hành (Bạch Cư Dị), Khúc giang ức Nguyên Chẩn (Bạch Cư Dị), Lâm giang tống Hạ Chiêm [Bạch Cư Dị], Tam niên biệt (Bạch Cư Dị), Dữ Nguyên Chẩn thư (Bạch Cư Dị), Văn Bạch Lạc Thiên tả giáng Giang Châu Tư Mã (Bạch Cư Dị), Chương đài liễu (Hàn Hồng)
3- Đặc điểm nghệ thuật của Đường thi trong những bài thơ bằng hữu chi tình
3.1-Quan niệm nghệ thuật về con người
Văn học là hoạt động nhận thức về con người, nói như Gorki “văn học là khoa học về con người” Con người trong thơ Đường trả lời cho các câu hỏi: Con người tồn tại như thế nào? Đâu là chân giá trị và làm thế nào đạt được chân giá trị đó? Xuất thế hay nhập thế, hoà nhập vào dòng chảy của cộng đồng hay đứng bên lề của chế độ Thực ra văn học bao giờ cũng chịu sự chi phối của triết học, tôn giáo, Thơ Đường được xây dựng và chịu sự ảnh hưởng từ ba nguồn tư tưởng của Nho, Phật, Đạo Cho nên tìm hiểu quan niệm về con người trong thơ Đường cũng đi từ ba trường phái triết học này Theo Đạo giáo sẽtạo ra con người bản ngã, con người cá nhân luôn tự tin ở tài năng của mình tiêu biểu là thi tiên Lí Bạch, theo Nho giáo sẽ tạo ra con người vô ngã, con người trách nhiệm, con người nhập thế Phật giáo phản ánh tư tưởng bi quan yếm thế của cá nhân trước thế cuộc, họ muốn dựa vào sự huyền bí của tôn giáo để lẩn tránh những phong ba của thời đại, nó sẽ tạo ra con người xuất thế, tiêu biểu có thi phật Vương Duy Nhìn chung con người trong thơ Đường với những biểu hiện đa dạng phức tạp là điển hìnhcủa những kiểu con người thời đại, mà khi tìm hiểu về nó sẽ gieo vào lòng ta những tư tưởng tình cảm mới, tốt đẹp hơn “con người trong thơ Đường khêu gợi nơi người đọc những tình cảm tốt đẹp lành mạnh tích cực hướng về cái thiện cái mỹ Đó là chủ nghĩa nhân văn mà thơ Đường cống hiến cho nhân dân Trung Quốc và nhân loại”.[16, tr 74]
Đề tài tình bạn trong thơ Đường cũng liên hệ mật thiết với ba nguồn cảm hứng của Nho, Phật, Đạo, đã
tạo thành những kiểu con người bằng hữu chi tình: con người cô đơn, khát khao tìm kiếm tri âm và con người tri âm tri kỷ.
3.1.1 Con người cô đơn, khát khao tìm kiếm tri âm
Cảm thức về nỗi cô đơn không phải là của riêng ai mà là chung cho mọi kiếp người “Khi buồn người tahay làm thơ nhất – sáng tác bắt rể ở tình thương” (Lỗ Tấn), và quả vậy, lúc buồn con người rơi vào cảm giác riêng tây của họ với bao nỗi ám ảnh về sự trống trải quanh mình, cảm thấy mình chỉ là kẻ lữ hành
cô độc giữa quán trọ cuộc đời, không mục đích, không nơi đâu để có thể gửi tấm lòng cùng thiên hạ Đây chính là tâm sự chua xót của hình tượng con người cô đơn trong thơ Lí Bạch Lí Bạch tiễn bạn lên đường, nhưng lại mở đầu bằng lời cảm khái về điệu buồn muôn thuở
Khí ngã khứ giả tạc nhật chi nhật bất khả lưu,
Trang 31Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu.
(Lìa bỏ ta là cái ngày hôm qua không thể lưu giữLàm rối ta là cái ngày hôm nay lắm lo âu)
Thời gian trường cửu vô tình trôi chảy không sao níu giữ lại được, nỗi bất lực của con người trước dòngtrôi vô hạn định ấy Thúc Vân lên đường, nhà thơ Lí Bạch cũng mang theo nỗi buồn man mác đến tống tiễn bạn, nhưng nó có cái gì đó khác xa so với cuộc chia tay với Mạnh Hạo Nhiên Vả chăng, sự khác nhau này có nguyên nhân từ sự chiêm nghiệm của bản thân Lí Bạch Mạnh Hạo Nhiên suốt đời là một thi nhân áo vải mang tâm trạng bất đắc chí như chính thi nhân Riêng Thúc Vân danh vọng sự nghiệp tất
cả đã đến tay “Trông người lại ngẫm đến ta”, chuyện hôm nay làm rối loạn lòng Lí chính là sự đối lập giữa lí tưởng và thực tiễn Đền đài, cung điện, lợi danh…tất cả đều là hão huyền, đều sẽ chìm vào hư vô
và quên lãng Ngay từ khi mới bước chân vào đời, Lí Bạch đã không xác định công danh là mục đích sống, vấn đề ông đeo đuổi là phụng sự đất nước,là làm cho con người được cất cánh bay lên, được tự do
và hạnh phúc Thực tế lại bày ra trước mắt thi nhân những điều ngang trái, ông muốn đem tài học của mình, muốn làm một phụ bật như Trương Lương, Lã Vọng giúp vua mang lại cuộc sống bình yên cho trăm họ, nhưng kết quả lại được Đường Minh Hoàng dùng như một Đông Phương Sóc, một Tư Mã Tương Như – một thi nhân bồi bút ngự dụng, sáng tác chỉ để mua vui cho quý tộc cung đình
Trường phong vạn lí tống thu nhạn, Đối thử khả dĩ hàm cao lâu.
Bồng lai văn chương Kiến An cốt Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát Câu hoài dật hứng tráng tứ phi, Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệt.
(Muôn dặm gió thu đưa cánh nhạn,Cảnh này đáng chuốc rượu trên lầu
Bồng Lai, Kiến An cùng phong cách
Lại như Tiểu Tạ càng khí phách,Hứng thơ cao vút tứ hùng bay,Muốn lên trời xanh thưởng vầng nguyệt)
Bước đường hoạn lộ của Thúc Vân tuy có gieo vào lòng Lí Bạch những nỗi u uất, con người cô độc ý thức được bi kịch đời mình, nhưng đối với bạn thi nhân vẫn tỏ tấm lòng ngưỡng mộ chân thực về tài năng và cốt cách văn chương Vừa có yếu tố lãng mạn của văn chương cung Bồng Lai, lại vừa có khí cốt nhập thế của “Kiến An thất tử”, lại cũng có nét trong sáng thanh thoát của Tạ Diểu Đây cũng là điểm giống nhau trong quan niệm văn chương của hai người Con người cô đơn lẻ loi lại tự tìm ra tráng chí cho mình từ phong thái của bạn, tự nâng mình lên muốn vươn lên cao hướng đến vầng trăng lồng lộng giửa trời Lời thơ có phần thể hiện nỗi đau của thi nhân khi nhìn thấy những thăng hoa trong đời
Trang 32bạn Nhưng Lí Bạch không rơi vào thói tị hiềm của thế nhân, ông trân trọng và yêu quý bạn, đây cũng làcách tạm thời để con người cô độc không tự tiêu trầm.
Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cánh lưu,
Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.
Nhân sinh tại thế bất xứng ý, Minh triêu tản phát lộng biên châu
(Rút dao chém nước, nước vẫn trôi,Cất chén tiêu sầu, sầu lại sầu
Người sống ở đời không xứng ý,Sáng mai xoã tóc giởn thuyền lau)Bốn câu thơ cuối khép lại vòng tâm trạng quẩn quanh, cá nhân lại rơi vào niềm bi phẫn ban đầu Tình cảm của thi nhân từ trên trời cao lại rơi trở xuống nhân gian Mặc dù vậy Lí Bạch vẫn cố tìm một hướngthoát li khác, tiêu tao ngày tháng cách li cùng thế tục Con người cô đơn nhưng không cô độc
“Dạ bạc Ngưu Chữ hoài cổ” cũng nằm trong mạch cảm hứng này Nhà thơ tự cảm thán cho sự trơ trọi của mình khi giữa cõi đời này không ai là tri âm, không ai là người nghe ra tiếng thơ của mình
Ngưu Chữ tây giang dạ Thanh thiên vô phiến vân, Đăng chu vọng thu nguyệt, Không ức Tạ tướng quân.
Dư diệc nâng cao vịnh
Tư nhân bất khả văn Minh triêu quải phàm khứ Phong diệp lạc phân
(Bến Ngưu đêm ở Tây Giang,Trời xanh xanh biếc, mây quang làu bàu
Ghé thuyền lên ngắm trăng thâu,
Tạ tướng quân hởi ở đâu chốn này?
Thơ ta dù có ngâm hay,
Trang 33Ngâm lên chăng nữa người rày không nghe.
Sáng mai treo cánh buồm đi,
L á phong rụng xuống sông kia bời bời)Thực ra Lí Bạch cũng đã từng cay đắng thừa nhận rằng:
Thời nhân kiến ngã hằng thù điệu, Kiến dư đại ngôn giai lãnh tiến.
(Kẻ đương thời thấy ta ôm ấp giọng điệu riêng,Thấy ta đại ngông liền cười nhạt.)
Cho nên bi kịch của nhà thơ có khác gì so với bi kịch của Khuất Nguyên “một người đạo cao đức trọng”, khi “mọi người đều say riêng mình ta tỉnh” Và cũng như Khuất Nguyên, thi nhân khao khát dõi tìm một tâm hồn đồng điệu Trên bến Ngưu Chữ thi nhân nhớ về mối tình tri kỉ đã được khắc ghi ở đây, một tiếng thơ, một lời ngâm vịnh của Viên Hoằng đã được Tạ Thương nghe ra, Tạ Thương hiểu hết nỗiniềm của người xa lạ đó Họ đã trở thành đôi tri kỉ tri âm vì đã có sự giao hoà đồng điệu cùng nhau Nhớ về quá khứ, thi nhân tự cảm thấy xót xa cho mình, không ai trong cõi đời hiện tại nghe ra những cung bật réo rắt trong lòng thi nhân, như Tạ Thương ngày nào, không ai cả Người yêu thơ, đọc thơ Lí thì nhiều, nhưng họ chỉ yêu quý cái tài hoa bộc phát ra bên ngoài còn thì cái ẩn tàng bên trong mấy ai đãhiểu rõ Con người cô đơn đã đi đến tận cùng nỗi đau riêng của nó, dù thi nhân đã chọn cho mình cách sống vượt ra ngoài vòng bủa vây của thế tục, nhưng hơn hết nó vẫn mong có người hiểu được tâm sự, hoài vọng của mình Đối diện với vầng trăng, với bóng dáng của mình để nguôi ngoai niềm lẻ loi hiện tại, đó là cá tính ngạo đời bất cần của Lí,và chính sự đối diện này càng làm cho con người cô đơn nhận
rõ chính mình, cá nhân không thể lấy cá nhân làm cứu cánh, mà nó cần vin vào một cái gì thiêng liêng hơn, đó là một tấm lòng trong thiên hạ, một tri kỉ tri âm
3.1.2- Con người tri âm
3.1.2.1- Con người tri âm trong thơ Đỗ Phủ
Hiểu và biết nhiều về bạn gọi là tri kỉ, nhưng nếu hiểu nhau đến mức thanh khí ứng cầu gọi tri âm Hình tượng con người tri âm trong thơ Đỗ Phủ được thể hiện một cách sâu đậm nhất trong các vần thơ viết về Lí Bạch Đó là con người luôn luôn ngưỡng mộ và biết thưởng thức tài năng của bạn (Xuân nhậthoài Lí Bạch), hiểu được cá tính “nghênh ngang táo tợn” (Tặng Lí Bạch), luôn dằn vặt ưu tư dõi theo từng bước thăng trầm của người tri kỉ Bộ ba bài thơ “Thiên mạt hoài Lí Bạch”, “Bất kiến”, “Mộng Lí Bạch” được sáng tác trong thời gian tác giả hay tin Lí Bạch bị bắt và bị đày đi Dạ Lang là thể hiện tập trung cao độ lòng hoài vọng của thi nhân đối với tri âm
Lương phong khởi thiên mạt, Quân tử ý như hà?
Hồng nhạn kỉ thời đáo?
Giang hồ thu thuỷ đa.
Trang 34Văn chương tăng mệnh đạt,
Ma quỹ thích trêu người
Cùng oan hồn nói chuyện,Sông Mịch chuyển thư này)
Bài thơ được mở đầu bằng một khoảng không gian xa xôi ảo giác không có hạn định, “thiên mạt”(cuối trời) Không gian được nhìn từ chiều sâu tâm tưởng của thi nhân hướng đến người bạn đang một mình lầm lũi đến Dạ Lang “Thiên mạt”, do đó là vùng trời chia cắt mà con người không sao đến được với nhau “Quân tử ý như hà?”, không biết lòng người quân tử đang nghĩ gì, biến cố này là lần thứ hai người bị loại ra ngoài vòng xoáy của chế độ phong kiến Lí Đường, biết lòng có còn giữ một bầu nhiệt huyết như xưa, vẫn hăng hái xông pha hay đã tỏ ra ngao ngán với thế sự Câu hỏi vì thế thốt lên rồi lại treo lơ lửng trong lòng con người tri âm, con người chỉ còn biết dõi theo từng cánh nhạn đưa tin, nhưng biết đến bao giờ đây? Hai câu hỏi trong bốn câu đầu thể hiện tâm trạng chới với hụt hẫng của một ngườiluôn gửi lòng hoài vọng đến bạn cố tri, mong mọi sự tốt lành sẽ đến với họ, nhưng kết quả ngược lại, con người xốn xang âu lo, mong biết tin tức về bạn nhưng hoàn toàn bất lực
“Cuộc gặp gỡ giữa Lí và Đỗ giống như cuộc tiếp xúc giữa hai ngôi sao sáng, sao Thái Bạch sẽ thắp sáng hơn theo chiều cao muôn trượng Sao Tử Mỹ sẽ dọi tận đáy lòng sâu kín hình ảnh cụ thể của một manh áo vá”[4, tr 176] Như thế Đỗ Phủ là nhà thơ của đời của lòng người ở chốn nhân gian sầu khổ này Vậy mà khi tiếp xúc với những vần thơ siêu thoát tiên cảnh của Lí, Đỗ không dấu được lòng cảm phục tự nhận mình là kẻ hậu bối và mong được chỉ dạy Nói như vậy không có nghĩa là Đỗ muốn noi theo phong cách thi ca của Lí, bởi ngay từ buổi đầu khi nghe Lí khuyên hãy sống như con đại bàng tungcánh giữa trời cao, hãy dẹp đi những phiền muộn giữa cõi phù trầm của thế nhân, thì Đỗ đã xác định cuộc đời và chí hướng của mình không phải ở cốt cách siêu thoát của Lí Vả chăng Đỗ vẫn gắn bó và thương yêu Lí, xem đó là mối tình tri âm mà mình suốt đời phải nâng niu và trân trọng vì ông hiểu con người của bạn Cái thoát ly của Lí thực chất là do những biến ảo cuộc đời taọ ra còn thì lòng Lí Bạch vẫn luôn hướng về thế nhân, vẫn hăng say muốn hoạt động chính trị, chỉ có điều phương thức và hành động là trái khuấy so với yêu cầu của thời đại Một câu thơ “văn chương tăng mệnh đạt” đã khái quát toàn bộ bi kịch trong cuộc đời của Lí Là một kẻ thất bại trên đường đời, mọi tâm tư tình cảm Lí đều gửigắm vào thơ ca, vì thế văn chương của Lí là văn chương của một cá nhân tự do khinh bạc ngạo nghễ vạch trần mọi lề thói dung tục thấp hèn của các giai tầng thống trị Thứ văn chương ấy tuy tài hoa nhưng phải gắn liền với số phận ấy Số phận của một con người lẻ loi với tâm hồn trong sạch luôn muốnvươn lên trong vũng bùn xã hội
Trang 35Suốt đời Lí Bạch người làm ông khâm phục nhất về tài năng và đức độ chính là Khuất Nguyên.Trong một bài thơ hoài cổ Lí có nói “Từ phú Khuất Nguyên còn treo cao cùng mặt trời mặt trăng; lâu đài vua
Sở đã thành núi gò trơ trọi” Theo quan niệm của người Trung Quốc về thời gian tuần hoàn thì cứ sau
500 năm là hạ sinh một tài năng mới gần giống với cổ nhân, như trước Mạnh Tử là Khổng Tử chẳng hạn Ở đây số mệnh đã trùng sinh thiên tài là Khuất Nguyên – Lí Bạch thì cớ sao còn trùng sinh chi số phận thống khổ về bi kịch cô đơn của con người giữa tha nhân.Bốn câu thơ đã vẽ nên cái tâm thế chơi vơi đơn lẻ của Lí khi lí tưởng không thành Người như Lí Bạch thỉ chỉ có thể bạn cùng với người đã trầm mình ở sông Mịch La Hình tượng con người tri âm trong bài thơ do đó là con người luôn đau đáu,
dự cảm về cuộc đời truân chuyên của bạn Cũng nằm trong mạch cảm hứng này, trong bài “Bất kiến” ta thấy hiện lên tấm lòng suy tư của kẻ tri âm
Bất kiến Lý sinh cửu Dương cuồng chân khả ai Thế nhân giai dục sát, Ngô ý độc liên tài.
Mẫn tiệp thi thiện thủ, Phiêu linh tửu nhất bôi.
Khuông sơn độc thư xứ, Đầu bạch hảo quy lai.
(Lâu chẳng gặp chàng LíGỉa cuồng tội nghiệp thay!
Đời đều toan giết chết!
Ta nghĩ vẫn thương tài
Mau lẹ thơ ngàn vận,
Bơ phờ rượu một nai,Núi Khuông, phòng sách cũ,Đầu bạc cố về chơi.)Bài thơ dễ gợi cho ta cảm nhận là hình như Đỗ Phủ vẫn chưa hiểu hết Lí Bạch, con người tri âm chưa điđến lẽ tận cùng trong thế giới tâm linh sâu thẳm của bạn mình Lí Bạch vốn dĩ là “con cá nằm vắt ngang biển”, ở ông là biểu hiện tập trung những kiểu mẫu của con người thời đại vừa có tinh thần hiệp nghĩa, cầu sự nghiệp, vừa thị tài thích tự do thách thức… một con người dám vờ nôn oẹ để Đường MinhHoàng đích thân lau miệng, giả say nhằm buộc Lí Lâm Phủ cởi giày thì sao lại không phải là một “kẻ điên” Chỉ có một nhân cách mới hiểu được một nhân cách, thi nhân nhận thức rõ mọi hành động của bạn, lấy cái điên nguỵ tạo để đối chọi với cái điên thực sự ngoài đời Con người tri âm lo lắng và cảm nhận được từng mối đau đời của bạn, một người sống giữa lòng người nhưng đã hoàn toàn mất đi giá trịtồn tại của mình
Trang 36Con người tri âm trong “ Bất kiến” đồng thời là con người liên tài, “ngô ý độc liên tài; mẫn tiệp thi thiênthủ”, Lí Bạch toàn huyết quản là thơ, lúc tỉnh cũng như khi say thơ luôn trào dâng trên đầu ngọn bút,
“hứng lên bút vung rung ngũ nhạc; thơ thành át sóng biển khơi” Đỗ Phủ cũng đã từng viết “làm người tính thích câu văn đẹp; đọc chẳng kinh người chết chửa nguôi” Sở thích của Đỗ được thoả mãn từ cái tinh hoa phát tiết ra ngoài lời văn của Lí Vừa là con người luôn bâng khuâng khuyên nhủ, cá tính ngạo đời xem thường thế sự lúc nào cũng “thống ẩm cuồng ca”, “phiêu linh tửu nhất bôi” vị tất đã là một điềuhay, thi nhân khuyên bạn hãy gác kiếm viễn du, quay về với cuộc sống điền dã Nơi “ Khuông sơn” cảnh tình u nhã phù hợp với tuổi già vẫn còn để ngỏ đợi chờ
“Mộng Lí Bạch” có hai bài, bài I là sự chập chờn giữa mộng và thực Và dù mộng hay thực tất cả đều thể hiện niềm đau của con người tri âm trước nỗi bất hạnh của bạn mình
Con người tri âm đã bắt đầu rơi vào cảm giác mộng mị Toàn bài chỉ 16 câu nhưng đã có 10 câu là mộng, và 6 câu thực xét cho cùng nó gần như đã bị ảo hoá qua thế giới tâm linh đã có nhiều trăn trở ưu
tư mà không hề có lấy một lời giải đáp Bốn câu đầu nói về thực tại phũ phàng, thi nhân không nói về những gian truân của cuộc sống lưu đày mà chỉ vẽ lên khung cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên Do vậy
“Giang Nam chướng lệ địa” dù là không gian thực, nhưng nó đã là không gian tâm cảm, không gian được nhìn từ trong tiềm thức của con người tri âm vốn dĩ quá nặng lòng, đau đáu buồn thương vì số phận của bằng hữu Chỉ nhận được tin Lí bị bắt đày đi Dạ Lang, còn thì “ hồng nhạn kì thời đáo”(chim hồng chim nhạn bao giờ đến), trục khách vô tiêu ức”người đi đày chẳng có tin tức gì), không có lấy một tin tức khả dĩ làm yên lòng người ngóng đợi, bốn câu đầu làm tiền đề cho 10 câu mộng sau
Qúa trình từ thực đến mộng là kết quả tất yếu, khi con người không tìm ra đâu là lời giải đáp, hoàn toàn rơi vào trạng thái bất lực Số phận của người tri kỉ trên đường đày ải biết giờ ra sao Trong thế giới mộng mị, thi nhân cảm thấy hình như bạn không còn sống, cánh chim đại bàng không còn tung bay giữatrời chiều bạt gió, nó bị mắc vào trùng trùng bẫy lưới của thế nhân Con người tri âm lo lắng và gần như
là tuyệt vọng Hai câu “hồn lai phong lâm thanh”, “hồn phản quan tái hắc” nằm trong thế đối xứng giữa
“lai” và “phản” đi và về thể hiện hai chiều tâm trạng khác nhau trong lòng người tri kỉ Trong tận cùng nỗi đau, con người vẫn cảm thấy có chút niềm vui dù chỉ là phảng phất, mơ hồ trông thấy hồn bạn quay
về, để rồi sau đó lại trở về trạng thái ban đầu Có thể nói con người tri âm đã là con người mộng mị Mộng vì lo lắng và bất lực không làm sao đến được với bạn hay biết một chút gì về bạn Cả bài thơ mơ
hồ là bức tranh mông lung chìm ngập dưới ánh trăng huyền ảo Hai câu cuối vừa như thực vừa như ảo, con người chỉ còn biết buông ra một lời cảm khái như để tự an ủi mình và người tri kỉ, “vô sử giao long đắc”(chúc bạn thoát được miệng loài giao long)
Biết rằng lòng Lí vốn dĩ đa đoan, nên sống giữa tha nhân vẫn đưa cái nhìn u uất về thế tục, ở bài II là đúc kết tất cả niềm u uẩn thương tâm của Đỗ dành cho Lí, đặc biệt ở bốn câu
Quan cái mãn kinh hoa,
Tư nhân độc tiều tuỵ.
Thục vân võng khôi khôi, Tương lão thân phản luỵ.
( Nào lộng che, nào mũ đội, đầy rẫy khắp kinh đô,Sao người ấy bơ phờ riêng một kiếp?
Ai dám bảo lưới trời to rộng khiếp,
Trang 37Đến thân già còn vương vít mãi chưa thôi)
Hai câu thơ đầu có sự đối nhau giữa “mãn” và “độc” làm nổi bật thế tương phản giữa cái xa hoa và cái tiều tuỵ, giữa cái rộn ràng nhộn nhịp của “kinh hoa” với cái tâm thế cô đơn của con người “Đến thân già còn vương vít mãi chưa thôi”, cả đời Lí luôn phấn đấu vì lí tưởng “kiêm tế thiên hạ”, dù đã đôi ba lần vấp ngã vẫn không làm tiêu ma tráng chí của ông Đỗ hiểu rõ và nặng lòng thương đối với Lí Lời thơ như có tiếng nghẹn ngào nức nở của kẻ khốn cùng khóc người khốn cùng, việc gì phải vương khổ vào mình đến thế dẫu có lưu danh hậu thế thì đó cũng là chuyện của ngày sau
Thiên hạ vạn tuế danh, Tịch mịch thân hậu sự.
(Tiếng tăm muôn thu ở nghìn đời,
Âm thầm lặng lẽ nữa rồi thân sau)
Trở lên trên, con người tri âm được xét trong mối tương quan với bằng hữu, thể hiện những mối ưu tư đối với bước đường chông chênh của bạn Nhưng nếu xét trong bản thân của nó thì con người đòi hỏi phải được giao hoà, cởi mở, bộc bạch những cảm xúc riêng tây về những lẽ đời, những truân chuyên sầukhổ của bản thân Tiếp tục tìm hiểu bài “Kí Đỗ Vị” ta sẽ thấy rõ điều này
Hàn nhật kinh thiềm đoản, Cùng viên thất mộc bi.
Giáp trung vi khách cửu, Giang thương ức quân thì.
Thiên địa thân hà tại, Phong trần bệnh cảm từ.
Phong thư lưỡng hàng lệ, Triêu sái ấp tân thi.
(Bóng giời rét qua thềm thoăn thoắt,Vượn cùng đường mất ổ những bi ai
Nơi kẽm sông nấn ná đã lâu rồi,Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ
Khắp giời đất biết đâu là chốn ở,Bước phong trần đau ốm nữa nài sao!
Phong thư hàng lệ tuôn rào,
Trang 38Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ.)
Bài thơ có lẽ được sáng tác trong thời gian tác giả phiêu bạt trên sông nước thuộc vùng Hồ Bắc,
HồNam Hai câu thơ “mất ổ cùng đường vượn buồn rầu; nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông”, đã khái quát nên toàn bộ bức tranh hiện thực xã hội giai đoạn trung Đường đang trượt dài trên bờ vực suy vi, cảnh sống khốn cùng tha hương ảm đạm của hàng triệu người dân vô tội Và, nổi bật trên cái nền tranh tối tranh sáng ấy là cuộc đời “phiêu bạt tây nam thiên địa gian”, khắp trời đất mênh mông là vậy nhưng không đâu là một chốn bình yên để gửi gắm tấm thân già trong những ngày còn lại với đời “Bước phong trần đau ốm biết này sao”, một số phận chơi vơi giữa cơn lốc cuộc đời Trong bối cảnh ấy một chút hơi ấm của tình người, tình bạn cũng đủ là nơi để con người bấu víu, con người tri âm mong muốn
có được sự giao hoà đồng cảm của tha nhân
3.1.2.2- Con người tri âm trong thơ Lí Bạch
Như đã nói tình bạn là tình cảm thiêng liêng trong xã hội phong kiến, vì nó vừa là tình cảm của những con người xa lạ, vừa là thứ tính duy nhất bình đẳng trong xã hội phong kiến
Lí Bạch thừa chu tương dục hành, Hốt văn ngạn thượng đạp ca tanh.
Đào hoa đàm thuỷ thâm thiên xích, Bất cập Uông Luân tống ngã tình.
(Sắp đi Lí Bạch rời thuyền,Trên bờ chân giậm nghe rền tiếng ca
Nước đầm nghìn thước đào hoa,Uông Luân tình bác tiễn ta sâu nhiều.)(Tặng Uông Luân – Lí Bạch)Dưới chế độ phong kiến, thương nhân tuy là giàu có, nhưng bao giờ nó cũng bị liệt vào hạng “con buôn” Xếp theo thứ tự giai tầng trong xã hội nó còn đứng sau cả tầng lớp nông dân Uông Luân chỉ là người chủ nấu rượu, so với Lí Bạch có một khoảng cách khá xa về địa vị và học thức Thế nhưng trong quan điểm của Lí Bạch, Uông Luân là tri kỉ tri âm Dĩ nhiên Uông Luân không có đủ tài học uyên thâm,cũng như tài thơ vô song của Lí, nhưng tình bạn của họ được xây dựng từ chính tấm lòng của Uông Luân dành cho Lí, và thái độ trân trọng của Lí đối với Uông Luân “Đào hoa đàm thuỷ thâm thiên xích; bất cập Uông Luân tống ngã tình”, lấy cái sâu thẳm của nước đầm đào hoa để so sánh với tình cảm tri
âm sâu nặng của Uông Luân Trong một bài thơ chia biệt khác Lí Bạch cũng có viết
Thỉnh quân thí vấn đông lưu thuỷ, Bất ý dữ chi thuỳ đoản trường.
(Nhờ ai hỏi nước Trường Giang thử,
Trang 39Nước ấy tình kia ai vắn dài)
Như vậy Lí Bạch đã đồng nhất cái lẽ thường của vũ trụ với cái lẽ thường của tình người và khẳng định tính chất cao lớn và vĩnh cửu của tình bạn
3.1.2.3- Con người tri âm trong văn chương của Bạch Cư Dị
Chơi đàn là một nghệ thuật, nhưng nghe đàn cũng đòi hỏi phải có một trình độ nghệ thuật nhất định
Nó yêu cầu người thưởng thức không chỉ tinh thông về nhạc lí (như trường hợp của Chu Du đời Tam Quốc), mà còn phải có một tâm hồn vi diệu nhạy cảm để có thể tìm thấy lòng mình và lòng người gảy đàn trong thế giới ảo huyền của âm nhạc Bá Nha chơi đàn, Tử Kì lắng nghe và hiểu được điều Bá Nha hướng tới
Nga nga hồ chí tại cao sơn,
Dương dương hồ chí tại lưu thuỷ
Giữa người nghe và người dạo đàn đã đạt tới cảnh thanh khí ứng cầu Do thế âm nhạc cũng là lối dẫn
để tâm hồn tìm đến với tâm hồn Cũng như Tử Kì, Bạch Cư Dị đã “nghe” ra các cung bậc đoạn trường của tang thương dâu bể từ tiếng đàn của người ca kĩ ở bến Tầm Dương
Huyền huyền yểm ức thanh thanh tư
từ lúc mới dạo đàn âm vực ưu tư ảo não vang lên từ phía người kỉ nữ đã tạo tiền đề cho mối đồng cảm sâu xa giữa hai người
Đại huyền tao tao như cấp vũ, Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.
Tào tào thiết thiết thác tạp đàn, Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn.
Gian quan oag ngữ hoa đề hoạt,
U yết tuyền lưu thuỷ há than.
(Dây to nhường đỗ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Trang 40Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu rít nhau,Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.)
Bạch Cư Dị thưởng thức tiếng đàn người kĩ nữ không bằng đôi tai sành âm nhạc, mà bằng chính trái timnặng nỗi đau đời Hai con người, hai tâm hồn đã bao lần tả tơi trước giông bão cuộc đời không hẹn mà gặp Thi nhân lắng nghe trong những thanh âm ấy có cái gì đó khoan thai thoăn thoắt như tâm trạng của con người đang trong hồi đắc ý, rồi lại rơi xuống thành những tiếng nghẹn ngào thống thiết Một sự thayđổi âm vực, một sự đổi thay của kiếp người
Ngân bình sạ phá thuỷ tương bình, Thiết kị đột xuất đao thương minh.
(Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,Ngựa sắt giong, xô xát tiếng dao.)Tiếng đàn chợt dừng lắng đọng giữa tâm trạng của người nghe và người dạo gợi lên bao nỗi suy tư về
sự chìm nổi của kiếp người, vinh hoa và tủi nhục, mọi thứ có đó rồi mất đó, mỗi người chỉ là một diễn viên tạm thời để rồi sau đó lùi vào lớp màn sân khấu Sau phút dừng rồi đột ngột vang lên, âm thanh lanh lảnh như tiếng bình tan ngọc vỡ, tiếng quân đi, tiếng gươm khua loảng xoảng hoà thành một chuỗi dài những âm sắc vang động cả mặt sông, gợi lên cảm giác ghê rợn khủng khiếp đầy vẽ bất mãn của conngười về các cuộc chiến tranh phong kiến
Đông thuyền tây phảng tiểu vô ngôn, Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch.
(Thuyền mấy lá Đông Tây lặng ngắt,Một vầng trăng trong vắt lòng sông)
Sau những âm thanh réo rắt vang lên từ các cung bậc của phím đàn, con người chìm vào cảm giác lặng ngắt Con người- cảnh vật đều hoà làm một Giờ đây ta cũng không còn phân biệt được đâu là người nghe và đâu là người đàn, tất cả đã là một Thi nhân đọc được tâm sự của người kĩ nữ thoát ra từ tiếng đàn của nàng, hiểu và đồng cảm, bởi số phận của ông nào có khác gì Dù từ những chân trời khác nhau, có sự khác nhau về địa vị nhưng bây giờ chẳng có nghĩa gì Bạch Cư Dị đã nhìn thấy nỗi đau và
bi kịch của đời mình từ con người và tiếng đàn kia, và vô hình chung giữa họ đã hình thành một tình tri
âm kì diệu, đó là tình của những người đồng cảnh ngộ, đồng tâm sự
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân, Tương phùng hà tất tằng tương thức.
( Cùng một lứa bên trời lận đận,Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau)