1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài viết 4,5,6 theo chủ đề lớp 8 bộ kntt ngọc hb 2

45 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Đề 4 Tiếng Cười Trào Phúng Trong Thơ
Trường học Học Viện Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài viết phân tích tác phẩm văn học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 470,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mời trầu là một trong những bài thơ như thế.Mời trầu cũng như nhiều bài thơ khác của Hồ Xuân Hương thuộc thể tuyệt cú cổđiển.. Có thể diễn xuôi ra như thế này: Này no

Trang 1

BÀI 4: CHỦ ĐỀ 4 TIẾNG CƯỜI TRÀO PHÚNG TRONG THƠ.

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

(THƠ TRÀO PHÚNG).

I/ Muốn làm kiểu bài này HS cần chú ý nắm được đặc trưng kiểu bài phân tích một tác phẩm văn học và thực hiện đúng quy trình viết bài văn:

1 Đặc trưng kiểu bài:

- Phân tích một tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung vàhình thức nghệ thuật của tác phẩm Việc phân tích một bài thơ trào phúng cũng cầnđược triển khai theo hướng đó Ở tiết học này, các em sẽ được thực hành viết bài vănphân tích một bài thơ trào phúng, qua đó vừa củng cố kĩ năng đọc hiểu, tiếp nhận mộtbài thơ trào phúng, vừa tiếp tục phát triển kĩ năng phân tích một bài thơ mà em đãđược rèn luyện ở bài 2

Trong quá trình phân tích HS cần:

- Phân tích được nội dung trào phúng của bài thơ để làm rõ chủ đề

- Chỉ ra được tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật trào phúng được thể hiệntrong bài thơ

- Khẳng định được giá trị, ý nghĩa của bài thơ

2 Quy trình viết bài:

B1 Thu thập thông tin

B2 Xác định đúng đặc trưng kiểu bài, phương pháp viết, nội dung viết

B3 Xây dựng dàn ý cho bài viết

B4 Thực hành viết

Trang 2

B5 Đọc và sửa bài.

II/ THỰC HÀNH THEO QUY TRÌNH

ĐỀ BÀI: EM HÃY PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ TRÀO PHÚNG MÀ EM YÊU

THÍCH.

Hướng dẫn thực hành cụ thể:

B1: LỰA CHỌN ĐỀ TÀI ( CHỌN BÀI THƠ TRÀO PHÚNG ĐỂ PHÂN TÍCH)

VD phân tích bài thơ: Mời trầu (Tác giả: Hồ Xuân Hương)

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thời thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

TRẢI NGHIỆM ĐỌC VĂN BẢN VÀ THU THẬP THÔNG TIN

Trang 3

B2: HS TÌM Ý VÀ XÂY DỰNG DÀN Ý CHO BÀI VIẾT.

1 Tiến hành tìm ý cho bài viết:

2 Xây dựng dàn ý cụ thể cho bài viết.

BÀI VIẾT THAM KHẢO

Người ta thường nói: văn là người Chân lý ấy được minh họa đầy đủ và sâu sắc ởnhà thơ Hồ Xuân Hương Đây là một cá tính độc đáo, một phong cách đặc biệt khácthường Con người này làm thơ để ném ra cá tính ấy, phong cách ấy như một tháchthúc đối với trật tự đẳng cấp nghìn đời mà kẻ ăn trên ngồi trốc là những “hiền nhânquân tử”, những vua và chúa, còn những người bị đặt dưới cùng là những người đànbà thuộc tầng lớp bình dân Không, đối với Hồ Xuân Hương không có trật tự trêndưới nào hết, ai cũng như ai, dù là nam hay nữ, dù là những người tai to mặt lớn mũáo xêng xang hay những bố cu mẹ đĩ, đều có quyền được sống, được mưu cầu hạnhphúc, được người đời coi trọng nhờ đạo đức và tài năng của mình Tất nhiên cá tính

ấy không phải ngẫu nhiên mà có Đấy là tiếng vang dội của cả một cao trào nông dânkhởi nghĩa thế kỷ XVII, XVIII trên lĩnh vực ý thức thẩm mỹ thời đại

Những điều kiện lịch sử thời Hồ Xuân Hương không cho phép đất nước chuyển sangmột thời kỳ mới Vậy là tính cách thì lớn nhưng khuôn khổ xã hội thì vẫn chật hẹp.Không khuất phục, không đầu hàng, Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuônphép, chuẩn mực cửa xã hội đẳng cấp phong kiến đã trở thành trái tự nhiên, phi đạo

lý, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạocủa mình: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ - Lại đây cho chị dạy làm thơ - “Ghé mắttrông ngang thấy bảng treo - Kia đền Thái thú đứng treo leo - Ví đây đối phận làmtrai được - Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”.v.v…

Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh thép, dõng dạc của phong tràoquần chúng hùng mạnh, quyết liệt nhất thì đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ách,bực bội không giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưngchưa tìm ra lối thoát

Trang 4

Cái ấm ách lịch sử ấy, ở bậc kỳ nữ này, lại bắt gặp, như là một định mệnh, cái ấm áchbực bội của một số phận cá nhân Có người đàn bà nào tài hoa đến thế, giàu sức sốngđến thế, khát khao tự do và tình yêu chân thật đến thế lại bị đày ải vào một cuộc đờiéo le, bất hạnh đến thế: con vợ lẽ, hai lần lấy lẽ, hai lần goá chồng Ta hiểu vì sao,đọc thơ Hồ Xuân Hương, thấy một tâm trạng đầy mâu thuẫn phức tạp: một tiếng cườingang tàng thoải mái kéo theo những giọt nước mắt và tiếng thở dài…, một bản lĩnhdám một mình chọi lại với cả một xã hội đầy thành kiến hủ bại thâm căn cố đế, thậmchí thách thức với cả vũ trụ càn khôn (Nín đi kẻo thẹn với non sông)… lại đồng thờilà một tâm sự cô đơn, chông chênh, chơi vơi, lênh đênh, có những lúc muốn nhắmmắt xuôi tay (Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến -Dong lèo thây kẻ rắp xuôi dòng…) mộttấm lòng son tươi rói trẻ trung, đầy ắp xuân tình, xuân sắc, lại đi liền với biết bao cayđắng tủi hờn của cuộc đời đàn bà đầy những ngang trái, dang dở, bẽ bàng…Tất cảtâm trạng đẩy mâu thuẫn ấy nhiều khi được dồn nén lại trong khuôn khổ một bài thơtứ tuyệt Mời trầu là một trong những bài thơ như thế.

Mời trầu cũng như nhiều bài thơ khác của Hồ Xuân Hương thuộc thể tuyệt cú cổđiển Đấy là một thể Đường luật thi, một thứ văn chương bác học Nhưng đọc Mờitrầu không ai có ý nghĩ đây là bài thơ Đường du nhập từ Trung Quốc vào qua nhữngnhà trí thức Hán học Có một cái gì thật là nôm na dân dã ở lời thơ hết sức bình dị vàở giọng điệu mộc mạc đến suồng sã:

Này của Xuân Hương đã quệt rồi.

Có thể diễn xuôi ra như thế này: Này nói cho mà biết, miếng trầu của Xuân Hươngchỉ xoàng xĩnh thế thôi, nhưng là của Xuân Hương, chính tay Xuân Hương quệt vôitêm ra đó Nó xoàng xĩnh thế thôi nhưng gói ghém trong đó cả cái tình của XuânHương đấy Người ta nói Xuân Hương đã bình dân hoá, dân gian hoá thơ Đường lànhư thế Bản thân tục mời trầu cũng là một nghi lễ rất dân gian và hình ảnh quả caunho nhỏ thì rất đỗi quen thuộc trong ca dao dân ca Thơ Xuân Hương, về phươngdiện này, dường như xuất phát từ một nguồn mạch với những “quả cau nho nhỏ, cái

Trang 5

vỏ vân vân…”, hay “mời anh xơi miếng trầu này - Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dùnồng…” của những câu hát dân gian Ta gọi thế là chất dân gian, một vẻ đẹp riêngcủa thơ Xuân Hương.

Chất trẻ trung, tươi tắn lại là một vẻ đẹp khác của bài thơ: hãy để ý đến màu sắc trongbài thơ Thơ Đường thường thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiếtcụ thể Do đó thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh vào cảmgiác người đọc Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu

tả trực tiếp Vì thế cảnh sắc trong thơ Đường cũng trừu tượng Đọc thơ Đường tathường bắt gặp những thu sắc thu phong, những xuân sắc, xuân sơn, một thứ màu sắcbàng bạc trong không gian, trên tạo vật, thế thôi

Xuân Hương đem chất sống cụ thể vào thơ Đường Tất cả màu sắc đều tươi rói,nhiều khi như hét lên, giẫy nẩy lên trên trang giấy: cửa son đỏ loét, hòn đá xanh rì,cầu trắng phau phau, nước trong leo lẻo, một trái trăng thu chín mõm mòm, nảy vừngquế đỏ đỏ lòm lom…Tất nhiên những màu sắc như thế không phải chỉ là màu sắc tựnhiên mà còn là tấm lòng của tác giả Ở bài Mời trầu, có một cái gì trẻ trung tươi tắntrong hoà sắc ba màu: xanh, trắng, đỏ Cần lưu ý: màu xanh là màu tươi của lá trầu,màu trắng là màu trắng tinh của vôi trên lá xanh, còn màu đỏ là màu đỏ thắm tạo nênbởi hai chất liệu trắng và xanh hoà quyện vào nhau Kể ra, tự nhiên cũng có lắm cáikì diệu, xanh trắng mà lại tạo thành đỏ Trong quan hệ nam nữ cái kì diệu ấy chỉ cóthể là cái tình, cái duyên, là tấm lòng chân thật với nhau mà thôi:

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Câu thơ cũng đở thắm như tấm lòng nhà thơ vậy Nhưng thơ Xuân Hương là thế:không bao giờ muốn che giấu đi một cá tính ngang tàng: ở địa vị người đàn bà trongxã hội cũ, lại là chuyện mời trầu người ta, lẽ ra thì phải mềm mỏng, dịu dàng và phảibẽn lẽn một chút, Xuân Hương không thế, cái tôi dõng dạc xưng tên:

Này của Xuân Hương đã quệt rồi.

Trang 6

Trong thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa phát triển, cái tôi cá nhân, bản thân nókhông được xem là một giá trị đáng coi trọng Hồi ấy, trong phép xã giao, thái độ củangười có lễ giáo là phải biết giấu cái tôi của mình đi, hoặc phải hạ nó xuống đến mứcthấp nhất (chẳng hạn: kẻ ngu này trộm nghĩ…), là người đàn bà, phép tắc ấy lại càngphải coi trọng hơn nữa Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta lại dõng dạc: Này của XuânHương Rõ ràng là một sự thách thức táo bạo trước dư luận xã hội Đã thế lại cònđóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng: Nàycủa Xuân Hương đã quệt rồi Quệt cũng như têm thôi (têm trầu), nhưng quệt tỏ rasuồng sã hơn, bướng bỉnh và ngang ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào.Có phải duyên nhau thì thắm lại Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toànbình đẳng Đến câu tiếp theo không còn là giọng mời chào nữa, mà là một lời mắnghẳn hoi Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng yêu đi nữa, thì cũng chỉcó ở Xuân Hương thôi: “đừng xanh như lá bạc như vôi!”

“Đừng xanh như lá bạc như vôi” Đúng thế, mời mà như mắng người ta Tuy nhiênlời thơ ngẫm cho kĩ, không chỉ thể hiện cá tính ngang tàng của Xuân Hương… Biếtbao trải nghiệm cay đắng trong đời tình ái của mình và của nhiều phụ nữ trong xã hộicũ đã gửi vào trong lời thơ ấy Ở cái thời phong kiến trọng nam khinh nữ, cái thời màtrai thì tha hồ mà năm thê bảy thiếp, nhưng gái chính chuyên chỉ có một chồng ấy,tìm ra được tình yêu chân thật thuỷ chung ở bọn đàn ông thật khó vậy thay XuânHương biết vậy, nên tiếp liền theo lời mời trầu là một ý răn đe: có yêu thì yêu chochân thật để tính chuyện lâu dài, đừng giở cái trò cợt bướm trêu hoa, giữa đường quấtngựa truy phong như cái thằng Sở Khanh tráo trở kia thì không xong đâu Nhưng éo

le thay là cái chuyện tình Bản lĩnh đặc biệt của Hồ Xuân Hương khiến nữ sĩ có thểlàm chủ được trong mọi tình huống Có tài, có đức, có trí, có dũng thì còn sợ gì nữa.Trong mọi mối quan hệ của đời sống, dường như Hồ Xuân Hương không chịu khuấtphục một ai, cho dù là vua chúa, là anh hùng, là quan văn, quan võ, là các bậc hiểnnhân quân tử hay những đấng thần phật thiêng liêng… Nhưng tình yêu bản thân nó

Trang 7

là một sự lệ thuộc Tình yêu là sự tự nguyện lệ thuộc vào một đối tượng nào đó vàcảm thấy hạnh phúc trong chính sự lệ thuộc ấy Nhưng mọi bi kịch của tình yêu cũngđều bất nguồn từ đấy Trong quan hệ lệ thuộc một cách tự nguyện này, người phụ nữthường phải chịu thiệt thòi Tình trạng ấy ở trong xã hội phong kiến, dĩ nhiên lại càng

dễ hiểu lắm Nhưng biết làm sao được, khi mà người đàn bà có một trái tim sôi nổi,khát khao yêu và được yêu như nữ sĩ họ Hồ Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ

Mời trầu mà xem, có phải đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn còn một tấm lòng khát khao tha thiết và một giọng khiêm tốn nhún nhường (Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi – Này của Xuân Hương đã quệt rồi) và không phải không có một cái gì như là xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che giấu nổi (Có phải duyên nhau thì thắm lại — Đừng xanh như lá bạc như vôi) Con người ấy trong lĩnh vực tình yêu và

hạnh phúc đã không thể làm chủ được số phận của mình Ấy là một tấm lòng son nổilên giữa dòng đời đen bạc

Ví đây đổi phận làm trai được

Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết

A/ Sưu tầm thông tin về tác giả, tác phẩm

1 Thông tin về tác giả:

- Hồ Xuân Hương (?-?)

- Sống khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX

- Quê quán: Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An

Trang 8

- Là người nổi tiếng với những sáng tác thơ bằng chữ Nôm Tổng cộng 50 bài.

- Chủ đề: Bênh vực, đề cao phụ nữ và để kích thói đạo đức giả của quan lại vua chúa

Được ví là Bà chúa thơ Nôm

2 Tác phẩm: Đề đền Sầm Nghi Đống

- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

- Chủ đề bài thơ: khát vọng bình đẳng nam – nữ muốn lập lên công danh sự nghiệp

vẻ vang cho người phụ nữ của HXH

3 Đặc trưng của thể loại thơ trào phúng trong bài thơ.

- Cảm xúc chủ đạo: giễu cợt, mỉa mai, thiếu tôn trọng đối với tên tướng giặc xâm

lược đã bại trận dưới tay của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ

- Thủ pháp trào phúng: Cách nói giễu cợt, mỉa mai, châm biếm để tạo ra tiếng cười.

- Tiếng cười trào phúng: (cười người): cười giễu cho cái kết cục của kẻ xâm lược,

đồng thời bộ lộ cá tính, bản lĩnh khát vọng muốn thay đổi thân phận, lập nên sựnghiệp lẫy lừng vẻ vang cho phận nữ nhi của HXH

+ Đề thơ là một phong tục của Trung Quốc xưa, đến đời Đường đã rất thịnh hành.Khách du sơn ngọan thủy, thăm thú thắng cảnh đền đài, hứng làm thơ, vung bút đềthơ để lưu bút tích và bày tỏ cảm xúc, chí khí của mình

+ Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoan, cũngthường vung bút đề thơ Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong

xa hội phong kiến

+ Nhân vật Sầm Nghi Đống:

Sầm Nghi Đống là thái thú đất Diễn Châu, Trung Quốc, tùy tướng của Tôn Sĩ Nghịtrong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1789 Ông được giao giữ đồn Khương Thượng,Đống Đa Khi bị quân Tây Sơn đánh, ông không chống cự được nên đã thắt cổ tự tử.Để giữ mối quan hệ bang giao hai nước, Quang Trung cho người Hoa lập miếu thờSầm Nghi Đống tại phía sau phố Hàng Buồm ngày nay

+ Mấy chục năm sau, Hồ Xuân Hương đi qua ngôi đền thờ tên tướng giặc do HoáKiều dựng nên, bà đã tức cảnh làm bài thơ này

Trang 9

+ Bài thơ không chỉ thể hiện một cách nhìn khinh rẻ đối với một viên tướng xâmlược, mà còn nói lên một khát vọng của bản thân nhà thơ nói riêng và người phụ nữnói chung về sự bình đẳng nam nữ

+ Các từ ngữ cần chú ý bám sát khi phân tích: Ghé mắt, trông ngang, cheo leo, ví

đây, đổi phận…-> Tác dụng thể hiện rất rõ thái độ của tác giả.

B/ Lập dàn ý:

A/ Mở bài:

- Giời thiệu về Hồ Xuân Hương và phong cách sáng tác của bà vừa hóm hỉnh, vui tươi nhưng chứa dựng ý nghĩa thầm kín sâu sắc.

-Khẳng định bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống là tác phẩm thể hiện rõ nét phong cách

thơ của bà

- Trích dẫn bài thơ

Gợi ý viết phần mở bài:

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ tài danh bậc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam.

Thơ Hồ Xuân Hương vừa hóm hỉnh, vui tươi nhưng chứa dựng ý nghĩa thầm kín sâusắc Bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống thể hiện rõ nét phong cách thơ của bà

Ghé mắt trong ngang thấy bảng treo Kìa đền thái thú đứng cheo leo

Ví đây đổi phận làm trai được

Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

B/ Thân bài:

1/ Giới thiệu về nhân vật Sầm Nghi Đống và hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Gợi ý viết phần thân bài

Sầm Nghi Đống là thái thú đất Diễn Châu, Trung Quốc, tùy tướng của Tôn Sĩ Nghịtrong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1789 Ông được giao giữ đồn Khương Thượng,Đống Đa Khi bị quân Tây Sơn đánh, ông không chống cự được nên đã thắt cổ tự tử.Để giữ mối quan hệ bang giao hai nước, Quang Trung cho người Hoa lập miếu thờSầm Nghi Đống tại phía sau phố Hàng Buồm ngày nay Nhân một dịp đi qua, HồXuân Hương đã làm bài thơ này

Trang 10

2/ Phân tích bài thơ:

- Phân tích 2 câu đầu:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền thái thú đứng cheo leo

+ Ghé mắt: theo Từ điển Tiếng Việt, nghiêng đầu và đưa mắt nhìn, chỉ thuần tuý là

động tác, không hàm ý kính trọng

+ Trông ngang: cái nhìn coi thường.

+ Chữ cheo leo là một từ đặc sắc, nó chỉ một thế đứng cao nhưng không có nơi bấu

víu, dễ đổ ụp xuống

+ Chữ kìa thường kèm theo các động tác chỉ trỏ hàm ý bất kính.

Gợi ý viết phần phân tích thơ

Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn thiếu trân trọng đối vớingôi đền:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền thái thú đứng cheo leo.

Những ai được lập đền, dù là quân giặc, đều được coi là thần, đền thờ đó thườngđược mọi người đến thắp hương cúng bái, cầu vọng Nhưng Hồ Xuân Hương thì chỉ

ghé mắt trông ngang Ghé mắt, theo Từ điển Tiếng Việt, là nghiêng đầu và đưa mắt nhìn, chỉ thuần tuý là động tác, không hàm ý kính trọng Ghé mắt trông ngang chớ

không phải trông lên, đã thể hiện một thái độ bất kính đối với vị thần xâm lược thấtbại Đền Thái, thú đứng cheo leo hẳn là đền xây trên gò, và người ta không dễ trôngngang Rõ ràng Hồ Xuân Hương cố tình chọn một cái nhìn coi thường đối với vị Thái

thú ở nơi tha hương này Chữ cheo leo là một từ đặc sắc, nó chỉ một thế đứng cao nhưng không có nơi bấu víu, dễ đổ ụp xuống Chữ kìa cũng hàm ý bất kính, bởi nó

kèm theo các động tác chỉ trỏ, mà đối với các nơi đền đài linh thiêng người đến viếngkhông được nói to, giơ tay chỉ trỏ như đối với đồ vật Với hai câu thơ ấy, Hồ XuânHương đã tước bỏ hết tính chất thiêng liêng, cung kính của một ngôi đền Hồ XuânHương không chỉ nhìn ngang chỉ trỏ trước một ngôi đền, bà lại còn tự ví mình, sosánh mình với người được thờ nữa:

*Phân tích 2 câu cuối:

Ví đây đổi phận làm trai được

Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Trang 11

+ Từ “đây”: Cái cách bà tự xưng là đây để đối lại với Sầm Nghi Đống là đấy, thì dù

bà chưa đổi phận được, bà cũng đã rất coi thường vị nam nhi họ Sầm

+ sự anh hùng há bấy nhiêu: khiến ta có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương đang tự cho

rằng mình có thể làm gấp nhiều lần, so với sự nghiệp của Sầm Nghi Đống;

Cũng có thể hiểu đó là một lời dè bỉu: sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư?

Gợi ý viết:

Cái ý nghĩa đổi phận làm trai đã thể hiện cái mặc cảm phụ nữ đối với nam giớitrong xã hội phong kiến đã áp đặt vào ý thức nhà thơ Nhưng mặt khác, nó cũng thế

hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận của bà Cái cách bà tự xưng là đây để đối

lại với Sầm Nghi Đống là đấy, thì dù bà chưa đổi phận được, bà cũng đã rất coithường vị nam nhi họ Sầm

“Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Câu thơ khiến ta có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm gấp nhiềulần, so với sự nghiệp của Sầm Nghi Đống, song đúng hơn, nên biểu hiện một lời dèbỉu: sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư, nó quá ít đối với một đấng nam nhi đấy!

C/ Kết bài: Khẳng định giá trị nội dung, ý nghĩa của bài thơ.

Trang 12

Dàn ý tham khảo

I Mở bài

– “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương thường có giọng thơ khinh bạc, mỉa mai Bêncạnh giọng thơ khinh bạc ấy, ta lại bắt gặp một trong những bài thơ tả cảnh ngụ tình

khá sâu sắc và ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự của mình Bài thơ “Tự tình II”

là một trường hợp như vậy!

II Thân bài

1 Đêm khuya cô đơn

– Hai câu đề là cảnh đêm về khuya, tiếng trống canh từ xa văng vẳng mà dồn dập đổvề Trong thời điểm ấy, nhân vật trữ tình lại trơ trọi đáng thương và “cái hồng nhan”đã cụ thể hoá một cá thể đang cô đơn, thao thức và dằn vặt

– Hồng nhan nhằm để nói “phái đẹp” nhưng lại được trước nó là trạng từ “trơ”, khiếncho câu thơ đậm đặc cái ý chán chường Rồi lại “cái hồng nhan” thì quả là khinh bạc

– Lấy “hồng nhan” mà đem đối với “nước non” thì quả thật là thách thức nhưng cũngthật sự là mỉa mai, chua chát Phép tiểu đối thật đắt và thật táo bạo nhưng phù hợpvới tâm trạng đang chán chường, trong hoàn cảnh đang cô đơn, trơ trọi Nỗi cô đơnngập đầy tâm hồn đến mức phải so sánh nó ngang bằng với các hình tượng của thiênnhiên tạo vật Hai câu thơ diễn tả tình cảnh cô đơn của người phụ nữ trong đêmkhuya thanh vắng Đó là nỗi dằn vặt và sắp bộc lộ, giãi bày một tâm sự

2 Cảnh ngụ tình

– Đến hai câu thực ta nghe thoảng men rượu từ cơn say trước đó nhưng đã thoảngbay đi Hương rượu chỉ sự thề hẹn (gương thề, chén thề) nhưng hương đã bay đi dùtình còn vương vấn Cá thể đã tỉnh rượu nên càng nhận ra nỗi trống vắng, bạc bẽocủa tình đời

Trang 13

– Trăng gợi lên mối nhân duyên, nhưng trăng thì “khuyết chưa tròn”, ngụ ý tìnhduyên chưa trọn, không như mong ước, khi mà tuổi xanh đã lần lượt trôi đi.

– Hai câu luận là nỗi bực dọc, phản kháng, ấm ức duyên tình Hình ảnh hết đám rêunày đến đám rêu khác “xiên ngang mặt đất” như trêu ngươi nhà thơ Rêu phong làbằng chứng về sự vô tình của thời gian, nó là hiện thân của sự tàn phá chứ khôngphải chở che cho tuổi đời Thế rồi nhà thơ bực dọc vì tuổi xuân qua mau, đời ngườingắn ngủi, nhỏ bé, nên:

“Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

“mấy hòn đá” không những đứng sừng sững ở chân mây mà còn “đâm toạc” thể hiệnthái độ ngang ngạnh, phản kháng, ấm ức của nhà thơ về duyên tình lận đận…

3 Lời than thở

– Lời than thở cùng chính là chủ đề của bài thơ Năm tháng cứ trôi qua, xuân đi rồixuân lại mà duyên tình vần chưa được vuông tròn Xuân thì đi rồi trở lại với thiênnhiên đất trời, nhưng lại vô tình, phũ phàng với con người

– Kẻ chung tình không đến, người chung tình thì cứ chờ đợi mỏi mòn mà thời gianthì cứ trôi đi, tuổi xuân tàn phai Mảnh tình quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là “san sẻ tí concon” Câu thơ cực tả tâm trạng chua chát, buồn tủi của chủ thể trữ tình

III Kết bài

– Có đa tình mới tiếc xuân, trách phận và mới có giọng tự tình Giọng thơ đầy đù cảsắc thái tình cảm: tủi hổ, phiền muộn, bực dọc, phản kháng rồi kết bằng chua chát,chán chường vì tình duyên chưa trọn

Trang 14

– Hồ Xuân Hương đã góp vào kho tàng thơ Nôm Việt Nam một tiếng thơ táo bạo màchân thành, mới lạ mà vẫn gần gũi với thân phận người phụ nữ trong xã hội phongkiến bất công ngày ấy Đó là một xã hội đã làm cho biết bao nhiêu thân phận “hồngnhan” bị lỡ làng và khổ đau.

– Khát vọng của Hồ Xuân Hương về mưu cầu hạnh phúc lứa đôi cũng chính là khátvọng của muôn vàn phụ nữ: một khát vọng chính đáng

BÀI VIẾT THAM KHẢO.

Nếu như người thường mượn rượu giải sầu thì các nhà thơ lại thường mượn cảnh

tả tình Nhưng cũng giống như mượn rượu giải sầu, sầu càng sâu, mượn cảnh tả tình,tình càng đau Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương – bà “Chúa Thơ Nôm” đã bao lần đắm chìmtrong những nỗi buồn, nỗi tuyệt vọng về thân phận bọt bèo, hẩm hiu của người congái tràn trề hi vọng nhưng thực tế cuộc sống lại không cho bà được thỏa mãn những

ước mong Bài thơ “Tự tình” (bài II) là những vần thơ chất chứa nhiều cảm xúc của

Xuân Hương nhất Dường như bao nhiêu tâm sự của cuộc đời cay đắng, bà đều dồnhết vào từng con chữ, từng âm điệu

Buồn thương cho phận gái nổi trôi, muốn yêu mà chẳng được vẹn tròn Tình ngườicứ thế qua đi, mặc cho người con gái giữa những tủi hổ và đớn đau Xuân Hươngkhông khóc như những cô gái khác khi thất tình nhưng trong lòng đầy rẫy những suytư:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Trang 15

Không biết vô tình hay cố ý mà Xuân Hương lại tự đưa mình đến một nơi thanhvắng trong đêm khuya tĩnh lặng Bóng đêm và những tiếng trống văng vẳng từ xavọng lại càng làm cho lòng người thêm quạnh hiu Nhất là đối với một cô gái đangmang trong mình những nỗi ưu tư buồn phiền về tình duyên trắc trở Làm sao khôngbuồn không đau khi “yêu rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu, người ta phụ hoặc thờ

ơ chẳng biết” (Xuân Diệu)

Xuân Hương tự nhận thấy sự bẽ bàng và phũ phàng cho thân phận “hồng nhan”của mình Thế nên bà đã dùng từ “trơ” chứ không phải một từ nào khác “Trơ” là trầntrụi, là bi thương, là oán hờn, tủi nhục Chẳng biết tình yêu mà nhà thơ nhận đượcbao nhiêu mà giờ đây hương tình lẫn men rượu hòa quyện vào nhau, khiến người congái lúc tỉnh lúc say Là say tình hay say rượu ? Là tỉnh hay là mê ? Nỗi buồn thấmthía, lại được thêm ánh trăng khuyết mờ ảo làm lòng người ngao ngán:

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Nếu như các nhà thơ khác lấy ánh trăng để tả về một tình yêu trọn vẹn, nồng nàn vàtha thiết, thì ở đây, vầng trăng của Xuân Hương lại chỉ là một vầng trăng khuyết,

“khuyết chưa tròn”, cũng giống như mảnh tình dang dở mà Xuân Hương đang ôm ấp.Cho đến bao giờ người con gái ấy mới có được tình yêu trọn vẹn của cuộc đời mình?Trăng đêm nay khuyết, nhưng vẫn có những ngày tròn, còn tình yêu của XuânHương, đến lúc nào mới được tròn như trăng?

Đau buồn và phẫn uất, nhưng Xuân Hương vẫn gắng gượng vươn lên, dù niềm hivọng rất nhỏ bé mong manh:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Trang 16

Đến ngay cả những đám rêu yếu mềm còn có sức sống mãnh liệt “xiên ngang mặtđất” để vươn lên, và những hòn đá tuy nhỏ bé nhưng vẫn đủ nhọn để “đâm toạc chânmây” Vậy cớ gì mà con người lại không thể vượt lên trên số phận của mình? Biếtrằng, không gì là không thể làm được nhưng mặt khác, cái gì cũng có giới hạn củanó Nhất là với thời gian, thời gian đâu có chờ đợi ai bao giờ Thế nên, lại một lầnnữa, Xuân Hương ôm mối tình dở dang lâm vào bi kịch đau thương:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”

Giá như đám rêu kia và những hòn đá kia có thể thấu hiểu nỗi niềm tương tư củaXuân Hương thì hay biết mấy Nhưng đá và rêu chỉ là vật vô tri vô giác Ngàn nămđá vẫn vậy, nhưng chỉ một năm với đời người cũng đã là cả một sự thay đổi lớn.Ngoảnh đi ngoảnh lại, xuân đến xuân đi, nghĩa là đời người đã già thêm một tuổi

Xuân cứ trẻ mãi, nhưng mỗi một cuộc đời chỉ có duy nhất một mùa xuân mà thôi.Xuân đến mang sự tươi tốt cho đất trời cho thiên nhiên, nhưng lại lấy đi của đờingười một mùa xuân Đó là quy luật của tạo hóa, nhưng nếu tình duyên trọn vẹn, cólẽ Xuân Hương cũng chẳng hờn giận mùa xuân đến thế

Nhưng cứ mỗi một xuân đi qua mà Xuân Hương vẫn chưa có được một mối tình trọnvẹn, trong khi đó, cuộc đời cứ trôi dần trôi khiến “mảnh tình san sẻ tí con con” Tìnhduyên đã chẳng vẹn tròn, lại bị san sẻ bởi mỗi năm qua đi, Xuân Hương đâu cònnhiều mùa xuân để mà tận hưởng tình yêu nữa E rằng, hết cả tuổi xuân mà vẫn chưatrọn khối tình Thế nên, mùa xuân không có gì đáng vui với Xuân Hương, ngược lạiđó là dấu hiệu đáng buồn cho một mảnh tình lại bị phôi pha, nhạt nhòa

Không ai hiểu lí do vì sao tình duyên của bà lại dở dang và trắc trở nhưng chắc chắnmột điều rằng, Xuân Hương đang rất buồn, rất đau khổ Càng buồn bao nhiêu, bà

Trang 17

càng khát khao hạnh phúc bấy nhiêu Nhưng càng khát khao lại càng tuyệt vọng bởikhông ai có thể chạy đua với thời gian Xuân Hương cũng vậy, cuộc đời cứ thế trôi đitheo những mùa xuân nối tiếp nhau Nhà thơ chẳng hào hứng gì với mùa xuân nhưXuân Diệu đã từng thốt lên:

“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Cả Xuân Diệu và Xuân Hương đều khát khao một tình yêu trọn vẹn nhưng tình yêucủa Xuân Hương là tình yêu đôi lứa, là thứ tình cảm đòi hỏi phải có sự đáp trả củađối phương mới trở thành trọn vẹn Còn Xuân Diệu, tình yêu của ông là tình yêuthiên nhiên, yêu sự sống, ông muốn hưởng thụ tình yêu của mình bất kỳ lúc nào cũngđược, ông không bị phụ thuộc vào đối phương như Xuân Hương Bởi thế, XuânHương đã liên tục rơi vào tâm trạng buồn tủi, bẽ bàng khi không đạt được những điềumình muốn

Như vậy, bài thơ đã thể hiện tâm trạng, thái độ của Xuân Hương: vừa đau buồn vừaphẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch Bài thơ

cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng độc đáo của “Bà Chúa Thơ Nôm” trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh kẻ ngồi trông, Trai co gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Chơi xuân đã biết xuân chăng tá.

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

Trang 18

Tương truyền, Đánh đu là một bài thơ điển hình cho phong cách thơ của Hồ XuânHương được thi nhân đời sau Xuân Diệu tôn lên thành Bà chúa thơ Nôm Tài tình ởchỗ bài thơ tả được cả cái mùa xuân lẫn cái xuân tình Tả trai gái đánh đu thực đếntừng chi tiết Mà vẫn câu chữ ấy lại là đặc tả trai gái mây mưa Văn phong ấy, câuchữ ấy rõ ràng đặc sản của Xuân Hương rồi.

Đánh đu là một trò chơi dân gian đã có từ lâu đời ở nước ta Trong các lễ hội làngquê, đặc biệt trong dịp Tết mừng xuân, trò chơi đánh đu của trai gái diễn ra tưngbừng náo nhiệt nhất Hai câu đề thể hiện một cái nhìn thú vị trước cột đu và một tiếngkhen thầm buộc ra, khi nhà thơ đi qua bãi chơi đu đầu làng, cuối xóm:

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông

Hai chữ ‘khéo khéo’ làm cho lời thơ, tình thơ trở nên đậm đà Ai đã “khéo khéotrồng” cây đu, ai đã nghĩ ra trò chơi đu mà vui thế: “Người thì lên đánh, kẻ” ngồitrông’ Tâm hồn nữ sĩ hòa nhập với niềm vui của trai gái đang chơi đu, mà nghĩ vềmột trò chơi, một mỹ tục dân gian lâu đời rất đáng tự hào Các động từ “lên đánh” và

“ngồi trông” hô ứng nhau, gợi tả không khí chơi đu vừa nhịp nhàng vừa vui nhộn, tậpnập

Đánh đu có cảnh đánh đơn nam, đơn nữ, có cảnh đánh đôi nữ, đôi nam, lại có cảnhnam nữ cùng đánh đôi Hai câu thực tả cảnh đánh đôi nam, nữ Hình ảnh “trai đu” và

“gái uốn” gợi tả động tác rất mềm dẻo, uyển chuyển, tư thế “khom khom cật” rấtmạnh mẽ, hào hứng Động tác “ngửa ngửa lòng” gợi lên một dáng bay nhẹ nhàng,thích thú

Trang 19

Trong cái tài đã có cái tình của trai gái lúc đánh đu Cảnh đánh đu rất đẹp như đangdiễn ra trước mắt chúng ta một sức xuân phơi phới Gối hạc và lưng ong là hai ẩn dụđặc tả vẻ đẹp thanh tân của trai gái làng quê trên cánh đu đang tung bay trong gióxuân:

Trai du gối hạc khom khom cật, Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

Song đâu ít phản bác Chẳng hạn, có ý cho rằng bài thơ hẳn của nam nhân Đàn bàsao dám tả khom khom cật với lại ngửa ngửa lòng Chả hạn thế Tranh cãi mãi khôngthôi, ai cũng có cái lí của mình Đã có nhiều bàn luận, phân tích về cái sự dí dỏm,bỡn đùa đầy chất xuân của bài thơ này

Cánh đu mỗi lúc lại tung bay cao hơn, nhịp nhàng hơn, “kẻ ngồi trông” cảm thấykhông nhìn rõ khuôn mặt, dáng hình của đôi trai gái đang đánh đu nữa Chỉ còn nhìnthấy “Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới” Chỉ còn biết dõi theo và tấm tắc ‘Haihàng chân ngọc duỗi song song’

Cảnh chân lấm tay bùn, màu quần thâm áo nâu đời thường đã biến mất Trong hộixuân, trên cánh đu chỉ có “quần hồng bay phấp phới” và chỉ còn có “chân ngọc duỗisong song” Đó là sắc xuân, nét xuân và dáng xuân của làng quê trong lễ hội Và đócũng là vẻ đẹp trẻ trung, yêu đời của đất nước và con người, của lễ hội mùa xuân vànền văn hóa dân gian Việt Nam giàu đẹp

Mùa xuân đẹp mãi với dáng xuân, sắc xuân tung bay:

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song

Trang 20

Xuân tàn, hội tan, biết bao tiếc nuối bàng khuâng trong lòng người Nhìn bãi đu saungày hội tan mà ngẩn ngơ, luyến tiếc:

Chơi xuân đã biết xuân chăng tá, Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

Hai câu kết là lời trách móc, nuối tiếc: Vui chơi đón xuân mà có biết đến tình xuân?Cuối vụ chơi xuân, các cột đu lại nhổ đi hết, chỉ còn trơ lại các lỗ cọc và rồi người tasẽ lấp đi Chân tình mà cũng thật chua chát về thói vô tâm đáng trách của người đời

Hai câu kết là một sự liên tưởng độc chiêu của Xuân Hương Chơi xuân có cảm nhậnđược xuân, có tình với xuân không? Thời gian đi, mối tình nào chẳng tàn, cuộc vuinào chẳng tan Mở đầu bài thơ là cảnh khéo khéo trồng cọc, thì kết thúc bài thơ làcảnh cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không uể oải, mệt mỏi, pha một chút ngậm ngùi, nuối tiếc

Có yêu đời, yêu cái đẹp trong cuộc đời, trong lễ hội mùa xuân, nữ sĩ mới có niềmluyến tiếc, ngẩn ngơ ấy

Mùa xuân trôi qua.

Và bao giờ mùa xuân trở lại?

Bài thơ “Đánh đu” cho thấy tính sáng tạo trong thi ca của “Bà chúa thơ Nôm”.Ngôn từ nhất khí, liền mạch Giọng thơ hồn nhiên, hóm hỉnh Một cách nhìn sắc sảo,yêu đời Một cách cảm rất tài hoa đầy tính nhân văn Bài thơ “Đánh đu” làm sống lạitrong lòng ta một nét đẹp lễ hội dân gian mùa xuân đáng yêu vô cùng Thơ nômĐường luật như thế là hoàn hảo, có quyền sánh vai với các kiệt tác của văn học trungđại

Trang 21

HẾT CHỦ ĐỀ 4

BÀI 5: CHỦ ĐỀ 5 NHỮNG CÂU CHUYỆN HÀI

ĐỀ BÀI: VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN

TƯỢNG TRONG ĐỜI SỐNG

( MỘT THÓI XẤU CỦA CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI).

Gợi ý:

Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội với nội dung rút ra từ

1 bức tranh; kết cấu chặt chẽ, lập luận thuyết phục, không mắc các loại lỗi

Yêu cầu về kiến thức: Đây là một đề mở, thí sinh có thể có nhiều cách kiến giải khácnhau nhưng cần có sức thuyết phục, đảm bảo các ý cơ bản sau

1 Mở bài:

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận:

2 Thân bài: Giải quyết vấn đề:

Trang 22

- Trình bày cách hiểu về bức tranh:

⇒ Ý nghĩa của bức tranh: Phần này thí sinh có thể rút ra nhiều bài học khác nhaunhưng phải có lập luận thuyết phục

2 Thân bài:

Ngày đăng: 20/09/2023, 19:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w