1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn học tôn giáo các nước đông nam á đề tài phật giáo thái lan và những ảnh hưởng của nó đến đời sống, văn hoá thái lan

26 43 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phật Giáo Thái Lan Và Những Ảnh Hưởng Của Nó Đến Đời Sống, Văn Hoá Thái Lan
Tác giả Nguyễn Đặng Quỳnh Anh, Lê Khắc Định, Nguyễn Nguyễn Hạ, Nguyễn Thị Kim Oanh
Người hướng dẫn TS. Đàng Năng Hòa
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tôn giáo các nước Đông Nam Á
Thể loại Bài tiểu luận môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 617,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sở chùa Vàng”, Phật giáo đóng vai trò đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội và hướng con người đến những điều tốt lành, tích công đức về sau và tránh xa những điều ác để

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA XÃ HỘI HỌC – CÔNG TÁC XÃ HỘI – ĐÔNG NAM Á HỌC

BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: TÔN GIÁO CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

ĐỀ TÀI: PHẬT GIÁO THÁI LAN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN

ĐỜI SỐNG, VĂN HOÁ THÁI LAN

HỒ CHÍ MINH, NGÀY 07 THÁNG 08 NĂM 2023

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Cơ sở lý luận 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục của bài tiểu luận 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO 7

1.1 Nguồn gốc của Phật Giáo 7

1.2 Những giáo lý cơ bản của Phật giáo 7

1.3 Các hệ phái của Phật giáo 8

1.3.1 Nguồn gốc hình thành Hai tông phái Phật Giáo 8

1.3.2 Hai tông phái Phật giáo có trong cả Nam tông và Bắc tông 9

1.3.3 Hai tông phái Phật giáo Nam tông 9

1.3.4 Sáu tông phái Phật giáo Bắc tông 10

1.4 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở một số nước Đông Nam Á 12 1.4.1 Campuchia 12

1.4.2 Lào 13

1.4.3 Việt Nam 13

1.4.3.1 Lịch sử 13

1.4.3.2 Đặc điểm 14

CHƯƠNG 2: PHẬT GIÁO THÁI LAN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN 16

1.1 Tổng quan về đất nước Thái Lan 16

1.2 Phật giáo tại Thái Lan 16

Trang 3

1.3 Phật giáo qua 4 thời kỳ 17

1.3.1 Thời Kỳ Sukhothai 17

1.3.2 Thời kỳ Ayutthaya 18

1.3.3 Thời kỳ Thonburi 18

1.3.4 Thời Kỳ Rattanakosin 18

1.4 Những ảnh hưởng của Phật giáo tới đời sống văn hóa - xã hội và tinh thần của người dân Thái Lan 19

1.4.1 Kinh tế 19

1.4.2 Giáo dục 20

1.4.3 Chính trị 20

1.4.4 Văn hóa – Xã hội 21

1.4.5 Kiến trúc chùa, chiền 23

TỔNG KẾT 25

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 4

sở chùa Vàng”, Phật giáo đóng vai trò đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội và hướng con người đến những điều tốt lành, tích công đức về sau và tránh xa những điều ác để con người có thể được tìm được sự thanh thản trong tâm hồn Chính vì thế, giáo

lý và giáo luật như là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhà nước, các tổ chức Phật giáo trải qua nhiều thế kỷ, vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân Tìm hiểu về nguồn gốc cũng như sự hình thành và phát triển của Phật giáo của Thái Lan là lý

do chính để nhóm chúng em chọn đề tài này Đồng thời là những ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - xã hội của người dân Thái Lan

2 Lịch sử nghiên cứu

Lịch sử Thái Lan được chia thành 4 thời kỳ qua các triều đại: Sukhothai, Ayutthaya, Thonburi và Rattanakosin (Bangkok) Đặc biệt, Phật giáo hình thành và phát triển ở Thái Lan từ thời kỳ đầu của triều đại Sukhothai (1237-1456) Phật giáo tại đất nước Thái Lan cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo đến những giá trị văn hóa, đời sống tinh thần và đời sống xã hội trên mọi lĩnh vực của quốc gia, đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu như:

- Cuốn sách “Phật giáo ở Thái Lan” của TS Nguyễn Thị Quế

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo tại đất nước Thái Lan và những tác động của nó đối với đời sống xã hội của người dân hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Phật giáo tại Thái Lan mà trong đó, trọng tâm của bài nghiên cứu là sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở đất nước Thái Lan; đồng thời là những ảnh hưởng của Phật giáo đối với từng khía cạnh quan trọng trong sự phát triển của quốc gia

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian nghiên cứu đề tài của tiểu luận là Phật giáo ở Thái Lan Phạm vi thời gian của đề tài là từ khi Phật giáo được truyền vào Thái Lan từ thế kỉ XIII cho đến ngày nay

Phạm vi chủ thể của đề tài chỉ nghiên cứu về Phật giáo tại đất nước Thái Lan

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Theo Nguyễn Thành Trung (2019), những tiếp nhận về Phật giáo chỉ ở mức độ hữu hình, chỉ là hiện tượng và chưa có nhu cầu đặt ra vấn đề lý luận về tiếp nhận Phật giáo khiến các nghiên cứu chưa có mối liên kết chỉnh thể và hướng phát triển chung xứng tầm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đối với đề tài này là phương pháp phân tích và tổng hợp:

Sử dụng và tham khảo các thông tin có trong tài liệu để từ đó tổng hợp những thông tin cần thiết để phục vụ cho bài nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận liên ngành: Sử dụng tri thức của của ngành liên quan như Sử học; Chính trị học; Xã hội học

6 Bố cục của bài tiểu luận

Bài tiểu luận gồm có 2 chương chính, không bao gồm phần mở đầu, mục lục và nguồn tài liệu tham khảo:

Chương 1: Khái quát về Phật Giáo

Chương 2: Phật Giáo Thái Lan và những ảnh hưởng của nó đến đời sống người dân

Trang 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO 1.1 Nguồn gốc của Phật Giáo

Phật giáo được thành lập vào cuối thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên bởi vị Thái tử Tất - đạt - đa Cồ - Đàm (Siddhartha Gautama), sau là đức Phật Là một tôn giáo quan trọng

ở hầu hết các quốc gia châu Á, thời gian mà Phật giáo ra đời là vào khoảng 2.600 năm tại

Ấn Độ Câu chuyện xuất phát từ một vị thái tử có tên Tất - đạt - đa Cồ - Đàm (Siddhartha Gautama), cha của Ngài là đức vua Tịnh Phạn (Sodhaddana) của tiểu quốc Thích-ca, ở vương thành Ca-tỳ-la-vệ và mẹ của Ngài là hoàng hậu Ma-da (Siri Mahamaya) Vào một đêm trăng khi đang ngủ thì hoàng hậu đã mơ thấy một con voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu-suất* đến dâng hoa sen trắng, sau giấc mơ đó bà đã thọ thai sau nhiều năm chờ đợi Theo phong tục thì hoàng hậu sẽ quay về quê nhà để thọ sinh thái tử, trên đường đi bà đã dừng chân tại vườn Lâm-tỳ-ni, hoàng hậu đến dưới gốc cây Vô-ưu ngắm nhìn những bông hoa Sa-la đang nở, đưa tay nắm lấy thì bỗng nhiên bà chuyển dạ và hạ sinh Thái tử, bảy ngày sau khi hạ sinh Thái tử thì bà qua đời với niềm hạnh phúc vì tâm nguyện đã hoàn thành Sau khi hoàng hậu qua đời thì người em gái của bà là hoàng hậu Ma-ha-ba-xà-ba-

đề thay chị mình nuôi dưỡng Thái tử, sống trong cuộc sống được yêu chiều và đầy đủ sung túc, vàng bạc châu báu, đến tuổi trưởng thành thì Người kết hôn với công chúa Da-du-đà-

la (con gái của Đức vua Thiện Giác), sau đó hạ sinh hoàng tử La-hầu-la Trong một chuyến

du ngoạn qua bốn cửa thành, Thái tử đã bắt gặp những hoàn cảnh sống khổ sở, nghèo đói của nhiều người dân, đến khi Người gặp một vị tu sĩ với tướng mạo khoan thai đang bước trên đường và nghe ông ấy nói: “Xuất gia tu hành là việc cao cả nhất để thoát khỏi vòng luân hồi sinh-lão-bệnh-tử” Khi đó Thái tử như đã ngộ ra chân lý của cuộc đời mình và ấp

ủ chí nguyện xuất gia để tìm đường giải thoát Cho đến năm 29 tuổi, Ngài đã từ bỏ cuộc sống giàu sang, phú quý, tự mình xuất gia đi tìm con đường cứu khổ cho chúng sinh, khám phá triết lý sống của cuộc đời Từ lúc đó, Ngài đã dành tất cả công sức, thời gian của mình

đi trải nghiệm, chu du cảm nhận cuộc sống đau khổ của nhân gian, từ đó trở thành tiền đề cho sự hình thành và phát triển của Phật giáo đến ngày nay

1.2 Những giáo lý cơ bản của Phật giáo

Trang 8

Giáo lý cơ bản của Phật giáo mà Ngài đã chứng ngộ lúc đắc đạo là Tứ Diệu Đế Tứ Diệu Đế có nghĩa là bốn sự thật chắc chắn, quý báu, nội dung của giáo lý này gồm:

Khổ đế: Khổ đế tiếng phạn là Dukkha, Dukkha có nghĩa là khó chịu đựng, khó kham nhẫn,

là đau khổ Trung hoa dịch là khổ, nghĩa rộng là những cái gì làm cho mình khó chịu, đau đớn… Chân lý này cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính khổ não, không trọn vẹn, đức Phật cũng chỉ ra 8 điều khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ (xa cách người thân yêu), cầu bất đắc khổ (mong cầu nhưng không được), oán tắng hội khổ (gặp phải những người

mà bản thân không thích), ngũ ấm thạnh khổ (khổ về thân-tâm, luôn bị thân và tâm ràng buộc)

Tập đế: là sự thật đúng đắn, vững chắc về nguyên nhân của những nỗi khổ đã chứa nhóm, tích trữ lâu đời, nguyên nhân của sự khổ thường xuất phát từ lòng tham lam (tham),

sự giận dữ (sân), si mê (si), Các loại ham muốn này gốc của luân hồi

Diệt đế: là sự thật đúng đắn, đức Phật đã thuyết minh về hoàn cảnh tốt đẹp mà mọi người đều có thể đạt được, sau khi đã diệt trừ hết thảy phiền não, mê mờ Bởi phiền não,

mê mờ là nguyên nhân của khổ đau

Đạo đế: là những phương pháp tu hành đúng đắn để diệt trừ đau khổ Đó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến cảnh giới niết bàn Nói một cách khác, đó là những phương pháp tu hành để diệt trừ khổ đau, đạt được sự giải thoát và an lạc Do tính chất đó

mà trong Tứ diệu đế, đạo đế là quan trọng nhất

1.3 Các hệ phái của Phật giáo

Trong Phật giáo có hai tông phái lớn là: Phật giáo Nam tông (phái Tiểu Thừa) và : Phật giáo Bắc tông (phái Đại Thừa) Cả hai bên tuy phân biệt ra như thế nhưng vẫn theo tôn chỉ của Đức Phật Phật giáo Bắc tông thì theo tinh thần Phật dạy mà tiến hóa hợp với thời đại Phật giáo Nam tông thì một mực bảo vệ và duy trì lời Phật trong các kinh chứ không thay đổi

1.3.1 Nguồn gốc hình thành Hai tông phái Phật Giáo

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn một trăm ngày, có 500 vị Thượng toạ trưởng lão (Sthavira) tổ chức cuộc kết tập lần đầu trong hang Sattapanni rừng nigrodha cử Tôn giả

Ma Ha Ca Diếp làm Thủ tọa, ngài A Nan trùng tuyên những lời Phật dạy làm thành tạnh

Trang 9

kinh, cử Ngài Ưu Ba Li đọc lại các điều răn của Phật để kết tập Luật tạng, tôn giả đại Ca Diếp đứng đầu coi việc giải thích đạo lý trong Kinh, làm thành bộ Luận tạng Gọi chung là Tam Tạng (Tripitaka)

-Một trăm năm sau, trong giáo đoàn có sự tranh luận về cách giữ giới luật và cách hành đạo Các vị trưởng lão Thượng tọa triệu tập cuộc kết tập lần thứ hai ở thành Xá Vệ,

đề cử Thượng tọa Yaca làm Thủ tọa Kết quả phái Thượng toạ trưởng lão vẫn giữ phương thức bảo thủ, phái đại chúng giữ phương thức Tiến Thủ Nhưng cả hai không rời tôn chỉ của Đức Phật

1.3.2 Hai tông phái Phật giáo có trong cả Nam tông và Bắc tông

• Thiền Tông chủ trương “bất lập văn tự”, chỉ cốt “tâm truyền tâm”, thực tướng của

vũ trụ thuộc về trực giác Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất cả sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thực tướng được Phi tọa thiền và trực giác thì không sao biết được thực tướng

1.3.3 Hai tông phái Phật giáo Nam tông

- Câu Xá Tông:

Trang 10

• Do ngài Thế Thân Bồ Tát lấy ý nghĩa trong kinh Đại Tỳ Bà Sa (Mahavibhasa Castra) viết thành bộ Câu Xá Luận, được Ngài Trần Châu dịch rồi truyền sang Trung Hoa rất sớm nhưng sau đó thất truyền Đến khi Ngài Huyền Trang sau chuyến Tây du thỉnh kinh mới đem về dịch lại bộ luật này, rồi đệ tử Ngài là Phổ Quang dựa vào mà làm nên “Câu Xá thuật ký” và Ngài Pháp Bảo làm bộ “Câu Xá luận sớ” thì Câu xá mới thành một tông phái là Tông Câu Xá nhưng chỉ thịnh hành đến cuối thế kỷ thứ

IX thì suy vong và nhường chỗ cho các tông phái Đại thừa

• Câu Xá Tông chia vạn vật ra thành Vô Vi Pháp và Hữu Vi Pháp Vô Vi Pháp chỉ về cảnh giới trừu tượng vô thường không sinh không diệt, tức là lý thể Hữu Vi Pháp chỉ về vạn vật trong thế giới hiện tượng có sinh có diệt

- Thành Thực Tông:

• Tông này đồng thời với Câu Xá Tông, do ngài Ha Lê Bạt Ma (Harivarman) y vào ý nghĩa Bộ Thành Thật Luận mà lập ra vào khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt

• Thành Thực Tông chia thế giới quan ra làm hai môn : Thế giới môn và đệ nhất nghĩa môn

1.3.4 Sáu tông phái Phật giáo Bắc tông

- Pháp Tướng tông:

• Tông này lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc, tại Ấn độ do Ngài Thế Thân phát triển và tại Trung Hoa do Ngài Huyền Trang truyền bá sau chuyến Tây du thỉnh kinh trở về

• Chủ trương vạn Pháp đều do thức biến ra (Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức) Thức có 8: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt

Na Thức Trong 8 thức thì A Lại Gia Thức là căn bản, vì chứa hết thảy Chủng Tử

để sinh khởi nhất thiết chư Pháp

- Tam Luận Tông:

• Về phương diện đạo lý, Tam Luận tông giống như cửa ải muốn tiến bước trên con đường giải thoát phải buông bỏ “Chấp trước”, nếu không muốn bị phát hiện món hàng quốc cấm đó khi qua ải

Trang 11

• Tông phái Phật giáo này khởi phát ở Trung Hoa, do ngài Huệ Văn Thiền Sư đời Trần và đời Tuỳ (vào khoảng thế kỷ thứ 6) theo ý nghĩa bộ Trí Độ Luận tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa luận và lấy Pháp Hoa Kinh làm gốc, nên còn gọi là Pháp Hoa Tông

- Thiên thai: Chủ trương của tông phái Thiên Thai này là xem mọi vật đều bình đẳng, mọi vật đều liên hệ lẫn nhau Tất cả mọi pháp đều trống rỗng, hai mặt của Không đó

là tĩnh (lý) và động (sự) đều cùng lúc tồn tại, xuyên suốt vào nhau, không ngăn ngại; mỗi hiện tượng đều đồng nhất với hiện tượng khác

- Hoa Nghiêm Tông (hay Hiền Thủ tông):

• Tông phái Phật giáo này cũng phát khởi ở Trung Hoa căn cứ ở Hoa Nghiêm Kinh

do Đỗ Thuận và Trí Nghiêm Hoà Thượng ở đời Tuỳ và Đường lập ra, người có công

kế thừa và xiển dương là là Ngài Pháp tạng còn gọi là Hiền Thủ

• Tông này theo chủ trương “Pháp giới duyên khởi” Vạn hữu có tam đối lục tướng là

do thập huyền môn, thập huyền diệu, lý duyên khởi và lục tướng viên dung mà phát sinh lý “Sự sự vô ngại” Đây là cái đặc sắc của giáo lý Hoa Nghiêm Tông

• Theo Tông này thì phân biệt chân vọng dứt trừ điên đảo Để tâm thanh tịnh cùng thực tại Nhất Như là giải thoát

- Mật tông (hay Chân Ngôn Tông):

• Mật Tông là từ gốc Hán dùng để gọi pháp môn bắt nguồn từ sự kết hợp giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Đại thừa, được hình thành vào khoảng thế kỷ 5,6 tại Ấn Độ Mật Tông lại chia thành hai phái: Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim cương thừa (Vajrayàna)

• Tông phái Mật Tông căn cứ ở Đại Nhật Kinh, lấy bí mật Chân Ngôn làm Tông chỉ, nên cũng gọi là Mật Tông Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cương Tát Đỏa, Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không đem qua trung Hoa vào khoảng đời Đường Chân Ngôn Tông chủ trương thuyết Lục đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức Cho lục đại là thực của vũ trụ

Trang 12

- Tịnh Độ Tông: Tông phái Tịnh Độ lấy việc quy y tịnh độ làm mục đích, chuyên trì tụng các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà Tịnh Độ Tông phát khởi

từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong kinh điển ghi các vị Bồ Tát Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân khuyên mọi người nên tu Tịnh Độ Tịnh Độ Tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật, vì ở thế gian phiền não nên cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương Vì tự lực khó đạt nên cầu tha lực Đức Phật A Di Đà Ngày nay Tịnh độ tông là tông phái Phật giáo phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam

1.4 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở một số nước Đông Nam Á 1.4.1 Campuchia

Tại Campuchia, Phật giáo đã xuất hiện vào thế kỷ IV, ngày nay có hơn 95% dân số Campuchia theo Phật giáo (Nam tông) Trong Hiến pháp năm 1953, Phật giáo cũng được chọn làm quốc giáo cho Campuchia Phật giáo truyền vào Campuchia thông qua hai con đường là: các thương nhân theo Ấn Độ giáo truyền vào vương quốc Phù Nam và việc Phật giáo đồng hoá thông qua văn hóa sống của người Khmer trong đế chế Angkor khi Phật giáo nguyên thuỷ của người Môn được người Campuchia tiếp thu Đến thế kỷ VII, vị vua trước đó của Campuchia là một người ủng hộ Hindu giáo và đàn áp Phật giáo, nhưng sang đến thế kỷ IX Phật giáo lại bắt đầu nhận được sự ủng hộ từ các vị vua Vua Jayavarman I cai trị đất nước từ cuối thế kỷ XII đến những năm đầu thế kỷ XIII, ông là người tôn sùng

và ủng hộ đạo Phật rất nhiều Dưới thời cai trị của ông, Phật giáo (Bắc tông) trong một thời gian ngắn đã trở thành tôn giáo có ưu thế vượt trội trong vương quốc, điển hình thông qua việc ông đã cho xây dựng thành phố Angkor (Angkor Thom) mà trong đó lấy ngôi đền Bayon làm trung tâm, ngay giữa đền là một ngọn tháp đồ sộ được tạc hết độc đáo, xung quanh tháp chính là những ngọn tháp nhỏ hơn được tạc với những gương mặt người - những gương mặt này chính là chân dung của những vị vua được xem là những vị “Vua Phật”

Trong những thế kỷ tiếp theo, Phật giáo tiếp tục được người dân Campuchia tin theo, thậm chí vào giữa thế kỷ XIX khi Campuchia trở thành thuộc địa dưới quyền cai trị của thực dân Pháp thì Phật giáo vẫn được các vị vua bảo trợ dù ở mức thấp hơn Trong triều đại vua Jayavarman I trị vì, những tăng sĩ Miến Điện bắt đầu đến giảng dạy Phật giáo

Trang 13

Theravada (Nam tông) cho cộng đồng người Campuchia, khi người Thái xâm lược Campuchia vào thế kỷ XIV cũng đã góp phần truyền bá thêm Phật giáo Theravada tại đất nước này Đến giữa thế kỷ XIV, Phật giáo (Nam tông) đã được người dân Campuchia đón nhận một cách rộng rãi

1.4.2 Lào

Người Lào có nguồn gốc từ biên giới phía Tây Nam của Trung Quốc, từ khi người Nam Chiếu hưng khởi vào đời Đường đến khi Đại Lý bị Mông Cổ tiêu diệt Vùng này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hoá Trung Quốc, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng văn hoá Đông Nam Á Ấn Độ hóa Phật Giáo thịnh hành ở đây trong giai đoạn sơ khởi là loại tín ngưỡng Phật Giáo hỗn hợp giữa văn hoá Trung Quốc lẫn Ấn Độ, đồng thời mang ảnh hưởng tín ngưỡng bản địa Theo tập tục dân gian, người Lào thời cổ thờ phụng thần linh, gia tiên, thờ vong hồn và thế giới thiên nhiên Thời đó, Phật Giáo chỉ là tín ngưỡng của thiểu số Lịch sử Lào ghi chép Phật Giáo du nhập từ đời vua Phà Ngừm (1349) Lãnh thổ của nước Lào trong thời bấy giờ bao gồm toàn bộ Bắc Lào và Trung Lào hiện nay, Chiang Mai của Thái Lan và miền Đông Bắc của Miến Điện, lãnh thổ rộng lớn đã giúp cho Lào trở thành một quốc gia khá hùng mạnh trong thời bấy giờ Sau khi vua Phà Ngừm dựng nước, chế

độ chính trị nơi đây phần nhiểu mô phỏng theo vương triều Khmer của Campuchia, đặt ra quyền trung ương tập quyền Do đó, Phật Giáo của Campuchia cũng bắt đầu du nhập vào Lào Vua Phà Ngừm kết hôn với Kiều Lạc (công chúa Campuchia), công chúa Kiều Lạc là người theo Phật giáo thuần thành Khi sang Lào, bà thấy dân chúng thời đó sùng bái quỷ thần, mê tín dị đoan, thường hay hiến tế bằng phụ nữ, nên bà khuyên nhà vua nên can thiệp

để đưa Phật Giáo vào, để có thể giúp dân chúng thay đổi tín ngưỡng Vua Phà Ngừm đồng thuận với điều đó và bắt đầu tạo nhiều cơ hội cho Phật giáo du nhập vào Lào, dưới sự tác động của vua, Phật giáo Theravada (Nam tông) đã có được vị thế vững vàng tại Lào và được duy trì cho đến nay

1.4.3 Việt Nam

1.4.3.1 Lịch sử

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w