1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môn luật tố tụng hình sự đề số 02 khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

19 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả Trần Hà Anh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật tố tụng hình sự
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 430,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015, có thể thấy, có tất cả 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC

HỌC PHẦN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Đề số 02: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của

bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hìn sự theo yêu cầu của bị hại 1

1 Các trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 1

2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 2

3 Nội dung, hình thức yêu cầu khởi tố 3

4 Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 3

5 Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố, không yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 4

5.1 Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 4

5.2 Không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 4

5.3 Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 6

II Đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 7

1 Những điểm tiến bộ về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 so với Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 7

2 Những điểm hạn chế về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 8

III Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 9

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

PHỤ LỤC 13

Trang 3

BLDS Bộ luật Dân sự

BLHS Bộ luật Hình sự

BLTTHS Bộ luật Tố tụng Hình sự

CQĐT Cơ quan điều tra

HĐXX Hội đồng xét xử

VAHS Vụ án hình sự

VKS Viện Kiểm sát

TNHS Trách nhiệm hình sự

Trang 4

MỞ ĐẦU

Về mặt nguyên tắc, khi xác định có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố VAHS nhằm bảo đảm mọi tội phạm đều bị xử lý kịp thời, buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu TNHS Đây là quyền chủ động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, không phụ thuộc vào bất kì ý chí của chủ thể nào bao gồm cả bị hại hoặc người đại diện của họ1 Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, tội phạm xảy ra không chỉ gây thiệt hại cho bị hại về lợi ích vật chất mà cả về tinh thần Lúc này, việc khởi tố VAHS để truy cứu TNHS người thực hiện tội phạm sẽ không phải là biện pháp tối ưu bởi nó

có thể gây thêm những tổn thất khác cho bị hại Dựa trên thực tế này, pháp luật đã quy định một số trường hợp khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, tạo điều kiện cho bị hại tự do lựa chọn cách giải quyết Bài viết phân tích các quy định của BLTTHS 2015 về khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, từ đó đánh giá và đưa ra ý kiến hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành

NỘI DUNG

I Phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hìn sự theo yêu cầu của bị hại

1 Các trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015, có thể thấy, có tất cả 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại Đó là các tội phạm được quy định tại khoản 1 của các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây xin phép được viết tắt là BLHS 2015)2 Tuy nhiên, mới đây nhất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS 2021 (có hiệu lực ngày 01/12/2021) đã có sự điều chỉnh tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015, trong

đó bỏ đi một trường hợp khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại là đối với Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại khoản 1 Điều 226 Như vậy, hiện nay chỉ còn tất cả 9 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại

Có thể thấy, khi xây dựng các trường hợp chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của

bị hại như đã nêu trên đây, nhà làm luật đã xét các tiêu chí sau3:

Thứ nhất, về loại tội Khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại sẽ chỉ được áp dụng đối

với một số tội nhất định mà hầu hết là các tội phạm ít nghiêm trọng Chỉ có 2 trường hợp phạm tội thuộc tội phạm nghiêm trọng là Tội hiếp dâm tại khoản 1 Điều 141 và Tội cưỡng dâm tại khoản 1 Điều 143 BLHS 2015, đây là các tội phạm xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của bị hại nên cần xem xét, cân nhắc đến ý chí, nguyện vọng của bị hại trong việc xử lý người phạm tội

1 Mai Thanh Hiếu, Phạm Thái, Không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu, Tạp chí khoa học pháp lý số 03/2018, tr.25

2 Xem cụ thể các tội tại Phụ lục 2

3 Hoàng Thị Vân Anh, Khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học, 2018, tr.36-37

Trang 5

Thứ hai, về tính nguy hiểm cho xã hội Khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại hiện

đang được áp dụng với những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội không cao Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thuộc các tội danh tại chương XIV – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người trong BLHS, cụ thể hơn khách thể bị xâm phạm ở đây đều là những quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến bản thân bị hại

Thứ ba, về hậu quả của tội phạm Những loại tội phạm được áp dụng khởi tố VAHS

theo yêu cầu của bị hại đều là những tội phạm gây thiệt hại không lớn

Bên cạnh đó, như đã phân tích, việc khởi tố VAHS trong những trường hợp đã nêu trên có thể gây ra những thiệt hại, bất lợi khác cho bị hại như làm tổn thương nghiêm trọng hơn về tâm lý khi phải trải qua quá trình tố tụng, làm lộ bí mật đời tư,…Do vậy nên bị hại là người được pháp luật cho phép lựa chọn cách thức xử lý đối với người thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại cho mình

2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 nêu ra các chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố bao

gồm “…bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm

về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết”.

Căn cứ vào điều luật trên, các chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố VAHS bao gồm:

Thứ nhất, bị hại Khoản 1 Điều 62 BLTTHS 2015 chỉ ra bị hại có thể bao gồm “…cá

nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản” và “…cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra” Tuy nhiên trong các tội chỉ được khởi tố

theo yêu cầu của bị hại, cùng với sự điều chỉnh của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTHS 2021, hiện nay cả 9 tội đã nêu tại phần 1 đều là xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, ngay từ tên của điều luật hoặc trong mô tả của cấu thành tội phạm thì đối tượng bị thiệt

hại được biểu đạt bằng các các từ như “người khác”, “nạn nhân”, “người lệ thuộc”, “người

đang ở trong tình trạng quẫn bách” Có thể đưa ra kết luận bị hại có quyền yêu cầu khởi tố

VAHS luôn là cá nhân, quyền yêu cầu khởi tố là quyền đặc trưng được pháp luật quy định cho họ Bị hại là chủ thể tham gia tố tụng với địa vị pháp lý đặc biệt, được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp xuất phát từ việc họ là người trực tiếp bị thiệt hại do tội phạm gây ra Chính vì vậy, quyền yêu cầu khởi tố VAHS đương nhiên và trước hết phải thuộc về bị hại4

Thứ hai, người đại diện của bị hại Người đại diện của bị hại sẽ được yêu cầu khởi tố

VAHS trong 3 trường hợp sau (1) Bị hại là người dưới 18 tuổi, (2) Bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, (3) Bị hại đã chết Người đại diện của bị hại trong trường hợp

bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất sẽ được xác định theo quy định của BLDS 2015, đối với bị hại đã chết thì người đại diện của họ sẽ được xác định theo hàng thừa kế tại khoản 1 Điều 651 BLDS 2015

4 Nguyễn Thanh Tùng, Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, 2019, tr.32

Trang 6

Có thể xác định, yêu cầu của người đại diện có giá trị như yêu cầu của bị hại Hay nói cách khác, yêu cầu khởi tố VAHS của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại Việc người đại diện của bị hại yêu cầu khởi tố VAHS không loại trừ việc bị hại tự mình yêu cầu khởi tố VAHS5

3 Nội dung, hình thức yêu cầu khởi tố

BLTTHS 2015 chưa có quy định về nội dung yêu cầu khởi tố VAHS Có thể hiểu, nội dung yêu cầu khởi tố là yêu cầu truy cứu TNHS người phạm tội, xử lý sự việc có dấu hiệu tội phạm Nội dung cũng có thể chứa đựng thông tin về tội phạm, khi đó yêu cầu khởi

tố có thể đồng thời là tố giác tội phạm, căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm

Hình thức yêu cầu khởi tố VAHS hiện được quy định tại khoản 5 Điều 7 Thông tư 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS Yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện sẽ được thể hiện bằng 2 hình thức (1) Đơn yêu cầu có chữ kí hoặc điểm chỉ, (2) Trình bày trực tiếp và CQĐT, VKS lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố và yêu cầu người bị hại hoặc đại diện kí hoặc điểm chỉ vào biên bản Biên bản do VKS lập cần phải được chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền để xem xét việc khởi tố VAHS và đưa vào hồ sơ vụ án

4 Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Theo Điều 153 BLTTHS 2015, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố VAHS bao gồm CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, HĐXX Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ quan này đều có thẩm quyền khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại Dùng phương pháp loại trừ, các cơ quan sau sẽ không có thẩm quyền khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại:

Thứ nhất, cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân,

CQĐT của VKSNDTC sẽ chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án đối với một số tội phạm nhất định, trong đó không bao gồm các tội phạm thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý của mình6

Thứ hai, HĐXX cũng không phải cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án theo yêu cầu

của bị hại bởi đây không phải trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 153 BLTTHS

2015 Đối với VKS, cơ quan này sẽ chỉ được ra quyết định khởi tố VAHS trong 3 trường hợp tại khoản 3 Điều 153 BLTTHS 2015, trong đó sẽ chỉ có một trường hợp duy nhất khởi

tố theo yêu cầu của bị hại mà VKS được ra quyết định khởi tố, đó là tại điểm a khoản 3, khi VKS huỷ bỏ quyết định không khởi tố VAHS của CQĐT Tức là nếu CQĐT ra quyết định không khởi tố VAHS mặc dù có yêu cầu của bị hại và có dấu hiệu tội phạm, VKS sẽ có

5 Phạm Thái, Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại, Tạp chí luật học số 09/2016, tr.49

6 Xem thêm tại Luật Tổ chức Cơ quan điều tra năm 2015

Trang 7

quyền huỷ bỏ quyết định không khởi tố VAHS của CQĐT và tự mình ra quyết định khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại

Như vậy, thông qua việc loại trừ, có thể xác định cơ quan có thẩm quyền khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại sẽ là Cơ quan cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân và VKS trong trường hợp huỷ bỏ quyết định không khởi tố VAHS của CQĐT Các trường hợp tội phạm khởi tố theo yêu cầu của bị hại đều ở chương XIV BLHS 2015, đây cũng là các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của hai CQĐT đã nêu trên7 Điều này cũng phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 7 Thông tư 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP

5 Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố, không yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu khởi

tố vụ án hình sự

5.1 Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Yêu cầu khởi tố chỉ là điều kiện chứ không phải căn cứ khởi tố VAHS Theo điều 143 BLTTHS 2015 thì căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án là xác định có dấu hiệu của tội phạm Muốn khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại cần có đồng thời hai điều kiện là có yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện và có dấu hiệu của tội phạm Khi có đủ 2 điều kiện trên, có quan có thẩm quyền khởi tố sẽ ra quyết định khởi tố VAHS, sau đó vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung, việc tạm đình chỉ hay đình chỉ sẽ được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền xác định có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ mà không phụ thuộc vào ý chí bị hại

Việc vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại còn dẫn đến một hậu quả pháp lý nữa là người yêu cầu sẽ trình bày lời buộc tội tại phiên toà, quy định này được cụ thể hoá tại khoản 3 Điều 62 BLTTHS 2015 Đồng thời khoản 4 Điều 320 BLTTHS 2015 còn chỉ ra thời điểm trình bày, bổ sung ý kiến của bị hại hoặc người đại diện của họ là sau khi kiểm sát viên trình bày luận tội

5.2 Không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc không yêu cầu khởi tố chính là căn cứ để ra các quyết định sau tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng: quyết định không khởi tố VAHS, quyết định huỷ quyết định khởi tố VAHS, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án

5.2.1 Không khởi tố vụ án hình sự

Một trong những căn cứ không khởi tố VAHS được quy định tại khoản 8 BLTTHS

2015 (sửa đổi bổ sung năm 2021) là “Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135,

136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố” Đối với các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu, nếu bị hại

hoặc đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không được

7 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, 2021, tr.274

Trang 8

khởi tố vụ án Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố VAHS theo khoản 1 Điều 158 thuộc

về người có quyền khởi tố vụ án

Không yêu cầu khởi tố sẽ được thể hiện dưới hai hình thức là hành động hoặc không hành động Bị hại hoặc người đại diện của họ có thể có đơn hoặc trình bày trực tiếp với CQĐT yêu cầu không khởi tố VAHS và CQĐT nếu xét thấy đủ căn cứ thì ra quyết định không khởi tố VAHS theo khoản 1 điều 158 BLTTHS 2015 Nếu bị hại hoặc người đại diện không thể hiện yêu cầu không khởi tố VAHS dưới bất kì hình thức nào, khi hết thời hạn điều tra, xác minh nguồn tin về tội phạm theo Điều 147 BLTTHS 2015, CQĐT sẽ mặc nhiên coi là không có yêu cầu khởi tố và khi đó mới được ra quyết định không khởi tố VAHS

5.2.2 Huỷ quyết định khởi tố vụ án hình sự và đình chỉ điều tra

Khoản 1 Điều 158 quy định khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố đối với các trường hợp khởi tố VAHS theo yêu cầu, nếu đã ra quyết định khởi tố thì

cơ quan đã ra quyết định sẽ phải ra quyết định huỷ quyết định khởi tố VAHS

Nếu CQĐT đã và đang tiến hành các hoạt động điều tra thì điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015 cũng chỉ ra rằng cơ quan điều tra sẽ phải ra quyết định đình chỉ điều tra nếu

có căn cứ tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố

5.2.3 Đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố

Việc bị hại và đại diện của họ không yêu cầu khởi tố VAHS đối với tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu cũng là một trong các căn cứ để VKS ra quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố theo khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015

5.2.4 Giai đoạn xét xử

Hiện nay BLTTHS 2015 chưa quy định nếu tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của họ không yêu cầu khởi tố thì phải đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Cụ thể hướng giải quyết khi thấy tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của họ không yêu cầu khởi tố trong các trường hợp này như sau:

Trường hợp 1: khi chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà sơ thẩm, toà án sẽ không được

ra quyết định đình chỉ vụ án mà phải ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung theo điểm d khoản 1 Điều 280 hoặc điểm c khoản 6 Điều 326 BLTTHS 2015 (căn cứ được

sử dụng ở đây là việc khởi tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng)8 Sau khi thụ lý lại hồ

sơ vụ án, VKS mới ra quyết định đình chỉ vụ án theo khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015

Trường hợp 2: tại phiên toà phúc thẩm, toà án sẽ không được huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án theo khoản 2 Điều 359 BLTTHS 2015 mà sẽ phải huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại theo điểm c khoản 1 Điều 358 BLTTHS 2015 “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục

8 Điểm d khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/ TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành

tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Trang 9

tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố” Sau khi thụ lý lại hồ sơ vụ án, CQĐT mới ra quyết định đình chỉ điều tra theo điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015

Trường hợp 3: tại phiên toà giám đốc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm sẽ huỷ bản án

đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án theo Điều 392 BLTTHS 2015

5.3 Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS 2015, chủ thể có quyền rút yêu cầu khởi tố VAHS

được xác định là “người đã yêu cầu khởi tố” Như vậy, chỉ có người yêu cầu khởi tố VAHS

mới là người có thể rút yêu cầu này, người này có thể là bị hại hoặc người đại diện của bị hại Điều này cũng phù hợp với bản chất của yêu cầu khởi tố giữa các chủ thể là độc lập với nhau, nên chỉ có người yêu cầu mới có thể rút yêu cầu khởi tố của mình Bên cạnh đó, hành

vi rút yêu cầu khởi tố VAHS còn phải là hành vi tự nguyện Điều này thể hiện qua quy định

“có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” BLTTHS 2015 hiện không quy

định thời điểm rút yêu cầu khởi tố VAHS, hay nói cách khác, chủ thể yêu cầu có thể rút yêu cầu vào bất kì giai đoạn nào trong quá trình tố tụng

Hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố VAHS như sau:

Thứ nhất, vụ án phải được đình chỉ Khoản 2 Điều 155 BLTTHS 2015 chỉ ra rằng nếu

người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trên cơ sở tự nguyện thì “vụ án phải được đình chỉ” Cụ thể hơn ở từng giai đoạn tố tụng như sau: nếu rút yêu cầu khởi tố trong giai đoạn điều tra thì CQĐT sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra theo điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015 Nếu rút yêu cầu trong giai đoạn truy tố thì VKS sẽ quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án theo khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015 Còn nếu rút yêu cầu trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm thì thẩm phán chủ toạ phiên toà sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án theo điểm a khoản 1 điều 282 BLTTHS 2015 Đối với rút yêu cầu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, toà án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn cụ thể tại Công văn 254/TANDTC-PC như sau: nếu rút yêu cầu tại phiên toà sơ thẩm thì thì HĐXX hoặc Thẩm phán chủ toạ phiên toà xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 299 BLTTHS 2015 ra quyết định đình chỉ vụ án Nếu rút yêu cầu sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm và vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì Toà án hướng dẫn người rút yêu cầu làm đơn kháng cáo để Toà án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm Nếu có kháng cáo, kháng nghị mà tại giai đoạn xét xử phúc thẩm người đã yêu cầu khởi tố VAHS rút yêu cầu thì HĐXX hoặc Thẩm phán chủ toạ phiên toà xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 BLTTHS 2015 huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

Thứ hai, người đã rút yêu cầu khởi tố không có quyền yêu cầu lại Đây là quy định

tại khoản 3 Điều 155 BLTTHS 2015, nếu bị hại hoặc người đại diện của họ rút yêu cầu khởi

Trang 10

tố trên cơ sở tự nguyện thì họ sẽ không có quyền yêu cầu lại nữa Quy định này nhằm không kéo dài quá trình tố tụng với vụ án, bảo đảm hành vi phạm tội không bị giải quyết 2 lần

Thứ ba, chịu án phí Khoản 3 Điều 136 quy định trách nhiệm chi trả án phí trong

trường hợp người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu một cách tự nguyện và vụ án bị đình chỉ thì bị hại sẽ là chủ thể phải chịu án phí

II Đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình

sự theo yêu cầu của bị hại

1 Những điểm tiến bộ về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 so với Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003

Thứ nhất, loại bỏ một số trường hợp chỉ khởi tố VAHS theo yêu cầu Khoản 1 Điều

105 BLTTHS 2003 quy định tất cả 11 trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại Tuy nhiên, BLTTHS 2015 đã bãi bỏ một tội được khởi tố theo yêu cầu bị hại là Tội xâm phạm quyền tác giả Việc BLTTHS 2015 bãi bỏ điều luật này đã mang lại một tín hiệu tích cực, dựa trên thực trạng quyền tác giả đang bị xâm phạm ngày càng nhiều và nghiêm trọng, hành

vi xâm phạm ngày càng phức tạp, thậm chí việc xâm phạm diễn ra nhưng tác giả vẫn không

hề hay biết Do đó, đối tượng là quyền tác giả cần được bảo vệ mà không cần phải có yêu cầu của bị hại Hiện nay Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTHS 2021 cũng đã tiếp tục bãi bỏ một tội được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại khoản 1 Điều 226 BLHS 2015 Việc bãi bỏ này nhằm tương thích với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP) về nội dung liên quan đến việc cho phép cơ quan có thẩm quyền có thể khởi tố VAHS về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mà không cần có yêu cầu của bị hại Đây là quá trình nội luật hoá cần thiết khi Việt Nam tham gia Hiệp định CPTPP9

Thứ hai, bổ sung thêm một chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố VAHS là người đại

diện của bị hại đã chết Theo BLTTHS 2003, đối với người đại diện của bị hại, khoản 1 Điều 105 chỉ quy định hai đối tượng là đại diện của bị hại là người chưa thành niên và người có nhược điểm về tâm thần và thể chất BLTTHS 2015 đã thể hiện sự nhân văn, tạo

cơ hội cho những người thân của bị hại đòi lại công bằng cho người đã mất khi quy định thêm người đại diện của bị hại đã chết cũng được quyền yêu cầu khởi tố VAHS

Thứ ba, bổ sung căn cứ không khởi tố VAHS tại khoản 8 Điều 157 BLTTHS 2015.

Nếu trước đây, việc người có quyền yêu cầu không yêu cầu khởi tố VAHS đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu không được quy định là một trong các căn cứ không được khởi tố VAHS tại Điều 107 BLTTHS 2003, gây khó khăn trong quá trình tố tụng và ra các quyết định thì BLTTHS 2015 đã sửa đổi, bổ sung kịp thời thiếu sót này Việc bổ sung này nhằm thống nhất các quy định pháp luật Hơn nữa, như đã phân tích, việc không yêu

9 Lê Sơn, Sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Báo chính phủ, http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx? distributionid=450264 , truy cập lần cuối ngày 21/12/2021.

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w