Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trong những trường đứng đầu trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, nên việc phát triển trường trở thành trường đại học đa ngành về kinh tế, q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-o0o -BÀI TẬP LỚN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: Quan điểm toàn diện và việc vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình xây dựng, phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân hiện nay.
Sinh viên thực hiện : Lê Huyền Chi MSSV : 11217929 Lớp học phần : 13
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Thuân
Thanh Hóa, tháng 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU……….4
B NỘI DUNG……… 5
I Lý luận chung về quan điểm toàn diện……… 5
1 Cơ sở lý luận của quan điểm tòan diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến…….5
1.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến……… ………5
1.2 Các tính chất của mối liên hệ……… 6
2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mác – Lênin………7
2.1 Nội dung của quan điểm toàn diện……… 7
2.2 Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người……….9
II Vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình xây dựng, phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân……… 9
1 Giới thiệu chung về trường Đại học Kinh tế Quốc dân………9
2 Những vấn đề cần quan tâm để xây dựng và phát triền trường Đại học Kinh tế Quốc dân……….…10
2.1 Chương trình đào tạo……… 10
2.2 Đội ngũ giảng viên……… 12
2.3 Chất lượng đầu vào của sinh viên……… 13
2.4 Cơ sở vật chất……… 13
2.5 Hợp tác quốc tế………14
2.6 Nguồn ngân sách và phát triển cơ chế tự chủ……… 15
3 Những thành tựu và các mặt hạn chế trong quá trinh xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân………16
3.1 Thành tựu……….16
3.2 Hạn chế……….19
4 Phương hướng giải pháp để trường tiếp tục phát triển trong giai đoạn mới.….20 4.1 Đào tạo………21
Trang 34.2 Nghiên cứu khoa học……… …21
4.3 Đội ngũ giảng viên……… 22
4.4 Chất lượng đầu vào sinh viên……….23
4.5 Cơ sở vật chất……… 23
4.6 Hệ thống quản trị………23
4.7 Nguồn ngân sách……… 24
C KẾT LUẬN………25
D TÀI LIỆU THAM KHẢO………25
Trang 5A LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, Đảng và đất nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, mở cửa hội nhập quốc tế Quốc gia muốn phát triển một cách bền vững thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượnglao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo Vì vậy đây là nguồn nhân lực rất quantrọng, cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trong những trường đứng đầu trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, nên việc phát triển trường trở thành trường đại học đa ngành về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế… nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phục vụ có hiệu quả nhu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế – xã hội Việt Nam thì trường Đại học Kinh tế Quốc dân phải có phương hướng, chính sách, quan điểm phù hợp và phải đúng trên quan điểm toàn diện để đổi mới Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến, là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật Mác - Lênin, là kim chỉ nam giúp chúng ta tránh những nhận định tiêu cực, lệch lạc giản đơn về sự vật, hiện tượng Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật chỉ rõ tất cả các sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ, vậy nên nguyên lý này có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển trường
Vì vậy, em quyết định chọn đề tài “Quan điểm toàn diện và sự vận dụng vào quá trình
xây dựng và phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân” để áp dụng vào công cuộc
xây dựng và phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân theo cách nhìn dưới sự vận dụng của quan điểm toàn diện để nhận xét các vấn đề, các thành tựu, hạn chế và các phương hướng giải quyết cho Nhà trường
Dù đã rất cố gắng hoàn thành bài tiểu luận nhưng trong quá trình viết không thể tránh khỏi sai sót nên em kính mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của thầy để bài làm thêm phần hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6B NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN:
Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật được xâydựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng - cái chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung - hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng - hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng - chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xâydựng được 3 quan điểm: Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch
sử - cụ thể Trong đó, quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vậthiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú Do đó, quan điểm toàn diện có ý nghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống
1 Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:
1.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến:
Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với nhau, qua đó
thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mình là những đối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối trượng, các thuộc tính của nó thay đổi, và trong một số trường hợp có thể làm nó biến mất, chuyển hóa thành đối tượng khác Sự tồn tạo của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tính của nó phụ thuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng, đối tượng có liên hệ với các tối tượng khác Vậy mối liên hệ là gì?
“Mối liên hệ” là một phạm trù của triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ,
quy định và các yếu tố ảnh hưởng lần nhau với các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Cũng có thể quan hệ dùng để chỉu khái niệm “quan hệ”, nhưng khái niệm quan hệ rông hơn “liên hệ” Liên hệ chỉ quan hệ giữa hai đối tượng nếu thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối ttượng kia thay đổi Chẳng
Trang 7hạn, vận động của vật thể có liê hệ hữu cơ với khối lượng của nó, bởi sự thay đổi vận tốc vận động tất yếu làm khối lượng của nó thay đổi; các sinh vâth đều có liên hệ với môi trường bên ngoài: những thay đổi của môi trường làm tất yếu làm cơ thể có sự thay đổi tương ứng; công cụ lao động có mối liên hệ với đối tượng lao động: những thay đổi của công cụ lao động gây ra những thay đổi xác định trong đối tượng lao động mà các công cụ đó tác động nên, đến lượt mình biến đổi của đối tượng lao động tất yếu gây ra những biến đổi ở các công cụ lao động…
1.2 Các tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyên hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Tính phổ biến của mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật,
hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quátrình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của
nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Tính đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể
hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bênngoài, trực tiếp và crián tiếp, cơ bản và không cơ bản… chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật đó; đồng thời, mỗi mối liên hệ đó lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…
1.3 Bài học phương pháp luận rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Bài học phương pháp luận của nguyên lí mối liên hệ phổ biến: Quan điểm toàn diện
Trang 8Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống
nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó và
nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới
có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên
hệ, quan hệ tác động qua lại của các đối tượng
Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi
trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt
này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản và ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép
vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
2 Quan điểm toàn diện
2.1 Nội dung của quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng.Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu
tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp)
Đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải
nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó"
Trang 9Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét
nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũngchỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được
sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "Cần thiết phải xem xét tất cả mọi
mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó
Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và pháttriển của sự vật hay hiện tượng đó Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhấtvới cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng
Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là
nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản
là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau,
Trang 10do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không
cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung
và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật hiện tượng
2.2 Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người
Khi chúng ta nắm chắc quan điểm toàn diện, xem xét sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp ta có nhận thức sâu sắc, toàn diện về sự vật và hiện tượng ấy Nhờ vậy tránh được quan điểm phiến diện về sự vật và hiện tượng mà chúng ta nghiên cứu Từ đó có thể kết luận về bản chất qui luật chung của chúng để đề ra những biện pháp kế hoạch có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của bản thân Tuy nhiên, trong nhận thức
và hành động chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ trong điều kiện xác định
II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN:
1 Giới thiệu chung về trường Đại học Kinh tế Quốc dân:
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (National Economics University) được thành lập theo
Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956, với tên gọi ban đầu là Trường Kinh tếTài chính Trải qua 65 năm xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân luôn luôn giữ vững vị trí là trường trọng điểm quốc gia, trường đầu ngành trong khối cáctrường đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở Việt Nam Với sứ mệnh cungcấp cho nền kinh tế đất nước nguồn nhân lực có chất lượng cao Đại học Kinh tế Quốc dân luôn là trường đại học tiên phong của Việt Nam trong lĩnh vực phát triển giáo dục
và nghiên cứu khoa học
Sau hơn 20 năm đổi mới, Đại học Kinh tế Quốc dân đã xây dựng được một đội ngũ giảng viên có trình độ và kinh nghiệm và từng bước hướng đến trường khu vực và quốc
tế Với đội ngũ hơn 1.200 cán bộ, giảng viên, Nhà trường có 50 chuyên ngành đào tạo ở
Trang 11bậc đại học và hơn 20 chuyên ngành đào tạo ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, với quy mô đào tạo khoảng 50.000 sinh viên.
Tính đến nay, Trường đã đào tạo nhiều thế hệ những cán bộ quản lý năng động, chính quy để thích nghi với nên kinh tế và có khả năng tiếp với những cải tiến công nghệ Trong những cựu sinh viên của Đại học Kinh tế Quốc dân, rất nhiều người đang làm và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Quốc hội, Chính phủ, Đảng và các doanh nghiệp
Chính sách xã hội- kinh tế của Đảng, nhà nước và các địa phương các ngành và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp được trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế của Trường phục vụ đào tạo hoạch định Nhiều công trình cứu về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam được nhà trường triển khai và được chính phủ giao nhiều nhiều đề tài nghiên cứu lớn và quan trọng Trường còn hợp tác nghiên cứu với các trường đại học khác, việnnghiên cứu và các tổ chức quốc tế của các nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc,
Bungari, Ba Lan, Sec và Slovakia, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Thuỵ Điển, Hà Lan, Đức, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan, Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước vàcác tổ chức quốc tế như tổ chức SIDA (Thuỵ Điển), UNFPA, CIDA (Canada), JICA (Nhật Bản), Chính phủ Hà Lan, ODA (Vương quốc Anh), UNDP, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Hanns Seidel (Đức) để tiến hành nghiên cứu, phát triển chương trình giảng đạy và cung cấp các chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ quốc tế cũng như các chương trình bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản trị
2 Những vấn đề cần quan tâm để xây dựng và phát triền trường Đại học Kinh tế Quốc dân:
2.1 Chương trình đào tạo:
a) Phương pháp giảng dạy:
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân ứng dụng phương pháp giảng dạy trực tiếp trên giảng đường là chủ yếu Tuy nhiên, trong thời đại 4.0 như hiện nay đòi hỏi ta phải đổi mới mạnh mẽ công nghệ và phương thức đào tạo theo hướng tăng cường ứng dụng công
Trang 12nghệ thông tin trong giảng dạy trên quan điểm lấy người học làm trung tâm Bảo đảm người học có quyền lựa chọn cao nhất đối với các chương trình và nội dung đào tạo Trường cũng đã ứng dụng Microsoft Team và trang web LMS được sử dụng trong giảngdạy online cho thấy hiệu quả trong đợt dịch COVID-19
b) Giáo trình giảng dạy:
Đi đôi với phương pháp giảng dạy luôn được đổi mới thì giáo trình giảng dạy được thay đổi sao cho phù hợp với phương pháp giảng dạy, theo kịp thời đại cũng như phù hợp vớinhu cầu của sinh viên và giảng viên
Trong những năm gần đây, một trong những vấn đề bức xúc của ngành giáo dục đại học
ở nước ta là đào tạo chưa gắn liền với nhu cầu của xã hội, trong đó đặc biệt là nhu cầu của các doanh nghiệp Phần lớn sinh viên tốt nghiệp khó tìm được việc làm hoặc công việc không phù hợp với chuyên môn được đào tạo Các doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian, chi phí để đào tạo lại thì mới sử dụng được
Hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đào tạo nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta Do đó, sự hiểu biết lẫn nhau để thực hiện nguyên tắc cùng có lợi còn rất hạn chế Các doanh nghiệp là tổ chức lợi nhuận nên họ rất quan tâm đến chi phí
và lợi ích Họ không thể bỏ thời gian, tiền bạc để hợp tác với đại học nếu thấy không đem lại lợi ích thiết thực gì Lợi ích lớn nhất mang lại từ hợp tác với đại học là có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Thay vì phải tìm kiếmlao động trên thị trường tự do, mất thời gian và chi phí để đào tạo lại, các doanh nghiệp
“đặt hàng” với đại học để đào tạo ra những cán bộ, chuyên gia đáp ứng được nhu cầu phát triển của mình Như vậy, đại học đem lại lợi ích rất lớn, tạo nguồn tài sản quí giá trong tương lai cho các doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhận được lợi ích
từ các đại học trong việc tiếp cận thực với các giải pháp phát triển doanh nghiệp, phát minh, sáng chế và các dịch vụ tư vấn
Do đó, đại học gắn kết đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên Sự gắn kết này đã và đang được các đại học và doanh nghiệp ở nhiều nước khai thác triệt để
Trang 13Thêm vào đó, trong thời gian gần đây, mục tiêu giáo dục đại học ở nước ta có sự thay đổi, như việc xác định quan niệm, mục đích của giáo dục đại học là đào tạo nhân tài (Luật Giáo dục Việt Nam năm 2012) Trong thực tế, các trường đại học ở Việt Nam hiệnnay, nhiều lắm cũng mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học sinh viên, học viên haynghiên cứu sinh ) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ
và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học) Nhìn tổng thể, phần lớn nội dung và chương trình giáo dục các cấp hiện nay ở nước ta đều được biên soạn hoặc chịu ảnh hưởng bởi nội dung, chương trình giáo dục của các nước xả hội chủ nghĩa trước đây, đặc biệt nền giáo dục Xô-viết Trong một thời gian dài, những nội dung và chương trình giáo dục này khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc
tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục đại học nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế Nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học
c) Hoạt động ngoại khóa:
Ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên ngành cho sinh viên trong quá trình học tập,
trường cũng nên giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng mềm – yếu tố quyết định giúp các
sinh viên có thể lập nghiệp trong tương lai
Với hơn 43 CLB, ban, đoàn, đội khác nhau là nơi phát triển các kĩ năng mềm cho sinh viên với nhiều hoạt động giao lưu, ngoại khóa, các buổi thuyết trình Với phòng hội trường lớn, trang thiết bị hiện đại, thiết kể trang trọng, đẹp mắt thu hút các chương trình,cuộc thi tạo cơ hội cho sinh viên và giảng viên giao lưu học hỏi
2.2 Đội ngũ giảng viên:
Ông cha ta từ xưa có nói “ Không thày đố mày làm nên” Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định đến chất lượng của bất cứ trường Đại học nào, họ là người trực tiếp thực hiện
và quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong