1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề bài từ thực trạng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt ở việt nam

36 19 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề bài từ thực trạng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tài Chính
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại thuế này chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng, đối tượng chịu thuế chủ yếu là những hàng hoá, dịch vụ có tính ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LÀM BÀI TẬP NHÓM

Tổng số sinh viên của nhóm: 06

Tên bài tập: Từ thực trạng pháp luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt hiện nay, cho biết các

đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về Thuế Tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam

Môn học: Luật Tài chính Việt Nam

Nội dung: Xác định mức độ tham gia của sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm được thể hiện bằng bảng dưới đây:

Mức độ đánh giá Chữ ký

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát về Thuế Tiêu thụ đặc biệt 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm 1

3 Vai trò 1

II Thực trạng pháp luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam 2

1 Phân tích các quy định của pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt 2

1.1 Về đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế 2

1.1.1 Đối tượng chịu thuế 2

1.1.2 Đối tượng không chịu thuế 3

1.2 Về chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt 4

1.3 Về căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế 4

1.3.1 Căn cứ tính thuế 4

1.3.1.1 Giá tính thuế 4

1.3.1.2 Thuế suất 6

1.3.2 Phương pháp tính thuế 6

1.4 Về hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế 6

1.4.1 Quy định về hoàn thuế 6

1.4.2 Khấu trừ thuế 7

1.4.3 Giảm thuế 8

2 Đánh giá các quy định của pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt 8

2.1 Những điểm tiến bộ 8

2.2 Những điểm hạn chế 9

2.2.1 Về đối tượng chịu thuế 9

Trang 4

2.2.3 Về quy định giảm thuế 12

III Hoàn thiện các quy định pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam 13

1 Về đối tượng chịu thuế 13

2 Về thuế suất 14

3 Về quy định giảm thuế 15

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

PHỤ LỤC 18

Phụ lục 1 Danh mục đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 18

Phụ lục 2 Quy định cụ thể về giá tính thuế đối với hàng hoá và dịch vụ tại Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 21

Phụ lục 3 Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt theo pháp luật Việt Nam hiện hành 25

Phụ lục 4 Quy định về khấu trừ thuế tại Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 29

Trang 5

NSNN Ngân sách nhà nước

Trang 6

MỞ ĐẦU

Thuế TTĐB ở Việt Nam được đưa vào áp dụng từ năm 1990 Trải qua hơn 20 năm sửa đổi và hoàn thiện, cùng với những thành quả đạt được, pháp luật về thuế TTĐB vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Những hạn chế, bất cập này dẫn tới khó khăn không nhỏ cho

cả cơ quan thuế và người nộp thuế, làm giảm ý nghĩa của thuế TTĐB, khiến việc áp dụng loại thuế này chưa hoàn toàn đạt được mục tiêu điều chỉnh mà sắc thuế này hướng đến

Nhận thức được vấn đề, nhóm chúng em xin phép được lựa chọn đề bài số 14 “Từ thực

trạng pháp luật Thuế TTĐB hiện nay, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về Thuế TTĐB ở Việt Nam” làm đề bài tập nhóm

“Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho NSNN” 1

2 Đặc điểm

Về bản chất, thuế TTĐB là một loại thuế gián thu Tuy nhiên, loại thuế này còn một

số đặc trưng giúp phân biệt với các loại thuế gián thu khác như sau:

Thứ nhất, thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp Loại thuế này chỉ tập trung điều tiết

một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng, đối tượng chịu thuế chủ yếu là những hàng hoá, dịch vụ có tính chất đặc biệt

Thứ hai, thuế suất thuế TTĐB có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ tuỳ

theo quan điểm của nhà làm luật ở mỗi nước và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác

Thứ ba, thuế TTĐB thường chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu

Đây là điểm khác biệt của loại thuế này với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng – đánh

ở mỗi khâu trong lưu thông

3 Vai trò

Thứ nhất, thuế TTĐB là một trong những công cụ giúp nhà nước thực hiện chính

sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, từ đó góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá, dịch vụ

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2020, tr.109

Trang 7

Thứ hai, thuế TTĐB là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân

cư, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội

Thứ ba, thuế TTĐB là công cụ quan trọng được sử dụng nhằm ổn định và tăng

cường nguồn thu cho NSNN

II Thực trạng pháp luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam

1 Phân tích các quy định của pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt

Hiện nay, thuế TTĐB được điều chỉnh bởi các văn bản bao gồm Luật thuế TTĐB

2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, năm 2016 và năm 2022 (sau đây xin phép được gọi tắt là Luật thuế TTĐB); văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế TTĐB2 (sau đây xin phép được gọi tắt là Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB) và các văn bản khác có liên quan

1.1 Về đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế

1.1.1 Đối tượng chịu thuế

Theo pháp luật hiện hành, đối tượng chịu thuế TTĐB hiện được quy định tại Điều 2 Luật Thuế TTĐB, hướng dẫn cụ thể hơn tại Điều 2 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB, bao gồm 10 nhóm hàng hoá và 6 nhóm dịch vụ:

Thứ nhất, 10 nhóm hàng hoá bao gồm (1) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác

từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; (2) Rượu; (3) Bia; (4) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; (5) Xe mô tô hai bánh, xe

mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; (6) Tàu bay, du thuyền (loại sử dụng cho mục đích dân dụng); (7) Xăng các loại; (8) Điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống3; (9) Bài lá và (10) Vàng mã, hàng mã (không bao gồm hàng mã là đồ chơi trẻ em,

đồ dùng dạy học) Và theo khoản 2 Điều 2 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB thì những hàng hoá chịu thuế TTĐB phải là sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh, không bao gồm bộ linh kiện để lắp ráp các hàng hoá

Thứ hai, 6 nhóm dịch vụ bao gồm (1) Kinh doanh vũ trường; (2) Kinh doanh

massage, karaoke; (3) Kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy jackpot, máy slot và các loại máy tương tự; (4) Kinh doanh đặt cược (bao gồm đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật); (5)

2 Nghị định 108/2015/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi nghị định số 100/2016/NĐ-CP và nghị định 14/2019/NĐ-CP

3 Theo khoản 2 Điều 2 văn bản hợp nhất số 12/VBHN-BTC Thông tư hướng dẫn thi hành nghị định số 108/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế TTĐB (hợp nhất các thông tư số 195/2015/TT-BTC, thông tư 130/2016/TT- BTC, thông tư 20/2017/TT-BTC) thì trường hợp cơ sở sản xuất bán hoặc cơ sở nhập khẩu nhập tách riêng từng bộ phận là cục nóng hoặc cục lạnh thì hàng hóa bán ra hoặc nhập khẩu (cục nóng, cục lạnh) vẫn thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB như đối với sản phẩm hoàn chỉnh (máy điều hòa nhiệt độ hoàn chỉnh).

Trang 8

Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; (6) Kinh doanh xổ số

Có thể đưa ra một số phân tích sơ bộ về quy định đối tượng chịu thuế TTĐB theo pháp luật hiện hành như sau:

Thứ nhất, việc quy định thuế TTĐB như trên đã phù hợp với mục tiêu điều chỉnh

của luật thuế TTĐB là nhằm điều chỉnh những loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt có một số tính chất như gía bán cao, có ảnh hưởng không tốt đến môi trường hoặc ảnh hưởng xấu sức khoẻ người tiêu dùng Có thể thấy các hàng hoá, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB đều

là những hàng hoá, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng do có hại cho sức khoẻ hoặc ảnh hưởng xấu đến môi trường sống (thuốc lá, rượu, bia, bài lá), gây ô nhiễm môi trường và là tài nguyên không thể tái tạo (xăng), có tính chất mê tín, dị đoan (vàng mã, hàng mã), hàng hoá, dịch vụ xa xỉ cần điều tiết thu nhập (ô tô, du thuyền, tàu bay, golf,…), các dịch vụ mà quá trình sử dụng dễ nảy sinh các tệ nạn xã hội (massage, vũ trường, karaoke)

Thứ hai, các quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB hiện nay của Việt Nam tương

đối thống nhất với thông lệ các nước Hầu hết các nước trên thế giới đánh thuế TTĐB với các nhóm hàng hoá, dịch vụ phổ biến như đồ uống có cồn và thuốc lá do sự nguy hại đến sức khoẻ con người mà hàng hoá này mang lại; xe có động cơ mà chủ yếu là ô tô với mục tiêu bảo vệ môi trường; nhiên liệu như xăng và dầu cùng mục đích bảo vệ môi trường cũng như đây là loại năng lượng tiêu hao, không có khả năng tái tạo nên cần sử dụng tiết kiệm, hợp lý; các dịch vụ casino, hộp đêm, cá cược4

1.1.2 Đối tượng không chịu thuế

10 nhóm hàng hoá được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Thuế TTĐB thuộc đối tượng chịu thuế mà nhóm đã nêu ở trên sẽ không thuộc diện chịu thuế TTĐB trong các trường hợp theo Điều 3 Luật thuế TTĐB, được hướng dẫn cụ thể hơn tại Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB và thông tư hướng dẫn thi hành nghị định này5 Về cơ bản thì những hàng hoá không phải chịu thuế TTĐB đều để nhằm những mục đích không trực tiếp tiêu thụ, sử dụng trong nước hoặc do tính chất đặc biệt của việc tiêu thụ hàng hoá đó, hay nói cách khác Nhà nước không đặt ra mục đích điều tiết tiêu dùng, ví dụ như hàng hoá được sản xuất trong nước nhưng để xuất khẩu, hàng hoá nhập khẩu nhưng là hàng viện trợ, quà tặng,…hoặc vì mục đích ngoại giao, những loại xe ô tô sử dụng

để cứu thương, chở phạm nhân, ô tô tang lễ,…Nhìn chung, quy định về đối tượng không thuộc diện chịu thuế TTĐB đã tương đối phù hợp với chính sách thuế ở Việt Nam

4 Xem thêm tại: Phanthavong Johnnie, Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2016, tr.28-30

5 Xem cụ thể tại phụ lục 1

Trang 9

1.2 Về chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Chủ thể có nghĩa vụ phải nộp thuế TTĐB được quy định tại Điều 4 Luật thuế TTĐB

và được cụ thể hoá tại Điều 4 Thông tư hướng dẫn thi hành nghị định số 108/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế TTĐB Đó là những tổ chức,

cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB:

Thứ nhất, các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật

Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã

Thứ hai, các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác

Thứ ba, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp

tác kinh doanh theo Luật đầu tư; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam

Thứ tư, cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác

có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu

mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế TTĐB Như vậy, nhìn chung Luật thuế TTĐB đã có những quy định rất rõ ràng

và cụ thể về người nộp thuế TTĐB, từ đó dễ dàng hơn trong hoạt động quản lý thuế

1.3 Về căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế

1.3.1 Căn cứ tính thuế

Điều 5 Luật thuế TTĐB quy định “Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng

hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất”

Thứ nhất, đối với hàng hoá Nhìn chung, cách xác định giá tính thuế TTĐB sẽ không

phân biệt dựa vào xuất xứ hàng hoá là sản xuất trong nước hay nhập khẩu như luật cũ mà theo luật mới sửa đổi, việc xác định giá đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ được chia thành hai nhóm (1) Hàng hoá nhập khẩu do cơ sở kinh doanh nhập khẩu bán ra; (2) Hàng hoá nhập khẩu tại cửa khẩu Nhóm hàng hoá nhập khẩu do cơ sở kinh doanh nhập khẩu bán ra sẽ được gộp chung vào một nhóm với hàng hoá sản xuất trong nước và theo công thức sau:

Trang 10

1 + Thuế suất thuế TTĐB

Trong đó, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng Còn đối với nhóm hàng hoá nhập khẩu tại cửa khẩu, giá tính thuế TTĐB sẽ được xác định là giá tính thuế nhập khẩu (được xác định theo các quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) cộng với thuế nhập khẩu, nếu là hàng hoá được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế sẽ không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm Đặc biệt, giá tính thuế sẽ không loại trừ giá trị vỏ bao bì, vỏ chai

Bên cạnh đó, pháp luật còn dự liệu những trường hợp đặc biệt khác mà việc tính giá trị hàng hoá có thể bị ảnh hưởng và quy định cách tính giá trị hàng hoá cụ thể:

Một là, đối với hàng hoá gia công thì giá tính thuế sẽ là giá của hàng hoá bán ra của

cơ sở giao gia công hoặc giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm bán hàng

Hai là, đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, trả chậm thì giá tính thuế sẽ

là giá bán theo phương thức bán trả tiền một lần của hàng hoá đó không bao gồm khoản lãi trả góp, trả chậm

Ba là, đối với hàng hóa sản xuất dưới hình thức hợp tác kinh doanh giữa cơ sở sản

xuất và cơ sở sử dụng hoặc sở hữu thương hiệu (nhãn hiệu) hàng hóa, công nghệ sản xuất thì giá tính thuế TTĐB là giá bán ra của cơ sở sử dụng hoặc sở hữu thương hiệu hàng hóa, công nghệ sản xuất Đây là quy định mới của Luật thuế TTĐB hiện hành

Thứ hai, đối với dịch vụ Khoản 5 Điều 6 Luật thuế TTĐB quy định chung giá tính

thuế đối với dịch vụ sẽ là giá cung ứng dịch vụ của cơ sở kinh doanh Luật cũng cụ thể hoá với từng loại hình dịch vụ6 tuỳ theo đặc trưng của các loại hình này, ví dụ như nhóm các dịch

vụ có khả năng đem lại nguồn thu cho khách hàng, nhóm các dịch vụ dễ có khả năng nảy sinh tệ nạn xã hội Việc quy định thuế còn phụ thuộc vào tính chất của các loại dịch vụ này, việc tính thuế liệu có kèm theo doanh thu của các dịch vụ ăn uống hay dịch vụ khác đi kèm,…

Ngoài ra, đối với loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho thì giá tính thuế TTĐB là là giá tính thuế TTĐB của hàng hóa, dịch

vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này Giá tính thuế sẽ được tính bằng Đồng Việt Nam, nếu người nộp thuế có doanh thu là ngoại tệ thì sẽ phải quy đổi ra Đồng Việt Nam Khoản 12 Điều 5 Thông tư hướng dẫn thi hành nghị định số 108/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế TTĐB quy định thời điểm xác định thuế TTĐB là thời điểm phát sinh doanh thu, đối với hàng hoá

6 Phụ lục 2

Trang 11

là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua; đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ và đều không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền; đối với hàng hoá nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan

1.3.1.2 Thuế suất

Theo pháp luật Việt Nam, hiện nay thuế suất thuế TTĐB được quy định theo phương pháp tỉ lệ Điều 7 Luật thuế TTĐB quy định cụ thể thuế suất đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ thông qua biểu thuế TTĐB7 Nhằm mục tiêu thực hiện cam kết quốc tế theo lộ trình hội nhập, thuế suất thuế TTĐB đã được sửa đổi theo hướng giảm dần và từng bước xoá bỏ phân biệt thuế suất áp dụng đối với hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu

Mức thuế suất được quy định từ thấp đến cao phụ thuộc vào mục đích điều tiết tiêu dùng của nhà nước đối với từng hàng hoá, dịch vụ cụ thể Đối với hàng hoá, mức thuế suất thấp nhất được quy định trong biểu thuế là xe ô tô điện chạy bằng pin với mức thuế suất dao động từ 1 – 3% (đến 28/02/2027, sau đó là 4 - 11%) l tuỳ thuộc vào loại xe, nhằm mục đích khuyến khích sử dụng xe điện để giảm thiếu khí thải ra môi trường Mức thuế suất cao nhất

là xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống mà không phải chạy bằng điện, năng lượng sinh học hay xăng kết hợp năng lượng điện, dung tích xi lanh trên 6000 cm3 với thuế suất là 150% Một số hàng hoá có thuế suất cao do việc tiêu thụ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ ví dụ như thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá với thuế suất 75%, rượu trên

20 độ và bia có thuế suất 65%, hay hàng hoá mà việc tiêu thụ gây ảnh hưởng đến môi trường,

mê tín dị đoan như vàng mã, hàng mã có thuế suất 70% Đối với dịch vụ, mức thuế suất dao động từ 15% đến 40% tuỳ thuộc vào từng loại dịch vụ cũng như việc sử dụng dịch vụ này liệu có khả năng làm phát sinh tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống

1.3.2 Phương pháp tính thuế

Theo Điều 5 Luật thuế TTĐB thì việc tính thuế sẽ theo công thức sau:

Số thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x Thuế suất 1.4 Về hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế

1.4.1 Quy định về hoàn thuế

Hoàn thuế là việc trả lại cho người nộp thuế một phần hoặc toàn bộ số thuế mà người nộp thuế đã nộp vào NSNN Đối với thuế TTĐB, việc hoàn thuế được quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật thuế TTĐB và được hướng dẫn chi tiết hơn tại Điều 6 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB

Thứ nhất, hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu Bao gồm (1) Hàng nhập khẩu đã nộp

7 Phụ lục 3

Trang 12

thuế TTĐB nhưng còn lưu kho bãi tại cửa khẩu, đang chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, được tái xuất ra nước ngoài; (2) Hàng nhập khẩu đã nộp thuế TTĐB để giao, bán hàng cho nước ngoài thông qua các đại lý tại Việt Nam; hàng hóa nhập khẩu để bán cho các phương tiện của các hãng nước ngoài trên các tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc các phương tiện của Việt Nam trên các tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật; (3) Hàng tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất khi tái xuất khẩu được hoàn lại số thuế TTĐB đã nộp tương ứng với số hàng thực tế tái xuất khẩu; (4) Hàng nhập khẩu đã nộp thuế TTĐB nhưng tái xuất khẩu ra nước ngoài được hoàn lại số thuế TTĐB đã nộp đối với số hàng xuất trả lại nước ngoài; (5) Hàng tạm nhập khẩu để dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm hoặc để phục vụ công việc khác trong thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật và đã nộp thuế TTĐB, khi tái xuất khẩu được hoàn thuế

Trường hợp hàng tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu, nếu đã thực tái xuất khẩu trong thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì không phải nộp thuế TTĐB tương ứng với số hàng thực tế đã tái xuất

Thứ hai, hàng hoá là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu

Hàng hoá này được hoàn lại số thuế TTĐB đã nộp tương ứng với số nguyên liệu dùng để sản xuất hàng hóa thực tế xuất khẩu

Thứ ba, quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển

đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động có số thuế nộp thừa

Thứ tư, các trường hợp (1) Hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

theo quy định của pháp luật; (2) Hoàn thuế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (3) Hoàn thuế trong trường hợp số tiền thuế TTĐB đã nộp lớn hơn số tiền thuế TTĐB phải nộp theo quy định của pháp luật

Các trường hợp hoàn thuế đã nêu trên đều đối với các loại hàng hoá được nhập khẩu nhưng không nhằm mục đích tiêu thụ trong nước, hay do nộp thừa thuế, hoặc các trường hợp khác được dự liệu để phù hợp với thực tế phát sinh như theo điều ước quốc tế,…Các quy định về hoàn thuế theo nhóm đã khá rõ ràng, chi tiết, cụ thể, phù hợp với mục tiêu điều chỉnh của luật thuế TTĐB nói riêng và những nguyên tắc chung đối với thuế Thủ tục, hồ

sơ, trình tự, thẩm quyền giải quyết hoàn thuế TTĐB được thực hiện theo khoản 3 Điều 6 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB

1.4.2 Khấu trừ thuế

Khoản 2 Điều 8 Luật thuế TTĐB quy định về khấu trừ thuế, để có thể được khấu trừ thuế thì người nộp thuế phải đáp ứng được hai điều kiện (1) Sản xuất hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB bằng chính nguyên liệu chịu thuế TTĐB và (2) Có chứng từ hợp pháp Lúc này, số thuế TTĐB phải nộp ở khâu sản xuất sẽ là số thuế được xác định sau khi đã khấu trừ

Trang 13

số thuế TTĐB đã nộp đối với phần nguyên liệu dùng vào sản xuất ra hàng hoá chịu thuế Còn

số thuế được khấu trừ sẽ tương ứng với số thuế TTĐB của nguyên liệu, công thức như sau:

Số thuế TTĐB

Số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB được bán ra trong kỳ

-

Số thuế TTĐB đã nộp đối với hàng hóa, nguyên liệu ở khâu nhập khẩu hoặc số thuế TTĐB đã trả ở khâu nguyên liệu mua vào tương ứng với số hàng hóa

bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có)

2 Đánh giá các quy định của pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt

2.1 Những điểm tiến bộ

Tổng kết gần 20 năm thực hiện Luật TTĐB và các Luật sửa đổi, bổ sung đã cho thấy

về cơ bản, thuế TTĐB đã đạt được mục tiêu đề ra khi ban hành luật là “để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho NSNN một cách hợp

lý, và tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ” Thuế TTĐB đã góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng theo định hướng của Nhà nước Đối tượng chịu thuế chủ yếu là những hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng, quy định này là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta cũng như thông lệ quốc tế Có thể khái quát, pháp luật thuế TTĐB đã đạt được một số thành tựu sau:

Thứ nhất, Nhà nước đã có những thay đổi phù hợp với các yếu tố khách quan, cân

bằng lợi ích giữa lợi ích của Nhà nước và cá nhân, tạo khung pháp lý cơ bản để việc thi thành thuế TTĐB được diễn ra thuận lợi, không gây bất lợi hoặc gây những cách hiểu khác nhau dẫn tới cách áp dụng khác nhau

Thứ hai, thuế TTĐB mặc dù có diện đối tượng chịu thuế khá hẹp nhưng lại có thuế

suất cao hơn các loại thuế gián thu khác nên đã đem lại cho NSNN nguồn thu không nhỏ

Thứ ba, thuế TTĐB đã đáp ứng yêu cầu phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế thông qua việc quy định lộ trình từng bước điều chỉnh thuế TTĐB đối với một số

8 Phụ lục 4

Trang 14

mặt hàng như ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; áp dụng một mức thuế suất đối với mặt hàng thuốc lá… Ngoài ra, chính sách miễn, giảm thuế TTĐB được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi, sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước,… đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xết lại sản xuất kinh doanh trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành công nghiệp mới

2.2 Những điểm hạn chế

2.2.1 Về đối tượng chịu thuế

Thứ nhất, một số quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB hiện nay theo nhóm đã

không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện tại, hoặc việc quy định đánh thuế TTĐB với đối tượng này chưa cho thấy được sự hiệu quả Cụ thể hơn, đó là các đối tượng sau:

Một là, đối với xăng Theo điểm g khoản 1 Điều 2 Luật thuế TTĐB quy định xăng

các loại là hàng hoá chịu thuế TTĐB với mức thuế suất 10% Vào thời điểm hiện nay, giá xăng liên tục tăng cao do tình hình thế giới biến động và việc phải gánh nhiều loại thuế, phí đã khiến giá xăng bị đẩy lên cao, trong đó có thuế TTĐB Tại thời điểm hiện tại, giá xăng RON 95-III ở vùng 1 là 29.190 đồng/1 lít, vùng 2 là 29.770 đồng/1 lít; giá xăng E5 RON 92-II ở vùng 1 là 28.330 đồng/1 lít, vùng 2 là 28.890 đồng/1 lít (cập nhật đến ngày 31/03/2022) Ngoài ra, bản chất của thuế TTĐB là thu trên các mặt hàng xa xỉ hoặc không khuyến khích sử dụng, tiêu dùng hoặc có ảnh hưởng tới sức khoẻ, ảnh hưởng tới môi trường Trong khi đó, xăng có tác động xấu tới môi trường nhưng mặt hàng này đã chịu thuế bảo vệ môi trường Hơn thế nữa, xăng là loại nhiên liệu thiết yếu phục vụ cho nhu cầu lưu thông, sản xuất và được sử dụng phổ biến Giá xăng tăng cao gây áp lực lớn không chỉ đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn đến chi phí tiêu dùng của người dân, gây tăng trưởng xấu đến kinh tế Chính vì thế mà, theo quan điểm của nhóm, việc thu thuế TTĐB đối với một mặt hàng thiết yếu như xăng là không hợp lý

Hai là, đối với vàng mã, hàng mã Trên thực tế, người dân đốt vàng mã, hàng mã rất

nhiều, đặc biệt vào những dịp lễ tết, cúng giỗ,…gây ô nhiễm môi trường Việc Luật thuế TTĐB đánh thuế đối với đối tượng này là hợp lý đối với mục tiêu điều chỉnh Tuy nhiên, có một vấn

đề phát sinh là hầu hết vàng mã, hàng mã được tiêu thụ đều được sản xuất trong các hộ gia đình hoặc các làng nghề, theo thống kê, chỉ có khoảng 40 cơ sở sản xuất vàng mã, hàng mã là

có đăng ký9 Thuế TTĐB được thu ở nơi sản xuất, hầu hết những nơi như làng nghề, hộ gia đình sản xuất vàng mã, hàng mã đều khó và hầu như không thể thu được thuế TTĐB và cũng không thể quản lý hiệu quả Chính vì vậy, việc đánh thuế TTĐB đối với hàng hoá này cần

9 Trần Thị Hoa, Nguyễn Thị Khánh Huyền, Sản xuất và đốt vàng mã nhìn từ pháp luật Bảo vệ môi trường, Tạp chí Môi trường và

đô thị, 2018, https://www.moitruongvadothi.vn/san-xuat-va-dot-vang-ma-nhin-tu-phap-luat-bao-ve-moi-truong-a23967.html , truy cập lần cuối ngày 10/04/2022

Trang 15

được cân nhắc lại xem đã đạt được mục đích điều tiết tiêu dùng hay chưa

Ba là, đối với một số hình thức đặc biệt của dịch vụ massage Sở dĩ đây là dịch vụ nằm

trong danh mục đối tượng chịu thuế TTĐB bởi đây là loại dịch vụ dễ nảy sinh các tệ nạn, không thiết yếu và cũng cần điều tiết tiêu dùng Tuy nhiên, nhiều cơ sở massage hiện nay thường tuyển người khiếm thị về làm với mục đích tạo việc làm, tạo thu nhập cho họ và thu nhập của họ cũng ở mức thấp Những cơ sở này cũng ít có khả năng nảy sinh các tệ nạn giống các cơ sở massage khác, giá cung ứng dịch vụ cũng không cao Việc đánh thuế TTĐB đối với những cơ sở này là không cần thiết bởi có thể ảnh hưởng đến thu nhập của những người khiếm thị làm việc ở đó và không phù hợp với mục tiêu điều chỉnh của luật thuế TTĐB

Thứ hai, đối tượng chịu thuế theo Luật thuế TTĐB hiện nay còn hẹp, một số đối

tượng dù thoả mãn các nguyên tắc điều chỉnh của luật thuế TTĐB nhưng hiện vẫn chưa được bổ sung vào danh mục đối tượng thuộc diện chịu thuế:

Một là, đồ uống có đường Dù là loại đồ uống có đường có ga hay không có ga thì

đều là đồ uống có hại cho sức khoẻ cộng đồng, làm gia tăng tình trạng béo phì hoặc bị bệnh tiểu đường, tim mạch, gút,…10 Năm 2016, WHO đã đề nghị các quốc gia nên tăng thuế đối với đồ uống có đường sao cho có thể đạt được sự tăng giá bán ở mức 20% và hiện có khoảng 36 quốc gia đánh thuế TTĐB đối với đồ uống có đường, một số quốc gia điển hình

có thể kể đến như Anh, Pháp, Hy Lạp, Hà Lan, Phần Lan, các quốc gia châu Á bao gồm Thái Lan, Campuchia, Lào,…11 Theo một nghiên cứu của WHO, yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến lượng mua và tiêu thụ đồ uống có đường là giá cả chứ không phải khẩu vị hoặc các yếu tố gây nghiện, do đó nếu tăng giá bán sẽ làm giảm tiêu dùng12 Như vậy, thuế sẽ là một công cụ hữu hiệu để điều tiết lượng tiêu dùng đồ uống có đường Xét xu hướng tiêu thụ đồ uống có đường ở Việt Nam, dù mức tiêu thụ mặt hàng này trên bình quân đầu người thấp hơn so với các nước trên thế giới nhưng những năm qua việc tiêu thụ đồ uống có đường đã có sự gia tăng mạnh Theo Statista, mức tiêu thụ nước giải khát bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 là 35,31 lít/người, năm 2016 tăng lên 46,59 lít và năm 2020 tăng lên tới 50,09 lít Trung bình một người Việt Nam tiêu thụ khoảng 46,5g đường tự do/ngày, gần bằng mức giới hạn tối đa (50g/ngày) và cao gần gấp đôi so với mức khuyến cáo dưới 25g/ngày của Tổ chức Y tế thế giới13 Vì những lý do trên, việc loại hàng hoá này

10 Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Tác hại của đồ uống có đường đối với sức khỏe, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 09/11/2021,

http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210909 , truy cập lần cuối ngày 10/04/2022

11 World Health Organization (2018), “Tax on sugary drinks will make children and the budget healthier”,

https://www.who.int/malaysia/news/commentaries/detail/tax-on-sugary-drinks-will-make-children-and-the-budget-healthier , xem thêm tại Phanthavong Johnnie, Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc

sĩ luật học, Hà Nội, 2016, tr.72

12 World Health Organization (2016), Global report on diabetes, tr.38

13 World Health Organisation Guideline: Sugars Intake for Adults and Children 2015 Available online: https://www.who.int/publications/i/item/9789241549028; https://www.who.int/publications/i/item/9789241549028 và https://ww w.who.int/news/item/04-03-2015-who-calls-on-countries-to-reduce-sugars-intake-among-adults-and-children

Trang 16

chưa được đánh thuế TTĐB nhằm điều tiết tiêu dùng là một thiếu sót

Hai là, một số mặt hàng cao cấp như túi xách, đồng hồ, nước hoa, trang sức giá trị

Xã hội đang phát triển và đời sống người dân ngày càng được nâng cao, một bộ phận dân cư

có thu nhập rất cao cũng có nhu cầu sử dụng, sưu tầm những mặt hàng có giá thành cao và không thiết yếu Ví dụ như đối với mặt hàng đồng hồ, hiện một số nhãn hàng đã có đại diện bán hàng chính thức tại Việt Nam như Rolex đều có giá thành sản phẩm khá cao, dao động

từ vài chục triệu đến vài tỉ Hay như mặt hàng túi xách, các loại túi xách cao cấp thuộc các nhãn hàng Louis Vuiton, Hermes, Chanel, Dior đều có giá thành khá cao và hướng tới một

bộ phận nhỏ những người dân có điều kiện tốt sử dụng Có thể thấy, các mặt hàng này hoàn toàn có thể là đối tượng chịu thuế TTĐB, phù hợp với mục tiêu điều tiết tiêu dùng của loại thuế này nhưng hiện vẫn chưa được đưa vào danh sách đối tượng chịu thuế

Ba là, dịch vụ trò chơi điện tử trực tuyến Theo khoản 9 Điều 3 Nghị định

72/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên

mạng thì “Dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là dịch vụ trò chơi điện tử) là việc

cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi các trò chơi điện tử trên mạng” Cùng với sự phát triển của internet, dịch vụ trò chơi điện tử trực tuyến cũng đang

ngày càng được ưa chuộng, được nhiều doanh nghiệp cung cấp và một lượng không nhỏ người dân sử dụng, trong đó đa số là học sinh, sinh viên Đây là dịch vụ có thể gây ảnh hưởng đến giới trẻ về các phương diện như học tập, sinh hoạt và nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác và cũng có thể gây nghiện, đồng thời cũng không phải một dịch vụ được coi là thiết yếu của con người Mặt khác, với hình thức là trò chơi giải trí thì về mặt quản lý, nhà nước bên cạnh việc có những quy định quản lý về nội dung của trò chơi thì cũng cần có những chính sách khác để góp phần định hướng tiêu dùng Cũng như trò chơi điện tử có thưởng, dịch vụ trò chơi điện tử trực tuyến hoàn toàn có thể là đối tượng phải chịu thuế TTĐB, tuy nhiên vẫn chưa được xem xét đưa vào danh sách đối tượng chịu thuế

Bốn là, dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ Giá mỗi lần sử dụng dịch vụ này là không hề

nhỏ, bên cạnh việc phẫu thật thẩm mỹ để khắc phục các dị tật bẩm sinh, thì hiện nay, hầu hết các dịch vụ thẩm mỹ đều hướng đến đối tượng sử dụng là những người có thu nhập khá trong

xã hội, mong muốn được cải thiện bề ngoài của mình Như vậy, trừ các dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ nêu trên thì dịch vụ này cũng không phải dịch vụ thiết yếu đối với đời sống con người Như vậy việc đánh thuế TTĐB đối với dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ là hoàn toàn hợp

lý với mục tiêu điều chỉnh của sắc thuế này

2.2.2 Về thuế suất

Hiện nay, thuế suất được áp dụng ở biểu thuế TTĐB tại Việt Nam đều là thuế suất

tỷ lệ Tức là ngoài thuế suất thì số tiền thuế phải nộp còn phụ thuộc vào giá tính thuế đối

Trang 17

với đơn vị hàng hoá Điều đó khiến nảy sinh một vấn đề là nếu giá tính thuế đủ thấp, tác động của thuế TTĐB đối với giá bán hàng hoá sẽ là không đủ để thay đổi hành vi xã hội, không đạt được mục đích điều chỉnh của loại thuế này Ngoài ra, thuế suất tỷ lệ còn có khuynh hướng điều tiết ngược, tức là khuyến khích việc sản xuất các loại hàng hoá có giá trị thấp, gây độc hại cho sức khoẻ nhiều hơn, nhất là những loại hàng hoá có tính chất gây nghiện như rượu, bia14 Vì vậy nên đối với một số loại mặt hàng, thuế suất tỷ lệ chưa cho thấy được sự hiệu quả đối với điều tiết tiêu dùng

Đồng thời, mức thuế suất hiện đang áp dụng đối với các mặt hàng có hại cho sức khoẻ như thuốc lá, rượu, bia theo nhóm là chưa đủ hiệu quả để hạn chế tiêu dùng Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế thế giới (WTO) và Ngân hàng thế giới thì mức thuế suất thuế TTĐB đối với hàng thuốc lá, rượu bia của Việt Nam đang ở mức thấp, cần phải tăng thuế suất đối với những mặt hàng này Việt Nam thuộc nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất trên thế giới Mặc dù Việt Nam đã ký kết và tham gia Công ước Khung về Kiểm soát Thuốc lá từ ngày 01/01/2005; đã ban hành quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng, nhưng nhìn chung tỷ lệ người hút thuốc lá trên tổng số dân vẫn còn cao và người hút thuốc

lá phân bố ở tất cả các độ tuổi khác nhau Một trong các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ người hút thuốc lá còn cao là do khả năng dễ tiếp cận với thuốc lá và do giá bán lẻ thuốc lá còn thấp Giá bán lẻ thuốc lá thấp là do thuế TTĐB chưa cao Đối với mặt hàng thuốc lá, thuế suất thuế TTĐB hiện hành là 75% tính trên giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng và chưa

có thuế TTĐB Với việc áp dụng mức thuế suất này thì tỷ lệ thuế trong giá bán lẻ chỉ chiếm khoảng 36% giá bán lẻ thuốc lá, trong khi trung bình của nhiều nước trên thế giới là 56%, thấp hơn so với nhiều nước ở khu vực ASEAN15 Vì những lý do trên nên cần có một cách thức quy định thuế suất phù hợp hơn đối với các loại hàng hoá này

2.2.3 Về quy định giảm thuế

Điều 9 Luật thuế TTĐB hiện hành quy định việc giảm thuế cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong trường hợp người nộp thuế sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế TTĐB gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ Dù nêu ra trường hợp giảm thuế do gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ nhưng Luật thuế TTĐB và các văn bản hướng dẫn không

có quy định cụ thể về mức độ thiệt hại, hay định nghĩa thế nào là tai nạn bất ngờ Điều này gây khó khăn và thiếu đồng bộ khi áp dụng trên thực tiễn, tạo cơ hội cho các chủ thể trốn đóng thuế Hơn nữa, xét về bản chất, thuế TTĐB là thuế gián thu Hay nói cách khác, chi

14 Trần Vũ Hải, Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống – thực tế áp dụng và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,

2019, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210272 , truy cập lần cuối ngày 10/04/2022

15 Nguyễn Thị Thanh Hoài, Chu Văn Hùng, Hoàn thiện chính sách thuế TTĐB nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, Tạp chí Tài

chính, 2021, va-tieu-dung-330948.html , truy cập ngày 30/03/2022

Trang 18

https://tapchitaichinh.vn/co-che-chinh-sach/hoan-thien-chinh-sach-thue-tieu-thu-dac-biet-nham-huong-dan-san-xuat-phí thuế sẽ cấu thành giá bán hàng hoá, dịch vụ chứ không liên quan đến thu nhập của người nộp thuế Vì vậy, việc mà người nộp thuế bị thiệt hại, ảnh hưởng đến thu nhập do gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ sẽ không liên quan đến nghĩa vụ thuế TTĐB Xét bản chất của thuế TTĐB thì chỉ những hàng hoá chịu loại thuế này được bán ra mới phát sinh nghĩa vụ thuế, vì vậy nên nếu được giảm thuế thì sẽ không công bằng với những hàng hoá tương tự do những cơ sở sản xuất khác bán ra Bên cạnh đó, chi phí thuế TTĐB, như

đã trình bày, hoàn toàn không liên quan đến thu nhập của người nộp thuế nên việc miễn, giảm loại thuế này với lý do gặp khó khăn là không hợp lý Trường hợp người nộp thuế thực sự gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ, nếu có ưu đãi thì hình thức miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo nhóm là hợp lý hơn

III Hoàn thiện các quy định pháp luật về Thuế Tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam

1 Về đối tượng chịu thuế

Như đã trình bày ở phần hạn chế, đối tượng chịu thuế TTĐB theo pháp luật hiện nay

đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với thực tiễn, một số mặt hàng hiện không còn phù hợp để được quy định là đối tượng chịu sắc thuế này, trong khi đó một số loại hàng hoá, dịch vụ khác mặc dù thoả mãn mục tiêu điều chỉnh của thuế TTĐB nhưng hiện vẫn chưa được quy định là đối tượng chịu thuế TTĐB Từ thực trạng này, nhóm đề xuất một số kiến nghị sau nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đối tượng chịu thuế TTĐB như sau:

Thứ nhất, cân nhắc loại bỏ các hàng hoá sau khỏi danh mục đối tượng chịu thuế

TTĐB hoặc có phương án quản lý hiệu quả hơn:

Một là, đối với xăng Như đã trình bày, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì

xăng hiện đã là một loại hàng hoá thiết yếu với người dân, không còn là mặt hàng xa xỉ cần điều tiết tiêu dùng Hơn nữa, với lí do bảo vệ môi trường, hiện xăng cũng đã chịu thuế bảo vệ môi trường nên việc đánh thuế TTĐB với xăng đã không còn phù hơp với mục tiêu điều chỉnh của loại thuế này, không chỉ vậy còn đẩy giá xăng lên cao và người tiêu dùng chính là người chịu ảnh hưởng Vì vậy nên nhóm đề xuất giảm dần và tiến tới xoá bỏ thuế TTĐB đối với xăng, nếu e ngại việc tiêu thụ xăng gây ảnh hưởng đến môi trường thì nên xem xét tăng thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng này Như vậy vừa đảm bảo mục tiêu giảm ô nhiễm, vừa phù hợp với mục đích của từng loại thuế

Hai là, vàng mã, hàng mã Việc đánh thuế TTĐB với loại mặt hàng này chưa cho

thấy được sự hiệu quả mặc dù đây là đối tượng hoàn toàn phù hợp với mục đích điều chỉnh của thuế TTĐB Vì vậy nhóm đề xuất xem xét có phương pháp quản lý chặt chẽ hơn đối với các cơ sở sản xuất vàng mã, hàng mã nhỏ lẻ để việc đánh thuế đối với loại hàng hoá này được hiệu quả hơn

Ba là, dịch vụ massage được cung cấp bởi các cơ sở có nhân viên là những người

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w