Khi rung, nhấn, bàn tay được nâng lên mềm mại, ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển từ dây nọ sang dây kia Kỹ thuật: - Ngón rung: Là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC FPT CẦN THƠ
TIỂU LUẬN MÔN ĐÀN NGUYỆT
Nhạc cụ dân tộc truyền thống Việt Nam
Họ và tên: Huỳnh Thị Cẩm Vân
Trang 2a/ Cấu tạo đàn tranh bao gồm:
Dù được biến tấu, cải tiến thành 16 dây hay 19 dây, đàn tranh có dạng hình hộp dài với phần khung đàn tranh thiết kế hình thang có chiều dài dao động
Trang 3 Ngựa đàn (còn có tên gọi khác là con nhạn) được đặt ở giữa đàn có tác dụng gác dây có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh
Dây đàn ngày xưa thường sử dụng dây tơ, ngày nay được làm bằng kim loại, kích cỡ dây khác nhau
Khi biểu diễn, nghệ nhân đeo 3 ngón móng gẫy vào 3 ngón cái, trỏ, giữa của tay phải để gảy Móng gảy làm bằng chất liệu như kim loại, đồi mồi hoặc sừng
( Nguồn ảnh: bloghocpiano )
b/ Cách sử dụng đàn:
Tư thế ngồi
Vị trí ngồi là điều quan trọng đầu tiên mà chúng tôi muốn đề cập đến, vì đây chính
là một kỹ thuật thường cho là khá đơn giản nhưng lại phải có những quy tắc nhất định Do đó:
Các bạn nên ngồi trên ghế cao vừa phải (hai chân phải chạm đất), hai cánh tay mở
ra vừa phải (từ vai xuống khuỷu tay đến bàn tay), không nên giang rộng như "đại bàng vỗ cánh" vì như vậy là sai tư thế sẽ dễ bị mỏi dẫn tới việc không thể đàn được
Với đàn tranh, bàn tay phải được coi là nơi “đẻ” ra âm thanh, bàn tay trái là nơi
“nuôi dưỡng” âm thanh Do đó, việc nắm vững kỹ thuật bàn tay phải và bàn tay trái là điều quan trọng với người chơi đàn tranh
Trang 4
c/ Các kỹ thuật:
Kỹ thuật bàn tay phải:
Trước đây thường dùng 2 ngón gẩy, ngày nay phổ biến là 3 ngón, cá biệt sử dụng
4 hoặc 5 ngón Đàn được gẩy bằng móng đồi mồi ở miền Bắc và móng inox ở miền Nam
Tuy nhiên cách gảy 3 ngón là cách gẩy thông dụng nhất là ngón cái (số 1), ngón trỏ (số 2) và ngón giữa (số 3) Với những cách gảy cơ bản: liền bậc, cách bậc, gảy
đi lên và đi xuống liền bậc hay cách bậc
Tư thế: Bàn tay phải nâng lên, ngón tay khum lại, thả lỏng, ngón áp út tì nhẹ lên cầu đàn Khi đánh những dây đàn thấp, cổ tay tròn lại, hạ dần về phía trước đàn Khi đánh những dây cao, cố hạ dần theo chiều cong của cầu đàn, cánh tay cũng hạ khép dần lại (tránh không đưa cánh tay ra phía ngoài) Ba ngón tay gảy mềm mại, từng ngón thả lỏng này nhẹ nhàng nâng lên hay hạ xuống gảy vào dây theo chiều cong tự nhiên của bàn tay, tránh gãy ngón, móc dây
Kỹ thuật:
- Ngón Á: Là một lối gảy rất phổ biến của Ðàn Tranh, đây là cách gảy lướt trên
hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầu hay cuối câu nhạc
- Á xuống: Theo lối cổ truyền, Á xuống là gảy liền các âm liền bậc, từ một âm cao xuống các âm thấp, tức là sử dụng ngón cái của tay phải lướt nhanh và đều qua các hàng dây, từ cao xuống thấp
- Á lên: Là kỹ thuật lướt qua hàng dây, nhưng vuốt bằng ngón 2 hoặc ngón 3 từ một âm thấp lên các âm cao
- Á vòng: Kết hợp Á lên và Á xuống, Á vòng thường chuẩn bị cho mở đầu hoặc kết thúc một câu nhạc, có trường hợp nó được sử dụng để tả cảnh sóng nước, gió thổi, mưa rơi và có thể sử dụng ngón Á vòng liên tiếp với nhiều âm hơn
- Song thanh: 2 nốt cùng phát ra một lúc, song thanh truyền thống chỉ dùng quãng 8, các nhạc sĩ hiện đại còn kết hợp dùng các quãng khác
Trang 5- Ngón vê: Là sử dụng ngón tay phải ngón 2 hoặc kết hợp ngón 1-2; 1-3; 1-2-3, gảy trên dây liên tục và các ngón khác phải khum tròn, cổ tay kết hợp với ngón tay đánh xuống, hất lên đều đặn Khi vê đầu móng gảy không nên đặt quá sâu xuống dây sẽ tạo tiếng đàn không đều đặn, êm ái
Kỹ thuật bàn tay trái:
Tư thế: Ðầu ba ngón tay giữa đặt trên dây nhẹ nhàng, bàn tay mở tự nhiên, ngón tay hơi khum, hai hoặc ba ngón (trỏ, giữa, áp út) chụm lại, ngón cái và ngón út tách rời, dáng bàn tay vươn về phía trước Khi rung, nhấn, bàn tay được nâng lên mềm mại, ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển từ dây nọ sang dây kia
Kỹ thuật:
- Ngón rung: Là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây đàn (bên trái hàng nhạn đàn) mà tay phải vừa gảy
- Ngón nhấn: Là ngón sử dụng để đánh thêm được những âm khác có thể là 1/2
âm, 1/3 âm, 1/4 âm mà hệ thống dây đàn tranh không có Cách nhấn là sử dụng ba đầu ngón tay trái nhấn xuống tùy theo yêu cầu của bài (nửa cung nhấn nhẹ, 1 cung nhấn nặng hơn) nghệ nhân dùng tai nghe để điều chỉnh tay nhấn
Trang 6
độ cao khác nhau, âm thanh nghe mềm mại, uyển chuyển gần với thanh điệu tiếng nói Có hai loại nhấn luyến:
a Nhấn luyến lên: Nghệ nhân gảy vào một dây để vang lên, tay trái nhấn dần
lên dây đó làm âm thanh cao lên hoặc tiếp tục nhấn cho cao lên nữa
b Nhấn luyến xuống: Muốn có âm luyến xuống, trước hết phải mượn nốt Ví
dụ muốn có âm Fa luyến xuống âm Rê phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy sau; khi âm Fa ngân lên ngón tay trái nới dần để âm Rê của dây đó vang theo luyến tiếng với âm Fa Ðánh âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống chỉ cần gảy một lần Ðộ ngân của các âm nhấn luyến được ghi như các nốt nhạc bình thường Bạn cần phân phối thời gian để các âm có thể đều hoặc không đều nhau,
độ cao của âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống có thể trong vòng quãng 4 nếu là khoảng âm thấp hoặc quãng 2, quãng 3 thứ ở những âm cao, không nên sử dụng liên tiếp nhiều âm nhấn luyến
- Ngón nhún: Là cách nhấn liên tục trên một dây nào đó làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc Ngón tay nhún tạo thành những làn sóng có giao
động lớn hơn ở ngón rung, làm cho âm thanh thêm mềm mại, tình cảm sâu lắng
- Ngón vỗ: Là một kiểu ngón nhấn như đúng như tên gọi, đây là cách dùng hai hay ba đầu ngón tay (ngón trỏ, giữa, áp út) vỗ lên một dây nào đó phía bên trái nhạn đàn vừa được gảy, và nhấc ngay các ngón tay lên làm âm thanh cao lên đột ngột từ nửa cung đến một cung Có 2 loại vỗ:
a Vỗ đồng thời: Tức là cùng lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ sẽ nghe thấy hai âm: một âm phụ cao hơn nửa cung hoặc 1 cung luyến nhanh ngay xuống âm chính (âm phụ do ngón tay trái vỗ tạo nên)
b Vỗ sau: Tay phải gảy dây xong, tay trái mới vỗ lên dây, như vậy sẽ nghe thấy
3 âm luyến : âm thứ nhất do tay phải gảy lên dây, âm thứ hai do ngón vỗ tạo nên,
âm nầy cao hơn âm thứ nhất khoảng nửa cung hoặc 1 cung tiếp đó là âm thứ ba do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay, dây đàn được trở lại trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu
Trang 7
- Ngón vuốt: Tay phải gảy đàn tiếp theo dùng hai, ba ngón tay trái vuốt lên dây
đàn đó từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại làm tăng sức căng của dây một cách đều đều, liên tục Âm thanh được nâng cao dần lên trong phạm vi 1/2 cung đến 1 cung
- Ngón gảy tay trái: Để thay đổi màu sắc, đồng thời phát huy khả năng âm thanh
của dây đàn, ngón tay trái cũng có thể gảy dây trong phạm vi phía bên tay phải hàng nhạn đàn Tay trái không đeo móng gảy nên khi gảy âm thanh nghe êm hơn nhưng không vang bằng âm thanh tay phải gảy Có thể gảy bằng hai tay để tạo chồng âm nhưng thường là tay trái gảy những âm rãi trong khi tay phải sử dụng ngón vê hoặc đang nghỉ
- Ngón bịt: Là ngón vừa sử dụng ngón tay phải gảy dây, vừa dùng đầu ngón tay
trái đặt nhẹ trên dây đàn hoặc chặn tay trái lên đầu nhạn đàn nếu là gảy một nốt nhạc Nếu định gảy hẳn một đoạn nhạc với toàn âm bịt, nghệ nhân sử dụng cạnh bàn tay phải chặn nhẹ lên cầu đàn, dùng tay trái gảy thay tay phải Hiệu quả âm thanh ngón bịt không vang mà mờ đục, gây được ấn tượng tương phản rõ rệt với một đoạn nhạc đánh bình thường
- Âm bồi: Có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm
giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó
Âm bồi đàn tranh nghe đẹp hơn hẳn so với nhiều loại đàn dây gảy khác
Trang 8
2 Sáo trúc:
Sáo trúc là nhạc cụ dân tộc truyền thống của Việt Nam, thuộc bộ hơi, được làm bằng ống trúc, ống nứa, trên thân sáo được khoét lỗ để khi thổi tạo ra âm thanh, bấm nốt
Loại sáo mà mọi người thường học là sáo ngang Sở dĩ gọi là sáo ngang là để phân biệt với sáo dọc và tiêu thổi dọc
Sáo ngang Sáo dọc Tiêu trúc
a/ Cấu tạo của Sáo trúc:
Sáo trúc chia làm 2 loại là sáo trúc 6 lỗ và sáo trúc 10 lỗ
Sáo trúc được làm bằng chất liệu ống trúc hoặc ống nứa, dài khoảng 40 – 50 cm, đường kính ống sáo từ 0,8 đến 2,2cm và độ dày thành ống khoảng 0,2cm
( Nguồn ảnh ĐH Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội )
Trang 9
Sáo trúc 6 lỗ gồm các lỗ có hình bầu dục tạo thành một hàng thẳng bao gồm:
+ - Sáo được cấu tạo bao gồm các bộ phận:
+ Lòng sáo: Lòng ống tròn có hình trụ, dài khoảng 40 đến 80cm, đường kính từ 0,8 đến 2,2cm
+ Lỗ thổi: Thường có hình elip, cạnh lỗ thổi được bịt bằng nút bấc gọi là nút chặn, phía đầu cây sáo cách lỗ thổi khoảng 0,8 đến 1,5cm, cạnh phía đuôi cây sáo
là lỗ định âm
+ Lỗ bấm: Nằm giữa lỗ thổi và lỗ định âm
+ Lỗ định âm: Là âm trầm nhất của sáo và nó sẽ quyết định tên của sáo Từ lỗ định âm người ta khoét các lỗ bấm chính về phía lỗ thổi theo công thức Gam đô trưởng như vậy sẽ tạo ra cây sáo trúc 6 thế bấm với 7 bậc âm từ Đô 1 đến Đô 2 là:
C, D, E, F, G, A, H
Hình ảnh vị trí các điểm ti, tựa trên sáo 6 lỗ:
Hình ảnh vị trí phân công các ngón tay bấm mở hệ thông các lỗ bấm trên cấy sáo 6 lỗ:
Trang 10Hiện nay ngoài cây sáo 6 lỗ thì sáo trúc 10 lỗ cũng được sử dụng rộng rãi
b/ Cách sử dụng sáo:
Tư thế khi biểu diễn sáo:
Thổi sáo lúc luyện tập cũng như khi biểu diễn có nhiều tư thế, người thổi sáo có thể đứng hoặc ngồi, có cả trường hợp vừa biểu diễn vừa di chuyển Tuy nhiên trong các trường hợp nào thì tư thế thổi sáo cũng phải thoải mái mới giúp hơi thở vận dụng linh hoạt, tiếng sáo phát ra sẽ thanh thoát có sức hút cao hơn
Tư thế cầm sáo và vị trí đặt sáo:
Tỳ sáo vào đốt thứ nhất của ngón trỏ tay trái
Lần lượt bấm đầu ngón tay ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út của
tay trái từ trên xuống bịt 3 lỗ phía trên, 3 lỗ phía dưới thì bịt lần lượt bằng ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út của tay phải
Ngón cái, và ngón út còn lại thì dùng để giữ vững sáo
( Nguồn ảnh kenhitv.vn )
Trang 11Vị trí đặt sáo khi thổi cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tiếng sáo khi phát ra, theo nhiều tài liệu vị trí đặt môi thường vuông góc với thân người, tuy nhiên trên thực tế thường người thổi sáo ít khi để sáo thật thăng bằng mà đuôi ống sáo hơi có
độ cao hạ thấp một chút, nhưng luôn phải giữ đúng vị trí đặt môi vào lỗ thổi để đảm bảo âm thanh tiếng sao vang, trong trẻo không có tiếng xì
Nguyên tắc phát âm của sáo:
Mỗi loại sáo có âm sắc khác nhau:
+ Sáo Đô, sáo Sol cao tiếng lanh lảnh, reo vui, réo rắt
+ Sáo La, sáo Sol tiếng tiếng lại êm như nhung, mềm như lụa
Mặc dù mỗi loại sáo có âm sắc khác nhau, nhưng nguyên tắc phát âm lại
chẳng khác gì nhau
Khi chơi sáo, ta sử dụng hơi thở thổi vào lỗ thổi làm rung thành ống sáo
và tạo ra âm thanh
Cảm âm của sáo Đô nằm trong 2 quãng 8 Tức là có thể thổi từ nốt Đô 1
lên Đô 2, Đô 3 và một số âm cao khác nữa.thế bấm của sáo trúc lỗ như bảng sau:
Trang 12
– Ngón vuốt: Ngón vuốt là dùng ngón tay trái vuốt đi lên hay đi xuống theo chiều dọc của dây trong khi tay phải chỉ gảy một lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón phi Ký hiệu của ngón vuốt là dấu gạch nối giữa các nốt nhạc Có 3 loại vuốt
– Vuốt lên: vuốt từ âm thấp lên âm cao
– Vuốt xuống: vuốt từ âm cao xuống một âm thấp
– Vuốt tự do: có 2 cách
* Vuốt từ một âm chỉ định lên bất cứ âm nào (thường không quá quãng 5)
* Vuốt từ một âm chỉ định xuống bất cứ âm nào (thường chỉ nên vuốt xuống quãng 4)
Vuốt lên âm thanh nghe rõ hơn vuốt xuống, vuốt nhanh âm thanh nghe rõ hơn vuốt chậm
– Ngón bật dây: Tay trái, ngón trỏ hay ngón giữa bấm vào một cung phím nào đó,
kế tiếp dùng tay khác gảy vào dây ở ngay dưới ngón tay đang bấm để phát ra âm thanh
– Bật dây buông: sử dụng bất cứ ngón tay trái nào bật một trong hai dây buông,
hay cả hai dây một lúc, ngón bật dây chỉ nên viết trong trường hợp độc tấu, không nên đưa vào bài nhạc có tốc độ nhanh hoặc nốt nhạc ở phách mạnh
– Âm bồi: có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm
giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó 2/ Trình bày 3 thể loại âm nhạc truyền thống:
A/ Đàn ca tài tử Nam Bộ:
- Ca nhạc tài tử, Đàn ca tài tử, Đờn ca tài tử, tài tử miệt vườn là một trong những cái tên dùng để nói về dân ca Nam Bộ nói chung và Đờn ca tài tử nói riêng Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, khởi thủy là thú tiêu khiển trong thời gian nhàn rỗi của người dân Nam Bộ Trên hành trình phát triển, Đờn ca tài tử đã nhâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống Đờn ca tài tử là nghệ thuật của đờn (đàn) và ca, chữ “tài tử” có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là đờn ca
Các bài bản của Đờn ca tài tử được sáng tạo dựa trên cơ sở nhạc Lễ, nhạc Cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam Các bài bản này được cải biên liên tục từ
72 bài nhạc cô và đặc biệt là từ 20 bài gốc cho 4 điệu, gồm: 6 bài Bắc (diễn tả sự
Trang 13vui tươi, phóng khoáng), 7 bài Hạ (dùng trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 3 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh thoát) và 4 bài Oán (diễn tả cảnh đau buồn, chia li)
Một số tác phẩm tiêu biểu:
+ Đầu thế kỷ XX, ông Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu) đã sáng tác bài Dạ cổ hoài lang (Vọng cổ), là một trong những bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của Đờn ca tài tử, được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2, 4, 16, 32… đến nhịp
64
+ Lưu Thủy Đoản xuất xứ từ nhạc miền Trung Bình bán vắn, tức là bản nhạc ngắn, câu chữ, nhịp thức cũng đều rút ngắn (nằm ở cung Bắc tức hơi Bắc)
+ Bản Bình bán vắn có 22 câu nhịp đôi (mỗi câu hai nhịp) và song loan chiếc
Nó không được liệt vào 20 bài bản Tổ, nhưng là một trong những giai điệu khá phổ biến của giới tài tử., trong Nam Việt Nam còn gọi là Lưu Thủy Vắn
+ Kim Tiền Huế nằm trong Thập thủ liên hoàn Khi hòa tấu Cải lương thường
đi cùng bài Lưu Thủy Đoản và bài Bình Bán Vắn thành bộ Lưu – Bình – kim
Trang 14- Thành đàn (hay còn gọi là hông đàn): Được làm bằng gỗ trắc, có chiều cao khoảng 6,4 cm đến 7,7 cm (đàn Nguyệt Bắc) và 6,1 cm đến 6,3
cm (đàn Nguyệt Nam) Chiều dài đàn (được tính từ đầu đàn đến cuối đàn): đàn Nguyệt Bắc có chiều dài khoảng 104 cm đến 106 cm; còn chiều dài của đàn Nguyệt Nam khoảng từ 101cm đến 103 cm
- Phím đàn: Lúc đầu đàn có 8 phím (6 phím gắn trên cần đàn, 2 phím trên mặt đàn) Sau có mở rộng thêm đến 12 phím với số phím gắn trên cần đàn giữ nguyên (6 phím), số phím còn lại tùy theo ít nhiều sẽ được gắn trên mặt đàn (Hai cây đàn dẫn trên thuộc loại 9 phím và 11 phím) Các phím cao làm bằng tre già, được gắn cách xa nhau với khoảng cách không đều nhau
để phù hợp với hệ thống thang ngũ cung, đầu đàn ngả về phía sau
- Trục đàn: Có 4 lỗ trên trục đàn nhưng ngày nay chỉ dùng 2 trục gỗ để xuyên ngang qua 2 bên thành đàn của đầu đàn để mắc 2 dây Sự hiện diện của một số cây đàn có 4 trục chứng tỏ khởi thủy đàn Nguyệt có mắc 2 dây kép (đàn song vận), sau này do nhấn không thuận tiện nên người ta bỏ lối mắc dây kép thành dây đơn
+ Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị trùng xuống
- Dây đàn: Trước đây, dây đàn được làm bằng tơ se, một to, một nhỏ nay thay bằng nilon
+ Dây to (dây trầm còn gọi là dây trong hay dây tồn)
+ Dây nhỏ (dây cao gọi là dây ngoài hay dây tang)
- Que đàn (móng gảy): được làm bằng sừng hoặc đồi mồi hoặc bằng nhựa Ngày xưa các nghệ nhân gảy đàn bằng móng tay dài của mình Ngoài ra là
bộ phận được gọi là Cóc đàn (gắn ở đầu đàn) và Nhạn đàn (gắn trên mặt đàn) dùng để mắc dây Như vậy, kích thước của cây đàn Nguyệt chỉ là tương đối, trong đó cây đàn Nguyệt Bắc bộ có hình dạng lớn hơn cây đàn Nguyệt Nam bộ (kể cả độ dài và độ dày của đàn) Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng nhất định đến âm sắc của mỗi cây đàn
Có 3 kiểu lên dây chính:
Dây Bắc: Dây trầm cách dây cao một quãng 5 đúng (Fà-Đô) Dây bắc thích hợp với âm nhạc vui tươi, hùng tráng
Dây Oán: Dây trầm cách dây cao một quãng 6 đúng (Mì-Đô) Dây oán thích hợp với âm nhạc nghiêm trang, sâu lắng
Dây Tố Lan: Dây trầm cách dây cao một quãng 7 thứ (Rề-Đô) Dây tố lan thích hợp với âm nhạc dịu dàng, mềm mại