1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn môn lịch sử đảng đề bài tìm hiểu về đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ vi và lần thứ vii

46 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ VI Và Lần Thứ VII
Tác giả Nhóm: Nguyễn Thu Phương, Vũ Thị Linh Chi, Bùi Minh Huyền, Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Thu Uyên, Hoàng Thị Ngọc Nông, Ngọc Thúy Nguyễn Quỳnh Ánh, Lương Thị Hà, Phạm Thị Thanh Phương
Người hướng dẫn Lê Thị Hồng Thuận
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 306,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể khẳng định rằng cho đến nay, những thành tựu đất nước ta đã đạtđược đều nhờ có những đường lối chính sách và các quyết định đúng đắn đượcđưa ra trong các cuộc Đại hội đại biểu toà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -BÀI TẬP LỚNMÔN LỊCH SỬ ĐẢNG

Trang 2

MỤC LỤCMỞ

Trang 3

18 Các hội nghị TW……… 11

19 Kết quả chủ yếu (đại hội sau)……… 15

Trang 4

17 Đối ngoại……… 30

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦUĐảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là chính đảng duy

nhất được phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp Theo Cương lĩnh vàĐiều lệ chính thức hiện nay, Đảng là đại diện của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ ChíMinh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động

Đại hội Đại biểu toàn quốc là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, là cơ

quan duy nhất có quyền ban hành hoặc sửa đổi Điều lệ Đảng và cương lĩnhchính trị, thông qua báo cáo tổng kết nhiệm kỳ đã qua và thông qua nghị quyết

về phương hướng hành động nhiệm kỳ tới, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương là

cơ quan lãnh đạo cao nhất việc chấp hành nghị quyết của đại hội

Đại hội Đảng được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần để xác định đường lốilãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Đại hội bất thường khi cần Đảng Cộng ản ViệtNam đến nay đã tổ chức thành công 13 kì Đại hội Đảng với các mục tiêu, nhiệm

vụ khác nhau, đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước

Có thể khẳng định rằng cho đến nay, những thành tựu đất nước ta đã đạtđược đều nhờ có những đường lối chính sách và các quyết định đúng đắn đượcđưa ra trong các cuộc Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng ta phù hợp với thờiđại và tình hình dân tộc Vì vậy, thông qua bài tiểu luận này, chúng em đã tìmhiểu thêm về hai kì Đại hội là Đại hội VI và Đại hội VII và từ đó rú ra nhữngthông tin quan trọng về nội dung này

Bài tiểu luận của chúng em có thể còn nhiều sai sót và hạn chế, chúng emmong nhận được những nhận xét và góp ý từ cô để bài làm được hoàn thiện hơn

Trang 6

I ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI (1986)

1 Thời gian (bối cảnh lịch sử)

1.1 Thời gian: Được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 1.2 Bối cảnh lịch sử

Về thế giới: Các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh,

xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu Đổi mới đã trởthành xu thế của thời đại Liên Xô và các nước XHCN đều tiến hành cải tổ xâydựng CNXH

Về trong nước: Trong khi đó, Việt Nam đang bị các nước đế quốc và thế

lực thù địch bao vây, cấm vận, khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra trầm trọng.Thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV, thứ V và các nghị quyết của BanChấp hành Trung ương trong thời gian của các nhiệm kỳ đại hội đó, nhân dân ta

đã giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, cải biến được mộtphần cơ cấu của nền kinh tế- xã hội, đặt những cơ sở đầu tiên cho sự phát triểnmới Song, chúng ta chưa tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khókhăn và khuyết điểm mới Trong thời kỳ kế hoạch năm năm 1981-1985, chúng

ta không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế

-xã hội, ổn định đời sống của nhân dân Sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương,tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế của đất nước ta đến những khó khăn mới.Nền kinh tế - xã hội nước ta đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng Lương thực,thực phẩm, hàng tiêu dùng khan hiếm, lạm phát tăng lên 774% năm 1986 Tìnhhình đất nước đang đòi hỏi Đảng phải tích cực chuẩn bị và tiến hành Đại hội lầnthứ VI theo yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sựthật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước Từ đó xác định đúng mục tiêu vànhiệm vụ của cách mạng trong chặng đường trước mắt, đề ra chủ trương, chínhsách đúng để xoay chuyển tình thế, đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiến lênphía trước

2 Địa điểm: Thủ đô Hà Nội.

3 Số đại biểu/TS Đảng viên:

Trang 7

- Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho 2.109.613đảng viên trong toànĐảng.

- Số lượng đại biểu dự Đại hội lần thứ VI tăng 96 đại biểu so với Đại hộilần thứ V

4 Tổng bí thư

Tổng Bí thư Trường Chinh đương nhiệm về hưu và trao quyền lại cho ôngNguyễn Văn Linh lên thay

5 Các văn kiện

5.1 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V trình tại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

5.2 Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển KT XH trong 5 năm 1986

-1990

6 Chủ đề/ Tên gọi: Đổi mới toàn diện đất nước.

7 Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là

ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cầnthiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đườngtiếp theo Mục tiêu cụ thể như sau:

- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy

- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất

- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất

- Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội

- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh

8 Quan điểm

Quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:

- Phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thíchhợp

Trang 8

- Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm củaLênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng củathời kỳ quá độ.

- Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuấtmới trên cả 3 mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độquản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa

9 Phương hướng: Đại hội đã đề ra những phương hướng phát triển kinh

tế sau:

- Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư

- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải

tạo đúng đắn các thành phần kinh tế

- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

- Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học, kỹ thuật

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

- Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động

- Thực hiện công bằng xã hội, lối sống có văn hóa; bảo đảm an toàn xã hội,

khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hóa, bảo vệ và tăng cường

sức khỏe của nhân dân

- Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội

- Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc

Bên cạnh đó, trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là rasức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoàbình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á vàtrên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô vàcác nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợicho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Trang 9

10 Nhiệm vụ: Đại hội do Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo

thành công đề ra những nhiệm vụ chủ yếu:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực

phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

- Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với

những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển củalực lượng sản xuất

- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.

- Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực và có hiệu quả các

chính sách xã hội

- Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước.

- Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại.

- Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực

quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách

lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược

- Nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành của bộ máy đảng và nhà nước.

- Công nghiệp hóa:

+ Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng:năng lượng, một số cơ sở cơ khí và nguyên, vật liệu, giao thông vận tải vàthông tin bưu điện

+ Khoa học - kỹ thuật tiến bộ phải được vận dụng vào sản xuất, phát triển

11 Công nghiệp hóa

Tại Đại hội VI, sau khi đúc kết những kinh nghiệm của một số nền kinh tếtrên thế giới, chúng ta đã đề ra và thực hiện từng bước việc đổi mới các chínhsách kinh tế trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế và tổng kết các thử nghiệm trongthực tế Có thể coi giai đoạn 1986-1990 là giai đoạn "khởi động" cho một sự

Trang 10

phát triển kinh tế mạnh mẽ sau này Đại hội đã thông qua đường lối đổi mới toàndiện và xác định: “Mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đườngđầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng nhữngtiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trongchặng đường tiếp theo”

Đặc biệt Đại hội VI đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xãhội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên là phải thực hiện 03 chương trìnhlương thực, thực phẩm (1); hàng tiêu dùng (2) và hàng xuất khẩu (3) trongnhững năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Ba chươngtrình này liên quan chặt chẽ với nhau Phát triển lương thực thực phẩm và hàngtiêu dùng là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho đời sống nhân dân và góp phần

ổn định kinh tế - xã hội; phát triển hàng xuất khẩu là yếu tố quyết định đểkhuyến khích sản xuất và đầu tư trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ để nhậpkhẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phépphát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinhtế-xã hội Điểm nổi bật chính của Đại hội VI, chính là sự thay đổi trong lựa chọn

mô hình chiến lược CNH, chuyển từ mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu)trước đây bằng mô hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhậpkhẩu) đang được áp dụng phổ biến và khá thành công tại một số quốc gia Châu

Á thời điểm đó

Riêng với ngành công nghiệp, Đại hội đã đưa ra định hướng phát triển côngnghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, đáp ứng nhu cầu về hàng tiêudùng thông thường, về chế biến nông lâm, thuỷ sản, tăng nhanh hàng gia côngxuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác Tiếp tục xây dựng một số cơ sở côngnghiệp nặng trước hết là năng lượng, phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm phục

vụ thiết thực các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, vàchuẩn bị tiền đề cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếptheo

12 Kinh tế thị trường/cơ chế QLKT

Trang 11

- Chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế

kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩađúng nguyên tắc tập trung dân chủ, thiết lập trật tự kỷ cương, giải phóngmọi năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học-kỹ thuật, phát triển kinh

tế hàng hoá theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội

- Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh tế vừanâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, vừa phát huy khả năngtích cực của các thành phần kinh tế khác Các thành phần kinh tế bìnhđẳng về quyền lợi, nghĩa vụ trước pháp luật

- Đề ra ba chương trình cốt lõi: Lương thực-thực phẩm, Hàng tiêu dùng,Hàng xuất khẩu

- Thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa theohướng đi lên chủ nghĩa xã hội

13 Hệ thống chính trị

Một là, xác định sáu nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới:

- Đi lên chủ nghĩa xã hội là ̣ con đường tất yếu, là sự lựa chọn sáng suốt của

Bác Hồ, là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta

- Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bô ̣ sự

nghiệp cách mạng của nhân dân ta

- Đổi mới nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của

Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh

và hiệu lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị

- Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ ̣ nghĩa của nhân dân ta

- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là động lực của sự ̣

nghiệp xây dựng xã hội chủ ̣ nghĩa

- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội ̣ chủ nghĩa, kết

hợp sức mạnh dân tộc với sức ̣ mạnh thời đại

Trang 12

Hai là, xác định yêu cầu công tác tư tưởng trong tình hình mới Công tác

tư tưởng phải nâng cao chất lượng và tính hiệu quả, đảm bảo tính chủ động ̣ kịpthời, tính chiến đấu sắc bén, phục vụ tích cực việc thực hiện chủ trương chínhsách của Đảng, Nhà nước Công tác tư tưởng phải khẳng định: Tính tất yếu lịch

sử của chủ nghĩa xã hội và những ̣ thành tựu của hệ thống xã hội chủ ̣ nghĩa thếgiới Tính khách quan của quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới và xây dựng chủnghĩa xã hội.̣ Nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

và các thế lực phản động quốc tế ̣ Kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa ̣Nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng xã hội chủ ̣ nghĩa, tăng cường sự đoànkết thống nhất ý chí và hành động ̣ trong Đảng và xã hội, đấu tranh ̣ chống tiêucực

Ba là, đánh giá tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ

nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng Từ sự khủng hoảng của Liên Xô

và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung ương xác định phải đổi mới,nâng cao trình độ lãnh đạo ̣ và sức chiến đấu, phải xác định rõ hơn mô hình vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ̣ nước ta; giữ vững các nguyên tắc trong quátrình đổi mới; không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng; cảnh giác và kiênquyết chống âm mưu “diễn biến hoà bình

Bốn là, chủ trương giải quyết một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng.

Đảng phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán ̣ bô, đổi ̣ mớiphong cách lãnh đạo, nâng cao giác ngộ, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức và nănglực lãnh đạo, mở rộng dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật trong Đảng, tăngcường mối quan hệ giữa Đảng với các tầng lớp nhân dân lao động Đổi mớicông tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhândân, thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

14 Văn hóa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu

sự đổi mới toàn diện tư duy lý luận của Đảng, trong đó có vấn đề phát triển vănhóa, xây dựng con người Vấn đề văn hóa biểu hiện cụ thể, gồm: sự nghiệp giáodục, hoạt động văn hóa, văn nghệ Mặc dù chưa thể hiện rõ quan điểm xây dựng

Trang 13

văn hóa trong chính trị và kinh tế, nhưng Đại hội đã đặt vấn đề hiệu quả củahoạt động văn hóa trong mọi hoạt động xã hội, trong đó có chính trị và kinh tế.Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội chỉ rõ: “Mỗihoạt động văn hoá, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến

tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình

độ thẩm mỹ của nhân dân”

- Khoa học kỹ thuật là một động lực to lớn, có vị trí then chốt trong sựnghiệp xây dựng CNXH

- Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá quần chúng thành nền nếp, nhất là trongthanh niên, khắc phục bệnh phô trương, hình thức

- Xây dựng và sử dụng các hệ thống thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, việnbảo tàng, nhà truyền thống từ trung ương đến cơ sở, ở các ngành và cácđịa phương

- Quản lý chặt chẽ công tác xuất bản, công tác điện ảnh, và công tác pháthành sách, báo, phim ảnh

- Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng thôngtin; đưa đến tận các đơn vị cơ sở những giá trị văn hóa, nghệ thuật củadân tộc và thế giới, những kiến thức phổ thông và hiện đại về khoa học,

kỹ thuật

- Đưa văn hoá, văn nghệ đến vùng rừng núi và nông thôn hẻo lánh Coitrọng nghệ thuật kiến trúc vừa dân tộc, vừa hiện đại, giản dị trong việcxây dựng các công trình văn hoá cũng như dân dụng, các khu dân cư

- Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuậtcần thiết cho văn hoá và nghệ thuật, giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch

sử, văn hoá Hoàn thành việc sưu tầm vốn văn hoá và nghệ thuật các dântộc, khuyến khích tìm tòi và thể nghiệm, bảo đảm cho các đơn vị nghệthuật hoạt động ổn định và ngày một nâng cao chất lượng, ngăn chặnkhuynh hướng thương mại và các hiện tượng tiêu cực khác

- Chống những tàn tích văn hóa phong kiến, thực dân, tư sản Làm thất bại

âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch biến văn hoá, văn nghệ

Trang 14

thành phương tiện gieo rắc tâm lý bi quan và lối sống sa đọa Bài trừ mêtín dị đoan, hủ tục.

- 4 nhóm chính sách xã hội là:

+ Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động;

+ Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự,

kỷ cương trong mọi lĩnh vực xã hội;

+ Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hóa, bảo vệ và tăng cườngsức khỏe của nhân dân;

+ Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội

16 Quốc phòng, an ninh:

Đối ngoại góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình,đôc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hôi, tăng cường tình hữu nghị và hợptác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hôi chủ ̣ nghĩa; bình thường hoá quan

hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước,vì hòa bình ở Đông Nam Á

và trên thế giới Từ 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đổi mới vềquan hệ đối ngoại, đó là:

- Ưu tiên giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế;

- Kiên quyết thực hiện chính sách “thêm bạn, bớt thù”;

Trang 15

- Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắcbình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình và phát triển ở khu vực và trên thếgiới

17 Đối ngoại:

- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng đề ra đường lốiđổi mới toàn diện đất nước Với việc đổi mới tư duy lý luận, đối ngoại ViệtNam bước vào một thời kỳ phát triển mới Phương châm cơ bản của đườnglối đối ngoại được xác định năm 1986 là đa dạng hoá các hoạt động và đaphương hoá các quan hệ đối ngoại Theo đó, ngoài việc tiếp tục và tăngcường quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, hai nước trên bánđảo Đông Dương, thì cũng cần mở rộng quan hệ hợp tác với các nước kháctrong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới

- Trong Văn kiện năm 1986 ghi rõ “…sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan

hệ thương mại, hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụcông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội” Vào tháng 5/1988, sau hai năm thựchiện Nghị quyết Đại hội VI, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số13-NQ/TW về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Trong

đó, lần đầu tiên cụm từ “đa dạng hóa quan hệ” xuất hiện Cụm từ này đã làm

rõ nét hơn tư duy đối ngoại theo định hướng đa phương và thể hiện bướcphát triển trong nhận thức của Đảng

- Nghị quyết 13 là văn kiện đầu tiên của Đảng mang ý nghĩa nền tảng cho chủtrương “đa dạng hóa, đa phương hóa”; đồng thời thể hiện một bước chuyểnmạnh mẽ trong tư duy và mục tiêu đối ngoại của Việt Nam Quan điểm

“thêm bạn, bớt thù” là phù hợp với phương thức tập hợp lực lượng mới giaiđoạn sau Chiến tranh lạnh Từ quan điểm này, phương châm đối ngoại “thêmbạn, bớt thù” được hình thành nhằm tiếp tục mở rộng hơn nữa quan hệ đốingoại với các nước, các tổ chức quốc tế ngoài phe XHCN trên cơ sở đề caolợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam

- Từ năm 1986 đến năm 1990, Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt độngngoại giao đa phương tại một số diễn đàn đa phương trên thế giới, trong đó

Trang 16

có Liên hợp quốc với việc tham gia sâu hơn vào các cơ quan của tổ chứcnày; tham gia phong trào Không liên kết nhằm từng bước cải thiện mối quan

hệ, tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ của các nước

18 Các hội nghị TW:

- Hội nghị lần thứ 1

Diễn ra từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1986 Hội nghị này đã thông quanhiều quyết định quan trọng liên quan đến chính sách Đổi mới trong kinh tế vàchính trị Hội nghị đánh giá tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Namtrong giai đoạn trước đó và nhận thức rõ ràng về sự cần thiết của sự đổi mới, xemxét các kinh nghiệm đã học được từ thời kỳ trước đó và thảo luận về đường lối pháttriển tương lai, thông qua việc sửa đổi và bổ sung Điều lệ Đảng và thông quaChương trình chính trị mới và việc cải cách tư duy chủ nghĩa xã hội để thích nghivới tình hình mới Đồng thời hội nghị đặc biệt nhấn mạnh về việc xác định chínhsách và biện pháp khôi phục kinh tế

- Hội nghị lần thứ 2:

Tháng 4/1987, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành TW Đảng họp quyếtđịnh phương hướng giải quyết vấn đề lưu thông phân phối (vấn đề nóng bỏng vàcấp bách nhất) là phải nắm vững mục tiêu giảm tỷ lệ bội chi ngân sách, giảm nhịp

độ tăng giá, giảm tốc độ lạm phát, giảm khó khăn về đời sống của nhân dân trên cơ

sở xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển các hoạt động kinh tế sanghạch toán kinh doanh XHCN, nâng cao vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh,phát huy khả năng tích cực của các thành phần kinh tế khác, mở rộng giao lưu hànghoá, giải phóng sức sản xuất

- Hội nghị lần thứ 3:

Tháng 8/1987, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành TW Đảng đã quyết nghị:

"Chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủnghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế" Hội nghị nhấn mạnh mục đích của đổimới cơ chế quản lý kinh tế là phải tạo ra động lực mạnh mẽ giải phóng mọi nănglực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hoá theohướng đi lên chủ nghĩa xã hội với năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao,

Trang 17

trước mắt nhằm phục vụ ba chương trình kinh tế lớn, từng bước thực hiện "bốngiảm", thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đểtiến lên

- Hội nghị lần thứ 4:

Tháng 12/1987, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TW Đảng họp để quyếtđịnh về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 3 năm (1988-1990) Mục tiêu phấn đấu của kế hoạch ba năm còn lại là phải thực hiện cho bằngđược việc ổn định một bước quan trọng tình hình kinh tế - xã hội Điều kiện quyếtđịnh là phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả, trước hết tập trung sức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, đặc biệt làchương trình lương thực - thực phẩm

- Hội nghị lần thứ 5:

Tháng 6/1988, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành TW Đảng đã đưa raquyết định về công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức, cuộc vận động làmtrong sạch và nâng cao sức chiến đấu của Đảng Công tác xây dựng Đảng theophương hướng Đại hội VI của Đảng là phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổimới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và nâng cao giác ngộ, bồi dưỡng

lý tưởng, kiến thức và năng lực lãnh đạo; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường

kỷ luật trong Đảng

- Hội nghị lần thứ 6

Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành TW Đảng đã phân tíchnhững nguyên nhân làm cho tình hình kinh tế - xã hội chậm được khắc phục, vàquyết định phương hướng lớn chỉ đạo công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu và nêulên sáu nguyên tắc cơ bản phải được quán triệt trong quá trình đổi mới

- Hội nghị lần thứ 7

Tháng 8/1989, tại TP Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung Ương Đảng đã kịp thời quyết nghị Một số vấn đề cấp bách về công tác tưtưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay là :

Trang 18

+ Khẳng định tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và những thành tựu

vĩ đại của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới

+ Khẳng định tính khách quan và phương hướng xã hội chủ nghĩa của quátrình cải tổ, cải cách và đổi mới

+ Nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản, nâng cao cảnh giác cách mạng,đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế

+Giáo dục trong Đảng và trong nhân dân lòng kiên trì với mục tiêu lýtưởng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc và chính sách đổimới của Đảng

+ Nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sựđoàn kết thống nhất trong Đảng, sự thống nhất ý chí và hành động trong xã hội,đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực

- Hội nghị lần thứ 8

Tháng 3/1990, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành TW Đảng đã tập trungbàn chuyên đề về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệgiữa Đảng và nhân dân nhằm giải quyết một vấn đề có tính chất cơ bản và cấpbách, vừa phục vụ trực tiếp sự nghiệp đổi mới ở nước ta, vừa góp phần bảo vệ chủnghĩa xã hội Hội nghị cũng đã thảo luận và Nghị quyết về Tình hình các nước xãhội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng

ta Hội nghị cũng đã quyết định cách chức một ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trungương Đảng, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng vì đã vi phạm nghiêm trọngnguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu

- Hội nghị lần thứ 9

Tháng 8/1990, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành TW Đảng thảo luận vềbản Dự thảo Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ và bản Dựthảo Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000 vàphương hướng chủ yếu kế hoạch năm năm (1991 - 1995) Hội nghị quyết định công

bố Dự thảo các văn kiện đó để lấy ý kiến toàn Đảng và toàn dân trước khi trình Đạihội lần thứ VII của Đảng Hội nghị bàn Một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách,với tư tưởng chỉ đạo là kiên định thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh

Trang 19

tế; nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường đi đôi với mở rộng quan hệquốc tế; xây dựng ý chí làm cho dân giàu, nước mạnh, chủ động có những phương

án khác nhau để thích ứng với tình hình mới; nêu cao ý thức tiết kiệm xây dựng đấtnước; thống nhất ý chí và hành động, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, giữ vững kỷcương, tôn trọng luật pháp trong các hoạt động kinh tế - xã hội

- Hội nghị lần thứ 10

Tháng 11/1990, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành TW Đảng đã họp,thảo luận và thông qua nghị quyết về Phương hướng chỉ đạo kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội năm 1991, và nghị quyết về Dự thảo báo cáo xây dựng đảng và sửađổi Điều lệ Đảng và Dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi) để trình Đại hội lần thứ VIIcủa Đảng Hội nghị nêu rõ: "Việc thực hiện kế hoạch năm 1991 diễn ra trong bốicảnh quốc tế rất phức tạp, mọi hoạt động kinh tế của ta với nước ngoài phải thanhtoán bằng ngoại tệ mạnh và theo giá cả thị trường quốc tế

- Hội nghị lần thứ 11

Tháng 1/1991, Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành TW Đảng họp đểgóp ý kiến về Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIIcủa Đảng Hội nghị thảo luận và nhất trí với nhiều nhận định và chủ trương lớnđược nêu trong Dự thảo và góp nhiều ý kiến quan trọng để nâng cao chất lượng bản

Dự thảo Hội nghị quyết định giao cho Bộ Chính trị và Tiểu ban dự thảo hoànchỉnh bản Dự thảo Báo cáo chính trị để đưa ra lấy ý kiến trong toàn Đảng, toàndân

- Hội nghị lần thứ 12

Tháng 5/1991, Hội nghị lần thứ mười hai Ban Chấp hành TW Đảng họp bànnhững công việc chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ thứ VII của Đảng.Hội nghị lần thứ mười hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định triệutập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp tháng 6/1991

- Hội nghị lần thứ 13

Ngày 16/6/1991, Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành TW Đảng họp đểhoàn tất công việc chuẩn bị nhân sự và các vấn đề đưa ra trình Đại hội VII

Trang 20

19 Kết quả đạt được:

* Kết quả và chuyển biến tích cực

- Trong Đảng tiếp tục có sự đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, bước

đầu hình thành hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Việc khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở rộng quan hệ với bênngoài, mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội là bước chuyển rất quan trọng,đánh dấu sự tiến bộ trong tư duy lý luận gắn liền với hoạt động thực tiễn củaĐảng ta

- Thực hiện dân chủ trong Đảng và lãnh đạo thực hiện dân chủ trong xã

hội một cách đúng hướng, vừa phát huy trí tuệ tập thể, thực hiện quyền công dân, vừa bảo đảm sự ổn định về chính trị

Đã có không khí thảo luận thẳng thắng, phát huy trí tuệ của đông đảo cán

bộ, đảng viên trong việc chuẩn bị các đề án, nghị quyết, trong việc bầu cử các cơquan lãnh đạo Thực hiện tốt hơn chế độ kiểm điểm công tác, tự phê bình và phêbình Với cơ chế và chính sách mới, đã bước đầu mở rộng quyền tự chủ của các

cơ sở kinh tế, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện chomọi người được tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật Đã tích cực thực hiệnviệc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân dân tham gia xây dựng các chủtrương của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chú ý nâng cao vai trò của các cơquan dân cử và các đoàn thể nhân dân Các phương tiện thông tin đại chúng vàcác hoạt động văn hoá, văn nghệ có một số đổi mới với nội dung phong phú hơntrước, thảo luận công khai các ý kiến khác nhau, đấu tranh phê phán các hiệntượng tham nhũng, tiêu cực, biểu dương những nhân tố mới

- Đã có những cố gắng trong việc làm trong sạch và nâng cao sức chiến

đấu của đội ngũ đảng viên

Triển khai thực hiện Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 05 củaBan Chấp hành Trung ương, tăng cường kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệĐảng; thông qua tự phê bình và phê bình, lấy ý kiến quần chúng để đánh giá,

Trang 21

xem xét tư cách đảng viên; giải quyết nhiều vụ việc tiêu cực, thư tố cáo cán bộ,đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật nhà nước; bố trí lại đội ngũ cốt cán.

Từ sau Đại hội VI đến tháng 12-1990 đã thi hành kỷ luật 206.181 đảng viên,trong đó đưa ra khỏi Đảng 78.206 người Sau Đại hội VI, đã kết nạp 303.237đảng viên mới, trong đó có 68,4% là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh, góp phần tăng thêm sức chiến đấu mới cho Đảng

Đến cuối năm 1990, toàn Đảng có 2.155.022 đảng viên, sinh hoạt trong43.088 chi bộ và đảng bộ cơ sở (dưới đảng uỷ cơ sở có 121.311 chi bộ)

- Đã thực hiện một bước việc kiện toàn tổ chức và đổi mới cán bộ

Trên cơ sở nhận thức mới về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệthống chính trị, nhất là trong điều kiện đổi mới chính sách và cơ chế quản lý, đãtiến hành một bước việc đổi mới cán bộ các cấp, các ngành, sắp xếp lại một số

tổ chức, tinh giản biên chế, bỏ bớt một số khâu trung gian ở nông thôn, phù hợpvới yêu cầu tổ chức lại sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, nhiều chi

bộ đảng được sắp xếp lại theo địa bàn dân cư (thôn, xóm, ấp, bản) kết hợp với tổchức theo đơn vị sản xuất, công tác

Đã có sự cải tiến nhất định trong quan hệ làm việc giữa Trung ương Đảngvới Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng và các đoàn thể; giữacấp uỷ đảng với cơ quan nhà nước và đoàn thể ở các cấp; khắc phục một phầntình trạng cấp uỷ đảng bao biện làm thay công việc của các cơ quan nhà nước vàđoàn thể Có tiến bộ nhất định trong lãnh đạo, quản lý ở tầm vĩ mô và phát huyquyền chủ động của các đơn vị cơ sở

Các cấp, các ngành đã chú ý bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ những kiến thức,kinh nghiệm mới về lãnh đạo và quản lý Đồng thời đã điều chỉnh, sắp xếp lạinhiều cán bộ lãnh đạo và quản lý, tăng thêm một số cán bộ trẻ được đào tạo cơbản, có triển vọng; thay đổi nhiều cán bộ kém năng lực và phẩm chất không đápứng yêu cầu nhiệm vụ Chú trọng bố trí cán bộ trong các cơ quan nhà nước, chocác chương trình kinh tế, các ngành và đơn vị trọng điểm Đã có một số đổi mới

về quan điểm đánh giá cán bộ, cải tiến một bước sự phân công, phân cấp quản lý

Trang 22

cán bộ Có tiến bộ hơn về thực hiện nguyên tắc tập thể, dân chủ trong bầu cử và

bổ nhiệm cán bộ

* Yếu kém và khuyết điểm

- Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo của Đảng ở các cấp nói chung còn

thấp, chưa chuyển kịp theo yêu cầu đổi mới

Vẫn còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong công cuộc đổi mớichưa được làm sáng tỏ Một số quan điểm và chủ trương lớn của Đảng chưađược cụ thể hoá một cách đồng bộ Trình độ các mặt của cán bộ, đảng viên, nhất

là trình độ và kinh nghiệm quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, lãnh đạo sản xuấtkinh doanh theo cơ chế quản lý mới còn nhiều mặt yếu Sự nhất trí đối với một

số chủ trương, chính sách chưa cao Trong Đảng vừa có những biểu hiện bảothủ, vừa có khuynh hướng nóng vội, bắt chước cách làm của nước khác; cũng có

cả tư tưởng dao động, cơ hội về chính trị

- Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đổi mới còn chậm, cơ cấu

tổ chức còn nhiều bất hợp lý, bộ máy vẫn cồng kềnh, kém hiệu quả

Thực hiện cơ chế mới, chúng ta lúng túng trong việc xác định chức năng,nhiệm vụ, mối quan hệ và lề lối làm việc giữa Đảng với các tổ chức khác trong

hệ thống chính trị, nhất là giữa Đảng với Nhà nước ở tất cả các cấp Nhiều cấp

uỷ và tổ chức đảng vẫn còn ôm đồm bao biện công việc của chính quyền và cácđoàn thể, đồng thời lại có những biểu hiện buông lỏng và xem nhẹ vai trò lãnhđạo của Đảng trên một số lĩnh vực và ở một số loại hình cơ sở (như xí nghiệp,

cơ quan, trường học )

Công tác quần chúng của Đảng chưa được quan tâm đúng mức và chưa có

sự đổi mới cơ bản Nhiều vướng mắc trong quan hệ lãnh đạo, quản lý giữangành và lãnh thổ, trong việc xác định cơ cấu bộ máy hành chính các cấp, hệthống tổ chức đảng từ trung ương đến cơ sở và chức năng, nhiệm vụ của các loạihình tổ chức cơ sở đảng Tổ chức bộ máy và biên chế các cơ quan đảng, nhànước và đoàn thể ở các cấp vẫn nặng nề Tinh giản bộ máy đạt kết quả thấp dothiếu phương án tổng thể khoa học, thiếu biện pháp đồng bộ, chỉ đạo không tập

Trang 23

trung, kiên quyết Số tổ chức cơ sở đảng yếu kém nhiều, có nơi mất sức chiếnđấu.

- Đội ngũ cán bộ tuy có thay đổi khá nhiều nhưng chưa tạo ra chất lượng

mới, công tác cán bộ có nhiều khuyết điểm

Số cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương tốt nhiệm vụ trong thời

kỳ mới chưa nhiều, chưa được phát hiện, sử dụng hợp lý Thiếu cán bộ giỏi vềquản lý nhà nước, quản lý sản xuất, kinh doanh và chuyên gia đầu ngành Tìnhtrạng "hụt hẫng", lúng túng trong bố trí hạt nhân lãnh đạo ở các cấp, kể cả ở cấpchiến lược Đó là do công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm chưatốt; quản lý cán bộ chưa khoa học, nắm cán bộ không chắc Trong nhận xét,đánh giá, bố trí, đề bạt cán bộ, nhiều trường hợp theo quan điểm cũ, thiếu dânchủ, có khi lệ thuộc vào ý kiến của một vài cán bộ có thẩm quyền Tư tưởng cánhân, cục bộ địa phương, phong kiến còn nặng làm cho việc đánh giá, sử dụngcán bộ nhiều khi thiếu chính xác Chưa có cơ chế hợp lý để phát hiện và lựachọn nhân tài, thay đổi, bãi miễn những cán bộ không đủ phẩm chất hoặc nănglực đảm đương nhiệm vụ Chậm đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡngcán bộ theo yêu cầu mới Chính sách đãi ngộ cán bộ còn nhiều bất hợp lý nhưngvẫn chưa được cải tiến một cách căn bản

- Dân chủ trong Đảng còn hạn chế, kỷ luật không nghiêm, một số nơi mất

đoàn kết nghiêm trọng

Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng thiếu tôn trọng, phát huy quyền của đảng viên,

ít lắng nghe ý kiến cấp dưới Không ít cán bộ lãnh đạo chưa quen với nhữngthông tin ngược chiều, không thích nghe ý kiến khác với ý kiến của mình Thiếu

cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắctập trung dân chủ trong Đảng Có những quy định trong Điều lệ Đảng, trong cácquy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương và các cấp uỷ không đượcchấp hành nghiêm túc Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, mệnh lệnh, trùdập, ức hiếp quần chúng, ở một số nơi rất trắng trợn

Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức còn nặng thì những biểuhiện dân chủ cực đoan, tự do vô kỷ luật cũng không ít Tệ bè cánh, mất đoàn kết

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w