1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các đặc trưng cơ bản của nông thôn việt nam trước đây kể từ đổi mới (1986) đến nay, các đặc trưng đó có những biến đổi như thế nào

32 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam trước đây kể từ đổi mới (1986) đến nay, các đặc trưng đó có những biến đổi như thế nào
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử và Phương pháp Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 5,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Tính cộng đồng và tính tự trị – hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam (3)
    • 1. Tính cộng đồng (3)
    • 2. Tính t ự trị chú tr ng nh n m nh vào S KHÁC BI ọ ấ ạ Ự ỆT (7)
  • II. K t ể ừ Đổ i m ới (1986) đến nay, các đặc trưng đó có nhữ ng bi ến đổi như thế nào? (9)
    • 1. Biến đổi tích cực (10)
    • 2. Biến đổi tiêu cực (14)
    • 3. Tính t ự trị ủa làng xã Đồ c ng bằng sông H ồng thông qua hương ướ c hiện nay (0)
    • 4. K t lu n ế ậ (0)

Nội dung

Tính cộng đồng và tính tự trị – hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam

Tính cộng đồng

Việc tổ chức nông thôn đồng bộ dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau nhằm xây dựng tính cộng đồng trong làng xã Tính cộng đồng thể hiện sự gắn kết giữa các thành viên, nơi mỗi cá nhân đều có sự ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên một môi trường tích cực và hướng ngoại.

Sản phẩm của tính cộng đồng trong làng xã Việt Nam thể hiện qua việc mỗi làng như một “vương quốc” nhỏ với luật pháp riêng (hương ước) và “tiểu triều đình” độc lập Hội đồng kỳ mục và lí dịch là hai cơ quan chính trong quản lý làng, tạo nên sự độc lập và truyền thống “phép vua thua lệ làng” Tình trạng này phản ánh mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước phong kiến và làng xã, với sự kết hợp giữa tính đẳng cấp phong kiến và tính cộng đồng dân chủ Như ông Phạm Văn Đồng đã nhận định, câu nói “phép vua thua lệ làng” mang trong mình một đạo lý sâu sắc, thể hiện ý nghĩa độc đáo của văn hóa làng xã Việt Nam.

Trải qua các triều đại, nhà nước phong kiến luôn tìm cách kiểm soát bộ máy xã hội thôn nhưng thường thất bại Nỗ lực lớn nhất diễn ra dưới triều đại Trần Thái Tông (1225-1258) với việc cử những "xã quan" đại diện cho quyền lợi của chính quyền trung ương, nhằm kiểm soát bộ máy làng xã Tuy nhiên, đến triều Trần Thuận Tôn (1388-1397), phần lớn các xã quan này đã bị bãi bỏ Trong thời kỳ Lê, nỗ lực này tiếp tục được khôi phục, với Lê Thánh Tông đổi "xã quan" thành các chức vụ mới để tăng cường kiểm soát.

Từ thế kỷ XV, triều đình đã phải nhượng bộ, trả quyền xã trưởng về cho dân, và điều này lặp lại lần thứ ba dưới thời Pháp thuộc Vào năm 1904 tại Nam Kỳ và 1921 ở Bắc Kỳ, thực dân Pháp ban hành các nghị định nhằm cải cách bộ máy hành chính cấp xã, được gọi là Chính sách Cấp ủy lương hương chính Tuy nhiên, cuộc cải cách này cũng không tránh khỏi thất bại, dẫn đến việc vào năm 1927, chính quyền thực dân phải ban hành một nghị định chú trọng hơn đến cơ cấu tổ chức truyền thống Đến năm 1941, vai trò của dân làng trong việc tổ chức bộ máy hành chính địa phương lại được mở rộng hơn nữa Paul Doumer, sau 5 năm rưỡi giữ chức Toàn quyền Đông Dương, đã rút ra kết luận quan trọng trong cuốn hồi ký của mình.

Theo tôi, việc duy trì và thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kỹ mà chúng ta đã thấy là một điều cần thiết Theo mô hình này, mỗi làng xã sẽ trở thành một nước cộng hòa nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lớn hơn của địa phương Đây là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, có kỷ luật và trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về từng thành viên trong cộng đồng.

Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng quan trọng nhất của làng xã, thể hiện sự gắn kết và độc lập trong tổ chức xã hội Những đặc điểm này hoạt động song song, tạo nên bản sắc văn hóa và cấu trúc xã hội độc đáo của mỗi làng.

1.1 Biểu tượng truy n th ng c a tính cề ố ủ ộng đồng là sân đình – ến nước – b cây đa

Mỗi làng đều có một cái đình, biểu tượng tập trung của làng về mọi mặt Đây không chỉ là trung tâm hành chính mà còn là nơi diễn ra các hoạt động cộng đồng quan trọng.

1 Trầ n Ng c Thêm 1999 ọ Cơ sở văn hóa Việ t Nam Nhà xu t b n giáo d c,tr97 ấ ả ụ

Đình là một trung tâm văn hóa quan trọng, nơi diễn ra các lễ hội, hoạt động ăn uống và biểu diễn nghệ thuật truyền thống như chèo tuồng Bên cạnh đó, đình cũng đóng vai trò là trung tâm tôn giáo, nơi thờ thần Thành Hoàng và quyết định vận mệnh của cả làng thông qua thế đất và hướng đình Cuối cùng, đình gắn liền với những tình cảm sâu sắc của người dân, thể hiện sự gắn bó và thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng.

Đình có nguồn gốc từ một khái niệm cũ trong văn hóa Việt Nam, không phải từ Trung Hoa như nhiều người nghĩ Đây thực chất là một loại kiến trúc truyền thống, tương tự như nhà rông, với chức năng và kiểu dáng giống nhau Cả đình và nhà rông đều là biểu tượng của cộng đồng làng xã, với thiết kế sàn cao và mái cong hình thuyền, như hình ảnh thường thấy trên các trống đồng Đình Bảng ở Bắc Ninh, được xây dựng vào thế kỷ XVIII, vẫn giữ nguyên lối kiến trúc nhà sàn đặc trưng.

Do ảnh hưởng của Trung Hoa, đình không chỉ là nơi tập trung văn hóa mà còn trở thành chốn lui tới của đàn ông Phụ nữ thường ra khỏi đình để tập trung tại bến nước, nơi mà hàng ngày họ gặp nhau để rửa rau, vo gạo, giặt giũ và trò chuyện Ở những làng không có sông chảy qua, bến nước có thể là giếng nước.

Cây đa cổ thụ ở đầu làng tỏa bóng mát và luôn tỏa hương khói nhang, là nơi hội tụ của các thần linh như thần cây đa, ma cây gạo và cú cáo Gốc cây còn có quán nước, trở thành điểm dừng chân cho những người lao động và khách qua đường, góp phần kết nối làng với thế giới bên ngoài.

Biểu tượng truyền thống của tính tố ủ ự trị là LŨY TRE, với rặng tre bao quanh làng tạo thành một thành lũy kiên cố và bất khả xâm phạm Rặng tre này không chỉ chống cháy mà còn khó trèo và đào đường hầm, thể hiện sức mạnh và sự bảo vệ cho cộng đồng.

Rặng tre không chỉ là một đặc điểm nổi bật của làng xóm miền Nam Việt Nam, mà còn đóng vai trò như một thành lũy tự nhiên, khác biệt với những khu vực như Trung Hoa, nơi có thành quách xây dựng bằng đất bao bọc.

Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của người Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những ưu điểm và nhược điểm trong tính cách của họ.

TÍNH CỘNG ĐỒNG (+) TÍNH TỰ TRỊ (-)

Liên k t các thành viên ế Xác định sự độc lập của làng

Bản ch t ấ Dương tính, hướng ngoại Âm tính, hướng nội

Sân đình, bến nước, cây đa Lũy tre

- Tinh thần đoàn kết tương trợ

- Nếp sống dân ch bình ủ đẳng

- Sự thủ tiêu vai trò cá nhân

- Óc tư hữu, ích kỷ

- Óc bè phái, địa phương

- Óc gia trưởng tôn ti

Tính cộng đồng và tự trị ủ c a làng xã

1.2 Tính cộng đồng nh n m nh vào Sấ ạ Ự ĐỒNG NHẤT.

Người Việt Nam luôn sẵn sàng đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị em trong gia đình Tinh thần "tay đứt ruột xót, chị ngã em nâng" thể hiện sự gắn bó chặt chẽ, cùng nhau vượt qua khó khăn Sự đồng nhất này không chỉ thể hiện qua những hành động cụ thể mà còn là nguồn gốc của tính tập thể cao, giúp họ hòa nhập và sống chung trong cộng đồng.

2 Trầ n Ng c Thêm 1999 ọ Cơ sở văn hóa Việ t Nam Nhà xu t b n giáo d c,tr99 ấ ả ụ

6 nếp s ng dân chố ủ – bình đẳng b c l trong các nguyên t c tộ ộ ắ ổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp

Tính t ự trị chú tr ng nh n m nh vào S KHÁC BI ọ ấ ạ Ự ỆT

Mỗi cộng đồng làng ở Việt Nam đều có những đặc điểm riêng biệt, tạo nên tính tự trị và bản sắc văn hóa độc đáo Những đặc điểm này không chỉ phản ánh môi trường sống mà còn là nền tảng cho sự phát triển cộng đồng Do đó, người Việt Nam đã hình thành những truyền thống phong phú, từ việc đầu tư vào đất đai đến việc duy trì các giá trị văn hóa Mỗi làng đều có những cách thức riêng để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của người dân, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú trong đời sống cộng đồng.

3 Trầ n Ng c Thêm 1999 ọ Cơ sở văn hóa Việ t Nam Nhà xu t b n giáo d c,tr100 ấ ả ụ

7 làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chu ng gà, ao cá tồ – ự đảm b o nhu c u vả ầ ề ăn; có bụi tre, rặng xoan, g c mít tố – ự đảm b o nhu c u vả ầ ề ở

Người Việt Nam thường có thói quen ích kỷ, thể hiện qua việc chỉ lo cho bản thân và gia đình mình, mà không quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng Tính tự trị của làng xã Việt Nam đã dẫn đến sự phát triển của tư duy này, với nhiều người chỉ chăm chăm vào tài sản của mình mà bỏ qua sự cần thiết phải hỗ trợ lẫn nhau Điều này đã được phê phán trong xã hội, khi mọi người thường chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không chú ý đến trách nhiệm với người khác.

Thói xu thế cục bộ thể hiện rõ qua sự bảo thủ và thiên vị cho địa phương của mình, với quan niệm "trống làng nào làng nấy đánh" và "thánh làng nào làng nấy thờ" Điều này dẫn đến sự khép kín, nơi mỗi làng chỉ chăm lo cho lợi ích riêng, như câu nói "trâu ta ăn cỏ đồng ta" và "ta về ta tắm ao ta" Dù có khó khăn, người ta vẫn ưu tiên cho quê hương mình, thể hiện tình yêu và sự gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn.

Một biểu hiện rõ nét của tính cách đặc trưng – cơ sở của tính tự trị – là óc gia trưởng và tôn ti Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông thôn theo huyết thống, không phải là xấu, nhưng khi gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm lý quyền huynh thế phụ, áp đặt ý muốn của mình lên người khác, dẫn đến tư tưởng thứ bậc vô lý Sống lâu lên lão làng; áo mũ không qua khố, trở thành một cản trở đáng sợ cho sự phát triển xã hội, nhất là khi thói gia đình chủ nghĩa vẫn lan tràn Đặc điểm môi trường sống quy định tính cách tư duy, và cả hai yếu tố này định hình tính cách của dân tộc Cuộc sống nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biến chứng dẫn đến sự hình thành nguyên lý âm dương và lối ứng xử nước đôi Tính chất nước đôi là đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam, thể hiện qua sự kết hợp giữa tinh thần đoàn kết tương trợ và óc tư hữu, ích kỷ; sự hòa đồng nhưng vẫn có tính bè phái, địa phương; lối sống dân chủ bình đẳng nhưng cũng mang tính gia trưởng tôn ti; và sự cẩn trọng, nhạy bén nhưng đôi khi lại có thói dã man Tất cả những điều này tạo nên một bức tranh đa dạng về tính cách dân tộc.

Tại Việt Nam, tồn tại hai đặc trưng gốc trái ngược là tính cộng đồng và tính tự trị Tùy thuộc vào hoàn cảnh, những đặc trưng này có thể được phát huy khác nhau Khi đối mặt với những khó khăn lớn và nguy cơ đe dọa sự sống còn của cộng đồng, tinh thần đoàn kết và tính tập thể sẽ nổi bật Tuy nhiên, khi nguy cơ qua đi, thói tư hữu và sự bè phái địa phương có thể lại xuất hiện.

K t ể ừ Đổ i m ới (1986) đến nay, các đặc trưng đó có nhữ ng bi ến đổi như thế nào?

Biến đổi tích cực

1.1 Biến đổi chính trị - quản lý: Sự trở lại c a tủ ự quản c p thôn và vai trò ấ của hương ước

Trong giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị ở ấp cơ sở (làng xã) đã có những thay đổi quan trọng so với giai đoạn hợp tác hóa nông nghiệp trước đó Đầu tiên, vai trò của cấp thôn và trưởng thôn đã được khẳng định trở lại, cho thấy sự phục hồi và củng cố quyền lực tại cơ sở Thứ hai, sự trở lại của hương ước trong quản lý địa phương đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý ở nông thôn.

Trong giai đoạn đổi mới từ 1990 đến 1993, hương ước mới được các làng xây dựng một cách tự phát mà chưa có văn bản chính thức nào của Nhà nước xác nhận vai trò của chúng Từ năm 1993, hương ước bắt đầu được điều chỉnh bởi các quy định của Nhà nước, với Nghị quyết 05 - NQ/HNTW ngày 10 tháng 6 năm 1993 khẳng định vai trò quan trọng của hương ước trong việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Nghị quyết này khuyến khích xây dựng và thực hiện hương ước, góp phần duy trì văn minh tại các thôn, xã Sau đó, nhiều văn bản khác tiếp tục cụ thể hóa vai trò của hương ước trong đời sống cộng đồng làng xã Hương ước mới đã điều chỉnh nhiều lĩnh vực xã hội, từ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường, đến an ninh trật tự và đời sống văn hóa tín ngưỡng Sự trở lại của hương ước đánh dấu một biến đổi quan trọng trong đời sống chính trị của làng xã trong quá trình đổi mới.

1.2 Biến đổi văn hoá – tín ngưỡng: Phục hưng lễ ộ ộng đồ h i c ng làng và ở gia tăng lễ nghi trong các sự kiện của chu trình đời người

Trong giai đoạn Đổi mới, đời sống văn hóa - tín ngưỡng ở các làng xã đã có những chuyển biến rõ rệt, nổi bật là sự phục hồi các hoạt động văn hóa và tín ngưỡng liên quan đến đình, đền, chùa Bên cạnh đó, việc tăng cường các lễ nghi liên quan đến thờ cúng tổ tiên, tang ma và cưới xin cũng được chú trọng, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cộng đồng.

Chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa trong giai đoạn Đổi mới đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi đời sống văn hóa và tín ngưỡng ở các làng xã Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc Nghị quyết này khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Từ góc nhìn này, việc phục hồi và phát triển các lễ hội cộng đồng ở các làng xã đã góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Trong hơn 30 năm đổi mới đất nước, văn hóa tín ngưỡng ở các làng xã đã chứng kiến sự phục hưng lễ hội cộng đồng và gia tăng nghi lễ liên quan đến chu trình đời người như cưới và tang Hai hiện tượng này không chỉ phản ánh sự biến đổi trong đời sống văn hóa – tín ngưỡng mà còn thể hiện sự phát triển kinh tế và những thay đổi trong chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ Đổi mới.

1.3 Biến đổi kinh t : T kinh t hế ừ ế ợp tác xã đến kinh t hế ộ gia đình và sự hội nhập làng xã trên phương diện kinh tế

Về việc thay đổi chính sách trong nông nghiệp, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW vào ngày 13 tháng 1 năm 1981, nhằm cải tiến công tác khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị này cụ thể hóa chủ trương của Hội nghị lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc mở rộng thực hiện các hình thức khoán sản phẩm Cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động được xem là một hình thức quản lý sản xuất có trách nhiệm và quyền lợi gắn liền với người lao động đối với sản phẩm cuối cùng Tuy nhiên, thực tiễn của cơ chế khoán này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

Hợp tác xã nông nghiệp cần quản lý chất lượng và sử dụng hiệu quả các tư liệu sản xuất, đặc biệt là đất đai, sức kéo, phân bón, công cụ và cơ sở vật chất – kỹ thuật của tập thể Đồng thời, hợp tác xã cũng phải tổ chức tốt việc quản lý và điều hành lao động để đảm bảo hiệu quả trong sản xuất.

Một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi từ hợp tác xã sang hình thức sản xuất dựa trên đơn vị sản xuất hộ gia đình được thể hiện qua "Nghị quyết của Bộ Chính trị, số 10 ngày 5 tháng 4 năm 1988, về Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp" Nghị quyết này nhấn mạnh việc hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm, nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhóm hộ và xã viên, cũng như người lao động Trong ngành nông nghiệp, cần điều chỉnh diện tích giao khoán để khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh mún hiện nay, đảm bảo người nhận khoán canh tác trên diện tích có quy mô hợp lý và ổn định trong khoảng thời gian 15 năm.

Quá trình xác lập vai trò tự chủ của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp đã chuyển từ cơ chế giao khoán cho nông dân đến việc các hộ gia đình tự chủ trong sản xuất trên những phần đất đã được giao ổn định và lâu dài Đến cuối năm 1999, cả nước đã hoàn thành việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp theo nghị định 64/CP của Chính phủ, với 10.417.437 hộ nông dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 5.852.750 ha, chiếm 88,55% về số hộ và 81,79% về diện tích đất nông nghiệp được giao Điều này cho thấy hộ nông dân đã trở thành những đơn vị quản lý và sử dụng phần lớn đất đai nông nghiệp, đánh dấu sự khôi phục kinh tế của hộ gia đình sau những thay đổi chính sách từ năm 1981.

Trên th c t , vi c phát tri n kinh t h ự ế ệ ể ế ộ gia đình đã tạo ra nh ng thay ữ đổi trên nhiều phương diện khác nhau của làng xã

1.4 Biến đổi từ không gian đến biến -văn hoá – xã hội

5 TRương Thị Tiến 2002 Quá trình xác l p vai trò t ậ ự chủ ủ c a kinh t h nông ế ộ

Quá trình xây dựng nông thôn mới đã được triển khai sâu rộng ở các vùng nông thôn, mang lại nhiều thay đổi cho làng xã Đầu tiên, không gian làng xã đã có sự biến đổi rõ rệt do việc thực hiện các tiêu chí quy hoạch, bao gồm quy hoạch sử dụng đất, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển các khu dân cư mới Các tiêu chí về giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn và nhà ở cũng được chú trọng trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Để đạt được các tiêu chí này, nhiều làng xã đã có sự thay đổi về không gian Biến đổi không gian làng diễn ra dưới tác động của chính sách xây dựng nông thôn mới, với hiện tượng đô thị hóa khi đất đai được sử dụng cho sản xuất công nghiệp và xây dựng nhà ở theo nhu cầu của các hộ gia đình Hơn nữa, các công trình công cộng mới đã làm thay đổi vị trí trung tâm của nhiều làng xã trước đây.

Biến đổi làng xã trong quá trình xây dựng nông thôn mới diễn ra trên các phương diện văn hóa, xã hội và môi trường Những thay đổi này xuất phát từ việc các địa phương thực hiện các tiêu chí liên quan đến giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

Biến đổi tiêu cực

2.1 Sự biến tướng tiêu cực của hương ước làng xã

Làng xã Việt Nam có một lịch sử lâu dài và bền vững, đã duy trì hiệu quả qua hàng nghìn năm, vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên Người nông dân Việt Nam rất hiểu biết về thiên nhiên và thường hòa đồng với nó, đồng thời cũng có sự tôn trọng lớn đối với sức mạnh của thiên nhiên Khi làng xã phát triển, họ đã hình thành các quy ước (hay hương ước) để bảo vệ cộng đồng, quy định rõ ràng các khía cạnh của đời sống trong làng Hệ thống quy định này giúp cho làng xã hoạt động ổn định và bền vững.

Các quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi thành viên trong cộng đồng được xác định rõ ràng, giúp bộ máy hành chính quản lý làng xã trở nên nhẹ nhàng nhưng hiệu quả Mọi người khi trở về làng đều phải tuân theo lệ làng, trong đó hương ước và thói quen địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý Người dân thường cho rằng việc tuân thủ lệ làng quan trọng hơn cả, thể hiện qua câu nói “phép vua thua lệ làng” và “gông làng vừa mang vừa hát”.

Hương ước là quy định tự nguyện do người dân thảo luận và đề ra, nhưng hiện nay, nhiều nơi áp đặt hương ước từ trên xuống, dẫn đến sự đồng nhất giữa các làng Trước đây, hương ước của mỗi làng đều có nét riêng Theo Vũ Duy Mền, người dân thường tham gia vào việc xây dựng nội dung hương ước vì nó liên quan trực tiếp đến họ, mặc dù nhiều người không biết chữ và chỉ điểm chỉ vào hương ước Tuy nhiên, phương thức xây dựng hương ước hiện tại đang làm mất giá trị của nó, vì các quy định không gắn liền với thực tiễn và nhận thức của người dân Do đó, hương ước, một công cụ quản lý làng xã hiệu quả, đã bị xem nhẹ và bỏ qua.

Nông dân Việt Nam gắn bó sâu sắc với làng quê và ruộng đất, thể hiện tình yêu quê hương Tuy nhiên, tâm lý của người tiểu nông thường có xu hướng cục bộ, không thích người khác cạnh tranh với mình và dễ dàng hình thành bè phái Tâm lý này bị lợi dụng bởi một số người trong bộ máy nhà nước để thao túng cơ quan Về mặt kinh tế và các lĩnh vực khác, những ai kém hơn thường bị khinh thường và ghét bỏ, trong khi những người có cùng địa vị thì lại được nâng đỡ Do đó, việc hình thành ý niệm về bình đẳng giữa con người trở nên khó khăn, và khi không có bình đẳng, dân chủ cũng không thể tồn tại.

Người tiểu nông thường có tâm lý cào bằng và ghen ghét, không thích người khác vượt trội hơn mình Họ tin rằng "dại bầy hơn khôn lỏi" và "khôn độc không bền đoàn", thể hiện sự e ngại trước thành công của người khác.

Người tiểu nông thường không phát huy sáng kiến do tâm lý đám đông và tâm lý a dua, dẫn đến sự thụ động và thiếu khả năng phân biệt đúng sai Tâm lý của họ có thể được chia thành hai loại: tích cực và tiêu cực Tâm lý tiêu cực thường cản trở sự phát triển của họ, trở thành công cụ cho những người cường hào trong làng xã, khiến họ dễ bị lợi dụng.

Cường hào làng xã là những người có ch c s c trong làng và áp b c nông dân ứ ắ ứ

Từ thế kỷ XVII trở đi, khi chế độ quân chủ khủng hoảng, làng xã Việt Nam rơi vào tình trạng tiêu điều, đói khổ do chiến tranh và thiên tai, tạo điều kiện cho tầng lớp cường hào thao túng Cường hào xuất hiện do nguyên nhân khách quan, với làng xã bị bao bọc bởi lũy tre, kinh tế tiểu nông khép kín, và người dân thiếu thông tin, tách biệt với thế giới bên ngoài Trong làng, các dòng họ và đẳng cấp tồn tại, khiến người đứng đầu dòng họ thường lấn át và thao túng quyền lực Khi người nông dân sợ hãi, cường hào có thể chống lại chính sách của nhà nước để tư lợi, dẫn đến việc người dân mất dần tính chất dân chủ.

Tình trạng kéo bè, kéo cánh trong làng tạo điều kiện cho các kẻ mạnh lũng đoạn dân làng Các máy cai trộm ở thôn quê hình thành dựa trên hiệp thương giữa các phe cánh, chủ yếu xoay quanh các dòng họ Tính chất huyết thống của dòng họ khiến việc điều hành của người có quyền lực trở nên khó khăn Chính sách của nhà nước lẽ ra cần được thảo luận với người dân, nhưng thực tế là họ hầu như không có quyền tham gia Người dân không có dân chủ vì mọi quyết định đều do cường hào quyết định Điều này cho thấy lực lượng cản trở dân chủ ở nông thôn, cả xưa và nay, chính là cường hào làng xã.

16 có cường hào, đó là cường hào m i Mu n dân ch hóa nông thôn thì ph i xóa b t ớ ố ủ ả ỏ ệ nạn cường hào 6

3 Tính tự trị ủa làng xã Đồng b ng sông H c ằ ồng thông qua hương ước hiện nay

Hương ước giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định cuộc sống của dân làng và là công cụ quản lý của Nhà nước đối với làng xã Tuy nhiên, thực dân Pháp đã lợi dụng hệ thống này để cai trị nhân dân Việt Nam Cuộc “Cải lương hương chính” vào đầu thế kỷ XX nhằm củng cố bộ máy chính quyền thực dân tại nông thôn Nhà nước thực dân đã trực tiếp quản lý Hương ước của các làng xã thông qua việc áp dụng “Hương ước mẫu”, buộc các làng phải dựa vào đó để soạn thảo Hương ước riêng Mặc dù Hương ước cải lương được thực hiện chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ với mục đích phục vụ cho chính quyền thực dân, nhưng nhiều bản Hương ước trong giai đoạn này vẫn chứa đựng những yếu tố tích cực.

Sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chủ trương xây dựng Hương ước ở nông thôn, vì lúc bấy giờ, Hương ước được coi là biểu hiện của tư tưởng cổ hủ và lối sống lạc hậu Tuy nhiên, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đường lối đổi mới đã được khởi xướng, mang lại nhiều chuyển biến quan trọng trong xã hội, đặc biệt là những thay đổi trong làng xã Làng (thôn, ấp, bến) đã dần trở lại vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Chính sách đổi mới không chỉ đem lại hiệu quả thiết thực trong kinh tế mà còn cải thiện đời sống văn hóa.

Tôi không biết!

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo làng xã Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Hồng, khiến nhiều phong tục tập quán và biểu tượng văn hóa như “cây đa, bến nước, sân đình” dần bị thu hẹp hoặc biến mất Diện tích đất nông nghiệp giảm, kinh tế trở nên đa dạng hơn, nhưng chế độ phân chia ruộng đất không còn được đề cập nhiều trong các bản Hương ước hiện nay, mà chủ yếu tập trung vào các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, đạo lý gia đình – xã hội và trật tự trị an Sự thay đổi này cũng phản ánh sự biến đổi của tính tự trị làng xã tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

3.1 Thực tr ng biạ ến đổi tính t ựtrị của làng xã đồng b ng sông H ng thông ằ ồ qua Hương ước

3.1.1 Sự biến đổi trong quy định về lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng Để phù hợp với thời kỳ công nghi p hóa hiệ ện đại háo ngày nay, các quy định về lễ hôi trong Hương ước cũng có sự biến đổi Trong xã hội cổ truyền, lễ hội được tổ chức bởi phe giáp ở làng xã với sự phân công mang tính cộng đồng, vi c tệ ổ chứ ễc l hội s luân phiên t giáp này t i giáp khác trong mẽ ừ ớ ỗi năm hoặc kỳ l h i Ngày nay, ễ ộ việc tổ chứ ễ ội đã có nhiềc l h u sự thay đổi, có th do chính quy n tr c ti p tể ề ự ế ổ chức, huy động cộng đồng tham gia ho c cặ ộng đồng tr c ti p tự ế ổ chức dướ ự hưới s ng d n, ẫ chỉ đạo c a chính quyủ ền địa phương Lễ ội trước đây đượ h c tổ chức trong không gian làng xã nhưng không gian này hiện nay có nhiều thay đổi, biến dạng Nhiều công trình di tích đình, đền, miếu nay đã không còn hoặc đã được sử dụng vào mục đích khác nên nhiều lễ hội đã không thể khôi phục được các trò di n, cuễ ộc rước như xưa Việc tổ ch c và qu n lý l h i truy n th ng cứ ả ễ ộ ề ố ủa làng xưa kia thường không bị chi phối nhiều bởi lượng khách thập phương, mà chủ ếu là “người của làng y mình”, các làng đều t ổchứ ễ ộ ớn để thể hiện s uy nghiêm c a làng mình Ngày c l h i l ự ủ

Sự gia tăng khách thập phương trong các lễ hội truyền thống đã khiến nhiều cộng đồng địa phương chuyển hướng tổ chức các sự kiện này chủ yếu phục vụ du khách, thay vì tập trung vào cư dân địa phương như trước Điều này cho thấy sự biến đổi trong tính chất và bản sắc văn hóa của làng xã, phù hợp với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các lễ hội không còn bị giới hạn trong khuôn khổ làng mà đã mở rộng ra, mang lại nguồn thu nhập lớn và giải quyết việc làm cho nhiều người Gia đình luôn giáo dục con cháu về việc tôn kính các thánh thần tại đền, đình, miếu, chùa, nhắc nhở họ giữ gìn và bảo vệ những di sản văn hóa này Quan niệm xưa cho rằng mọi di vật trong các công trình tôn nghiêm đều mang tính thiêng, vì vậy việc làm hư hỏng hay mất mát có thể dẫn đến những hệ lụy xấu, từ bệnh tật đến bất hòa trong gia đình Do đó, ý thức bảo vệ các di tích này đã ăn sâu vào tâm trí của người dân, khiến họ luôn tôn trọng và gìn giữ tính thiêng liêng của chúng.

Trong các bản Hương ước, có quy định bảo vệ di sản văn hóa của làng, đặc biệt là các di sản vật thể như đình, chùa, miếu và các nghi thức tôn giáo Các quy định này nhằm ngăn ngừa và xử phạt nghiêm khắc các hành vi xâm phạm di tích, như chặt cây, gây mất vệ sinh và làm rối loạn trật tự trong khu vực Những di vật quý giá được gìn giữ cẩn thận và bảo mật, nhằm đảm bảo sự an toàn cho các di sản văn hóa của làng.

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Lê Nguy ễn Lưu. 2006. Đi s ống văn hó  a l ng xã. Huế : Nh à Xuấ ản Thuận t b Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa làng xã
Tác giả: Lê Nguy ễn Lưu
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Thuận Tộ Hóa
Năm: 2006
2. Ngô Phương Thả o. 2017. Văn hóa lng xã Việ t Nam trong thi hi ện đạ i. 2 10. https://nhandan.vn/van-hoa-lang- -viet-nam-trong-thoi-hien-dai- xa post285019.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã Việt Nam trong thời hiện đại
Tác giả: Ngô Phương Thả o
Năm: 2017
4. Trần Đình Hượu. 1996. Đến hi ện đạ ừ i t truy n th ề ống. Nhà xu t b n Hà N ấ ả ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại truyện th ể ổng
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1996
5. Trầ n Ng c Thêm. 1999. ọ Cơ sở văn hóa Việ t Nam. Nhà xu t b n giáo d ấ ả ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Năm: 1999
3.2020. Thách th ức đố ớ ự v i s phát tri n c a làng xã Vi t Nam hi n nay. ể ủ ệ ệ 2 2. https://vass.gov.vn/tap-chi-vien-han-lam/thach-thuc-doi- voi-su -phat-trien- lang- -viet-nam-hien-nay- xa 12 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w