Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, đặcbiệt là quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng như quá trình giaolưu, tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
VĂN HÓA CHĂM
TÊN ĐỀ TÀI VĂN HÓA DÂN TỘC CHĂM
Nhóm sinh viên thực hiện: 22DDL
Mã số sinh viên: D19DT004 Lớp: ĐH VH DTTS 12 Năm học: 2022 – 2023
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 12 năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do và mục đích chọn đề tài 4
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
2.1 Ý nghĩa khoa học 5
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 8
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 8
5.2 Giả thiết nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Bố cục của đề tài 9
CHƯƠNG 1 11
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGƯỜI BA-NA Ở KON TUM 11
1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 11
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11
1.1.2 Dân số và dân tộc 11
1.1.3 Kết cấu hạ tầng và tiềm năng du lịch 12
1.2 Tổng quan về người Ba-na 12
1.2.1 Tộc danh 13
1.2.2 Lịch sử tộc người 13
1.2.3 Đặc điểm và phân bố cư trú của các nhóm địa phương 14
1.2.4 Đặc điểm văn hóa sinh hoạt truyền thống 15
CHƯƠNG 2 17
NGHỀ DỆT THỔ CẨM CỦA NGƯỜI BA-NA Ở KON TUM 17
2.1 Quá trình hình thành và phát triển 17
2.1.1 Lịch sử hình thành theo truyền thống 17
2.1.1 Theo phong tục tập quán 17
Trang 42.2 Nguyên liệu dệt 17
2.2.1 Nguyên liệu 17
2.2.2 Công cụ 19
2.2.3 Khung dệt 19
2.3 Kỹ thuật dệt 20
2.3.1 Kỹ thuật 20
2.3.2 Quy trình dệt 21
2.3.3 Kỹ thuật tạo hoa văn 24
2.3 Về màu sắc hoa văn trên thổ cẩm 25
2.3.1 Màu sắc 25
2.3.2 Hoa văn 26
CHƯƠNG 3 28
NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG NGHỀ DỆT THỔ CẨM, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY 28
3.1 Nguyên nhân 28
3.1.1 Sự phát triển của xã hội 28
3.1.2 Tác động của con người đến điều kiện tự nhiên 28
3.1.3 Điều kiện kinh tế gia đình 28
3.2.4 Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa 29
3.2 Những biến đổi 29
3.2.1 Biến đổi về nguyên liệu 29
3.2.2 Biến đổi về hoa văn 29
3.2.3 Biến đổi về cách thiết kế trang phục 30
3.3 Ý nghĩa về sự biến đổi 30
3.3.1 Ý nghĩa 30
3.4 Giải pháp bảo tồn và phát huy 30
3.4.1 Nhận định 30
3.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy 31
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 36
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do và mục đích chọn đề tài
Kon Tum là tỉnh có nền văn hóa đa dạng và phong phú với các dân tộc bảnđịa gồm Xơ-đăng, Ba-na, Gia Rai, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, mỗi dân tộc gắnvới những giá trị văn hóa đặc sắc riêng tạo nên sự đa dạng và nhiều màu sắctrong văn hóa Văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bảnsắc rõ nét Đấy chính là sự sáng tạo đặc sắc của các thế hệ nghệ nhân dân giancác dân tộc ít người làm nên bản sắc văn hóa phục vụ đời sống vật chất, tinh thầnrất phong phú của mình, được trao truyền từ đời này sang đời khác và trưởng tồncùng với thời gian
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, đặcbiệt là quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng như quá trình giaolưu, tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc, văn hóa truyền thống của các dân tộccũng như văn hóa dân tộc Ba Na đã bị mai một và biến đổi nhiều Việc tìm hiểuvăn hóa truyền thống và sự biến đổi của nó trong quá trình phát triển kinh tế và
sự tiếp biến văn hóa sẽ cung cấp dữ liệu cho các nhà hoạch định chính sách,hướng tới xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyềnthống các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Ba-na ngày nay
Với tính cần cù, với bàn tay khéo léo, với trí thông minh, sáng tạo và xuấtphát từ nhu đảm bảo nhu cầu đời sống vật chất, người Ba-na ở Kon Tum đã pháttriển các nghề thủ công và hình thành nên các làng nghề nổi tiếng cho đến ngàynay Trong đó, trang phục là một trong những vật phẩm quan trọng nhất nóiriêng, người dân nói chung vì nó gắn liền với đời sống hàng ngày của con người
Vì vậy, nghề dệt thổ cẩm truyền thống rất được coi trọng và phát triển Hơn nữa,trước đây, người Ba-na thường sống theo phương thức tự cung tự cấp nên aicũng biết dệt vải Đặc biệt, người mẹ thường truyền lại cách dệt vải cho con gái,
vì qua trang phục, người con gái thể hiện được năng khiếu và vẻ đẹp của mình
Trang 6Với vải thổ cẩm, màu sắc và những hoa văn trên vải thể hiện được nét đặc sắc,nét văn hoá, mỹ thuật của mỗi dân tộc Do vậy, nghệ thuật dệt hoa văn trên vải lànghệ thuật tạo ra những biểu tượng và tín hiệu văn hoá riêng của mỗi dân tộc Thổcầm của người Ba-na cũng mang những đặc trưng riêng, thể hiện nét hài hòa của núirừng Tây Nguyên hùng vĩ với văn hóa đăc]trưng của vùng đất này.
Vì vậy, qua việc tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm, tôi muốn tìm hiểu những nét vănhoá đặc sắc của người Ba-na; muốn biết họ gìn giữ và duy trì nghề truyền thống nàynhư thế nào Bên cạnh đó, tôi cũng muốn biết nghề dệt thổ cẩm của người Ba-na ởKon Tum đang được gìn giữ và bảo tồn như thế nào và những người sống bằng nghềnày sẽ khắc phục ra sao Đó là lý do và mục đích tôi chọn đề tài này
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cũng làm nổi bật văn hóa đặc trưng về nghề dệt thổ cẩm của ngườiBa-na ở Kon Tum,Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài tiểu luận này sẽ làmột nguồn tài liệu nhỏ góp phần cho các công trình nghiên cứu về văn hóangười Ba-na cũng như các công trình nghiên cứu về nghề thủ công khác.Làm nguồn tài liệu tham khảo
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu của tôi không chỉ dừng lại ở việc làm nổi bật đặc trưngtrong nghề dệt thổ cẩm, tìm hiểu sự biến đổi trong nghề dệt mà tôi còn đưa ranhận định để góp phần vào công tác đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy nhữnggiá trị văn hóa sinh hoạt được thể hiện trong nghề thủ công truyền thống củangười Ba-na trong thời điểm hiện nay
Giúp mọi người hiểu được giá trị của nghề thủ công truyền thống, cụ thể
là nghề dệt bddeer ý thức và giữ gìn, phát huy Đồng thời làm cho văn hóa củacộng đồng càng được nhiều người biết đến, đón nhận, học hỏi, tìm hiểu
6
Trang 73 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân tộc nào cũng có nền văn hoá đặc trưng riêng của mình Hiện nay, dùkinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin phát triển, nhiều người cũngmuốn tìm về với những đặc trưng văn hoá truyền thống của từng dân tộc Nhờ
đó mà các quốc gia có thể thu hút nhiều du khách nước ngoài đến tham quan vàtìm hiểu cuộc sống người dân bản địa Hơn nữa, sự phát triển của ngành du lịchcũng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của một nước Vì vậy, các nước trên thếgiới hiện nay đang đầu tư nhiều vào việc bảo tồn và phát triển những nét đặctrưng văn hoá truyền thống, giáo dục và đào tạo thế hệ sau kế thừa, giữ gìn vàphát huy những giá trị ấy
Dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống rất độc đáo của ViệtNam Nghề dệt thổ cẩm và vải thổ cẩm đã thu hút được sự quan tâm của nhiềunhà nghiên cứu Trong đó, sự quan tâm thường hướng đến sự đặc sắc về màusắc, các họa tiết hoa văn thổ cẩm của người dân tộc thiểu số Đáng chú ý là cácbài viết: “Thổ cẩm Chăm- mỹ nghiệp: Đứng vững trên thị trường nhờ nét hoavăn truyền thống” của Ngọc Lan (Báo Dân tộc và Phát triển), “Ngôn ngữ thổcẩm Việt Nam” của Nguyễn Thu Thủy (Báo Hà Nội mới), “Thổ cẩm TâyNguyên nhìn từ nhiều góc độ bảo tồn văn hóa” của Linh Nga Niê Kdam (Tạp chiDân tộc) Một số bài viết băn khoăn về sự phát triển của nghề dệt thổ cẩm: “Duytrì và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở Nghệ An” (Hội doanh nghiệp Nghệ Tỉnh ởTPHCM), “Dệt thổ cẩm Chăm Ninh Thuận, hiện trạng và giải pháp” (Irasara),
“Hãy cứu nghề dệt thổ cẩm truyền thống” (P.T, Báo Công an Nhân dân) v.v Vương Liêm (2009) có bài: “Làng dệt thổ cẩm Hà Ri” viết về nghề dệt thổcầm của người Ba-na Hoài Thu (2009), ca ngợi những “Bóng mát ở làng nghề”,trong đó có những bóng mát của nghề dệt thổ cẩm Đó là những nghệ nhân caoniên nặng lòng với nghề (ông Tám Vũ và bà Năm Thìn)
Trang 8Trong bài “Dệt hồn núi giữa đồng bằng”, Hoài Thu khẳng định: “Thời cựcthịnh, thổ cẩm Phương Danh rất được đồng bào thiểu số khu vực miền Trung và TâyNguyên ưa chuộng ” Tác giả cho rằng, dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh là “dệt hồnnúi giữa đồng bằng” Trong bài “Nghệ nhân cao tuổi với nghề dệt thổ cầm
ở Bình Định”, Vương Liêm đã giới thiệu nghề dệt thổ cầm ở Nam Phương Danh
và khẳng định: “Thổ cẩm nơi đây mang tính đặc thù, đó là sự kết hợp hài hòa củanền văn hóa Chăm với văn hóa Việt, giao thoa của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ
và văn hóa cồng chiêng, trong các điệu múa, trong sử thi”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là văn hóa người Ba-na ở Kon Tumqua khía cạnh nghề dệt thổ cẩm, đây là một nét đặc trưng riêng của tộc ngườiBa-na cụ thể là các nhóm địa phương ở Kon Tum
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi nghiên cứu về thời gian
Đề tài nghiên cứu này tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi thời gian
từ năm 1997 đến nay Trong khoảng thời gian đó, nghề dệt thổ cẩm có sự biếnđổi rất nhiều so với trước đây Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu dựa trên các tư liệucủa các công trình trước đó, dựa vào lịch sử tộc người Ba-na như được học
4.2.2 Phạm vi nghiên cứu về không gian
Hiện nay, ở Bình Định, nói đến nghề dệt thổ cẩm truyền thống, người tathường nhắc đến các làng dệt của người Bana Đó là làng Bok Tới, làng Đak Mang
ở huyện Hoài Ân và làng Hà Ri ở huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh Trong điều kiện vàthời gian cho phép, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu nghề dệt thổ cảm của người Ba-
na ở Kon Tum chung chung Vì chưa có nhiều thời gian để đi trực tiếp nghiên cứu nêntôi chỉ nghiên cứu tổng hợp dựa trên các tài liệu mà các nhà nghiên
8
Trang 9cứu, tác giả trước đã có và một chút hiểu biết của mình Ngoài ra đề tài này còn
mở rộng nghiên cứu để so sánh với dệt thổ cẩm của các tộc người khác ở TâyNguyên hoặc vùng khác trong đất nước Việt Nam Tôi hy vọng sẽ có những đềtài lớn, nghiên cứu sâu hơn và có giá trị thực tiễn hơn cho đề tài này
4.2.3 Phạm vi nghiên cứu về nội dung
Trong sự giới hạn về khả năng hiểu biết của bản thân và đây là một bướctrong việc nghiên cứu nhỏ về nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Ba-nanên trong đề tài này, tôi chỉ giới hạn đến các nội dung như sau: Tổng quan vềđiều kiện tự nhiên và người Ba-na ở Kon Tum, đặc trưng của nghề dệt thổ cẩmtruyền thống, sự biến đổi và giải pháp để bảo tồn và phát huy
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Người Ba-na có những nghề thủ công truyền thống nào?
- Những nét tương đồng hay khác nhau giữa nghề dệt truyền thồng củangười Ba-na với các dân tộc Tây Nguyên và các vùng khác của Việt nam như thếnào?
- Nghề dệt của người Ba-na có những biến đổi gì trong giai đoạn ngày nay?
- Trang phục sinh hoạt thường ngày, trang phục lễ hội, trang phục lễ cưới, trang phục khi tham dự các lễ tôn giáo của họ hiện nay như thế nào?
- Cần đưa ra nhận định, giải pháp gì để giúp bảo tồn và phát huy nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Ba-na ở Kon Tum?
5.2 Giả thiết nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, tôi đặt ra ba giả thuyết:
Thứ nhất, người Ba-na ở Ton Tum canh tác nương rẫy nhưng ít người còngiữ trồng bông dệt vải
Trang 10Thứ hai, nghề dệt truyền thống của họ ngày nay có nhiều biến đổi đặc biệttrong nguyên liệu, hoa văn, màu sắc
Thứ ba, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa làm cho giới trẻ cũng như ngườilớn có sự thay đổi trong phong cách ăn mặc, cách thiết kế trang phục truyềnthống có nhiều kiểu mới, đa dạng
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp so sánh: Tôi dùng phương pháp này để tìm ra những đặc điểmgiống cũng như khác nhau giữa nghề dệt thổ cẩm của người Ba-na với dân tộckhác
- Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: Dựa vào các công trình nghiên cứutrước, các lý luận có trong các sách về văn hóa, văn hóa học, các công trình vềvăn hóa tộc người, vùng văn hóa, về trang phục, về nghề thủ công truyền thống
và biến đổi là trọng tâm để tham khảo, so sánh, đối chiếu Tôi thực hiện đề tàinày với sự tiếp thu có chọn lọc của các công trình nghiên cứu trước về văn hóangười Ba-na và đặc trưng nghề dệt thổ cẩm truyền thống
7 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài, ngoài phần dẫn luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì trong đề tài này, tôi trình bày 3 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và người Ba-na ở Kon Tum
Ở chương đầu, tôi trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu qua các nội dungnhư vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, dân số, dân tộc, kết cấu hạ tầng và tiềm năng
du lịch là cơ sở để tôi hoàn thành chương 2 và chương 3 Ngoài ra, để dễ dàng tiếpcận với đề tài, tôi cũng trình bày sơ lược về người Ba-na ở Kon Tum: Tôi
Trang 11bắt đầu trình bày về lịch sử các tộc người, tộc danh, đặc điểm và phân bố cư trúcác nhóm địa phương ở Kon tum và cuối cùng là đặc điểm văn hóa truyền thống.Chương 2 Nghề đệt thổ cẩm của người Ba-na ở Kon Tum
Trong chương này, tôi tìm hiểu và nghiên cứu nghề dệt thổ cẩm truyềnthống của người Ba-na qua các nội dung sau: Trình bày vài nét về quá trình hìnhthành và phát triển, nguyên liệu dệt, kỹ thuật dệt, màu sắc hoa văn trên thổ cẩm.Chương 3 Những biến đổi trong nghề dệt thổ cẩm, giải pháp bảo tồn và pháthuy
Tiếp nối chương 2, trong chương 3 tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứunguyên nhân của sự biến đổi về nghề dệt thổ cẩm, ý nghĩa của sự biến đổi, sau
đó nhận định để đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy
Cuối cùng là phần kết luận
Đây là phần tổng kết lại những nội dung, vai trò của nghề dệt đối với đời sống của người dân tộc Ba-na ở Kon Tum
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGƯỜI BA-NA Ở KON
TUM 1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyêntrong toạ độ địa lý từ 13°5510” đến 15°27’15” vĩ độ bắc; 107°20’15” đến 108°32′30”kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam có chiều dài 152 km; phía nam giáp tỉnhGia Lai có chiều dài ranh giới 158 km; phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi với chiều dàiranh giới 78 km; phía tây có biên giới dài 150 km giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhândân Lào và 127 km với Vương quốc Campuchia
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất tự nhiên toàn tinh là967.655 ha, chiếm 2,94% diện tích toàn quốc, chiếm 17,72% tổng diện tích toàn vùngTây Nguyên Đất nông nghiệp có diện tích 791.651 ha chiếm 81.81% tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh và 16,97% diện tích đất nông nghiệp vùng Tây Nguyên, diện tíchđất phi nông nghiệp có 267.600 ha chiếm 2,85% diện tích tự nhiên; diện tích đất chưa
sử dụng còn 148.403 ha chiếm 15,34% diện tích tự nhiên
Về địa hình, phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hìnhthấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đadạng bao gồm đổi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau Trong đó:
Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tinh, bao gồm nhữngđồi núi liền dài có độ đốc 150 trở lên Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biếnchất cổ nên có dạng khối như khởi Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m)
- nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông ThuBồn và sông Vụ Gia chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc
Trang 13Địa hình núi cao liền đài phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sangphía đông tỉnh Kon Tum Ngoài ra Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọnBon San (1.939 m): ngọn Ngọc Kring (2.066 m) Mặt địa hình bị phân cắt hiểmtrở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe suối Địa hình đối tập trung chủ yếu ởhuyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xengiữa vùng đồi là dãy núi Chư Mon Rày.
Địa hình thung lũng: Nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh
có dạng lòng mang thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượnsóng như Đắk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thị xãKon Tum Thung lũng Sa Thấy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài vềphía đông chạy dọc biên giới Việt Nam – Campuchia
Địa hình cao nguyên tỉnh Kon T'nr dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độcác nguyên Kon Plông nằm giữa 00 đến 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạytheo hướng tây Đắc - Đông
Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độtrung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 23 C, biên độ nhiệt độ đaođộng trong ngày 8-9°C
Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yêu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11,mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Hàng năm lượng mưa trung bình khoảng2.121 mm lượng mưa năm cao nhất là 2.260 mm, lượng mưa năm thấp nhất là 1.234
mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Vào mùa khô, gió chủ yếu thổi theohướng đông bắc; vào mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng tây nam
Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87% Độ ẩmkhông khí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng
3 (khoảng 66%)
Trang 14Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa dạng về cấu trúc địachất và khoáng sản Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma
đã được các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại hình khoáng sảnnhư: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ.đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng đã được phát hiện.Nhiều vùng có triển vọng khoáng sản đang được điều tra thành lập bản đồ địachất, cùng với những công trình nghiên cứu chuyên đề khác sẽ là cơ sở quantrọng trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Quakhảo sát của các cơ quan chuyên môn, hiện nay, Kon Tum đang chú trọng đếnmột số loại khoáng sản sau:
- Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng: nhóm này rất đadạng, bao gồm: sét (gạch ngói), cát xây dựng, cuội sỏi, đá hoa, đá vôi, đá granít,puzơlan
- Nhóm khoáng sản vật liệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, bao gồm: diatomit, bentonit, chủ yếu tập trung ở thị xã Kon Tum
- Nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa có silimanit, dolomit, quazit tập trungchủ yếu ở các huyện Đắk Glei, Đắk Hà, Ngọc Hồi
-Nhóm khoáng sản cháy có than bùn, tập trung chủ yếu ở thị xã Kon Tum,huyện Đắk Hà, huyện Đắk Tô
- Nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại hiêm, gồm cómăngan ở Đăk Hà; thiếc, molipden, vonfram, uran, thori, tập trung chủ yếu ởĐắk Tô, Đắk Glei, Ngọc Hồi, Kon Plông; bauxit tập trung chủ yếu ở Kon Plông
- Nhóm khoảng sản đá quý có rubi, saphia, opalcalcedon tập trung ở Đăk
Tô, Kon Plông
Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chia thành 5 nhóm với 17 loại đấtchính:
Trang 15- Nhóm đất phủ sa: gồm ba loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù
sa loang lổ, đất phù sa ngoài suối
- Nhóm đất xám: gồm hai loại đất chính là đất xám trên mácma axít và đấtxám trên phù sa cổ
- Nhóm đất vàng: gồm 6 loại chính là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏvàng trên mácma axít, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu đỏ trên đábazan phong hoá, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan
- Nhóm đất mùn vàng trên núi: gồm 5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt
có nơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏtrên mácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít
- Nhóm đất thung lũng: chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có cản phẩm dốc tụ
Về tài nguyên nước: gồm nguồn nước măt]và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm:Sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đắk Bla hợp thành Nhánh Pô
Kô dài 121 km, bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc Linh, chảy theo hướngbắc - nam Nhánh này được cung cấp từ suối Đắk Pxi dài 73 km, bắt nguồn phíanam núi Ngọc Linh từ các xã Ngọc Lây, Măng Rí, huyện Đắk Tô Nhánh ĐắkBla dài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh
Các sông, suối khác: phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc đổ vềQuảng Ngãi và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu Bồn và Vu Giachảy về Quảng Nam, Đà Nẵng Ngoài ra còn có sông Sa Thầy bắt nguồn từ đỉnh núiNgọc Rinh Rua, chảy theo hướng Bắc - Nam, gần như song song với biên
Trang 16giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng của nguồn nước mặt thuận lợi cho - việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi.
- Nguồn nước ngầm: có tiềm năng và trữ lượng công nghiệp cấp C2: 100nghìn m/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m có trữ lượng tương đối lớn Ngoài ra,huyện Đắk Tô, Kon Plông còn có 9 điểm có nước khoáng nóng, có khả năngkhai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh
Về rừng và tài nguyên rừng:
Rừng: Đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là 660.341
ha, chiếm 68,14% diện tích tự nhiên Kon Tum có các kiểu rừng chính sau:
- Rừng kín nhiệt đới hỗn hợp cây và lá rộng: đây là kiểu rừng điển hìnhcủa rừng tỉnh Kon Tum, phân bố chủ yếu trên độ cao 500 m, có ở hầu hết huyện,thị trong tỉnh
- Rừng lá âm nhiệt đới: có hầu hết trong tỉnh và thưởng phân bố ở ven sông
- Rừng kín á nhiệt đới: phân bố ở vùng núi cao - Rừng thưa khô cây họdầu (rừng khộp): phân bố chủ yếu ở huyện Ngọc Hồi, huyện Đắk Glei (dọc theobiên giới Việt Nam, Lào, ampuchia)
Tài nguyên rừng:
- Thực vật: theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ;cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi 6 họ; cây 2
lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ Trong đó, các họ nhiêu nhất là họ đậu, họ dầu, họlong não, họ thẩu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột họ xoan và họ trám Nhìn chung,thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnhchung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khác nhau: 600m trở xuống,
600 - 1.600m và trên 1.600m Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là
Trang 17rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pomu, đỗquyên, chua ở độ cao 1.500 - 1.800m chủ yếu là thông ba lã, chua, dẻ, re, kháo,chẹc Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh vớinhững cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế Trongnhững năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khaithác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng Nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh cónhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao.
- Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có
165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thủ có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm88% loài thú ở Tây Nguyên Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bò rừng, bòtót, trâu rừng, nai, hoẵng Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam Kon Tum (huyện SaThầy) Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurus thường xuất hiện ởcác khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đắk Tô: bò Đen Teng tên khoa họcBosjavanicus Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy Đắk Tô, Kon Plông đã xuất hiện
hỗ đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này Ngoài ra, rừng KonTum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói
Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo
vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn Trong điều kiện rừng bị xâmhại, việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnhhưởng đến sự sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quýhiếm Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưavào xếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ đồng thờiđẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thực vậtnói riêng, môi trường sinh thái nói chung
1.1.2 Dân số và dân tộc
Theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh- cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tổngđiều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh Kon Tum, kết quả sơ bộ cho thấy, so
Trang 18với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, Kon Tum là một tỉnh có qui mô dân sốnhỏ 540.438 người, mật độ dân số còn thấp (khoảng 56 người/km2) Dân số tỉnhKon Tum sau 10 năm kể từ cuộc Tổng điều tra trước đã tăng hơn 110.000 người,bình quân mỗi năm tăng 11.000 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,28%, đây
là tốc độ tăng dân số ở mức hợp lý, góp phần duy trì sự ổn định quy mô dân số,đáp ứng các yêu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã hội
Sự phát triển dân số hợp lý còn góp phần thúc đẩy quá trình cải thiện, từngbước nâng cao mức sống dân cư trên địa bàn tỉnh: Thu nhập bình quân đầungười năm 2018 đạt 37,35 triệu đồng/năm (tăng 7,4% so với năm 2017), diệntích nhà ở bình quân đầu người đạt 18,61m2, trong đó thành phố Kon Tum đạt24,23m2 cao nhất trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có nhà ở thiếu kiên cố vàđơn sơ là 10,01% cao hơn tỷ lệ bình quân của cả nước 6,86%
Kon Tum có 22 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm: Xơ Đăng, Ba-na, Giẻ Triêng,Gia Rai, B’râu và Rơ Măm Tộc người Xơ Đăng cư trú phần lớn ở phía bắc và phíađông thuộc các huyện Tu Mơ Rông, Đắk Tô, Kon Plông Tộc người Ba-na cư trú ởphía nam thuộc thị xã Kon Tum, huyện Kon Rẫy, huyện Kon Plông huyện Đắk Hà.Tộc người Giẻ Triêng cư trú ở huyện Glei và Ngọc Hồi Tộc người Gia Rai cư trú ởhuyện Sa Thầy và thị xã Kon Tum Hai tộc người có dân số ít nhất là Brâu cư trútrong một làng (làng Đắk Mế, xã Bờ Y) huyện Ngọc Hồi và tộc người Rơ Măm cư trútại một làng (làng Le, xã Mô Rai) ở huyện Sa Thầy Sau ngày thống nhất đất nước(năm 1975) một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinh sống, làm cho thànhphần dân tộc trong tỉnh ngày càng đa dạng
1.1.3 Kết cấu hạ tầng và tiềm năng du lịch
Tỉnh Kon Tum nằm ở cực bắc vùng Tây Nguyên, giáp vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung Tỉnh nằm ở ngã ba Đông Dương có cửa khẩu quốc tế Bờ Y -Ngọc Hồi Tỉnh Kon Tum có đường Hồ Chí Minh chạy từ Quảng Nam qua Kon
Trang 19Tum đi qua Gia Lai - Dak Lăk - TP Hồ Chí Minh (quốc lộ 14); đường TrườngSơn Đông, Quốc lộ 40 qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y đi nước Lào và Campuchia;quốc lộ 24 đi Quảng Ngãi; tỉnh lộ 672 đi tỉnh Quảng Nam và các tỉnh duyên hảiNam Trung bộ; là vùng đầu nguồn sông Sê San, Trà Khúc, Thu Bồn và Vu Gia.Mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã và các tuyến và nội thị, thị trấn, giaothông nông thôn cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa củanhân dân, đến năm 2008 còn 3 xã chưa có đường giao thông vào xã.
Kon Tum chưa phát triển mạnh về du lịch, nhưng du khách một lần đếnvới địa danh này vẫn tìm thấy những điểm tham quan du lịch nổi tiếng về lịch sử
và đậm bản sắc văn hóa dân tộc bản địa như: vườn quốc gia Chư Mon Rây thuộchuyện Sa Thầy và Ngọc Hồi; cầu treo Kon Klor - làng du lịch văn hóa Kon Ktu(Đắk Rợ Va - Kon Tum); di chỉ khảo cổ học Lung Leng nằm ở thôn Lung Leng(xã Sa Bình, huyện Sa Thầy), Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích vàhiện vật vô cùng phong phú tái hiện một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử; thắngcảnh Măng Đen; nhà rộng Tây Nguyên chỉ có ở những buôn làng bắc TâyNguyên, đặc biệt ở Kon Tum; nhà mồ Tây Nguyên có ở hầu hết các tỉnh ở TâyNguyên; làng Ba Na thuộc khu vực thị xã Kon Tum; ngục Kon Tum nằm ở phíatây thị xã Kon Tum; chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh thuộc huyện Đắk Tô, cáchthị xã Kon Tum 42 km về phía bắc
1.2 Tổng quan về người Ba-na
1.2.1 Tộc danh
Cùng với ngôn ngữ tộc người, tộc danh là dấu chỉ trước tiên giúp một tộcngười tự phân biệt với những tộc người khác, và phân biệt những tộc người khác vớitộc người mà mình sở thuộc Nguồn gốc của các tộc danh có thể là những danh xưng
tự gọi, nhưng thường xuất phát từ cách gọi để phân biệt của các cộng đồng lân cận.Các cộng đồng người thường dựa vào nơi cư trú hoặc một điểm đặc trưng, đặc thù vềvăn hóa của các cộng đồng láng giềng để đặt tên cho họ Do đó, các tộc
Trang 20danh ở Việt Nam thường phản ánh xuất xứ và phản ánh cái nhìn của các cộngđồng người đối với nhau.
Tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển tronglịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ,đặc điểm sinh hoạt văn hoá văn hóa, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức
tự giác tộc người và tên tự gọi Ví dụ: tộc người Thái, Tày, Ê-đê, Ba-na Tên tự gọi là Ba-na
Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông Các nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ LarKrem
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á)
1.2.2 Lịch sử tộc người
Tộc người là một phạm trù lịch sử Nó ra đời là kết quả lâu dài của quátrình lịch sử, xã hội và tự nhiên Khi quá trình hình thành loài người kết thúc,con người bước vào xã hội loài người, cộng đồng người đầu tiên đã là nhữngcộng đồng tộc người (thị tộc) xuất hiện vào thời đại cộng sản nguyên thủy cáchđây khoảng 4-5 vạn năm
Trong tiến trình lịch sử loài người, các tộc người đã hình thành và pháttriển trên những vùng lãnh thổ khác nhau ở khắp năm châu Thông thường, mỗitộc người bao giờ cũng cư trú trên một khu vực địa lý nhất định gọi là lãnh thổtộc người Tộc người sử dụng một ngôn ngữ riêng, khác so với ngôn ngữ của cáctộc người khác Trong quá trình tộc người, các thế hệ đã tạo dựng nên các đặctrưng văn hóa chung mang tính ổn định tạo thành bản sắc văn hóa tộc người.Trong đó, dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở TrườngSơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây Họ là tộc người có
Trang 21dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ởcác cao nguyên miền Trung nước ta.
1.2.3 Đặc điểm và phân bố cư trú của các nhóm địa phương
Dân số: 286.910 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019)
Dân tộc Ba-na là cư dân miền núi
Hiện nay đồng bào sinh sống tập trung ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai vàmiền núi của các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà Trong đó,
ở tỉnh Kon Tum, dân tộc Ba-na gồm 2 nhánh là Ba Na Rơ Ngao và Ba-na JơLâng, đứng thứ hai về dân số trong 6 dân tộc thiểu số bản địa, có nhiều đóng góptrong quá trình hình thành, phát triển và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ quêhương Kon Tum ngày càng giàu đẹp
và Kinh, trong đó, Kon Hngo Klah là một làng thuần của người Rơ Ngao với
182 hộ và 1081 nhân khẩu
+ Nhóm Rơ Lơng: Là một nhánh của người Ba-na sống tập trung chủ yếu
ở xã Tân Lập và xã Đăk T’Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum
1.2.4 Đặc điểm văn hóa sinh hoạt truyền thống
Người Ba-na có nước da ngăm đen, ngày xưa đàn ông để tóc dài tới cổ, ngày nay thì tóc ngắn hơn Người Ba-na có bản tính mộc mạc, chất phác, hiền lành và
Trang 22hiếu khác, họ coi người Kinh là anh em nên đối đãi rất thân thiết Tuy nhiên,người Ba-na không muốn khách lạ đụng chạm đến phong tục, tập quán kiêng cữcủa họ Muốn vào thăm một nhà nào thì phải được chủ nhân ưng thuận; kỵ nhất
là xông thẳng vào bếp núc (một số người Ba-na thờ thần ở bếp)
Về văn hóa ẩm thực, người Ba-na cũng như các tộc người khác thích ănbốc, không dùng đũa Thường một ngày họ ăn hai bữa cơm: buổi sáng, trước lúc
đi rẫy hoặc xuống phố chợ; bữa tối ăn vào lúc tối mịt trước khi đi ngủ Họthường nấu cơm buổi sáng, để dành ăn cả ngày Cơm hay thức ăn nấu trongnhững cái nồi đất miệng loe ra, không có nắp đậy, không có quai; thường đậynồi bằng lá chuối Rượu là thức uống rất được ưa thích, phổ biến nhất là rượucần, rượu cần được ủ bằng cơm gạo nếp hay tẻ, bằng bắp, củ mì, bo bo Nam nữBa-na đều hút thuốc lá Thuốc được trồng tại chỗ Sau khi thu hoạch có thể tháithành sợi nhỏ và dùng tẩu để hút hoặc để nguyên lá khô cuốn thành điếu để hút.Tẩu thuốc được làm từ thân tre, nứa hoặc bằng gỗ và được tạo dáng đẹp
Về trang phục, người Ba-na ăn mặc rất giản dị, đàn ông thường ở trần haymặc áo cánh tay cụt, cổ xẻ để hở ngực, đóng khố Đàn bà mặc áo cộc tay, ngựckín, váy dài Ngoài ra họ còn có một tấm vải quấn quanh lưng dùng để địu connhỏ lúc lên rẫy hoặc về phố chợ Ở những vùng sâu, vùng xa, đàn ông chỉ mangkhố, đàn bà quấn yêng (xiêm), còn mình thì để trần Vải do người Ba-na dệtbằng vải bông, màu đen chàm và trắng, kẻ viền màu đỏ gạch, hoa văn mộc mạcđơn sơ Đàn bà, đàn ông đều thích đeo những vòng bằng bạc, bằng đồng hoặcnhững chuỗi hạt cườm
Về nhà ở, người Ba-na thích ở kiểu nhà sàn hình chữ nhật hay hình vuông.Nhiều tiểu gia đình cùng họ tộc sống chung trong một ngôi nhà dài Tuy sốngchung, nhưng họ làm ăn và có của cải riêng Vào những nhà này, sàn có nhiềubếp lửa, mỗi bếp là một gia đình
Trang 23Mặt trước cửa nhà người Ba-na thường hướng về phía nào thuận tiện, cónhiều người qua lại Đối với những nhà nhỏ, cửa trổ về phía hai mặt nhỏ củanhà Với những ngôi nhà dài, cửa trổ về phía hông lớn của nhà Trước cửa ravào, sàn nhà nhô ra thành một hành lang, gọi là “Pra” để tránh mưa nắng tronglúc giã gạo, đan gùi…
Sàn nhà người Ba-na thường lát bằng ván gỗ hoặc lát bằng tre đan Phênvách bằng nứa hoặc tre đan, cột với lạt mây Khi ngủ thì nằm ngay giữa sàn bêncạnh bếp lửa; tiếp khách cũng bên bếp lửa, ngồi trên những chiếc ghế tròn, thấpđan bằng mây hay căng bằng da thú Trong nhà có rất nhiều ghè rượu, sắp thànhhàng dài ở phía giữa nhà Bên cạnh đó là những chiếc gùi đủ cỡ Trên vách phênhay phía mái nhà treo những dụng cụ săn bắn, những chiếc lờ đánh cá
Muốn lên nhà người Ba-na phải leo lên cầu thang làm bằng thân cây đẽothành từng bậc theo hình dáng cổ truyền Ngày xưa, do làng sống cạnh rừng, cónhiều thú dữ, ban đêm họ rút cầu thang lên để tránh thú dữ leo vào nhà, ban ngàylại thả xuống
Về phương tiện vận chuyển, một vật dụng quen thuộc gắn bó với ngườiBa-na là chiếc gùi Họ đeo gùi khi đi rẫy, thăm bà con hay ra phố thị Gùi là mộtthứ đồ đựng và là phương tiện vận tải phổ biến