Ngoài ra, Luật Dầu khí vàcác điều khoản hợp đồng dầu khí hiện hành ban hành kèm theo Nghị định số 33 2013 NĐ-CP ngày 22 4 2013 của Chính phủ kém hấp dẫn so với các nước khu vực, không ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA
KĨ THUẬT ĐỊA CHẤT & DẦU KHÍ
-ĐỒ ÁN KỸ THUẬT DẦU KHÍ 1
AN TOÀN MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC NHÀ MÁY
LỌC DẦU, LỌC HÓA DẦU
Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Trọng Vinh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
TỔNG QUAN 5
1 Tổng quan về dầu khí Việt Nam 5
2 Hiện trạng khai thác dầu khí 6
3 Tiềm năng dầu khí 7
SƠ LƯỢC VỀ HÓA DẦU, LỌC HÓA DẦU 9
1 Hóa dầu, lọc hóa dầu và sản phẩm 9
1.1 Hóa dầu, lọc hóa dầu là gì ? 9
1.2 Sản phẩm lọc dầu, lọc hóa dầu 11
2 Hiện trạng và tương lai công nghiệp lọc – hóa dầu tại Việt Nam 13
3 An toàn môi trường trong các nhà máy lọc dầu, lọc hóa dầu 15
3.1 Nhà máy Dung Quất 16
3.1.1 Giới thiệu chung 16
3.1.2 Quy trình hoạt động 18
3.1.3 An toàn môi trường trong Nhà máy lọc dầu Dung Quất 19
3.2 Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn 25
3.2.1 Giới thiệu chung 25
3.2.2 Quy trình hoạt động 26
3.2.3 An toàn môi trường trong Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn 27
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 3Danh Mục Hình Ảnh Hình 1: Bản đồ hoạt động dầu khí Việt Nam Nguồn: Tập đoàn Dầu khí quốc gia
Việt Nam 5
Hình 2: Nước ta có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn và cũng là nơi có triển vọng dầu khí lớn 8
Hình 3: Quá trình lọc dầu tách các sản phẩm khác nhau từ dầu mỏ dựa trên nhiệt độ sôi 10
Hình 4: Sơ đồ chưng cất, chế hóa và ứng dụng của dầu mỏ 11
Hình 5: Sản phẩm từ nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất 13
Hình 6: Dự án tổ hợp hóa dầu miền Nam 14
Hình 7: Nhà máy lọc dầu Dung Quất 17
Hình 8: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn 26
Hình 9: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), tháng 01/2022 28
Hình 10: Hệ thống xử lí nước thải tập trung và lò đốt bùn thải 30
Hình 11: Khu xử lý chất thải nguy hại tập trung 31
Hình 12: Nhà chứa chất thải nguy hại tạm thời 32
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Lời đầu tiên nhóm em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Bách Khoa – ĐHQGTP.HCM đã tạo điều kiện cho chúng em được học tập trong môi trường tâm huyết,năng động và sáng tạo Môi trường Bách Khoa đã rèn luyện cho chúng em những kỹnăng cần thiết để có thể hoàn thành chặng đường học tập vừa qua
Tiếp đến, nhóm em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy cô trường Đại học BáchKhoa thành phố Hồ Chí Minh nói chung và các thầy cô Khoa Kĩ thuật Địa chất và Dầukhí, ngành Dầu khí nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em nhữngkiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian qua, tạo điều kiện để chúng emphát triển bản thân một cách tốt nhất
Để hoàn thành Đồ án kĩ thuật dầu khí 1, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đếnthầy Bùi Trọng Vinh và thầy Nguyễn Xuân Huy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trongsuốt quá trình nhóm em thực hiện đồ án Không những thế, Thầy Cô luôn tạo điều kiệntốt nhất để chúng em có thể học tập những kiến thức mới, giúp chúng em tiếp xúc vớimột môi trường làm việc nghiêm túc và chuyên nghiệp Thầy Cô không chỉ truyền đạtcho chúng em kiến thức mà còn giúp chúng em trao dồi những kỹ năng trong cuộcsống, nó là hành trang của chúng em trong tương lai
Một lần nữa nhóm em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân đã luôn luôn độngviên, bên cạnh mọi lúc khó khăn và các bạn đã giúp đỡ, hỗ trợ chúng em trong quátrình học tập và nghiên cứu
Vì thời gian thực hiện nghiên cứu có hạn và vốn kiến thức vẫn còn hạn chế nên khôngtránh được một số sai sót Vì vậy, nhóm em xin chân thành cảm ơn mọi sự đóng góp,góp ý của quý Thầy Cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm
2022 Nhóm sinh viên thực hiện
Trang 5TỔNG QUAN
1 Tổng quan về dầu khí Việt Nam
Trong số 52 quốc gia trên thế giới có tài nguyên dầu khí, Việt Nam đứng ở vị tríthứ 28 Tính đến cuối năm 2013, trữ lượng dầu thô đã xác minh của Việt Nam khoảng4,4 tỷ thùng, đứng đầu Đông Nam Á, trong khi trữ lượng khí đã xác minh của ViệtNam khoảng 0,6 nghìn tỷ m3, đứng thứ ba trong khu vực
Hình 1: Bản đồ hoạt động dầu khí Việt Nam Nguồn: Tập đoàn Dầu khí quốc gia
Việt Nam
Trên thực tế, Việt Nam đã triển khai các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khítrên thềm lục địa và vùng biển Việt Nam từ trước năm 1975 Ngay từ năm 1969 - 1970,chính quyền miền Nam Việt Nam đã tiến hành khảo sát khoảng 12.000 km tuyến địa
Trang 6chấn 2D kết hợp khảo sát từ, trọng lực hàng không ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam(khu vực bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lai, Thổ Chu và Tư Chính - Vũng Mây doCông ty Ray Geophysical Mandrel thực hiện) Tiếp đó, trong hai năm 1973-1974,chính quyền miền Nam Việt Nam hợp tác với các Công ty Western Geophysical vàGeophysical Services Inc (Hoa Kỳ) tiến hành các khảo sát địa chấn 2D: Dự án WA74
- HS (3.373 km) khảo sát khu vực từ ngoài khơi bờ biển miền Trung, bao gồm cả quầnđảo Hoàng Sa của Việt Nam, gồm các lô dầu khí hiện nay là 141, 142, 143 và 144; dự
án WA74 - PKB (5.328 km) khảo sát ven biển Phú Yên - Khánh Hòa
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng cục Dầu khí (tiền thâncủa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam hiện nay) được thành lập năm 1975 Kể từ
đó, hoạt động dầu khí được tiếp tục triển khai mạnh mẽ, rộng khắp trên toàn bộ thềmlục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, bao gồm cả các khu vực Hoàng Sa,Trường Sa, Tư Chính - Vũng Mây Sau khi Quốc hội Việt Nam phê chuẩn tham giaCông ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) vào năm 1996, theochỉ đạo của Chính phủ ta, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã điều chỉnh phạm vihoạt động và chỉ tiến hành các hoạt động dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hảilý
2 Hiện trạng khai thác dầu khí
Kể từ khi tấn dầu đầu tiên được khai thác từ m Bạch Hổ (thuộc bể trầm tích CửuLong năm 1986) đến nay, PVN đã khai thác được tổng cộng khoảng 506,3 triệu tấn dầuquy đổi từ các m ở trong và ngoài nước, trong đó sản lượng khai thác dầu đạt 380,9triệu tấn, sản lượng khai thác khí đạt 125,4 tỷ m3, sản lượng khai thác hàng năm luônđược duy trì ổn định và gia tăng theo từng năm
Hiện nay, PVN đang quản lý điều hành khai thác dầu khí từ các m , cụm m ởtrong và ngoài nước Trong đó, các m : Hàm Rồng, Thái Bình ở bể trầm tích SôngHồng; các m : Bạch Hổ, Rồng, Th Trắng, Gấu Trắng, Phương Đông, Rạng Đông, Cụm
m Sư Tử Đen - Sư Tử Vàng - Sư Tử Trắng - Sư Tử Nâu, Tê Giác Trắng, Cá Ngừ
Trang 7Vàng, Thăng Long - Đông Đô, ở bể trầm tích Cửu Long; các m : Đại Hùng, Chim Sáo,Rồng Đôi Rồng Đôi Tây, Lan Tây - Lan Đ , Hải Thạch - Mộc Tinh ở bể trầm tích NamCôn Sơn; Lô PM3-CAA và 46-Cái Nước, Sông Đốc ở bể Malay - Thổ Chu và các m ởnước ngoài: m Bir Seba ở Algeria, cụm m Nhenhetxky ở Liên bang
Nga, m D30-Lô SK305 ngoài khơi Malaysia Trong giai đoạn 2011-2015, sản lượngkhai thác dầu khí của PVN đạt 133,52 triệu tấn dầu quy đổi (so với kế hoạch Chính phủgiao là 128,77 triệu tấn dầu quy đổi), trong đó khai thác dầu thô đạt 84,75 triệu tấn(77,65 triệu tấn trong nước và 7,10 triệu tấn ở nước ngoài) và 48,76 tỷ m3 khí về bờ.Cũng trong giai đoạn này, sản lượng dầu và khí không ngừng gia tăng theo từng năm
và đạt đỉnh vào năm 2015 với sản lượng cả năm đạt 18,76 triệu tấn dầu và 10,67 tỷ m3khí về bờ Cũng trong giai đoạn này, PVN đã đưa được 24 m dầu và khí mới vào khaithác, trong đó có 18 m trong nước và 6 m ở nước ngoài
Các m mới dự kiến sẽ được đưa vào khai thác và phát triển phải kể tới m Cá Tầm,Sao Vàng - Đại Nguyệt, m khí Cá Voi Xanh, dự án khí Tây Nam Bộ (Lô B) và m dầu -khí Condensate Cá Rồng Đ
Cụ thể, trong thời gian qua, PVN đã tích cực triển khai thực hiện theo đúng chủtrương Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, chiến lược phát triển Tập đoànDầu khí Việt Nam đến năm 2035 đã được Bộ Chính trị định hướng tại Nghị quyết 41ngày 23/7 2015, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1749 QĐ- TTgngày 14/10/2015 Theo đó, PVN đã, đang thực hiện đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản
và tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở trong nước, nhất là ở những vùng nước sâu, xa bờ, gắnvới bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, phấn đấu đến năm 2035, cơ bản đánh giáđược trữ lượng dầu khí trên toàn thềm lục địa Việt Nam Mặt khác, PVN đẩy mạnhcông tác tận thăm dò đối với các khu vực đang khai thác nhằm duy trì và gia tăng sảnlượng; tích cực nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi
Trang 8truyền thống (khí than, khí nông, khí đá phiến sét, khí hydrate ) để bổ sung trữ lượngphục vụ khai thác dầu khí.
Kết quả tìm kiếm, thăm dò từ năm 2016 đến nay, PVN đã hoàn thành công tác thu
nổ địa chấn 2D thuộc dự án PVN-15 và thu nổ địa chấn 3D theo chương trình công táchàng năm của các lô hợp đồng dầu khí, góp phần tăng cường sự hiện diện, khẳng địnhchủ quyền của Việt Nam và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên Biển Đông Cụthể, PVN đã xác định rõ hơn tiềm năng dầu khí ở trong nước, với trữ lượng 2P tại chỗkhoảng 4,27 tỷ m3 quy dầu; trữ lượng 2P đã phát hiện khoảng 1,52 tỷ m3 quy dầu(trong đó 784 tỷ m3 khí)
Hình 2: Nước ta có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn và cũng là nơi có triển
Trang 92020 dẫn đến các nhà thầu nước ngoài xem xét lại kế hoạch và quyết định giảm khối lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng ở trong nước, do đó, số lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng 5 năm (2016 - 2020) trung bình đạt 12 giếng năm, giảm 40% so với 5 năm trước đó (2011 - 2015) Đặc biệt, nguồn vốn để thực hiện công tác tìm kiếm,thăm dò gặp khó khăn do cơ chế trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ Tìm kiếm thăm dò dầu khí đã kiến nghị đề xuất trong dự thảo Quy chế Quản lý tài chính Công ty mẹ - Tập đoàn đến nay vẫn chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt Ngoài ra, Luật Dầu khí vàcác điều khoản hợp đồng dầu khí hiện hành (ban hành kèm theo Nghị định số 33 2013 NĐ-CP ngày 22 4 2013 của Chính phủ) kém hấp dẫn so với các nước khu vực, không phù hợp với tiềm năng trữ lượng dầu khí hiện tại, nên không thu hút được nhà đầu tư nước ngoài.
SƠ LƢỢC VỀ HÓA DẦU, LỌC HÓA DẦU
1 Hóa dầu, lọc hóa dầu và sản phẩm
1.1 Hóa dầu, lọc hóa dầu là gì ?
Dầu mới được khai thác chưa qua chế biến gọi là dầu thô Phải trải qua quá trìnhbiến đổi dầu gồm lọc dầu và hóa dầu thì dầu m mới thực sự trở thành vàng đen quí giá
Quá trình này gồm hai công đoạn:
- Lọc dầu:
Dầu m là hỗn hợp của rất nhiều hiđrocacbon khác nhau Để tận dụng hết tiềmnăng của dầu m , người ta tiến hành tách các hiđrocacbon đó dựa trên nhiệt độ sôi khácnhau của chúng Dầu m lúc này được chưng cất trên những tháp cao hàng chục mét
- Trên cơ sở nhiệt độ sôi, dầu được chia thành các phân đoạn chủ yếu sau:
Trang 10+ Dưới 1800C: Phân đoạn xăng được dùng làm nhiên liệu cho động cơ như xemáy, ô tô, máy bay v.v hoặc làm dung môi pha sơn cao su, keo dán
+ Từ 1800C đến 2500C: Phân đoạn dầu lửa (còn gọi là phân đoạn kerosen), được dùng làm dầu h a dân dụng, nhiên liệu cho máy bay phản lực v.v
+ Từ 2500C đêm 3500C: Phân đoạn gasoil nhẹ chủ yếu được dùng để làm nhiên liệu cho động cơ diesel
+ Từ 3500C đến 5000C: Phân đoạn dầu nhờn (còn gọi là phân đoạn gasoil nặng), được dùng làm dầu bôi trơn
+ Trên 5000C: Phân đoạn cặn dùng làm nhựa rải đường, nhiên liệu đốt lò v.v
Hình 3: Quá trình lọc dầu tách các sản phẩm khác nhau từ dầu mỏ dựa trên nhiệt
độ sôi
Lọc hóa dầu: Dầu thô là một hỗn hợp phức tạp gồm hàng nghìn chất khác nhau.Dầu thô thường bị lẫn các tạp chất như nước và các loại muối khoáng từ quá trình khaithác ở m dầu Các tạp chất này cần được loại b thông qua quá trình khử muối và nướctrước khi đưa vào chưng cất dầu thô Khi chưng cất dầu thô, ta thu được một loạt
Trang 11các phân đoạn với khoảng nhiệt độ sôi nhất định tương ứng với mục đích sử dụng sảnphẩm cuối Trong NMLD, thông thường dầu thô được chưng cất ở áp suất khí quyểnthành các phân đoạn: khí đốt, LPG, Naphtha (dùng để pha xăng), Kerosene (dùng đểpha dầu h a hoặc nhiên liệu phản lực), Gas Oil (dùng để pha dầu DO) và cặn dầu Cặnchưng cất khí quyển có thể được tiếp tục chưng cất dưới áp suất thấp (chưng cất chânkhông) để tiếp tục phân tách thành các phân đoạn khác Các phân đoạn thu được từ quátrình chưng cất dầu thô cần được nâng cấp chất lượng trước khi sử dụng, thông qua cácquá trình chuyển hóa hóa học (công nghệ reforming, đồng phân hóa, alkyl hóa,cracking nhiệt, cracking xúc tác, hydrocracking, cốc hóa, xử lý bằng hydro) hoặc đượcphối trộn với phụ gia Tùy theo yêu cầu của chất lượng sản phẩm cuối mà quá trìnhchuyển hóa hóa học hoặc loại phụ gia phù hợp được lựa chọn.
Nói đến công nghệ lọc dầu và hóa dầu, không thể không nói đến xúc tác Xúc tác
là yếu tố cực kỳ quan trọng của các quá trình công nghệ lọc hóa dầu Nó là chìa khóa
và là động lực để phát triển các công nghệ mới, sản phẩm mới
Hình 4: Sơ đồ chưng cất, chế hóa và ứng dụng của dầu mỏ
1.2 Sản phẩm lọc dầu, lọc hóa dầu
Trang 12Sản phẩm lọc dầu chủ yếu là các loại nhiên liệu (LPG, xăng, dầu h a, dầu DO, FO), một số sản phẩm khác như dầu nhờn, nhựa đường, lưu huỳnh, sáp, cốc dầu và các loại nguyên liệu cho hóa dầu Sản phẩm lọc dầu được sản xuất từ các nhà máy lọc dầu (NMLD) với nguyên liệu là dầu thô, loại nhiên liệu hóa thạch được sinh ra từ việc phânhủy trong điều kiện không có không khí của thực vật và động vật bị chôn vùi trong v trái đất và hoặc sự tổng hợp của các nguyên tố cacbon và hidro ở điều kiện nhiệt độ và
áp suất rất cao qua hàng trăm triệu năm Các sản phẩm lọc dầu nguyên thủy đơn giản được chưng tách từ dầu thô Ngày nay tỷ lệ các thành phần được tổng hợp mới trong sản phẩm lọc dầu đã tăng cao để cải thiện các chất lượng của sản phẩm lọc dầu
Sản phẩm hóa dầu là các hóa chất được sản xuất từ nguyên liệu là sản phẩm trunggian của NMLD hoặc từ khí thiên nhiên Nguyên liệu cơ bản để sản xuất các sản phẩmhóa dầu được chia làm 3 nhóm chính dựa trên cấu trúc hóa học của chúng Nhóm đầutiên là các olefin bao gồm ethylene, propylene và butylene, butadiene Các olefin này lànguyên liệu cơ sở để sản xuất hóa chất công nghiệp, các loại chất dẻo, nhựa và cao sutổng hợp Nhóm thứ hai là các hợp chất thơm (aromatics) bao gồm benzen, toluene vàxylene dùng để sản xuất thuốc nhuộm và chất tẩy rửa tổng hợp, các loại nhựa và sợinhân tạo Nhóm cuối cùng là khí tổng hợp tức là hỗn hợp của khí CO và hydro, đượcdùng làm nguyên liệu để sản xuất amoniac và methanol Trong đó amoniac là nguyênliệu quan trọng để sản xuất các loại phân đạm, axit nitơric, hợp chất gốc amin, cònmethanol là một loại dung môi quan trọng và là nguyên liệu để sản xuất các sản phẩmhóa dầu khác
Trang 13Hình 5: Sản phẩm từ nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất
2 Hiện trạng và tương lai công nghiệp lọc – hóa dầu tại Việt Nam
Ở Việt Nam lĩnh vực lọc hóa dầu đã bắt đầu từ năm 1982 với các nhà máy lọcdầu đơn giản, quy mô nh như nhà máy chế biến condensate Cát Lái (thuộc Saigonpetro),Phú Mỹ (thuộc Petrovietnam), Cần Thơ (do RPC, một công ty Thái Lan,
đầu tư sau đó chuyển qua các nhà đầu tư Việt Nam) và các nhà máy hóa dầu riêng lẻnhư 2 nhà máy nhựa PVC (do liên doanh Vinachem - TPC Vina (Thái Lan) và liêndoanh Petrovietnam - Petronas đầu tư), nhà máy sản xuất chất hóa dẻo DOP(Petrovietnam, Vinachem và LG đầu tư), sản phẩm hỗ trợ cho việc sử dụng nhựa PVCthường dùng trong xây dựng Sau đó là các nhà máy sản xuất phân đạm từ khí thiênnhiên (Phú Mỹ và Cà Mau đầu tư bởi Petrovietnam) Tuy nhiên, chỉ sau khi Nhà máylọc dầu Dung Quất bắt đầu đi vào hoạt động (2009), chuỗi giá trị lọc hóa dầu từ nguyênliệu là dầu thô đến một sản phẩm hóa dầu cuối là nhựa PP mới được hoàn tất Khi các
tổ hợp, nhà máy lọc hóa dầu dần đi vào hoạt động, ngành công nghiệp lọc hóa dầu ViệtNam sẽ phát triển từ lọc dầu đến hóa dầu và hóa dầu từ khí thiên nhiên
Trang 14Công nghệ và sản phẩm lọc hóa dầu ở Việt Nam trong tương lai cũng không nằm ngoài xu hướng thế giới Các tổ hợp lọc - hóa dầu sẵn có như Dung Quất, Nghi Sơn sẽ được nâng cấp để có thể chế biến các loại dầu thô có chất lượng thấp với giá rẻ hơn thành các sản phẩm lọc dầu sạch và ít gây ô nhiễm môi trường hơn; ngoài xăng dầu sẽ
có thêm các loại nhựa đường, dầu nhờn, lưu huỳnh và nhiều chủng loại sản phẩm trunggian và thành phẩm hóa dầu mới Các sản phẩm hóa dầu sẽ được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, tiên tiến, chú trọng đến hóa dầu từ khí thiên nhiên, thế mạnh của Việt Nam trong tương lai với các m khí trải dài ngoài khơi từ Bắc tới Nam Các liên hợp lọchóa dầu và hóa khí như Dung Quất, Nghi Sơn, Long Sơn, Phú Mỹ, Cà Mau, Miền Trung với sản phẩm đa dạng, làm nền tảng để các ngành công nghiệp có liên quan pháttriển, cung cấp nguyên liệu trong nước ổn định cho ngành công nghiệp hóa chất, công nghiệp phụ trợ và dệt may để tăng khả năng cạnh tranh, hội nhập với khu vực, tận dụngđược các hiệp định thương mại quốc tế và liên chính phủ như hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), các hiệp định của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) hay của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 6: Dự án tổ hợp hóa dầu miền Nam
Trang 153 An toàn môi trường trong các nhà máy lọc dầu, lọc hóa dầu
Ngành lọc hóa dầu thường có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao nên phải có biệnpháp xử lý phù hợp Hầu hết các nhà máy đều chú trọng đến công tác thiết kế và xâydựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải, khí thải hiện đại Đồng thời áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, tiên tiến hướng đến tạo ra nhiều sản phẩm thân thiện vớimôi trường hơn trong tương lai Tất cả hoạt động như sinh hoạt hay sản xuất đều sinh
ra chất thải Ô nhiễm môi trường luôn hiện hữu nếu không nhận thức tầm quan trọngcủa việc bảo vệ môi trường và xử lý nguồn thải từ giai đoạn chuẩn bị đến khâu vậnhành chính thức hệ thống
Các nguồn phát thải chính phải đảm bảo xử lý đạt quy chuẩn môi trường như:
- Nước thải: nước nhiễm dầu, nước tách muối, nước sinh hoạt và nước làm
mát
- Khí thải: ống khói lò hơi, lò gia nhiệt sử dụng dầu hoặc khí nhiên liệu
- Bụi phát sinh trong quá trình nạp tháo chất xúc tác
- Tiếng ồn từ hoạt động thiết bị - máy móc
- Chất thải rắn từ hóa chất xúc tác, chất thải rắn nhiễm dầu, bùn nhiễm dầu, chất thải xây dựng, chất thải sinh hoạt
Hiện nay, xu hướng “xanh” ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các ngànhcông nghiệp, kể cả lĩnh vực lọc hóa dầu cũng dần áp dụng Nhiều cơ sở, nhà máy cóquy mô lớn thường thiết kế các bể xử lý nước thải kết hợp đồng thời với trồng rau hoặcnuôi cá Đặc biệt, trồng các loại cây thủy sinh vừa tạo cảnh quan thẩm mỹ vừa giúp tạo
ra chất lượng nước đầu ra đạt chuẩn xả thải hơn
Đặc trưng các công trình xử lý chất thải môi trường như:
Trang 16- Đối với hệ thống xử lý nước thải: ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến có khả
năng loại b dầu, chất rắn lơ lửng, tạp chất hữu cơ bằng phương pháp sinh học
- Đối với hệ thống xử lý khí thải: thiết kế hệ thống xử lý an toàn bao gồm
thiết bị tách bụi, thiết bị thu hồi khí lưu huỳnh, có phát sinh từ các phân xưởng
- Đối với công trình xử lý chất rắn: Cần lưu ý đến công tác xử lý chất thải rắn và
chất thải nguy hại phải được thu gom và xử lý trong các thùng chứa, từng khu vực để có
kế hoạch xử lý kịp thời Phần chất thải sau giai đoạn thu gom này phải chuyển đến cácđơn vị chịu trách nhiệm xử lý phải có giấy phép đúng theo quy định của Nhà nước
3.1 Nhà máy Dung Quất
3.1.1 Giới thiệu chung
Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thuộc khu kinh tế Dung Quất, là nhà máy lọc dầuđầu tiên của Việt Nam xây dựng thuộc địa phận xã Bình Thuận và Bình Trị, huyệnBình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Đây là một trong những dự án kinh tế lớn, trọng điểmquốc gia của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21
Diện tích sử dụng: Khoảng 956 ha (bao gồm cả 140 ha mở rộng trong tương lai)bao gồm 485 ha mặt đất và 471 ha mặt biển, trong đó (hiện tại): Khu nhà máy chính
110 ha; Khu bể chứa dầu thô 42 ha; Khu bể chứa sản phẩm 43,83 ha; Khu tuyến dẫndầu thô, cấp và xả nước biển 17 ha; Tuyến ống dẫn sản phẩm 77,46 ha; Cảng xuất sảnphẩm 135 ha và Hệ thống phao nhập dầu không bến, tuyến ống ngầm dưới biển và khuvực vòng quay tàu 336 ha Công suất tối đa của nhà máy là 6,5 triệu tấn dầu thô nămtương đương 148.000 thùng ngày, dự kiến đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăngdầu ở Việt Nam
Trang 17Hình 7: Nhà máy lọc dầu Dung Quất
Nhà máy sản xuất khí hóa l ng LPG, propylene, polypropylene, xăng A92 và A95, dầu h a, nhiên liệu phản lực, diesel và dầu nhiên liệu Nhà máy gồm 14 phân xưởng chế biến công nghệ, 10 phân xưởng năng lượng phụ trợ và 8 hạng mục ngoại
vi Các hạng mục chính của nhà máy bao gồm:
- Cảng nhập dầu thô
- Khu bể chứa dầu thô
- Các phân xưởng phụ trợ
- Các phân xưởng công nghệ
- Khu bể chứa trung gian