Vi phạm pháp luật dựa trên các đặc điểm và mức độ gây nguy hiểmcho cộng đồng xã hội, thông thường được chia thành bốn loại như sau: Vi phạm pháp luật hình sự tội phạm: Là hành vi gây ngu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI
HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHOA KHOA HỌC MÁY TÍNH
••••• •••••
TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ CUỐI KÌ
Đề Tài:
Phân tích các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật
và thực trạng vi phạm pháp luật của giới trẻ hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Lê Hoài Nam
Môn: Pháp Luật Đạt Cương
Lớp: SS006.M27
Năm học: 2021 - 2022
Trang 2Danh sách các thành viên thực hiện
Trang 3Mục lục
I Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 5
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 5
II Nội dung 6
1 Tổng quan về vi phạm pháp luật 6
a Khái niệm về vi phạm pháp luật 6
b Dấu hiệu của vi phạm pháp luật 6
c Các loại vi phạm của vi phạm pháp luật 8
2 Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật 9
a Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật 9
b Mặt khách quan của vi phạm pháp luật 10
c Chủ thể của vi phạm pháp luật 12
d Khách thể của vi phạm pháp luật 14
3 Thực trạng vi phạm pháp luật của giới trẻ hiện nay 16
a Những vi phạm pháp luật ở giới trẻ 16
a Những nguyên nhân vi phạm pháp luật ở giới trẻ 20
4 Các giải pháp hạn chế hiện trạng vi phạm pháp luật 21
a Các giải pháp của Nhà nước 21
a Các giải pháp của nhà trường, gia đình và xã hội 27
III Kết luận 28
IV Danh mục các tài liệu tham khảo 30
Trang 4I Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Số liệu mới nhất của Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam cho thấy nước ta hiện nay
có hơn 22,1 triệu người trong độ tuổi thanh niên, chiếm khoảng 22,5% dân số trên cả nước.Đây là thế hệ sẽ kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, là lực lượng nòng cốttrong công tác xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Xã hội ngày càng phát triển, việc hộinhập văn hóa, giáo dục từ gia đình, xã hội cũng như tiếp cận với công nghệ thông tin nóichung và các trang mạng xã hội nói riêng đã một phần tác động đến việc hình thành ý thức vàhành vi của giới trẻ hiện nay Cụ thể là ngày càng có nhiều các thanh niên trẻ có những hành vi
vi phạm pháp luật, để lại nhiều hậu quả thương đau không chỉ cho gia đình, xã hội mà còncho cả tương lai của chính bản thân mình
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có nhiều nỗ lực để phổ biến, giáodục pháp luật cho thanh thiếu niên Việt nhưng hiện tượng thanh niên vi phạm pháp luậtvẫn diễn ra hằng ngày, hằng giờ Xã hội chỉ thực sự phát triển khi và chỉ khi các cá nhân,tập thể trong xã hội đó hoàn thiện cả về tư duy, nhận thức và hành động Có thể nói,việc hướng tới đẩy lùi vi phạm pháp luật và giáo dục tư tưởng pháp luật có vai trò quantrọng trong việc xây dựng xã hội, là nền tảng thúc đẩy cho xã hội ngày một lớn mạnh
Đề tài nghiên cứu về vi phạm pháp luật có giá trị thực tiễn cao, dễ tiếp cận, gần gũi,không đặt nặng yếu tố lịch sử trừu tượng và hướng đến việc hình thành tư tưởng cho thanhniên trẻ hiện nay Hơn thế nữa, trong thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước, việcnghiên cứu về vi phạm pháp luật còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứunhằm thay đổi phương án rõ ràng và đúng đắn trong việc răn đe, xử phạt để giúp giới trẻthoát khỏi suy nghĩ vi phạm pháp luật chỉ là một “lỗi lầm nhỏ” và sẽ được tha thứ Nhận thức
được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, chúng tôi chọn đề tài “Phân tích các
yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật và thực trạng vi phạm pháp luật của giới trẻ hiện
nay” làm tiểu luận đánh giá giữa kì cho môn Pháp luật đại cương năm học 2021-2022
Trang 52 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ làm rõ nội dung các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật, tập trungphân tích những vấn đề vi phạm xảy ra hiện nay cũng như là các nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng trên Từ đó, chỉ ra những hạn chế trong công tác giải quyết vi phạm pháp luật của Nhànước ta, liên hệ với thực tiễn và có những phương án mới nhằm nâng cao hiệu quả trongcông cuộc xây dựng xã hội, giáo dục tư tưởng về pháp luật cho giới trẻ ở Việt Nam
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
a. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là về các yếu tố cấu thành nên vi phạm phápluật, các vấn đề vi phạm pháp luật và tập trung phân tích đối trượng trong độ tuổi vịthành niên và thanh niên ở Việt Nam
+ Về thời gian
Các thông tin được sử dụng để phân tích được lấy từ các cơ quan có thẩm quyền
và nằm trong khoảng thời gian 20 năm, các phương án, giải pháp đề ra trong tiểu
Trang 6luận có giá trị lâu dài, phù hợp với thời điểm hiện tại và có giá trị đóng góp trong tương lai.
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về ý nghĩa lý luận, thứ nhất là bài luận giúp phân tích, luận giải các phương án
áp dụng pháp luật để xử lý hành vi phạm pháp luật, làm sáng tỏ hơn các quan điểm củaNhà nước về vấn đề này Thứ hai là khảo sát khá toàn diện tình hình và thực trạng củahiện trạng vi phạm pháp luật trong giới trẻ hiện nay, trên cơ sở đó, đánh giá sự nguyhiểm và nguyên nhân của xảy ra vấn đề nhằm áp dụng phương hướng một cách đúngđắn Thứ ba là đề xuất một số giải pháp vận dụng phương hướng giải quyết để Nhànước ta áp dụng vào công cuộc phát triển tư tưởng, bổ sung luật pháp và giáo dục hành
vi cho các bạn trẻ ngày nay
Về ý nghĩa thực tiễn, việc nghiên cứu giúp mỗi cá nhân hiểu rõ về sự nghiêm trọng củavấn nạn vi phạm pháp luật ở thế hệ trẻ trong thời kì toàn cầu hóa hiện nay, từ đó tự bản thânmình có được nhận thức phải rèn luyện tư tưởng, lối sống và hành động để tránh xa vấnnạn Qua đó, cá nhân có thể hoàn thiện bản thân, tu dưỡng nhân cách để góp phần dựngxây dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh tiên tiến Ngoài ra, tiểu luận còn góp phần giải quyếtcác thắc mắc, các bất ổn trong công tác xử lý vi phạm ở Việt Nam
5 Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận gồm phần mục lục, mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục chứa thông tin các nguồn tài liệu tham khảo đã sử dụng
Trang 7II Nội dung
1 Tổng quan về vi phạm pháp luật
a Khái niệm về vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là các hiện tượng xã hội mang tính chất tiêu cực, khác vớicác cuộc cách mạng là cuộc đấu tranh của một giai cấp hoặc toàn dân tộc nhằmmục đích lật đổ hệ thống xã hội cũ để xây dựng hệ thống xã hội mới tiến bộ vì sựphát triển đi lên của xã hội
Hành vi vi phạm pháp luật là sự phản ứng tiêu cực của một số cá nhân, tổchức trái lại ý chí của nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật Do
đó, tất cả các hành vi dù vô ý hay cố ý không tuân theo các tình huống được soạnthảo trong các quy phạm pháp luật đều có thể trở thành hành vi vi phạm pháp luật.Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp hành vi trái pháp luật không phải là hành vi viphạm pháp luật Nếu hành vi đó không tồn tại đầy đủ các yếu tố hình thành viphạm pháp luật thì không phải là hành vi vi phạm pháp luật
Những hành vi này luôn tiềm tàng mang đến những mối nguy hại cho nhànước, xã hội và người dân Việc này dẫn đến những đối tượng vi phạm pháp luậtliên tục bị nhà nước, xã hội và người dân chỉ trích, lên án để xử lý theo các quyđịnh của pháp luật
b Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật gồm các dấu hiệu sau:
Thứ nhất là hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội Các quy định của pháp luậtđược đề ra với nhiệm vụ điều chỉnh các hành vi của người dân Do đó, vi phạm phápluật trước hết phải là các hành vi gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm chonhà nước, cộng động xã hội Khi xác định hành vi vi phạm pháp luật thì không thể thiếucác dấu hiệu của hành vi, nói cách khác là không có hành vi nguy hiểm của con ngườiđồng nghĩa không có hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, pháp luật không điều chỉnhnhững suy nghĩ hoặc tính cách cá nhân của người nếu những tính cách đó không biểuhiện thành các hành vi cụ thể Vì vậy, các suy nghĩ, tình cảm,
Trang 8những tính cách cá nhân của ngon người cho dù có nguy hiểm cho xã hội cũngkhông bị coi là vi phạm pháp luật.
Thứ hai là trái với các quy định được ban hành của pháp luật Trong các quyđịnh của pháp luật đã mô tả đầy đủ các trường hợp và tình cụ thể về các hành vi
mà chủ thể được làm hoặc không được làm gì Vì thế, nếu không tuân thủ đúngcác nội dung này này thì sẽ bị coi là vi phạm pháp luật Tuy nhiên, những việc màpháp luật không cấm thì dù có làm trái vẫn không bị xem là vi phạm pháp luật.Thứ ba là chủ thể thực hiện hành vi phạm pháp luật phải có đủ năng lực tráchnhiệm pháp lý Chủ thể phải có khả năng nhận thức, điều khiển các hành vi của mình
Do đó, pháp luật chỉ quy định năng lực trách nhiệm pháp lý cho những người đủ một
độ tuổi nhất định Đối với những thanh thiếu niên chưa phát triển đầy đủ nhận thức vàkhả năng nhận biết thường sẽ không đánh giá được hết những hậu quả do hành vi mà
họ gây ra cho nên nhà nước không bắt họ về chịu trách nhiệm pháp lý Đối với nhữngngười mất khả năng nhận thức khi thực hiện hành vi của họ ở thời điểm thực hiện thìpháp luật quy định họ cũng không có năng lực trách nhiệm pháp lý, do đó họ cũngkhông phải chịu trách nhiệm pháp lý
Thứ tư là hành vi có lỗi của chủ thể Định nghĩa có lỗi ở đây có thể được hiểurằng là hành vi vi phạm pháp luật trái với các quy định của pháp luật cũng như đượcthực hiện bởi chủ thể có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, những hành
vi trái pháp luật mà chủ thể thực hiện trong những trường hợp bất khả kháng cũng được xem xét là không bị vi phạm pháp luật
c Các loại của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng cho nên có rất nhiều các để phânloại chúng Vi phạm pháp luật dựa trên các đặc điểm và mức độ gây nguy hiểmcho cộng đồng xã hội, thông thường được chia thành bốn loại như sau:
Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): Là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đượcquy định trong các điều khoản của Bộ luật, được thực hiện bởi các chủ thể có năng lựctrách nhiệm hình sự một cách cố ý hoặc không cố ý, xâm phạm nền độc lập, chủ quyền,toàn vẽ lãnh thổ, xâm phạm đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninhtrật tự và an ninh xã hội Ngoài ra, hành vi này các hại đến quyền, lợi
Trang 9ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác được Bộ luật quyđịnh đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vi phạm hành chính: Là hành vi xâm phạm do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện tớicác quy định quy tắc quản lý của nhà nước ban hành mà không phải làg tội phạm hình
sự và theo các nội quy định của pháp luật ban hành phải chịu chế tài hành chính
Vi phạm dân sự: Là các hành vi trái pháp luật và có lỗi do các chủ thể có đầy
đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, gây nguy hiểm tới các quan hệ tài sản,quan hệ nhân thân mà có liên quan tới tài sản, quan hệ nhân thân phi tài sản
Vi phạm kỷ luật nhà nước: Là các hành vi trái pháp luật và có lỗi do các chủ thểthuộc phạm vi quản lý nhà nước có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, gâynguy hiểm tới các quan hệ được xây dựng trong nội bộ cơ quan, tổ chức thuộcnhà nước
2 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật
a Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là tất cả những tín hiệu bên ngoài thế giớikhách quan, bao gồm các yếu tố như hoạt động trái pháp luật, hậu quả của hoạt động đó,thời gian, địa điểm, cách thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện vi phạm tới pháp luật.các hành động như châm chích, chém người, trộm cắp tài sản, đi vào đường cấm,lạm quyền trong khi thi, quan hệ công vụ Có thể có những hình thức bỏ sót như
B Không khai báo tội phạm, trốn tránh nghĩa vụ quân sự… Hậu quả trực tiếp của việcthực thi pháp luật, tức là làm cho xã hội chúng ta bất ổn, nguy hại Hành vi vi phạm pháp luật cóthể gây ra những hậu quả hoặc đe dọa nhất định Biểu hiện của những hậu quả của việc vi phạmpháp luật được biết qua sự bất thường của các tình trạng của các quan hệ xã hội đã bị xâm hại.Những thiệt hại và mất mát chi tiết, có thể định lượng được như thiệt hại của cải vật chất conngười, về tính mạng, sức khỏe của con người là những hậu quả thường thấy nhất của việc viphạm pháp luật.Những mất mát trừu tượng khó có thể biết đến một cách chính xác và ra 1 con sốnhư thiệt hại về tinh thần của bản thân, tình trạng không an toàn cho đời sống của cá nhânđó.Cơ sở vô cùng quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật
là hậu quả của việc vi phạm tới pháp luật Những thời điểm hoặc khoảng
8
Trang 10thời gian mà vi phạm pháp luật được diễn ra là thời gian xảy ra vi phạm Các công
cụ và phương tiện vi phạm là những công cụ và phương tiện mà một người sửdụng để tham gia vào các hoạt động vi phạm, chẳng hạn như: B Dao giết người,
xe máy cướp người Cách thức, đồ nghề, Những yếu tố này ít nhiều cũngphản ánh nguy cơ bị xâm phạm
Ví dụ:
- Vào lúc 8 giờ ngày 13 tháng 8 năm 2020, C, 28 tuổi, đi xe máy trên đường Hoàng Diệu, Hà Nội mà không đội mũ bảo hiểm Như vậy, anh B được pháp luật bảo vệ vì hành vi không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe máy trên đường của anh B là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo năng lực pháp luật của chủ thể vi phạm pháp luật vì đã xâm phạm đến mối quan hệ xã hội của mình.
- Tháng 9/2008, Bộ tài nguyên môi trườn đã phát hiện ra vụ việc sai phạm củacông ty Bột ngọt Vedan (Công ty TNHH Vedan Việt Nam) Theo đó thì công ty Vedan đãhằng ngày sả nước thải bẩn (chưa qua xử lý) trực tiếp ra sông Thị Vải (Đồng Nai) suốt 14năm qua kể từ khi đi vào hoạt động (1994): khoảng
45000m3/1 tháng Hành động này gây ô nhiễm nặng cho dòng sông, gâychết các sinh vật sống ở sông này và ảnh hưởng trầm trọng đến sứckhỏe người dân ven sông…
b Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là tất cả những giai đoạn và diễn biếntâm lí của con người ta khi vi phạm tới pháp luật như lỗi, động cơ thật sự và mụcđích cuối cùng của bản thân họ
Những hành vỉ trái với pháp luật phản ánh những thái độ của tâm lý conngười ta do lỗi, cho nên lỗi là yếu tố vô cùng cần thiết và đóng 1 vai trò quantrọng phản ánh độ nguy hiểm và cảnh giác của việc vi phạm pháp luật Có hai loạilỗi cơ bản là cố ý và vô ý; lỗi cố ý gồm trực tiếp có cố ý và gián tiếp có cố ý; vô ý
do quá tự tin vào bản thân hay vô ý do quá cẩu thả đều tạo nên lỗi vô ý
Lỗi trực tiếp có cố ý có đặc trưng là chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vicủa mình là nguy hiểm cho xã hội, cố tình tiếp tục làm việc đó và muốn nó đượcxảy ra dù biết rõ hậu quả mà nó sẽ gây ra cho xã hội và những người khác
Trang 11Lỗi gián tiếp có cố ý có đặc trưng là chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội, biết trước hành vi lỗi của mình sẽ gây ra những hậu quảnhư thế nào, nhưng vẫn làm dù biết kết quả có ra sao.
Đặc trưng của vô ý do quá tự tin vào bản thân là trường hợp có hành vi gây ranguy hiểm cho mọi người nhận, biết trước được những hậu quả mà mình gây ra,nhưng nghĩ rằng hành vi đó không xấu xa hay để lại bất cứ hậu quả xấu gì.Lỗi vô ỷ do cẩu thả có đặc trưng là chủ thể vi phạm đã gây ra hậu quả nguyhại cho xã hội trong trường hợp không biết trước về hậu quả mà mình có thể gây racho mọi người xung quanh dù những hành vi đó để lại hậu quả vô cùng nghiêmtrọng và cần được biết rõ để ngăn chặn
Yếu tố cần phải thấy trước thể hiện ở chỗ người vi phạm có nghĩa vụ phải tuânthủ những quy tắc nhất định nhung do luộm thuộm, thiếu ý thức cẩn thận, lơ là, khônghoàn toàn tập trung, vô trách nhiệm, không để ý kĩ càng xung quanh vì vậy không thểhoàn thành tốt những việc đó Yếu tố có thể biết trước được biểu hiện ở chỗ người
vi phạm có đủ 2 loại điều kiện là khách quan và chủ quan (trình độ học vấn, kinhnghiệm của bản thân, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thời gian, địa điểm, điều kiện,hoàn cảnh khách quan ) để nhận biết trước được hành vi của mình có thể gây ra những gìkhông tốt cho xã hội
Động cơ vi phạm là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vỉ viphạm pháp luật Yếu tố động cơ thường đi liền với lỗi cố ý bởi vì chỉ khi vi phạm phápluật với lỗi như vậy , vì những người thuộc về lỗi không cố ý khi gây ra những hành
vi đó cá nhân không biết trước hoặc không nhận thức được hành vi của minh là có viphạm pháp luật hoặc nghĩ rằng hành vi của mình không gây ra bất cứ hiệu quả gì khác hoặc viphạn gì tới pháp luật.Ví dụ, có những trường hợp vi phạm pháp luật, cá nhân có thể bị thúc đẩy
vì những lý do xấu như ghen tức, lòng tham lam, sự đố kị, sĩ diện
Mục đích vi phạm pháp luật là kết quả mà cá nhân vi phạm pháp luật đề ra và muốnthành công thực hiện được khi thực hiện những hành vi này Những cá nhân trực tiếp cố ýgây lỗi thường sẽ đi kèm với mục đích của bản thân mình, vì trong những trường hợp cụthể như vậy, cá nhân vi phạm rất muốn gây ra hậu quả nào đó bằng cách
Trang 12thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, nó khác với hậu quả sau khi vi phạm phápluật.
Hậu quả là những gì xảy ra trên thực tế của hành vi bị vi phạm pháp luật, cònmục đích chính là kết quả mà cá nhân muốn đạt được trong thâm tâm của bản thanmình, nó nảy sinh trước khi thực hiện hành vi Những hệ lụy xảy ra sau khi thựchiện những hành vi này có thể đúng như ý muốn của cá nhân thực hiện nhưng đôikhi có thể khác hoàn toàn so với dự định ban đầu Những yếu tố gồm chủ quan vàkhách quan đã tác động lớn đến nhứng điều trên trong quá trình cá nhân thực hiệnhành vi của bản thân mình
c Chủ thể của vi phạm pháp luật
Đối tượng vi phạm pháp luật là người, tổ chức hoặc cơ quan có năng lựctrách nhiệm pháp lý và đã làm các hoạt động trái với pháp luật nhà nước Phápluật chỉ quy định hậu quả mà đối tượng phải gánh chịu khi đối tượng đó đạt tới độtuổi nhất định, có ý chí và tự do ý chí của chính bản thân họ Các hành vi được gọi
là trái pháp luật nhưng được thực hiện bởi các đối tượng chưa đủ năng lực, khảnăng nhận thức đúng theo quy định của pháp luật đã đưa ra thì không được xem
là vi phạm pháp luật Khả năng nhận hậu quả khi vi phạm pháp luật được quyđịnh khác nhau ở những khu vực, quốc gia khác nhau trong các lĩnh vực khácnhau
Những đối tượng nhận thức được việc mình đang làm và hậu quả mà chúngmạng lại, đồng thời họ có khả năng điều khiển được hành vi của mình Như vậy,chỉ những hành vi không đúng với quy định mà pháp luật, có lỗi của những người
đó mới được xem như là vi phạm pháp luật Trường hợp các cá nhân, tổ chứcthực hiện một xử sự là hành vi trái với pháp luật nhưng họ không nhận thức đượchành vi của mình và những hệ lụy mà hành vi đó mang lại cho xã hội hoặc họ đãbiết, nhận thức được việc làm dó nhưng không điều khiển được bản thân thìkhông được coi là lỗi và không phải là vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý của con người được định nghĩa trên cơ sở là tuổi
và sự nhận thức hành vi họ đang thực hiện Mọi tổ chức được xác nhận là hợp pháp đều
có năng lực trách nhiệm pháp lý của họ, năng lực đó được xác định trên cơ sở địa vịpháp lý của tố chức đó Pháp luật của những nhà nước khác nhau có thể có những
Trang 13quy định khác nhau về năng lực trách nhiệm pháp lý và cơ cấu lại các đối tượng cóhành vi vi phạm pháp luật Trong một số trường hợp vi phạm pháp luật, đối tượng phải cónhững dấu hiệu hay những hoàn cảnh, điều kiện riêng Đối với những trường hợp này,những đối tượng mang hành vi vi phạm được gọi là chủ thể đặc biệt Nếu các điều kiệnnày không đủ thì chưa được gọi là vi phạm pháp luật trong trường hợp đó.
Ví dụ 1: A 30 tuổi, khi di chuyển trên đường bằng xe máy A đã sử dụngđiện thoại di động Vì vậy, A đã bị cảnh sát giao thông xử phạt hành chính theođiểm a khoản 4 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP
Chủ thể vi phạm là A vì đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là dùng tay sửdụng điện thoại khi đang điều khiển xe chạy trên đường
Ví dụ 2: A cho B thuê nhà, khi thuê nhà B có đặt cọc cho A số tiền 5 triệuđồng, trong hợp đồng quy định nếu B thuê đủ 6 tháng và B không muốn thuê nữathì A sẽ trả lại B 5 triệu là số tiền đã cọc trước đó Nhưng sau đó B đã thuê đủthời gian 6 tháng và có nguyện vọng chuyển đi thì A lại không chịu trả số tiền cọcđúng như hợp đồng quy định Vì thế, A được xác định đã vi phạm luật dân sự.Chủ thể vi phạm là A vì A không thực hiện đúng theo điều khoảng hợp đồng
Ví dụ 3: A 20 tuổi, A vì có xích mích với B nên muốn dạy cho B một bài học,một hôm A hẹn B ra chỗ vắng người và dùng đá đánh vào đầu B khiến B bịthương tật nghiêm trọng và phải nhập viện, bác sĩ đã chuẩn đoán tỷ lệ tổnthương cơ thể là 35% Như vậy, A đã vi phạm pháp luật hình sự trong khoản 1Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
d Khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể của các đối tượng vi phạm có các hành vi vi phạm pháp luật là cácquan hệ xã hội được pháp luật nhà nước bảo vệ nhưng lại bị những hành vi cótính chất vi phạm pháp luật gây thiệt hại
Khách thể là một trong bốn yếu tố chính tạo thành vi phạm pháp luật (đối tượng
vi phạm, khách thể, những mặt chủ quan, khác quan) Khách thể của vi phạm phápluật được phân biết theo ngành luật như sau: khách thể của vi phạm hình sự, của vi phạmhành chính, của vi phạm dân sự, của vi phạm kỉ luật
Trang 14Khoa học Luật hình sự dựa vào mức độ bao quát chung của các quan hệ xã hội chiakhách thể tội phạm thành ba loại: Khách thể chung, khách thể loại và khách thểtrực tiếp của các đối tượng phạm tội.
Khách thể chung của đối tượng vi phạm là tập hợp đủ các quan hệ xã hội đã
bị tội phạm xâm hại và được pháp luật hình sự bảo vệ Theo Luật hình sự củaViệt Nam, khách thể chung của đối tượng phạm tội là các quan hệ xã hội đượcquy định theo khoản 1 Điều 8 Luật hình sự 2015 (sửa đổi và được bổ sung vàonăm 2017) Bất kì hành vi phạm tội nào cũng có thể gây ra thiệt hại đến kháchthể chung là một trong các quan hệ xã hội đã được quy định trong khoảng 1 điều
8 Vì vậy, qua khách thể chung, ta có thể thấy rằng nhiệm vụ của Luật hình sự vàbản chất của nó Hay chính xác hơn là chính sách hình sự của một quốc gianào đó được thể hiện thông qua Luật hình sự
Khách thể loại của đối tượng vi phạm là nhóm quan hệ xã hội có những tính chấtgiống nhau được một nhóm các quy phạm pháp luật của pháp luật hình sự bảo vệ vàduy trì nhưng bị một nhóm tội phạm xâm hại Khách thể loại đóng góp vai trò quantrọng về mặt lập pháp Nó chính là những yếu tố cơ bản để Bộ luật hình sự được xâydựng bao gồm các chương trình trong phần tội phạm Kẻ phạm tội thực tế rất đadụng về các mặt chủ thể, chủ quan, khách quan nhưng nếu chúng đều gây hại tới cácquan hệ xã hội có những đặc điểm tương đồng với nhau thì sẽ được xếp chung vàomột chương trong bộ luật Qua việc xem xét những nhóm khác thể nhất định ta có thểxác định, đánh giá được mức độ nguy hiễm cho xã hội của hành vi vi phạm cụ thể khi
nó tác động trực tiếp đến một trong các khách thể của nhóm Có thể nói sắp xếp cácchương của phần các tội phạm theo khách thể loại rất phù hợp và khoa học Nếu chúng
ta xếp theo các yếu tố khác (chủ quan, chủ thể, …) thì nó sẽ gây ra tình trạng có nhiềutội phạm có hành vi vi phạm khác nhau được nằm trong một chương Nó sẽ gậy rakhó khan lớn cho việc xác định, đánh giả mức độ nguy hiểm cho xã hội của đối tượngphạm tội và việc xử lý, răn đe chúng Các đối tượng phạm tội được liệt kê trong mộtchương riêng biệt của phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng chỉ gây
ra tác hại đến khách thể loại mà chúng được phân loại Nhưng không phải đối tượngnào trong chương đó cũng luôn xâm hại đến khách thể