1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp

40 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tình Hình Tài Chính Của Các Doanh Nghiệp
Tác giả Vũ Tiến Lượng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Tài Chính
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 207,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết nói về chức năng phân phối của tài chính, ta thấy rằng để có thể tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào thì số vốn huy động được của doanh nghiệp phải được phân

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 3

1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến tài chính doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Bản chất 3

1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 4

1.1.4 Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp 5

1.1.5 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính doanh nghiệp 6

1.2 Những chỉ tiêu tài chính đặc trưng 15

1.2.1 Nhóm tỷ số khả năng thanh toán 15

1.2.2 Các hệ số về cấu tài chính và tình hình đầu tư 18

1.2.3 Nhóm tỷ số về hoạt động 20

1.2.4 Nhóm tỷ số sinh lời 22

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 23

2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp 23

2.1.1 Tổng quan về công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 23

2.1.2 Tổng quan về công ty cổ phần Bibica 25

2.2 Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp 26

KẾT LUẬN 36

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh

tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hànghoá tiền tệ Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay doanh nghiệp đượcxem như một trung tâm trao đổi dòng vật chất và dòng tài chính vào ra Sự tồn tại

và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều nhân tố như môi trườngkinh doanh, trình độ quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là trình

độ quản lý tài chính

Quản trị tài chính là một bộ phận của hoạt động quản trị doanh nghiệp và

nó có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó huy động

và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh, tổ chức sử dụng vốnkinh doanh tiết kiệm và hiệu quả đồng thời giám sát kiểm tra thường xuyên, chặtchẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ngày nay muốn phát triển bềnvững và cạnh tranh lành mạnh, trước hết phải có được cơ cấu tài chính phù hợp.Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến hành công tác phântích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này để trên cơ sở đó địnhhướng cho các quyết định nằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiệntình hình tài chính của doanh nghiệp

Vì vậy, em lựa chọn đề tài “Tìm hiểu và đánh giá tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà và Công ty Cổ phần Bibica”, trên cơ sở lấy

Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà làm gốc so sánh, phân tích Công ty Cổ phầnBibica nhằm xác định tầm quan trọng của việc phân tích tài chính

2 | P a g e

Trang 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ

DOANH NGHIỆP 1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế dưới hình tháitiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trường xunh quanh nó, những mối quan hệ nàynảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

1.1.2 Bản chất

Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì nhà kinh doanhđều phải có một lượng vốn ban đầu nhất định được huy động từ các nguồn khácnhau như: Tự có, ngân sách cấp, liên doanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặcvay của ngân hàng Số vốn ban đầu đó sẽ được đầu tư vào các mục đích khácnhau như: xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, vật tư và thuê nhâncông Số vốn ban đầu khi phân phối cho các mục đích khác nhau thì hình thái của

nó không còn giữ nguyên dưới dạng tiền tệ ban đầu mà đã biến đổi sang hình tháikhác là những hiện vật như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đối tượng lao động Quá trình phân chia và biến đổi hình thái của vốn như vậy là quá trình cung cấphay nói cách khác là quá trình lưu thông thứ nhất của quá trình sản xuất kinhdoanh Quá trình tiếp theo là sự kết hợp của các yếu tố vật chất nói trên để tạo ramột dạng vật chất mới là sản phẩm dở dang, kết thúc quá trình này thì thànhphẩm mới được xuất hiện Quá trình đó chính là quá trình sản xuất sản phẩm Sảnphẩm của doanh nghiệp sẽ phải trải qua quá trình lưu thông thứ hai, quá trình tiêuthụ, để vốn dưới dạng thành phẩm trở lại hình thái tiền tệ ban đầu thông quakhoản thu bán hàng của doanh nghiệp Số tiền thu được đó lại trở về tham gia quátrình vận động biến đổi hình thái như ban đầu Quá trình vận động như vậy lặp đilặp lại liên tục và có tính chất chu kỳ Chính sự vận động biến đổi hình thái nhưtrên của vốn tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ta có thểkhái quát quá trình vận động đó qua sơ đồ sau:

vật

SPdở dang TH.Phẩm Tiền(Nhà xưởng,vật tư)

Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao quá trình vận động như trên của vốn lại diễn

ra được? Câu trả lời là: Chính nhờ hệ thống các mối quan hệ của doanh nghiệpvới môi trường xung quanh nó Hệ thống các mối quan hệ đó rất phức tạp, đanxen lẫn nhau nhưng ta có thể phân chia thành các nhóm cơ bản như sau:

3 | P a g e

Trang 4

Nhóm 1: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước

Nhóm 2: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức và cá nhân khác.

Nhóm 3: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và hệ thống tài chính, ngân hàng

Nhóm 4: Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ của doanh nghiệp.

Hệ thống các mối quan hệ trên có những điểm chung là:

- Đó là những mối quan hệ kinh tế, những quan hệ liên quan đến công việc tạo ra sản phẩm

và giá trị mới cho doanh nghiệp

- Chúng đều được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, thông qua đồng tiền để đo lường, để đánh giá

- Chúng đều nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Theo các nhà kinh tế học, tài chính doanh nghiệp có hai chức năng cơ bản là:

- Chức năng phân phối

- Chức năng kiểm tra (giám đốc) bằng tiền

Trước hết nói về chức năng phân phối của tài chính, ta thấy rằng để có thể

tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào thì số vốn huy động được

của doanh nghiệp phải được phân chia cho các mục đích khác nhau Một phần

vốn dùng cho việc đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, những

phần khác dùng cho mục đích mua sắm các đối tượng lao động và thuê nhân

công Nếu tiền vốn tập trung lại mà không chia ra cho các mục đích như trên thì

nó chỉ có ý nghĩa là phương tiện dự trữ giá trị mà không giúp gì cho việc sáng tạo

giá trị mới cho doanh nghiệp Tuy vậy, việc phân phối phải dựa trên các tiêu

chuẩn và định mức được tính toán một cách khoa học trên nền tảng là hệ thống

các mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với môi trường xung quanh nó Ta hãy

xét một trường hợp giả định như sau: Giả sử một người có trong tay số tiền 500

triệu đồng, số tiền này có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nếu người đó

đem toàn bộ số tiền mua thành vàng hoặc đá quý để cất giữ, việc làm như vậy

không giúp người đó có thêm số lượng vàng mới và những lượng giá trị mới theo

thời gian Với mục đích duy nhất là cất giữ như vậy nên số vốn ban đầu chỉ có

vai trò là phương tiện dự trữ giá trị, người chủ của nó không cần quan tâm đến

các mối quan hệ kinh tế với môi trường xung quanh, thậm chí còn cố gắng để

không tiết lộ các thông tin liên quan đến số tiền đó Trường hợp ngược lại, số vốn

trên được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích làm cho nó

sinh sôi nảy nở càng nhiều, thì nó phải được phân chia

4 | P a g e

Trang 5

Chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính: sau mỗi quá trình sản xuất

kinh doanh, kết quả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều

được thể hiện bằng các chỉ tiêu tài chính như thu, chi, lãi, lỗ Các chỉ tiêu tài

chính đó tự bản thân nói lên kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt ở

mức độ nào đồng thời cũng thể hiện quá trình phân phối còn bất hợp lý ở chỗ nào

tức là có mối quan hệ tài chính nào chưa được thực hiện thoả đáng, qua đó nhà

quản lý có thể thấy được cách điều chỉnh chúng như thế nào để kết quả của kỳ

kinh doanh sau đạt được cao hơn

Khi nói đến chức năng kiểm tra bằng tiền của tài chính, ta có thể nhầm lẫn

với công tác thanh tra, kiểm tra tài chính Thực ra hai khái niệm này rất khác

nhau Công tác kiểm tra, thanh tra tài chính là một hoạt động chủ quan của con

người trong việc thực hiện chức năng tài chính, nó có thể tồn tại hoặc không tồn

tại, có thể đúng đắn, cũng có thể sai lệch Công tác này thường chỉ được thực

hiện bởi nhân viên của các cơ quan chức năng quản lý của nhà nước, của ngành

đối với doanh nghiệp vi phạm chế độ quản lý kinh tế, tài chính, hay bị thua lỗ kéo

dài nợ dây dưa bị kiện cáo Nếu các nhân viên thanh tra có đủ năng lực, trình độ

chuyên môn, công minh chính trực thì kết quả thanh tra mới phản ánh đúng tình

hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, trường hợp ngược lại thì kết quả thanh

tra sẽ bị sai lệch Còn chức năng kiểm tra hay giám đốc bằng đồng tiền của tài

chính là thuộc tính vốn có của nó Nó luôn luôn tồn tại và luôn luôn đúng bởi vì

khi đã có quá trình sản xuất kinh doanh thì nhất định sẽ có hệ thống các chỉ tiêu

tài chính cho dù nhà sản xuất kinh doanh có ghi chép nó vào các sổ sách hay

không

Hai chức năng trên của tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức

năng phân phối xảy ra ở trước, trong và sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh,

nó là tiền đề cho quá trình sản xuất kinh doanh, không có nó không thể có quá

trình sản xuất kinh doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng

phân phối, có tác dụng điều chỉnh và uốn nắn tiêu chuẩn và định mức phân phối

để đảm bảo cho nó luôn luôn phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của sản

xuất kinh doanh

1.1.4 Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp

Nói nhiệm vụ tài chính doanh nghiệp nghĩa là nói đến nhiệm vụ của chủ doanh

nghiệp để đảm bảo cho tài chính doanh nghiệp thực hiện tốt chức năng của mình

Để thực hiện tốt các chức năng của tài chính thì các bộ phận quản lý có

liên quan của doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Thiết lập những mối quan hệ khăng khít với thị trường vốn để luôn luôn chủ động về vốn cho sản xuất kinh doanh

5 | P a g e

Trang 6

- Xác định mục đích phân phối vốn đúng đắn, rõ ràng.

- Tính toán xác định các tiêu chuẩn phân phối vốn đúng với các mục đích đã xác định

- Tổ chức thực hiện công tác bảo toàn vốn một cách khoa học

- Tổ chức công tác theo dõi, ghi chép phản ánh đầy đủ, liên tục, có hệ thống các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp

- Tổ chức công tác phân tích đánh giá toàn diện tình hình thực hiện các định mức và tiêuchuẩn phân phối, tình hình thực hiện hệ thống các chỉ tiêu tài chính để kịp thời phát hiện nhữngbất hợp lý trong quá trình thực hiện các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tếxung quanh từ đó có những quyết định điều chỉnh hợp lý

- Cùng với các bộ phận quản lý khác của doanh nghiệp, công tác quản lý tài chính góp phầnduy trì và phát triển quan hệ với bạn hàng, khách hàng và các mối quan hệ trong nội bộ doanhnghiệp Đồng thời luôn đảm bảo thực hiện tốt các quy định, chế độ quản lý của nhà nước.Chức năng của tài chính có được thực hiện tốt hay không, hiệu quả công

tác quản trì tài chính có cao hay không phụ thuộc vào công sức và trí tuệ của toàn

thể cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp mà quan trọng nhất là kiến thức về

quản trị tài chính và năng lực lãnh đạo của người lãnh đạo cao nhất của doanh

nghiệp

1.1.5 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính doanh nghiệp

Tài chính Doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau:

Trang 7

* Ý nghĩa: Nhằm phát hiện ra những bất hợp lý, sai sót trong quá trình sử dụng, xác địnhnhu cầu để điều chỉnh Vốn cố định- tài sản cố định Từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp

* Khái niệm: - Tài sản cố định là những tư liệu lao động với nội dung vật chất là Vốn cố định

* Đặc điểm: Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và qua mỗi một chu kỳ nóvẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó giảm dần và dịch chuyển dần vào sảnphẩm thông qua hình thức khấu hao

* Phân loại: tài sản cố định rất phong phú, đa dạng về chủng loại tính năng tác dụng, giá trị,thời gian sử dụng để quản lý tốt tài sản cố định người ta tiến hành phân loại Tuỳ theo mục đíchnghiên cứu người ta có các cách phân loại tương ứng và với mỗi cách phân loại sẽ cho một cơ cấutài sản cố định tức là số lượng và tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể và qua mỗi một cơ cấungười ta sẽ có các biện pháp quản lý phù hợp

+ Phân loại căn cứ vào hình thái vật chất

- Tài sản cố định hữu hình: tài sản cố định có hình thái vật chất

- Tài sản cố định vô hình: tài sản cố định không có hình thái vật chất

+ Căn cứ vào tình hình sử dụng: Tài sản cố định đang khai thác, tài sản cố định sửa chữalớn, tài sản cố định chờ thanh lý, tài sản cố định chờ đưa vào sử dụng

+ Căn cứ vào tính năng tác dụng

- Nhà xưởng, kho tàng, vật kiến trúc

- Máy móc thiết bị công tác

- Phương tiện vận tải và thiết bị truyền dẫn

- Máy móc thiết bị công tác

- Tài sản cố định khác

+ Căn cứ vào quyền sở hữu: TSCD tự có, TSCD thuê tài chính

+ Căn cứ vào mục đích: TSCD trong kinh doanh cơ bản, TSCD ngoài kinh doanh cơ bản.+ Căn cứ vào đặc tính của quá trình sản xuất loại hình sản phẩm

- Tuỳ theo loại hình Doanh nghiệp mà Doanh nghiệp sẽ phân chia chi tiết tài sản cố định

7 | P a g e

Học viên: Vũ Tiến Lượng Lớp QLKT 1 - Lớp 1 - 2021

Trang 8

* Hao mòn: là sự giảm dần về giá trị và giá tri sử dụng của tài sản cố định, nó gắn liền vớiviệc sử dụng tài sản cố định và tác động của điều kiện tự nhiên trong suốt thời gian tài sản cố định

có mặt tại Doanh nghiệp

+ Có hai loại hao mòn: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình

* Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán, phân bổ một cách khoa học hợp lý giá trị củatài sản cố định vào sản phẩm trong suốt thời gian sử dụng chúng

+ Có ba phương pháp tính khấu hao:

- Phương pháp khấu hao theo đường thẳng

- Phương pháp khấu hao thep số dư giảm dần có điều chỉnh

- Phương pháp khấu hao theo sản lượng

* Các chỉ tiêu đánh giá việc sử dụng tài sản cố định + Mức trang bị cho lao động+ Đánh giá tình hình sử dụng: Về mặt số lượng, về mặt chất lượng

+ Các chỉ tiêu hiệu quả: Sức sản xuất, hấp thụ vốn, tỷ suất lợi nhuận

1.1.5.2 Quản lý Vốn lưu động- Tài sản lưu động

- Vốn lưu động- Tài sản lưu động là một bộ phận vốn sản xuất tài sản của Doanh nghiệpphản ánh được năng lực, mức độ đảm nhiệm về vốn Qua nghiên cứu xác định được nhu cầu vềvốn, đảm bảo được nhu cầu về vốn, đảm bảo được vốn cho sản xuất

- Vốn lưu động: Tài sản lưu động tham gia vào quá trình sản xuất tạo nên giá trị sản phẩm

do đó chi phí vốn hợp lý sẽ xác định giá thành hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp

* Ý nghĩa: Qua nghiên cứu sẽ xác định được nhu cầu về vốn đảm bảo vốn cho sản xuất,đưa ra được biện pháp phù hợp Quản lý Vốn lưu động- Tài sản lưu động là một trong nhữngcông tác rất quan trọng góp phần quyết định việc tiết liệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm từ đónâng cao được hiệu quả hoạt động

8 | P a g e

Học viên: Vũ Tiến Lượng Lớp QLKT 1 - Lớp 1 - 2021

Trang 9

* Vốn lưu động là số tiền ứng trước để mua sắm, đầu tư các Tài sản lưu động, tài sản lưuthông và công cụ dụng cụ gắn liền với mục đích hoạt động của Doanh nghiệp

* Tài sản lưu động là những đối tượng lao động với nội dung vật chất là một bộ phận củaVốn lưu động, nó gắn liền với quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm

* Đặc điểm: Tài sản lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất và qua mỗi chu kỳ nó cấuthành nên thực thể của sản phẩm hoặc góp phần cấu thành nên thực thể sản phẩm hoặc là gia tănggiá trị sản phẩm và qua mỗi chu kỳ, giá trị của nó chuyển toàn bộ vào sản phẩm mà nó tạo ra

- Tương ứng với mỗi sản phẩm khác nhau mà đối tượng lao động khác nhau và nó tham giavào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm khác nhau

* Phân loại: Với mỗi sản phẩm khác nhau Vốn lưu động- Tài sản lưu động sẽ khác nhau.Chúng rất phong phú đa dạng về số lượng, chủng loại, tính năng, tác dụng Để quản lý tốt Vốnlưu động- Tài sản lưu động người ta tiến hành phân loại Tuỳ theo mục đích nghiên cứu sẽ có cáccách phân loại tương ứng và mỗi cách phân loại sẽ xác định số lượng, tỷ trọng của từng loại trongtổng thể và qua cơ cấu đưa ra được các biện pháp quản lý phù hợp

+ Căn cứ vào phương pháp quản lý - Vốn lưu động định mức

- Vốn lưu động không định mức

+ Căn cứ vào quy trình luân chuyển Vốn lưu động - Vốn lưu động trong khâu dự trữ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất -

Vốn lưu động trong lưu thông

+ Căn cứ vào khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản - Tiền mặt

9 | P a g e

Học viên: Vũ Tiến Lượng Lớp QLKT 1 - Lớp 1 - 2021

Trang 10

Việc này sẽ đảm bảo được nhu cầu vốn, tiết kiệm được chi phí, hạ giá

thành sản phẩm

Có hai phương pháp định mức Vốn lưu động:

+ Phương pháp gián tiếp: dựa vào các con số thống kê kinh nghiệm Có thể là số liệu của

kỳ kế hoạch trước của số thực tế đạt được kỳ trước hoặc theo tài liệu, số liệu của một đơn vị điểnhình tiên tiến

+ Phương pháp trực tiếp: tính nhu cầu Vốn lưu động cho từng nhóm Tài sản lưu động ở cáckhâu của quá trình sản xuất Với mỗi nhóm ta lại tính cho từng loại sau đó tổng hợp lại xác địnhđược nhu cầu Vốn lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động + Quá trình luân chuyển Vốn lưu động

- Vòng luân chuyển

- Kỳ luân chuyển bình quân

+ Các chỉ tiêu hiệu quả: Sức sản xuất vốn lưu động, hấp thụ vốn, tỷ suất lợi

nhuận

1.1.5.3 Quản lý nguồn vốn của Doanh nghiệp

Để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh cácdn cần phải xác định được

nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình từ đó chủ động được nguồn vốn cho hoạt

động sản xuất kinh doanh Để tạo vốn hoạt động của Doanh nghiệp có thể hình

thành từ rất nhiều nguồn khác nhau: từ bên trong, bên ngoài và thông qua các thị

1.1.5.4 Quản lý chi phí giá thành

* Chi phí hoạt động của Doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà Doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

* Giá thành: tập hợp những chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

+ Chi phí phản ánh quy mô, kết quả công tác của Doanh nghiệp

10 | P a g e

Trang 11

+ Chi phí là chỉ tiêu làm căn cứ, cơ sở để tính giá cả sản phẩm, để tính hiệu quả hoạt động Doanh nghiệp, để hoàn thiện công tác hạch toán kế toán.

* Các loại giá thành

+ Căn cứ vào công tác kế hoạch

- Giá thành kế hoạch: là tập hợp chi phí được xây dựng trên cơ sở kế hoạch định mức

- Giá thành thực tế: là tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh baogồm các chi phí đã được định mức kế hoạch và các chi phí phát sinh ngoài kế hoạch

+ Căn cứ vào cách tính chi phí vào sản phẩm

- Giá thành sản lượng: là tập hợp tàon bộ chi phí liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm trong kỳ

- Giá thành đơn vị: là tập hợp toàn bộ chi phí liên quan tới quá trình sản xuất một đơn vị sản phẩm

+ Căn cứ vào phạm vi

- Giá thành phân xưởng: là tập hợp toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của phân xưởng

- Giá thành công xưởng: bao gồm giá thành phân xưởng và chi phí quản lý

- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành công xưởng và chi phí ngoài sản

xuất

* Phân loại chi phí: Chi phí của Doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng về đối tượng, vềtính chất, về tác dụng, về quy mô để tiến hành quản lý chi phí thì người ta tiến hành phân loại.Với mỗi cách phân loại khác nhau sẽ xác định cơ cấu tương ứng tức là xác định được số lượng và

tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể từ đó mới đưa ra biện pháp quản lý tương ứng+ Phân loại theo tính chất hoạt động:

- Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động củaDoanh nghiệp nó gắn liền với chức năng nhiệm vụ của Doanh nghiệp

- Chi phí cho hoạt động tài chính: là chi phí cho tất cả các hoạt động liên quan tới tiền tệ

- Chi phí cho hoạt động bất thường: là chi phí cho các hoạt động không thường xuyên, liên tục không dự tính được

11 | P a g e

Học viên: Vũ Tiến Lượng Lớp QLKT 1 - Lớp 1 - 2021

Trang 12

+ Phân loại theo khoản mục chi phí

Là những chi phí có cùng công dụng, địa điểm phát sinh hay là những chi

phí có cùng công dụng địa điểm thì được tập hợp thành một khoản mục Cách

phân loại này có mục đích cơ bản là tập hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm

và qua cơ cấu tiến hành phân tích, xác định trọng tâm, trọng điểm để hạ giá thành

sản phẩm Khoản mục chi phí cấu thành lên giá thành thực tế

Đối với các Doanh nghiệp sản xuất vật chất nội dung các khoản mục chi

phí thông thường bao gồm: Lương công nhân trực tiếp, các khoản trích theo

lương, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu (năng lượng), khấu hao, sửa chữa, quản

lý, chi khác

+ Phân loại theo nội dung kinh tế

Yếu tố chi phí là các chi phí có cùng nội dung kinh tế không kể đến công

dụng địa điểm phát sinh Mục đích cơ bản của cách phân loại này là để lập dự

toán chi phí, tập hợp các yếu tố chi phí cấu thành nên giá thành kế hoạch

Các Doanh nghiệp sản xuất vật chất thì nội dung các yếu tố chi phí thông

thường bao gồm: Lương, các khoản trích theo lương, nguyên liệu, vật liệu, nhiên

liệu, khấu hao, chi phí khác bằng tiền

+ Phân loại theo mối quan hệ chi phí sản lượng

Mục đích cơ bản của cách phân loại này là lựa chọn nhiệm vụ sản xuất khi

có sự thay đổi khối lượng sản phẩm tức là với khối lượng sản phẩm đã thực hiện

tổng chi phí là nhỏ nhất

- Chi phí cố định

- Chi phí biến đổi

+ Phân loại theo cách tính

- Chi phí trực tiếp: là chi phí được tính trực tiếp vào giá thành sản xuất

- Chi phí gián tiếp : là chi những chi phí được phân bổ vào giá trị sản phẩm tuỳ theo đối tượng sẽ có cách phân bổ tương ứng

Các phân loại này có mục đích là : lựa chọn cách tính chi phí vào sản

phẩm sao cho chi phí nào nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất

kinh doanh

+ Phân loại theo tính chất chi phí - Chi phí lao động sống

- Chi phí lao động vật hoá

12 | P a g e

Trang 13

Mục đích cơ bản của cách phân loại này là xác định mức độ cơ giới hoá, tự

động hoá quá trình sản xuất

* Phương hướng biện pháp hạ giá thành

Mục đích phân loại giá thành và chi phí như trên là để các Doanh nghiệp

có thể quản lý và tính toán sao cho chi phí đạt tới mức là nhỏ nhất từ đó dẫn tới

giá thành của sản phẩm cũng là nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản

phẩm, thu hút và bán được nhiều sản phẩm Sau đây là một số biện pháp nhằm hạ

+ Xác định mức tiết kiệm - Tiết kiệm tuyệt đối

- Tiết kiệm tương đối

1.1.5.5 Thu nhập – Lợi nhuận của Doanh nghiệp

* Doanh thu : là số tiền Doanh nghiệp thu được từ việc bán các sản phẩm, dịch vụ trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh

* Thu nhập : là một số tiền Doanh nghiệp thu về liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ

* Ý nghĩa của doanh thu : là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hoạt động của Doanh nghiệp

- Là chỉ tiêu phản ánh vị thế chủa Doanh nghiệp trên thị trường

- Là chỉ tiêu nhằm bù đắp chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

- Là căn cứ, cơ sở để tính hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp

- Tăng tổng sản phẩm xã hội, tăng tích luỹ cho ngân sách

* Doanh thu từ hoạt động bất thường: là doanh thu từ hoạt động không thường xuyên liên tục không kế hoạch dự tính được

- Doanh thu từ hoạt động tài chính: là doanh thu được từ tất cả các hoạt động liên quan tới tài chính tiền tệ

13 | P a g e

Học viên: Vũ Tiến Lượng Lớp QLKT 1 - Lớp 1 - 2021

Trang 14

- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ: là doanh thu gắn liền với chức năng,nhiệm vụ về ngành nghề, phạm vi hoạt động của dn dịch vụ: là doanh thu gắn liền với chức năng,nhiệm vụ về ngành nghề, phạm vi hoạt động của Doanh nghiệp

* Nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới doanh thu đó là khối lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm

và với những ý nghĩa của doanh thu như vậy thì các Doanh nghiệp mong muốn tăng doanh thu

Để tăng doanh thu phải đưa các biện pháp tác động tăng cả hai chỉ tiêu trên và có thể đưa ra một

số biện pháp cơ bản sau:

+ Tăng tổng khối lượng sản phẩm bằng cách: - Tiết kiệm vốn lưu động, tăng vòng quay vốn

- Nâng cao hệ số sử dụng tài sản cố định

- Sử dụng lao động phù hợp, khuyến khích lao động tăng năng suất lao

động

+ Tăng giá cả sản phẩm

- Làm tốt công tác thị trường

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

* Lợi nhuận: là chênh lệch giữa toàn bộ số tiền mà Doanh nghiệp thu được và số tiềnDoanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ Nếu như chênh lệch

đó lớn hơn 0 là lãi Nếu chênh lệch đó nhỏ hơn 0 là lỗ

- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả hiệu quả hoạt động của Doanh

- Lợi nhuận là chỉ tiêu góp phần tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước

- Lợi nhuận góp phần bổ sung vốn hoạt động của Doanh nghiệp

- Lợi nhuận góp phần cải thiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân

Trang 15

(Chi phí hợp lý là những chi phí được tính vaò thu nhập chịu thuế theo quy

định của nhà nước)

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – thuế thu nhập Doanh

nghiệp Thuế thu nhập Doanh nghiệp = Lợi nhuận trước thuế x thuế suất

* Để phản ánh được chất lượng của lợi nhuận có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau Tuỳ theomục đích nghiên cứu, ý nghĩa của chỉ tiêu, ý nghĩa của phương pháp quản lý có thể đưa ra các chỉtiêu phù hợp

- Tỷ suất lợi nhận trên doanh thu

- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

- Tỷ suất lợi nhuận trên lao động

- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn

* Theo quy định của nhà nước sau một quá trình hoặc một kỳ sản xuất kinh doanh, Doanhnghiệp tạo lợi nhuận thì phải phân phối lợi nhuận theo đúng quy định của nhà nước, trình tự phânphối được thể hiện như sau:

- Tập hợp chênh lệch giữa toàn bộ thu và chi

- Nộp thuế thu nhập Doanh nghiệp

- Bù đắp các chi phí không được tính vào thu nhập chịu thuế

- Trả tiền cho ngân sách nếu Doanh nghiệp sử dụng vốn ngân sách

* Để đảm bao Doanh nghiệp làm ăn có lãi và lãi ngày càng tăng thì Doanh nghiệp cần phảithực hiện các biện pháp trước mắt cũng như lâu dài Sau đây là một số biện pháp làm tăng lợinhuận

+ Lựa chọn phương án ản xuất tối ưu: tức là phương án đó thoả mãn được tiêu chí đã đặt ratrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Có rất nhiều nhân tố, các chỉ tiêu phản ánh tácđộng ảnh hưởng việc thoả mãn đồng thời các chỉ tiêu đó là rất khó khăn

+ Tăng cường hiệu quả công tác quản lý

+ Tăng cường công tác khai thác

+ Đổi mới, nâng cao chất lượng máy móc, thiết bị

+ Lựa chọn, đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật, trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu sử dụng

15 | P a g e

Trang 16

1.2 Những chỉ tiêu tài chính đặc trưng

1.2.1 Nhóm tỷ số khả năng thanh toán

Nhóm chỉ tiêu này thể hiện được năng lực thanh toán của doanh nghiệp.Đây là nhóm chỉ tiêu được nhiều người quan tâm như: các nhà đầu tư, người chovay, người cung cấp nguyên vật liệu họ luôn đặt ra câu hỏi là liệu doanhnghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn không

1.2.1.1 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

Hệ số này phản ánh khả năng quan hệ giữa tài sản mà doanh nghiệp hiệnđang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả Nó cho biết cứ trong một đồng nợphải trả có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo

Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng tài sản

Nếu H1>1: Chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốtNếu H1<1 quá nhiều thì chưa tốt vì điều đó chứng tỏ doanh nghiệp chưatận dụng được cơ hội chiếm dụng vốn

Nếu H1<1 và tiến đến 0 báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sởhữu của doanh nghiệp giảm và mất dần, tổng tài sản hiện có của doanh nghiệpkhông đủ trả nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán

1.2.1.2 Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành phản ánh mối quan hệ giữa tài sảnngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện hành thể hiện mức độđảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanhtoán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanhtoán bằng cách chuyển đổi một bộ phận thành tiền Do đó hệ số thanh toán hiệnhành được xác định bởi công thức:

Hệ số thanh toán hiện hành = Tổng tài sản ngắn hạn

16 | P a g e

Trang 17

H2 < 2 cho thấy khả năng thanh toán hiện hành chưa cao H2 < 2 quá nhiềuthì doanh nghiệp không thể thanh toán được hết các khoản nợ ngắn hạn đến hạntrả, đồng thời uy tín đối với các chủ nợ giảm, tài sản để dự trữ kinh doanh khôngđủ.

Như vậy, hệ số này duy trì ở mức độ cao hay thấp là phụ thuộc vào lĩnhvực ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp và kỳ hạn thanh toán của cáckhoản nợ phải thu, phải trả trong kỳ

1.2.1.3 Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết công ty có bao nhiêu đồng vốnbằng tiền và các khoản tương đương tiền (trừ hàng tồn kho) để thanh toán ngaycho một đồng nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh = Tổng tài sản ngắn hạn - hàng tồn kho

H3 = 1 được coi là hợp lý nhất vì như vậy doanh nghiệp vừa duy trì đượckhả năng thanh toán nhanh vừa không bị mất cơ hội do khả năng thanh toán nợmang lại

H3 < 1 cho thấy doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ.H3 > 1 phản ánh tình hình thanh toán nợ không tốt vì tiền và các khoảntương đương tiền bị ứ đọng, vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụngvốn

Tuy nhiên, cũng như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số nàycũng phụ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp và

kỳ hạn thanh toán của các khoản nợ phải thu, phải trả trong kỳ

1.2.1.4 Hệ số thanh toán nợ dài hạn

Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên 1 năm, doanhnghiệp đi vay dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định Nguồn để trả nợ dài hạnchính là tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành từ vốn vaychưa được thu hồi Vì vậy, người ta thường so sánh giá trị còn lại của tài sản cốđịnh hình thành từ vốn vay với số dư dài hạn để xác định khả năng thanh toán nợdài hạn

Hệ số thanh toán nợ dài hạn =

Giá trị còn lại của TSCĐ được hình thành từnguồn vốn vay hoặc nợ dài hạn

Trang 18

H4< 1 hoặc = 1 được coi là tốt vì khi đó khoản nợ dài hạn của doanhnghiệp luôn được đảm bảo bằng tài sản cố định.

H 4 > 1 phản ánh tình trạng không tốt về khả năng thanh toán nợ dài hạncủa doanh nghiệp

1.2.1.5 Hệ số khoản phải thu trên khoản phải trả:

Bất cứ một doanh nghiêp nào cũng có khoản vốn bị khách hàng chiếmdụng và lại phải đi chiếm dụng các doanh nghiệp khác So sánh phần đi chiếmdụng và phần bị chiếm dụng sẽ cho biết thêm về tình hình công nợ của doanhnghiệp

Tỷ số khoản phải thu = Các khoản phải thu

Nếu các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả thì có nghĩa là doanhnghiệp bị chiếm dụng vốn và ngược lại doanh nghiệp chiếm dụng vốn của doanhnghiệp khác

Bị chiếm dụng và đi chiếm dụng trong kinh doanh là bình thường Nhưng

ta phải xem xét trong trường hợp nào là hợp lý, khoản nào là phù hợp

1.2.1.6 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)

Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợinhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Sosánh giữa nguồn để trả lãi vay và lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanhnghiệp đã sẵn sàng trả lãi vay tới mức độ nào Hệ số này đo lường mức độ lợinhuận có được do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay cho chủ nợ Nói cách khác,

hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được số vốn đi vay đã được sử dụng tốttới mức nào và đem lại khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vây phảitrả hay không

1.2.2 Các hệ số về cấu tài chính và tình hình đầu tư

Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu hướng hợp lý(kết cấu tối ưu) Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậynghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp chonhà quản trị tài chính một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanhnghiệp

1.2.2.1 Hệ số nợ

Trang 19

Chỉ tiêu tài chính này phản ánh một đồng vốn hiện nay doanh nghiệp đang

sử dụng có bao nhiêu đồng vốn đi vay

Hệ số nợ<1quá nhiều tức là doanh nghiệp chưa tận dụng hết cơ hội chiếmdụng vốn

1.2.2.2 Hệ số vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ):

Hệ số vốn chủ sở hữu hay tỷ suất tự tài trợ là chỉ tiêu tài chính đo lường sựgóp vốn của chủ sở hữu trong tổng vốn hiện có của doanh nghiệp

1.2.2.3 Tỷ suât đầu tư vào tài sản dài hạn

Tỷ suât đầu tư vào tài sản dài hạn là tỷ lệ giữa giá trị còn lại của TSCĐ vàđầu tư dài hạn với tổng tài sản của doanh nghiệp

Tỷ suất này càng lớn càng thể hiện giá trị của tài sản cố định trong tổng sốtài sản của doanh nghiệp, mức độ quan trọng của TSCĐ trong tổng số tài sản củadoanh nghiệp, phản ánh tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lựcsản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh trên thịtrường của doanh nghiệp

1.2.2.4 Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định

19 | P a g e

Trang 20

Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định thể hiện tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu vớiTSCĐ và đầu tư dài hạn Qua tỷ suất này giúp ta biết trong 1 đồng giá trị TSCĐ

và đầu tư dài hạn được đầu tư với bao nhiêu đồng là vốn chủ sở hữu

Tỷ số này càng lớn (lớn hơn 1) thể hiện khả năng tài chính vững vàng củadoanh nghiệp Ngược lại nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là một bộ phận củatài sản cố định được tài trợ bằng tiền vay và vốn ngắn hạn thì càng mạo hiểm

1.2.2.5 Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn

Tỷ suất đầu tư = Tài sản ngắn hạn

1.2.3.1 Số vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luânchuyển trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bình quân thamgia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thuthuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.Muốn làm được như vậy thì cần phải rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, đẩymạnh tốc độ tiêu thụ hàng hóa

1.2.3.2 Số vòng quay một vòng quay hàng tồn kho

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho

Các doanh nghiệp đều muốn số ngày của một vòng quay hàng tồn kho càng ngắn càng tốt vì khi đó hàng tồn kho không bị ứ đọng

20 | P a g e

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w