Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiệ
Trang 1MÔN : TRIẾT HỌC
Đề tài : VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
Trang 2MỞ ĐẦU
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản
nhất, là linh hồn của triết học Mác - Lênin Lần đầu tiên trong lịch sử triết
học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó
với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý
luận Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và
cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn Thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống
nhất biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và
những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong hơn 30 năm đổi mới Có được những kết quả đó một phần lớn
là do Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận của mình Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn vận dụng nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước Đặc biệt, nguyên lý này đã được vận dụng hết sức sáng tạo và linh hoạt trong đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay Thời
kỳ đổi mới đặt ra những yêu cầu phải thay đổi một cách cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong đường lối lãnh đạo của Đảng cũng như trong sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 3Giải quyết vấn đề này mang ý nghĩa hết sức cấp thiết và quan trọng, bởi vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn luôn là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt và cần luôn được điều chỉnh để duy trì được sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay” nhằm làm sáng rõ hơn những định hướng của Đảng và Nhà nước thời kì
đổi mới
NỘI DUNG Chương 1 NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn chính
là mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”1
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy thuộc vào phạm vi phản ánh
và vai trò của nó, có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật… Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế
1 Hồ Chí Minh, (1995), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội tr.497
Trang 4giới và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của quá trình nhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng nhận thức Lý luận
là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận là tri thức khái quát tri thức kinh nghiệm
Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự
C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức V.I.Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải
là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”2
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người
Khác với hoạt động tinh thần, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định, làm biến đổi chúng theo mục đích của mình Đó là những hoạt
2 V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.167
Trang 5động đặc trưng và bản chất của con người Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch
sử Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo và có tính mục đích, tính lịch sử - xã hội
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có 3 hình thức cơ bản là: Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình: Hoạt động chính trị - xã hội là hình thức hoạt động thực tiễn cao nhất, là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị - xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển, hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Thực nghiệm khoa học là một hình thức thực tiễn đặc biệt của hoạt động thực tiễn Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu Dạng hoạt động này có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế cho nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất vẫn là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động thực tiễn khác Bởi vì, nó là hoạt động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu nhất, có tính
Trang 6quyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức thực tiễn khác Các hình thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất
và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất
Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của con người được hình thành, phát triển Thông qua hoạt động thực tiễn con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộc lộ ra những thuộc tính, những tính quy luật để con người nhận thức chúng Thoát ly thực tiễn, nhận thức đã thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế không thể đem lại những tri thức sâu sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ không có khoa học, không có lý luận
Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới,
hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, khám phá, chinh phục thế giới Ph.Ăngghen cho rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, của sản xuất sẽ thúc đẩy nhận thức khoa học phát triển nhanh hơn hàng chục trường đại học Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải
là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề của thực tiễn Chính trong thực tiễn
mà con người phải chứng minh chân lý” [41, tr 9-10] Tất nhiên, nhận thức xã hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn lôgic nhưng tiêu chuẩn lôgic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó đã được Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong đó Lênin nhắc lại luận cương
thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết luận “Quan điểm về đời sống, về
thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” 3
3 V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.167
Trang 7Nếu không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau
Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
lý luận hình thành, phát triển xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn Thực tiễn là cơ sở của lý luận Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua kết quả của hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận đã được khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó, lý luận được bổ sung mở rộng Chính vì vậy , V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của
nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó tự nó và vì nó ”4
Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan
hệ của con người với tự nhiên, với xã hội Lý luận được vận dụng vào thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn, khái quát lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian
Thực tiễn là mục đích của lý luận Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con
4 V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.227
Trang 8người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên
và xã hội theo mục đích của con người Đó thực chất là mục đích của lý luận Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực tiễn của con người Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C Mác nói : “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phải vấn đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”5 Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại
Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của
lý luận khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn
là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa
Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho rằng :“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại
hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng logic Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy” 6
5 Vũ Hữu Ngoạn (2001), Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 9-10
6 V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.234
Trang 9Như vậy, thực tiễn có vai trò quan trọng quyết định đối với nhận thức nói chung và lý luận nói riêng Song lý luận cũng có vai trò quan trọng tác động trở lại thực tiễn Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận
có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện trong thực tiễn Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động thực tiễn Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ
sở để khắc phục những hạn chế và tăng cường năng lực hoạt động thực tiễn của con người
Nói tóm lại, chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện chứng Chỉ có trong sự thống nhất với thực tiễn, lý luận mới góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển Ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thực tiễn, để cải tạo thực tiễn Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý luận) Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn dắt thực tiễn
1.2 Yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
Vì vậy, để đảm bảo được nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ta cần phải thực hiện tốt những yêu cầu như sau:
Trước hết, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn Trong triết học
Mác-Lênin, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn
có, một đòi hỏi nội tại Nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn trong việc nhận thức
Trang 10khoa học và hoạt động thực tiễn Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
thống nhất với nhau dưới nhiều hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động Nhưng thước đo tính phù hợp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thực tiễn,
để cải tạo thực tiễn
Thứ hai, phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất
biện chứng Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận Lênin viết:
“Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà của tính hiện thực trực tiếp”7 Tính phổ biến của thực tiễn đối với nhận thức (lý luận) thể hiện ở chỗ, thực tiễn là khâu quyết định đối với hoạt động nhận thức Một lý luận được áp dụng trong thời gian càng dài, không gian càng rộng thì hiệu quả đạt được càng cao, càng khẳng định tính chân lý của thực tiễn Ngay cả một giả thiết khoa học muốn trở thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm kiểm tra, xác nhận Như vậy, chỉ có qua hoạt động thực tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực
Thứ ba, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận Lý
luận là “kim chỉ nam” cho hoạt động thực tiễn Cố nhiên để có thể giải đáp được những vấn đề của cuộc sống, lý luận phải không ngừng liên hệ bằng những hình thức khác nhau với thực tiễn Cho nên, thực chất vai trò của lý luận đối với thực tiễn là ở chỗ lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan
7 V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.tr.230