1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

24 18 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Triết Học Phật Giáo Và Sự Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Của Người Việt
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 457,17 KB
File đính kèm TL TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.zip (419 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam với 54 dân tộc cùng chung sống trên một lãnh thổ hình chữ S . Nhắc đến Việt Nam là nhắc đến truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, sự chất phác mộc mạc của con người, sự thanh bình của cảnh sắc thiên nhiên và không thể không nhắc đến sự đa dạng về văn hóa tín ngưỡng và phong tục tập quán. Phật giáo là tôn giáo chiếm tỷ lệ lớn tại Việt Nam. Với sự xuất hiện rất sớm cũng như gặt hái được những thành tựu to lớn và đôi lúc trở thành Quốc giáo ở giai đoạn lịch sử thời Đinh, Lý, Trần, Lê. Ngày nay, Phật giáo đã và đang đi sâu vào đời sống thường ngày của một bộ phận người dân Việt Nam, nhanh chóng thích nghi với lối sống của người Việt, ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tính cách, đạo đức và văn hóa của người dân Việt Nam. Những quan điểm trong giáo lý, giáo luật,…của Phật giáo gần với đời sống tâm linh của người Việt, với những nét văn hóa Việt. Triết học Phật giáo tuy bắt nguồn từ nền văn minh Ấn Độ cổ Trung đại nhưng được du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thế II – Sau Công nguyên và đã nhanh chóng trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người Việt Nam. Triết học Phật giáo với tư tưởng giúp con người hướng thiện. Đồng thời có những quy tắc nhất định về lối sống, về cách đối nhân xử lý, về cách nhìn nhận, đánh giá các sự vật, sự việc diễn ra trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, Phật giáo đã trải dài trên khắp lãnh thổ Việt Nam và tư tưởng Phật giáo cũng được truyền bá rộng rãi đến khắp mọi nơi. Việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật nói chung và tư tưởng triết học Phật giáo nói riêng đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là thật sự cần thiết vì có nhìn nhận đúng về đạo, tư tưởng của đạo thì bản thân mỗi người theo đạo sẽ tự nhận thức được những việc nên làm và không nên làm để đẹp đời, hợp đạo. Nhằm tìm hiểu về triết học Phật giáo cũng như sự ảnh hưởng của tôn giáo này đến văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam, tôi quyết định thực hiện đề tài “Tư tưởng triết học Phật giáo và sự ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt”.

Trang 1

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC

TÊN ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 4

1 KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 4

1.1 Khái lược về sự hình thành Phật giáo 4

1.2 Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo 5

1.2.1 Quan điểm triết học Phật giáo về thế giới 5

1.2.2 Tư tưởng triết học Phật giáo về nhân sinh 7

2 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT 10

2.1 Quá trình Phật giáo du nhập và phát triển vào Việt Nam 10

2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt 11

2.2.1 Về mặt chính trị - xã hội 11

2.2.2 Về mặt tư tưởng 12

2.2.3 Về mặt đạo lý 12

2.2.4 Về mặt tư duy 13

2.2.5 Về mặt ngôn ngữ 13

2.2.6 Về mặt văn hóa 14

2.2.7 Về mặt văn học 17

2.2.8 Về mặt nghệ thuật 19

PHẦN KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam với 54 dân tộc cùng chung sống trên một lãnh thổ hình chữ S Nhắc đến Việt Nam là nhắc đến truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, sự chất phác mộc mạc của con người, sự thanh bình của cảnh sắc thiên nhiên

và không thể không nhắc đến sự đa dạng về văn hóa tín ngưỡng và phong tục tập quán Phật giáo là tôn giáo chiếm tỷ lệ lớn tại Việt Nam Với sự xuất hiện rất sớm cũng như gặt hái được những thành tựu to lớn và đôi lúc trở thành Quốc giáo ở giai đoạn lịch sử thời Đinh, Lý, Trần, Lê Ngày nay, Phật giáo đã và đang đi sâu vào đời sống thường ngày của một bộ phận người dân Việt Nam, nhanh chóng thích nghi với lối sống của người Việt, ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tính cách, đạo đức và văn hóa của người dân Việt Nam Những quan điểm trong giáo lý, giáo luật,…của Phật giáo gần với đời sống tâm linh của người Việt, với những nét văn hóa Việt

Triết học Phật giáo tuy bắt nguồn từ nền văn minh Ấn Độ cổ - Trung đại nhưng được du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thế II – Sau Công nguyên và đã nhanh chóng trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người Việt Nam Triết học Phật giáo với tư tưởng giúp con người hướng thiện Đồng thời có những quy tắc nhất định về lối sống, về cách đối nhân xử lý, về cách nhìn nhận, đánh giá các

sự vật, sự việc diễn ra trong đời sống hằng ngày

Hiện nay, Phật giáo đã trải dài trên khắp lãnh thổ Việt Nam và tư tưởng Phật giáo cũng được truyền bá rộng rãi đến khắp mọi nơi Việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật nói chung và tư tưởng triết học Phật giáo nói riêng đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là thật sự cần thiết vì có nhìn nhận đúng về đạo, tư tưởng của đạo thì bản thân mỗi người theo đạo sẽ tự nhận thức được những việc nên làm và không nên làm để đẹp đời, hợp đạo Nhằm tìm hiểu về triết học Phật giáo cũng như sự ảnh hưởng của tôn giáo này đến văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam,

tôi quyết định thực hiện đề tài “Tư tưởng triết học Phật giáo và sự ảnh hưởng của triết

học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt”

Trang 4

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trình bày những nội dung, tư tưởng của triết học Phật giáo Từ đó tìm ra sự ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam Trên cơ sở đó nhìn nhận, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những hạn chế của triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt hiện nay

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ các vấn đề:

- Nội dung tư tưởng của triết học Phật giáo

- Thực trạng ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

- Đề xuất một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của triết học Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Phạm vi nghiên cứu

Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu và đảm bào thực hiện những mục tiêu đã đặt

ra đối với đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó, chú trọng phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp cũng như so sánh và gắn lý thuyết với thực tiễn

Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Ý nghĩa lý luận

Hiện nay, có khá ít đề tài nghiên cứu về triết học Phật giáo và sự ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Đề tài này đã khái quát một cách tổng quan nhất về triết học Phật giáo cũng như phân tích cụ thể sự ảnh hưởng của triết học này đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam

Trang 5

KẾT CẦU CỦA TIỂU LUẬN

Tiểu luận gồm 3 phần:

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung

Phần 3: Kết luận

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

1 KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1.1 Khái lược về sự hình thành Phật giáo

Xuất hiện vào khoảng trước thế kỷ thứ VI – Trước công nguyên do Siddharta (Tất Đạt Đa) sáng lập Ngài sinh sống tại phía Bắc Ấn Độ, có họ Gôtama thuộc bộ tộc Sakya, sinh ngày mùng 8 tháng 4 năm 563 – Trước công nguyên (Theo truyền thống Phật lịch, tính vào ngày 15 tháng 4 và được gọi là ngày Phật Đản) Cha là Suddhodana (vua Tịnh Phạn), trị vì dân tộc Sakya Mẹ là hoàng hậu Maya

Năm 16 tuổi, Thái tử lấy vợ là nàng Yasodhara và sống trong cung điện Thái tử với bản tánh đa sầu đa cảm, với sự nhìn nhận về tình cảnh thống khổ của cuộc đời trong những chuyến đi thăm thú đây đó ở ngoài cung điện đã khiến thái tử sớm có ý định từ

bỏ cuộc sống trần tục để tìm đạo lý cứu khổ cho bản thân và nhân loại Thái tử quyết định bỏ nhà ra đi vào năm 29 tuổi, ngay thời điểm này người vợ vừa hạ sinh đứa con đầu lòng và cũng là đứa con duy nhất tên là Rahnala

Thái tử lang thang khắp mọi nơi quanh thung lũng sông Hằng để cầu học đạo và

sử dụng mọi cách tu của các môn phái cũng như tu khổ hạnh để mong tìm được giải thoát Nhưng sau một thời gian, người đã nhận ra những cách tu này không đạt được kết quả và quyết định tự chính mình đi tìm chân lý Và đến một đêm, khi người ngồi dưới gốc cây bồ đề, người đã chín ngộ, đạt được đại ngộ, giác ngộ nguồn gốc của khổ đau và sinh tử Lúc này, người đã 35 tuổi Khoảng thời gian sau đó, người không ngừng đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và sang lập Phật giáo

Trong khoảng thời gian ròng rã suốt 49 năm Phật không ngừng đem cái đạo diệt khổ giảng cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt nam nữ già hay trẻ hay giai cấp sang hèn gì cả Phật viên tịch năm 80 tuổi, ở Kusinara Sau này người đời suy tôn người bằng nhiều danh hiệu: Đức Phật (Người giác ngộ), Ông Bụt (Buddha – Nhà hiền triết), Thích Ca Mâu Ni (Thánh Thích Ca) (Huỳnh Trí Cường, 2002)

Trang 7

Hình 1.1 Tượng đồng đức Thích Ca Mâu Ni, vị sáng lập ra Phật giáo

Nguồn: Lịch sử Phật giáo, 2008

1.2 Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo

1.2.1 Quan điểm triết học Phật giáo về thế giới

Triết lý Phật giáo về thế giới tập trung vào ba phạm trù cơ bản gồm: Vô ngã; Vô thường; Duyên khởi

Phạm trù “Vô ngã”

Vô ngã là không có cái gọi là “ta”, vì vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay bản thân con người cũng là do “ngũ uẩn” hội tụ lại (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) Cụ thể:

Sắc: gồm địa, thủy, hỏa, phong

Thụ: là cảm giác, cảm thụ về sự khổ hay sướng đưa đến sự xúc cảm, linh hội với thân và tâm

Tưởng: là suy nghĩ, tư tưởng

Hành: là ý muốn thúc đẩy hành động

Thức: là nhận thức, ý thức về ta

Trang 8

Phạm trù “Vô thường”

Vô thường “là không thường còn”, mà vạn vật đều biến đổi trong từng giây từng khắc theo chu trình sinh – trụ – dị – diệt, không có bất kì một thực thể nào vĩnh hằng không sinh diệt

Vô thường của đạo Phật là một phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, nhằm bài trự tính mê mẩn, đồng thời ngăn chặn những người chạy theo vật dục Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật từ thân tâm cho đến hoàn cảnh Vì vậy, khi hiểu được triết lý vô thường, con người sẽ giữ được tâm an, thản nhiên tiếp nhận những thay đổi bất ngờ

Phạm trù “Duyên khởi”

Mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong

đó, duyên là điều kiện giúp nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại có duyên mới trở thành nguyên nhân khác Nhân khác lại nhờ duyên mà thành kết quả mới và cứ như vậy biến đổi không ngừng

Quan điểm triết học Phật giáo về Nhân – Quả

Nhân được hiểu đơn giản là nguyên nhân, quả là kết quả Nhân quả là một quy luật tất nhiên, nêu rõ sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả Theo quan niệm Phật giáo thì gieo nhân nào ắt gặp quả nấy, gieo nhân lành gặp quả tốt, gieo nhân ác gặp quả xấu

Một nguyên nhân khác của nhân quả là quả trổ liên tục Ví dụ như một nhà bác học luôn tìm tòi những kiến thức, tích lũy kinh nghiệm,…đến lúc tái sinh tất cả những kiến thức kinh nghiệm ấy cũng được chuyển từ đời này sang đời khác

Tóm lại, nhân quả là một định lý tất nhiên Mọi sự vật, hiện tượng cấu thành, mọi hoàn cảnh phước, họa, sang, hèn, vinh nhục đều do nhân quả mà thành Hiểu rõ được vấn đề này để cố gắn tu học, ăn ở hiền lành

Thông qua các phạm trù Vô ngã; Vô thường; Duyên khởi và Nhân – Quả, triết học Phật giáo cho rằng thế giới và con người được kết thành từ những yếu tố vật chất, yếu

tố đó là quá trình vận động, biến đổi theo các quy luật Nhân – Quả khách quan Đây là quan điểm duy vật biện chứng sơ khai về thế giới

Trang 9

1.2.2 Tư tưởng triết học Phật giáo về nhân sinh

Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện trong thuyết Tứ Diệu Đế

Tứ Diệu Đế là chữ Hán được dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani là Diệu: cao quý, mầu nhiệm; Satya là Đế: sự thật, chân lý Tứ Diệu Đế còn được gọi là Tứ Chân Đế,

Tứ Thánh Đế, Bốn Chân lý mầu nhiệm

Khổ đế (Dukkha)

Được hiểu là chân lý về sự khổ Phật cho rằng kiếp người là khổ, nỗi khổ ấy được biểu hiện ở quy luật sinh – lão – bệnh – tử Ngoài ra, nỗi khổ của kiếp người còn được biểu hiện ở các khái niệm sau:

Ái biệt lý: nỗi khổ của sự chia xa, thương nhau mà phải xa nhau

Oán tăng hội: nỗi khổ được hình thành từ chỗ ghét nhau mà chung sống với nhau

Sở cầu bất đắc: muốn mà không được

Thủ ngũ uẩn: khổ do thân xác con người tạo nên (Sắc; Thụ; Tưởng; Hành; Thức)

Tập đế (Sanudaya)

Là triết lý về nguyên nhân của sự khổ Phật giáo đưa ra 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là “Thập nhị nhân duyên” gồm: Vô minh; Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Thụ; Ái; Hữu; Sinh; Lão; Tử

- Vô minh: Là không sáng, sự mê muội, bất giác và cuồn sinh trong tâm thức Là nguồn gốc gây nên tội lỗi

- Duyên hành: Là ý muốn thúc đẩy hành động

- Duyên danh – sắc: Sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)

- Duyên lục nhập: Là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan

- Duyên xúc: Là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác

- Duyên thụ: Là cảm thụ, sự nhận thức trước tác động của thế giới bên ngoài

- Duyên ái: Tham ái, là sự yêu thích nảy sinh từ ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài

- Duyên thủ: Yêu thích rồi muốn chiếm giữ lấy

- Duyên hữu: Là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được

Trang 10

- Duyên sinh: Là sinh mạng, sự ra đời, sinh thành do sự tồn tại

- Duyên lão tử: Là già và chết đi do sự sinh thành

Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra vòng luẩn uẩn của nỗi khổ đau nhân loại (Tâm lý học Phật giáo, 1998)

Đức Phật nói rằng “Nếu không liễu tri (biết rõ) về năm uẩn hay 12 nhân duyên, thì không thể thoát ly sinh tử luân hồi” Năm uẩn bao gồm: Sức; Thọ; Tưởng; Hành; Thức

Nó tương tự như 12 nhân duyên (Vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo, 2000)

12 nhân duyên = Năm uẩn

Vô minh và hành = Hành uẩn

Ái, thủ, hữu = Hành uẩn

Sinh, lão – tử = Năm uẩn

Diệt đế (Nirodah)

Diệt được hiểu là chấm dứt, dập tắt Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não,

đó là nguyên nhân đưa đến đau khổ và chấm dứt sự khổ đau Đồng thời cũng có nghĩa

là hạnh phúc, an lạc Diệt đế đồng nghĩa với Niết Bàn (Nirvana)

Đạo Đế (Maga)

Đạo đế là chân lý về con đường giải thoát Đó là thực hiện Bát Chánh Đạo gồm:

- Chánh kiến (Sammà Dithi): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp

- Chánh tư duy (Sammà Sankappa): suy nghĩ chân chính

- Chánh ngữ (Sammà Vàcà): Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng

- Chánh nghiệp (Sammà Kammanta): Hành động tạo tác cần phải sáng suốt chân chánh

- Chánh mạng (Sammà Ajivà): Sống một cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác

Trang 11

- Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàma): Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần Tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy

- Chánh niệm (Sammà Sati): Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ Nhớ nghĩ chân chánh Ức niệm, quán niệm

- Chánh định (Sammà Samàthi): Định nghĩa là tập trung tư tưởng tu tập thiền định Chánh định là tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người

Mối quan hệ giữa các chi pháp Bát Chánh Đạo là không thể phân ly, chi phần này

có trong chi phần kia Bát Chánh Đạo có thể chia thành ba bước là: Giới; Định; Tuệ Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; Định là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; Tuệ là Chánh kiến, Chánh tư duy Thực hiện đúng Bát Chánh Đạo sẽ đến được cõi Niết Bàn

Bên cạnh Bát Chánh Đạo thì cần thực hiện ngũ giới và lục độ

Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà đức Phật sáng tạo ra để ngăn những tưởng niệm

ác, nói năng khẩu nghiệp, hành động bất chính Nội dung cụ thể của năm điều răn gồm:

- Bất sát sinh – Không sát sinh: Sanh là chúng sanh, gồm tất cả động vật có tình thức Không sát sanh nghĩa là không được giết hại mạng sống con người

- Bất đạo – Không đạo tặc: Là vật của người khác chưa cho phép mà chiếm lấy hoặc dùng vũ lực cưỡng đoạt tài sản của người khác

- Bất dâm – Không dâm dục: Dâm dục chính là chánh và tà Vợ chồng chính thức kết hôn mà quan hệ với nhau là chánh Gian dâm trộm tình, phi lễ phi pháp mà hành dâm thì gọi là tà

- Bất vong ngữ - Không nói dối: Nói dối là lời nói trái sự thật nhằm mưu cầu lợi cho mình hoặc hại người Vọng ngữ gồm: Vọng ngôn là tâm và miệng không đồng nhất; Ỷ ngữ là dùng lời nói đường mật làm dao động, nhục chí người khác, bàn luận những lời dâm dục nam nữ, biên soạn tiểu thuyết tình tứ đồi trụy; Lưỡng thiệt là ở giữa hai người dùng lời nói súc siểm để chia rẽ, bàn tán đúng sai, tạo xung đột,…; Ác khẩu: Dùng lời nói thô lỗ ác độc, khiến người nghe sanh đau khổ, sợ hãi,…

- Bất ẩm tửu – Không uống rượu: Vì đạo Phật chủ trương giác ngộ, vì vậy tất cả những thức uống có khả năng gây mê làm hại người đều không nên uống

Trang 12

Lục độ là sáu phép tu mà đức Phật lập ra nhằm giáo hóa con người Cụ thể gồm:

- Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn

- Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện

- Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được bản thân

- Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên

- Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, không để cho cái xấu ch lấp

- Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian

Tóm lại, Phật giáo không thừa nhận thượng đế sáng tạo ra thế giới nhưng vẫn thừa nhận linh hồn bất tử, độc lập với thể xác, trải qua nhiều kiếp luân hồi do nghiệp báo Phật cũng hướng con người đến niết bàn - một trạng thái tâm linh thanh thản Muốn vậy con người phải khổ hạnh tu luyện Có thể nói rằng triết học phật giáo là triết học hướng nội, chú trọng đến đời sống tâm linh của con người Triết học Phật giáo là một trường phái triết học có địa vị lớn trong lịch sử tư tưởng của Ấn Độ và của nhân loại nói chung,

dù nội dung của nó có những mặt hạn chế như bi quan, thoát tục Tuy nhiên có những luận điểm triết học của nó giàu tính minh triết, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về thế giới có tác dụng trực tiếp trong quá trình con người điều chỉnh hành vi để đạt được chân, thiện, mỹ

2 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

2.1 Quá trình Phật giáo du nhập và phát triển vào Việt Nam

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ khi các nhà buôn và nhà truyền giáo Ấn Độ đến nước ta vào thế kỷ thứ I và thứ II sau công nguyên

Trong quá trình này, Phật giáo Việt Nam trải qua một quá trình thích nghi có thể tóm tắt qua hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu: Vấp phải sự phản ứng của các tín ngưỡng cổ truyền của người Việt, tục thờ cúng tổ tiên, các thói quen cúng bái trong phong tục tập quán tín ngưỡng truyền

Ngày đăng: 20/09/2023, 13:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Quang Thọ. (2007). Giáo trình Triết học (Dùng cho sinh viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học). Hà Nội: NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học (Dùng cho sinh viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học)
Tác giả: Đoàn Quang Thọ
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
2. Trần Ngọc Thêm (1996). Cơ sở văn hóa Việt Nam. TP. HCM: NXB Đại học Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Đại học Tổng hợp
Năm: 1996
3. Dương Minh Dũng. (2010). Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của tư trưởng triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. (Tiểu luận học phần Triết học, Trường đại học Kinh tế TP.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của tư trưởng triết học Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
Tác giả: Dương Minh Dũng
Năm: 2010
4. Huỳnh Trí Cường (2002). Phật giáo và sự ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa truyền thống Việt Nam. TP.HCM: NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo và sự ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa truyền thống Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Trí Cường
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 2002
5. Thích Tâm Thiện (2000). Vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo. TP.HCM: NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo
Tác giả: Thích Tâm Thiện
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 2000
6. Trần Ngọc Thêm (2004). Tìm hiểu về bản sắc văm hóa Việt Nam. TP.HCM: NXB Đại học Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về bản sắc văm hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Đại học Tổng hợp
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tượng đồng đức Thích Ca Mâu Ni, vị sáng lập ra Phật giáo - TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO  VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT
Hình 1.1. Tượng đồng đức Thích Ca Mâu Ni, vị sáng lập ra Phật giáo (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm