Chính vì vậy mà từ bản chất của vấn đề và từ sự tồn tại khách quan của hiện tượng đình công Điều 172 luật lao động đã đưa ra khái niệm về đình công: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời,
Trang 1ĐỀ BÀI
1 Phân tích và nêu ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp gây ra (3 điểm)
2 Ngày 10/ 9/ 2000, anh V thường trú tại quận 1, thành phố H có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ti C có trụ sở chính đóng tại quận T, thành phố H Theo bản hợp đồng lao động này, công việc mà anh V là nhân viên đội bảo vệ, tiền lương theo hợp đồng là 2.000 đồng/ tháng, tiền lương trước khi nghỉ việc là 2,5 triệu đồng/ tháng
Cuối năm 2007, công ti C có chủ trương cắt giảm lao động để giảm chi phí sản xuất Ngày 12 /12 /2007, Tổng Giám đốc công ti C ra quyết định số 08/ QĐ- VL giải thể đội bảo vệ và cho 20 nhân viên bảo vệ thôi việc theo Điều 17
Bộ luật Lao động, trong đó có anh V Ngày 05/2/2008 công ti C ra quyết định
số 12 chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh V kể từ ngày 08/ 2/2008 Khi chấm dứt hợp đồng, công ty trả cho anh V trợ cấp thôi việc theo số năm anh đã làm việc cho công ty
Ngày 03/02/2008, anh V gửi đơn đến các cơ quan tổ chức có thẩm quyền
về việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Anh V yêu cầu công ty C phải rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, nhận trở lại làm việc với vị trí và điều kiện như cũ, thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc
a/ Các cơ quan tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V?
b/ Trong vụ việc trên, anh V và công ty tranh chấp về vấn đề gì?
c/ Theo anh (chị), công ti có thể căn cứ vào cơ sở pháp lí nào để chấm dứt hợp đồng với anh V và để chấm dứt hợp pháp công ti sẽ phải tiến hành những thủ tục gì?
Trang 2d/ Giả sử việc chấm dứt hợp đồng của công ti là hợp pháp thì quyền lợi của anh V sẽ được giải quyết như thế nào?
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I – Phân tích và nêu ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp gây ra
1 Quy định của pháp luật về vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp gây ra
Hiện nay, quan niệm về đình công có nhiều điểm khác nhau, có thể khẳng định rằng rất khó để đưa ra quan niệm nhất quan, có tính thuyết phục để trở thành quan điểm chính thống về đình công Tuy nhiên, đình công là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường, phụ thuộc vào các quan điểm hay sự ghi nhận của pháp luật Chính vì vậy mà từ bản chất của vấn đề và từ sự tồn tại khách quan của hiện tượng đình công Điều 172 luật lao động đã đưa ra khái niệm về đình công:
“Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động đề giải quyết tranh chấp lao động tập thể”
Căn cứ vào các quy định của pháp luật về đình công thì đình công được chia làm hai loại: Đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp
Xét đình công bất hợp pháp ta có thể hiểu là đình công không thực hiện đầy đủ, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật Hiện nay, pháp luật nước ta quy định đình công thuộc một trong các trường hợp tại Điều 173 LLĐ
là đình công bất hợp pháp:
“1 Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể;
2 Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành;
Trang 33 Khi vụ tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức giải quyết theo quy định của Bộ luật này;
4 Không lấy ý kiến người lao động về đình công theo quy định tại Điều 174a hoặc vi phạm các thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 174b của Bộ luật này;
5 Việc tổ chức và lãnh đạo đình công không tuân theo quy định tại Điều 172a của Bộ luật này;
6 Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định;
7 Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.”
Vậy khi cuộc đình công bất hợp pháp xảy ra mà người sử dụng lao động
bị thiệt hại thì pháp luật đã có những quy định như thế nào để giải quyết?
Trong trường hợp đình công bất hợp pháp, gây thiệt hại cho NSDLĐ thì công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động và người tham gia đình công phải bồi thường thiệt hại
Căn cứ Nghị định của chính phủ số 11/2008 /NĐ-CP ngày 30/1/2008 và
Thông tư số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC đã quy định một cách khá chặt
chẽ và rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại, thủ tục yêu cầu và thực hiện bồi thường… của tổ chức, cá nhân tham gia đình công gây thiệt hại cho người sử dụng lao động trong trường hợp cuộc đình công bị Toà án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp theo quy định của Bộ Luật Lao động
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp là tất yếu nhưng phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 3 Nghị định số 11/2008/NĐ-CP:
“1 Thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu
2 Mức bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở thiệt hại vật chất thực tế
Trang 43 Tôn trọng, khuyến khích quyền tự định đoạt của các bên.
4 Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, người lao động để duy trì và phát triển quan hệ lao động tại doanh nghiệp
5 Việc bồi thường được thực hiện bằng tiền, hiện vật hoặc bằng việc thực hiện một công việc.”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Được quy định tại Điều 4, Nghị định của chính phủ số 11/2008 /NĐ-CP ngày 30/1/2008:
“1 Tổ chức công đoàn cơ sở đã lãnh đạo cuộc đình công bị Toà án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp, gây thiệt hại cho người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
2 Trong trường hợp cuộc đình công do đại diện tập thể lao động lãnh đạo bị Toà án tuyên bố là bất hợp pháp, gây thiệt hại thì những người được cử làm đại diện cho tập thể lao động và những người lao động tham gia đình công phải chịu trách nhiệm cá nhân theo phần trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.”
Vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về hai chủ thể Thứ nhất là
tổ chức công đoàn cơ sở hoặc những người được cử làm đại diện NLĐ lãnh đạo cuộc đình công và thứu hai là những người lao động tham gia đình công Trong trường hợp cuộc đình công do công đoàn cơ sở, công đoàn lâm thời lãnh đạo thì
tổ chức công đoàn đó phải nhân danh chính mình chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đối với cuộc đình công đại diện cho tập thể lao động và những người lao động tham gia đình công bất hợp pháp phải chịu trách nhiệm cá nhân theo phần trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động Do công đoàn là một tổ chức còn đại diện tập thể lao động chỉ là những
cá nhân được NLĐ cư làm đại diện trong cuộc đình công nên họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và theo phần như NLĐ Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm tương ứng với sự tham gia của mình trong cuộc đình công bất hợp pháp đó
Trang 5Quy định này được hướng dẫn cụ thể hơn tại tiết 2 Mục II Thông tư
số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC quy định về thời hạn yêu cầu bồi thường
thiệt hại là một năm, kể từ ngày quyết định của Toà án về tính bất hợp pháp của cuộc đình công có hiệu lực
Đối với người lao động tham gia đình công bất hợp pháp, việc bồi thường thiệt hại được khấu trừ dần vào tiền lương, tiền công hàng tháng của người đó Mức khấu trừ tối đa của một lần là không quá 30% tiền lương, tiền công tháng theo hợp đồng của người lao động
Trình tự, thủ tục thực hiện việc bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp
Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp, vấn
đề bồi thường thiệt hại được đặt ra Nhà nước khuyến khích các bên tự thương lượng thảo thuận với nhau về vấn đề này Việc thương lượng bồi thường thiệt hại tại doanh nghiệp được quy định tại Điều 9, Nghị định của chính phủ số
11/2008 /NĐ-CP ngày 30/1/2008 và tiết 5 Mục II Thông tư số
07/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC Nếu không thương lượng được thì NSDLĐ có quyền kiện ra Tòa án đòi bồi thường thiệt hại
Mức bồi thường thiệt hại
Để xác định mức bồi thường thiệt hại trước tiên cần xác định được thiệt hại do cuộc đình công gây ra Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 11/2008/NĐ-Cp thì:
“Thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra bao gồm tài sản của doanh nghiệp bị thiệt hại trực tiếp do việc ngừng sản xuất, kinh doanh vì lý do đình công Trong trường hợp hai bên không nhất trí về giá trị thiệt hại thì có quyền yêu cầu tổ chức trung gian xác định giá trị thiệt hại Chi phí xác định giá trị thiệt hại do bên yêu cầu thanh toán.”
Mức bồi thường thiệt hại theo Điều 7 Nghị định số 11/2008/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
Trang 6“Mức yêu cầu bồi thường thiệt hại được tính trên cơ sở xác định thiệt hại theo quy định tại Điều 6 Nghị định này Mức bồi thường thiệt hại tối đa không vượt quá ba (03) tháng tiền lương, tiền công liền kề trước ngày đình công diễn ra theo hợp đồng lao động của những người lao động tham gia đình công.”
Vậy, mức bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở thiệt hại vật chất thực tế Việc bồi thường được thực hiện bằng tiền, hiện vật hoặc bằng việc thực hiện một công việc Quyền tự định đoạt của các bên được tôn trọng và khuyến khích cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, người lao động được bảo đảm để duy trì và phát triển quan hệ lao động tại doanh nghiệp
2 Một số ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp.
Vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp là một quy định hoàn toàn mới, đã được BLLĐ sửa đổi năm 2006 quy định lần đầu tiên, đây là một quy định cần thiết trong thực tiễn về giải quyết đình công Quy định này thể hiện sự công bằng trong việc xem xét giữa bảo vệ quyền lợi NLĐ và quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ Đình công là quyền của NLĐ, song NLĐ khi thực hiện quyền của mình thì phải tuân thủ quy định của pháp luật và tôn trọng quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ Mặt khác, vấn đề bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp có tác dụng ngăn ngừa đình công bất hợp pháp, bảo đảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy xây dựng quan hệ lao động phát triển, mang lại sự yên tâm cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, việc quy định bồi thường thiệt hại trong đình công bất hợp pháp hiện nay vẫn còn một số điểm chưa hợp lí Cụ thể, xin đưa ra một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, Theo Điều 1 của Nghị định 11 thì Nghị định này chỉ quy định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại và hình thức bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân tham gia đình công gây thiệt hại cho người
sử dụng lao động trong trường hợp cuộc đình công bị Tòa án nhân dân tuyên bố
là bất hợp pháp Vậy những cuộc đình công bất hợp pháp nhưng do không có yêu cầu của NLĐ hoặc NSDLĐ nên Tòa án không xét tính hợp pháp của nó, thì
Trang 7vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được quy định như thế nào Như vậy, luật quy định như vậy có khả thi, có đảm bảo được quyền lợi cho các bên hay không Đây còn là một vấn đề, mà pháp luật cần phải có những quy định cụ thể hơn nữa để có thể đảm bảo và thực hiện trong thực tiễn
Thứ hai, khi người lao động tổ chức đình công đã là phương án cuối cùng
cho việc giải quyết tranh chấp, đa số các cuộc đình công xảy ra khi người lao động đã bị ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của mình, nhưng do trình độ hiểu biết
về luật, và thủ tục đình công còn thấp kém nên người lao động khi tổ chức đình công dễ bị lâm vào tình trạng cuộc đình công là không hợp pháp Thậm chí, còn
có những trường hợp mà người lao động biết nhưng vẫn thực hiện trái với các quy định của pháp luật về điều kiện đình công theo quy định của pháp luật, nhằm nhanh chóng gây sức ép với người sử dụng lao động để đòi hỏi quyền và lợi ích chính đáng của mình Do đó, theo em luật nên quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi đình công bất hợp pháp xảy ra cho tổ chức công đoàn cơ sở, người đại diện cho người lao động…để có thể bảo về quyền và lợi ích cho người lao động
Thứ ba, về mức bồi thường thiệt hại được quy định được quy định chưa
được cụ thể, rõ ràng Mức này có được đặt ra với trường hợp ban chấp hành công đoàn cơ sở bồi thường thiệt hại không, nếu được đặt ra thì việc tính mức tối đa đó sẽ được hiểu như thế nào Bên cạnh đó, tiền lương của mỗi NLĐ là khác nhau, như vậy lấy mức lương thấp nhất hay cao nhất làm mức tối đa Vấn
đề này cần phải được quy định một cách rõ dàng hơn nữa
II - Giải quyết tình huống
1 Các cơ quan tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V?
Căn cứ vào những tình tiết của vụ việc trong đề bài ra, ta nhận thấy rằng đây
là tranh chấp lao động cá nhân giữa anh V và công ty C
Trang 8Do vậy, căn cứ theo Điều 165 Bộ luật Lao động quy định : “Cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1 Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động;
2 Tòa án nhân dân.”
Như vậy, để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh V có thể gửi đơn yêu cầu của mình đến:
1 Hội đồng hòa giải lao động cơ sở Trong trường hợp nếu công ty không có hội đồng hòa giải lao động cơ sở thì có thể gửi đơn đến hòa giải viên lao động
2 Trong thời hạn 3 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền được nêu trên phải
tổ chức họp và đưa ra phương án tiến hành hòa giải (khoản 1 Điều 165a)
Nếu anh V và công ty C chấp nhận phương án hòa giải thì việc hòa giải thành công và được lập thành biên bản hòa giải thành (khoản 2 Điều 165a)
Trong trường hợp không chấp nhận hòa giải thì có thể làm đơn kiện ra Tòa án nhân dân Hồ sơ gửi Tòa án nhân dân phải kèm theo bản giải quyết không thành của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động
Hoặc anh V có thể gửi đơn khiếu nại đến những người sử dụng lao động
để giải quyết khiếu nại lần đầu Nếu không được giải quyết, anh V có thể tiếp tục khiếu nại lên các cơ quan có thẩm quyền khác để giải quyết theo trình tự sau: Thanh tra viên lao động; Chánh thanh tra sở; Chánh thanh tra Bộ lao động thương binh - xã hội (quyết định thanh tra cuối cùng) – theo Điều 8 Mục II Nghị định 04/2005/NĐ-CP ngày 11/01/2005
Theo quy định tại khoản 2 Điều 166 BLLĐ: “ Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng…”
Trang 9Như vậy, trong trường hợp của anh V thuộc quy định tại điểm a khoản 2 Điều 166 Do đó anh V có thể gửi đơn kiện ta Tòa án nhân dân trực tiếp mà không cần qua các bước hòa giải tại cơ sở
2 Trong vụ việc trên, anh V và công ty tranh chấp về vấn đề gì?
Trong tình huống trên ta thấy, anh V đã gửi đơn đến cơ quan có thẩm
quyền yêu cầu: “Công ty C phải rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng lao
động, nhận trở lại làm việc với vị trí và điều kiện như cũ Thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc”
Do vậy, trong trường hợp này, có hai loại tranh chấp lao động đó là tranh chấp giữa cá nhân người lao động và người sử dụng lao động trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại
3 Theo anh (chị), công ty có thể căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để chấm dứt hợp đồng đối với anh V và để chấm dứt hợp pháp công ty sẽ phải tiến hành những thủ tục gì?
Căn cứ pháp lý để công ty C chấm dứt hợp đồng lao động:
Công ty C cho người lao động thôi việc vì lý do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo khoản 1, Điều 8 BLLĐ, Điều 17 BLLĐ và Điều 11 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
Điều 8 BLLĐ quy định:
“ Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh…”
Do đó việc cơ cấu tổ chức lao động của công ty cũng như việc sắp xếp lao động là quyền của NSDLĐ NSDLĐ có quyền thay đổi cơ cấu doanh nghiệp trong đó có giải thể bộ phận doanh nghiệp nhưng cần tuân theo các quy định của pháp luật
Trang 10Điều 11 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP nói trên quy định: “Những trường
hợp sau đây được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật lao động:
1 Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn;
2 Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn;
3 Thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị”.
Trong trường hợp này, công ty C đã quyết định giải thể dội abor vệ nên những theo những quy định trên thì công ty C được quyền chấm dứt hợp đồng lao động với anh V cũng như 19 nhân viên kjacs trong đội bảo vệ
Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp của công ty C với
anh V:
Khi cho người lao động thôi việc, công ty C phải thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều 17 BLLĐ:
Thứ nhất, trước tiên công ty C cần trao dổi và nhất trí với ban chấp hành
công đoàn cơ sở :
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 38 BLLĐ hiện hành thì “ Trước khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b, c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi , nhất trí với ban chấp hành Công đoàn cơ sở Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mói có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành Công đoàn
cơ sỏ và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tụ do pháp luật quy định”.