chng 2 VC§ cña DN Tài chính doanh nghiệp xây dựng – Chuyên ngành KTXD Bài giảng PĐT 1 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1 1 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1 1 1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp[.]
Trang 1Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp (TCDN)
TCDN là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ nhằm phục vụ quá trình tái SX trong mỗi DN và góp phần tích luỹ vốn cho nhà nước
Nội dung những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi TCDN bao gồm :
+ Những quan hệ kinh tế giữa DN với nhà nước
Tất cả các DN thuộc thành phần kinh tế phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí hoặc chia lãi Ngược lại, nhà nước cấp vốn cho DN nhà nước hoặc góp vốn đối với các công ty liên doanh hoặc cổ phần, hoặc cho vay tùy theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn cho vay nhiều hay ít
+ Những mối quan hệ kinh tế giữa DN với thị trường
Từ sự đa dạng hóa hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra yếu tố của thị trường đầy đủ như thị trường hàng hoá, thị trường sức lao động
Các mối quan hệ kinh tế trong hoạt động SXKD của DN phát sinh thường xuyên trong thị trường này gồm: quan hệ giữa DN với các DN khác, giữa DN với các nhà đầu tư, với các bạn hàng và khách hàng,…những quan hệ này phát sinh trong việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động SXKD của các DN bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, lãi trái phiếu; giữa
DN với ngân hàng và các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình DN vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, cho các tổ chức tín dụng
+ Những quan hệ kinh tế trong nội bộ DN
Gồm quan hệ kinh tế giữa DN với các phòng ban, phân xưởng hoặc tổ đội SX trong việc nhận tạm ứng và thanh toán tài sản, vốn liếng
Gồm quan hệ kinh tế giữa DN và CBCNV trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần
Những quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ DN là một đơn
vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phán ánh rõ nét mối liên hệ giữa TCDN với các khâu trong hệ thống tài chính nước ta
* Vị trí của TCDN trong DN và trong hệ thống tài chính nước ta
TCDN là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính quốc gia, nó là khâu cơ sở không thể thiếu trong hệ thống tài chính quốc gia TCDN bao gồm: tài chính của các đơn
vị, các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế
Trang 2Bài giảng - PĐT 2
Nếu xét trên một đơn vị SXKD thì TCDN được coi là một công cụ quan trọng để quản
lý kinh doanh của đơn vị Bởi mọi mục tiêu, phương hướng SXKD chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở phát huy tối đa các chức năng TCDN từ việc xác định nhu cầu vốn cho SXKD, tạo nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đã xác định Khi có đủ vốn phải tổ chức
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả đồng vốn đến việc theo dõi, kiểm tra, quản lý chặt chẽ các chi phí SXKD, theo dõi tình hình tiêu thụ SP, tính toán bù đắp chi phí và sử dụng đòn bẩy tài chính kích thích nâng cao hiệu quả SXKD thông qua việc phân phối lợi nhuận của DN cho người lao động trong DN
1.1.2 Chức năng của TCDN
a Chức năng phân phối
Thu nhập bằng tiền của DN được TCDN phân phối Thu nhập bằng tiền của DN đạt được do thực hiện thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất Phần còn lại DN sử dụng hình thành các quỹ DN, thực hiện bảo toàn vốn hoặc trả lợi tức cổ phần Chức năng phân phối của TCDN là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của DN và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động SXKD và hình thức sở hữu DN
* Đối tượng phân phối: Các khoản thu nhập bằng tiền của DN với bộ phận chủ yếu là doanh thu hoạt động SXKD
* Chủ thể phân phối: Người sở hữu DN và người quản lý trực tiếp doanh nghiệp
* Kết quả phân phối: Tạo ra các quỹ tiền tệ của DN, tuy mỗi quỹ có một mục đích riêng nhưng mục đích cuối cung là phục vụ cho hoạt động của DN
* Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân phối: Chính sách kinh tế của Nhà nước; Hình thức
sở hữu DN; Ngành nghề kinh doanh; Chiến lược phát triển DN; …
b Chức năng giám đốc
TCDN căn cứ vào tình hình thu chi tiền tệ và các chỉ tiêu phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn SXKD, tình hình SXKD và hiệu quả SXKD Cụ thể: qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vối huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng, với nhân viên và việc kiểm tra việc chấp hình kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của DN Trên cơ sở đó giúp đỡ chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xẩy ra nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN Đặc điểm chức năng giám đốc của TCDN là toàn diện và thường xuyên trong suốt quá trình SXKD của DN Vì vậy chức năng này trong phạm vi DN nơi mà hàng ngày, hàng giờ thực hiện việc tiêu dùng vật tư và lao động thì nó có ý nghĩa qua trong hàng đầu
Hai chức năng trên có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau Chức năng tạo vốn và phân phối được tiến hành đồng thời với quá trình thực hiện chức năng giám đốc Chức năng giám đốc tiến hành tối là cơ sở quan trọng trong những định hướng phân phối tài chính đúng đắn, đảm bảo các tỷ lệ phù hợp với quy mô SX, tạo điều kiện cho SX được tiến hành liên tục Việc tạo vốn và phân phối tốt sẽ khai thông các luồng tài chính, thu hút mọi nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn cho các DN và sử dụng hiệu quả đồng
Trang 3vốn tạo ra nguồn tài chính dồi dào là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng giám đốc của TCDN
1.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
a Tạo vốn- đảm bảo vốn cho SXKD
Để có đủ vốn cho hoạt động SXKD, TCDN phải tính toán nhu cầu vốn, tổ chức huy động và sử dụng vốn đúng nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình SXKD của DN
Về phía nhà nước phải hỗ trợ DN và tạo môi trường hoạt động phong phú, đa dạng để tạo vốn phát triển các loại hình tín dụng thu hút tối đa các nguồn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư, tạo nguồn vốn vay dồi dào đối với mọi loại hình DN
b Sử dụng vốn có hiệu quả và tiết kiệm
Để sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi DN Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các luật kinh tế, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị đã đặt ra trước mọi DN một chuẩn mực hết sức khắt khe Trước sức ép nhiều mặt của thị trường đã đặt DN phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động SXKD của DN đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu kế toán và bảng tổng kết tài sản Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh, điều chỉnh các quan hệ tỷ lệ, dự báo những xu hướng phát triển để đảm bảo SXKD với hiệu quả cao, VKD được đảm bảo và tiết kiệm
c Đòn bẩy kích thích SXKD phát triển
Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ TCDN được
mở trên phạm vi rộng lớn Đó là những mối quan hệ với hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành viên góp vốn đầu tư liên doanh, các cổ đông, các khách hàng mua bán SP dịch vụ và những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật Dựa vào khả năng này, nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ tài chính như: đầu tư, xác định lãi suất,
cổ tức, giá bán hoặc mua SP dịch vụ, tiền lương, tiền thưởng…để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn… nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh
Trong những biện pháp sử dụng các công cụ tài chính nêu trên, việc sử dụng công cụ đầu tư tài chính thường đem lại hiệu quả kinh tế cao và vững chắc nhất Đầu tư đổi mới kỹ thuật, đặc biệt đầu tư vào yếu tố con người sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để tăng năng suất lao động Đây là nhân tố hết sức quan trọng nhằm tăng khả năng cạnh tranh và kéo dài chu
kỳ sống của DN
c Công cụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động SXKD
Tình hình TCDN là một tấm gương phản ánh trung thực mọi hoạt động SXKD của DN Thông qua số liệu kế toán, các chỉ tiêu tài chính như hệ số thanh toán, hệ quả sử dụng vốn,
hệ số sinh lời, cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn …người quản lý có thể
dễ dàng nhận biết thực trạng tốt xấu trong các khâu của quá trình SXKD Với khả năng
Trang 41.1.4 Nội dung tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Lựa chọn quyết định đầu tư
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
- Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quĩ trong doanh nghiệp
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp
- Thực hiện kế hoạch hóa tài chính
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy động vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu với các khoản nợ của doanh nghiệp
1.2.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng và ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài chính doanh nghiệp
Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng cao, tốc độ luân chuyển vốn cũng nhanh hơn só với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng
Những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng đảm bảo cân đối thu chi bằng tiền cũng như đảm bảo vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Đối với những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài thường phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn Những doanh nghiệp hoạt động có tính chất thời vụ thì nhu cầu về vốn giữa các kỳ trong năm thường chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu và chi bằng tiền thường không có sự ăn khớp nhau về thời gian Điều đó phải tính đến trong việc tổ chức tài chính, nhằm đảm bảo vốn kịp thời, đầy đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như đảm bảo cấn đối giữa thu và chi bằng tiền
1.2.3 Môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh doanh nghất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Môi trường kinh tế- tài chính, thể chế luật pháp, khoa học - công nghệ, môi trường chính trị, văn hóa- xã hội, môi trường sinh thái vv Xem
Trang 5xét tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp, có thể phân tích dưới các khía cạnh sau:
- Cơ sở hạ tầng kinh tế: Giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, cấp thoát nước
- Tình trạng của nền kinh tế; mức độ cạnh tranh;
- Lãi suất thị trường; lạm phát;
- Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp;
- Thị trường tài chính và các hệ thống trung gian tài chính
Chương 2 VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH
2.1.1 Khái niệm
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản : Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy đượng gọi là sự tuần hoàn vốn Quá trình hoạt động của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của ngành kinh doanh
Từ những phân tích trên có thể rút ra:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt dộng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà
nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
Trang 6bộ hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì khi đó chúng mới cần đổi mới, thay thế
Tư liệu lao động của DN bao gồm nhiều loại, thời hạn sử dụng dài hay ngắn khác nhau, giá trị cao thấp cũng không giống nhau Để đơn giản thủ tục quản lý, theo qui định hiện hành, những tư liệu lao động có đủ 3 điều kiện sau đây thì được coi là tài sản cố định
+ Môt là: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; + Hai là: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất
định
Mức giá trị này thường xuyên được điều chỉnh cho
phù hợp với tình hình thực tế Hiện nay giá trị này là
30 trđ ( Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4
năm 2013)
+ Ba là: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu từ một
năm trở lên
Những tư liệu lao động không có đủ điều kiện trên
sẽ được coi là công cụ dụng cụ, việc mua sắm và dự
trữ được giải quyết bằng nguồn vốn lưu động của
DN
Qua những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về tài sản cố định trong DN như sau:
Tài sản cố định trong DN là những tư liệu lao động chủ yếu,có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó chuyển dịch dần dần, từng phần giá trị vào giá thành (giá trị) SP của các chu kỳ SX tiếp theo
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Bởi lẽ:
- Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
- Đổi mới TSCĐ kịp thời, hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng lao động, giải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn cho người lao động
- Xét trên góc độ tài chính DN, sự nhậy cảm trong đầu tư mới tài sản cố định là một nhân tố quan trong để hạ thấp chi phí SX như: hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí sửa chữa, tăng năng suất lao động, giảm chi phí tiền lương và đây cũng là biện pháp hết sức quan trọng để chống hao mòn vô hình trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Tăng cường đổi mới trang thiết bị được coi là một lợi thế để chiếm lĩnh không chỉ thị trường hàng hoá mà cả thị trường vốn Những DN có trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại thường được khách hàng tin cậy, họ sẽ có lợi thế trong việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu
để thu hút các nguồn tài chính trong xã hội, phục vụ việc đầu tư mở rộng SX KD
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
Trang 7Với những ý nghĩa trên, việc đổi mới tài sản cố định trong SXKD của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan, mang tính quy luật trong nền SX hàng hoá và trong điều kiện tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay
Việc đổi mới TSCĐ đúng hướng sẽ tạo ra triển vọng lớn lao trong DN Song, không loại trừ những trường hợp rủi ro hoặc thất bại trong kinh doanh cũng vì đổi mới TSCĐ Nguyên nhân của thất bại này là do người quản lý không tìm hiểu kỹ các căn cứ đầu tư, chọn nhầm phương án đầu tư nên đã có những quyết định tài chính sai lầm về đầu tư
b Phân loại tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định hiện có của DN theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ những yêu cầu quản lý của DN
Thông thường có những cách phân loại sau đây:
* Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
+ Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định mang hình thái vật chất cụ thể như:
nhà xưởng, máy móc thiết bi, phương tiện vận tải, vật kiến trúc, đất canh tác, …
Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định hữu hình: Tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một
bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó
mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập
Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình
Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời
ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình
+ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không được thể hiện bằng hiện
vật cụ thể mà thường là những khoản chi phí đầu tư cho SXKD nhưng có giá trị lớn
và có tác dụng lâu dài đối với hoạt động kinh doanh của DN Khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, tiến bộ khoa học kỹ thuật đã trở thành những lực lượng SX trực tiếp, “hàm lượng chất xám” trong SP hàng hoá, dịch vụ được coi là một nhân tố quan trọng, khi đó những TSCĐ không có hình thái vật chất sẽ càng trở nên phong phú và đa dạng hơn
Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình: Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba điều kiện quy định trên, mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì được coi là tài sản cố định vô hình Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8- Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán;
- Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó;
- Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai;
- Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó;
- Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;
- Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình
Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế thương mại không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động
Phương pháp phân loại trên sẽ giúp cho người quản lý có một nhãn quan tổng thể về cơ cấu đầu tư của DN Đây là một căn cứ quan trọng để quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư cho phù hợp với tình hình thực tế Mặt khác, cũng nhờ phương pháp phân loại này có thể đề ra các biện pháp quản lý tài sản, quản lý vốn, tính toán khấu hao chính xác hợp lý
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng
+ TSCĐ dùng trong SXKD cơ bản: Là những TSCĐ trực tiếp tham gia vào hoạt động SXKD của DN Như: nhà cửa, VKT,MM TB, …
+ TSCĐ dùng ngoài SXKD cơ bản: Là những TSCĐ dùng cho các hoạt động SXKD phụ trợ và những TSCĐ không mang tính chất SX Loại này gồm:
- TSCĐ dùng cho hoạt động kinh doanh phụ
- TSCĐ dùng trong mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh,…
- TSCĐ bảo quản hộ giữ hộ Nhà nước, giữ hộ đơn vị khác
Cách phân loại này cho biết cơ cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính khấu hao chính xác, kiểm tra được mức độ đảm bảo TSCĐ cho hoạt động
SX nhưng cách phân loại này chưa phán ánh tình hình sử dụng TSCĐ
* Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế
+ TSCĐ hữu hình được chia thành các nhóm:
- Nhà cửa, VKT: Là những TSCĐ hình thành sau quá trình xây dựng như: Nhà xưởng, văn phòng, hàng rào,…
- MMTB: Là những toàn bộ MMTB dùng trong hoạt động SXKD của DN
- PTVT, thiết bị truyền dẫn: Là toàn bộ các phương tiện vận tải, các thiết bị truyền dẫn của
DN
Trang 9- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị dụng cụ dùng trong quản lý của DN :…
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho SP : …
- Các loại tài sản cố định khác: Là những tài sản cố định chưa xếp vào năm nhóm trên
như tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh,…
+ TSCĐ vô hình thường được chia thành các nhóm:
- Chi phí thành lập: là những chi phí đầu tư có liên quan đến việc thành lập hoặc phát triển
mở rộng một tổ chức DN Thuộc nhóm này gồm các chi phí sau: chi phí khảo sát, thăm dò thị trường, luận chứng kinh tế kỹ thuật, các chi phí thủ tục thành lập DN như: thuế chước bạ; chi phí về quảng cáo khai trương DN mới; chi phí đào tạo cán bộ
- Chi phí nghiên cứu phát triển: Là những khoản chi phí đầu tư cho việc nghiên cứu, xây dựng các dự án phát triến của DN như: Nghiên cứu cải tiến quy trình công nghệ, chế thử
SP mới, các chi phí cho phát minh sáng chế…
- Quyền đặc nhượng hay quyền khai thác: Được thể hiện bằng một hợp đồng giữa Nhà nước với một công ty hoặc giữa hai công ty với nhau về việc nhà nước cho phép công ty kia được liên doanh hoặc khai thác tài nguyên nào đó; hoặc công ty này cho phép công ty kia đặc quyền cung cấp một số SP dịch vụ hoặc một số mặt hàng nào đó
- Bằng sáng chế phát minh: được nhà nước cấp cho người có công phát minh sáng chế Các DN có thể mua bằng phát minh theo giá thỏa thuận và được nhà nước bảo hộ
- Nhãn hiệu thương mại: là những chi phí đầu tư mà DN phải mua của DN khác với những điều kiện ràng buộc theo luật định, để tạo SP theo uy tín của mình Nhờ nhãn hiệu, một số
DN có thể bán chạy SP của mình với giá cao hơn so với các SP cùng loại Vì vậy, một nhãn hiệu có thể ngày càng được tăng giá do sự tín nhiệm, ưa chuộng của khách hàng đối với SP mang nhãn hiệu đó
- Vị trí của DN: Là một yếu tố rất lợi hại trong thương mại Vị trí DN càng thuận lợi thì giá bán của DN càng cao Nó có thể cao hơn nhiều so với chi phí để xây dựng của DN đó nhưng ở vị trí khác
- Các TSCĐVH khác: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất ngoài những nhóm TS đã nêu trên, như: chi phí đầu tư để cải tạo đất trong ngành nông, lâm nghiệp; chi phí đầu tư bốc đất, đá để khai thác trong ngành công nghiệp khai thác; Chi phí nạo vét lòng sông bến cảng, luồng lạch trong nghành GTVT
* Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
- TSCĐ đang sử dụng: Là những tài sản cố định DN hiện đang sử dụng
- TSCĐ chưa cần dùng: Là những tài sản cố định cần cho hoạt động của DN nhưng hiện
tại đang dự trữ để sử dụng về sau
- TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý : Là những tài sản cố định không cần thiết hoặc không phù hợp với nhiệm vụ SXKD của DN cần thanh lý, nhượng bán để thu hồi VCĐ Ngoài 4 cách phân loại trên người ta có thể phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu (TSCĐ tự có, đi thuê)
c Kết cấu tài sản cố định
Qua phân loại TSCĐ ta có thể tính toán tỷ trọng của từng nhóm TSCĐ - Thể hiện kết cấu của TSCĐ
Trang 10Bài giảng - PĐT 10
Tỷ trọng tài sản cố định nhóm i : d i = NG i /NG
Qua kết cấu của TSCĐ ta có thể đánh giá được tính hợp lý trong đầu tư vào TSCĐ của
DN
2.2.2 Vốn cố định và đặc điểm chu chuyển vốn cố định
Trong nền SX hàng hoá, việc mua sắm hoặc quản lý tư liệu lao động phải dùng tiền tệ
Vì vậy mỗi DN muốn tiến hành SXKD phải ứng trước một số tiền vốn nhất định về TSCĐ Số vốn này được luân chuyển theo mức hao mòn dần của TSCĐ Khi tham gia quá trình SX, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và tham gia nhiều chu kỳ SXKD và trong thời gian sử dụng bị hao mòn dần Đến khi nào chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì mới cần đổi mới Vì vậy giá trị của TSCĐ cũng tuỳ theo mức độ hao mòn về mặt vật chất được chuyển dịch dần từng bộ phận vào giá trị SP mới Bộ phận giá trị chuyển dịch của TSCĐ hợp thành một yếu tố chi phí
SX của DN và được bù đắp ( thu hồi) mỗi khi SP được tiêu thụ Vì có đặc điểm trong quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của TSCĐ không thay đổi, còn giá trị thì luân chuyển dần cho nên gọi bộ phận vốn ứng trước này là VCĐ
Như vậy giá trị VCĐ sẽ quyết định quy mô của TSCĐ và đặc điểm vận động của TSCĐ lại quyết định đến đặc điểm chu chuyển và tuần hoàn của VCĐ Từ đó ta có thể khái quát những nét đặc thù (đặc trưng cơ bản) về sự vận động của VCĐ trong SXKD như sau : + VCĐ tham gia nhiều chu kỳ SX SP
+ VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ SX
+ Sau nhiều chu kỳ SX VCĐ mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển
Từ sự phân tích trên có thể khái niệm về VCĐ như sau: VCĐ của DN là số vốn đầu tư cho những TSCĐ Đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần, từng phần giá trị vào SP mới cho đến khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng thì VCĐ mới hoàn thành một lần luân chuyển
TSCĐ và VCĐ của DN có sự khác nhau ở chỗ là: Lúc mới hoạt động, DN có VCĐ bằng giá trị nguyên thuỷ của TSCĐ Về sau giá trị của VCĐ thường là thấp hơn giá trị nguyên thuỷ của TSCĐ do khoản khấu hao đã trích
Trong quá trình SXKD, VCĐ luôn luôn biến động, một mặt giảm dần do trích khấu hao
và thanh lý TSCĐ, mặt khác lại tăng thêm do đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp TSCĐ
Ta có thể coi giá trị của VCĐ chính là bộ phận giá trị còn lại của tài sản cố định, hay chính là bộ phận vốn ứng ra để mua sắm tài sản cố định chưa thu hồi được (cần phải tiếp tục thu hồi)
2.2.3 KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
2.2.3.1 Hao mòn tài sản cố định
Hao mòn tài sản cố định là hiện tượng tài sản cố định bị mất dần giá trị trong quá trình
sử dụng.Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau tài sản cố định của DN bị hao mòn dưới hai hình thức: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Trang 11a Hao mòn hữu hình của tài sản cố định:
* Hao mòn hữu hình của tài sản cố định là hao mòn về vật chất và giá trị của tài sản cố định trong quá trình sử dụng
- Về mặt vật chất đó là sự hao mòn có thể nhận thấy được từ sự thay đổi về trạng thái vật
lý ban đầu của các chi tiết, các bộ phận tài sản cố định dưới sự tác động của ma sát, trọng tải, nhiệt độ, hoá chất,…; sự giảm sút về chất lượng, mang tính kỹ thuật ban đầu trong quá trình sử dụng và cuối cùng không còn sử dụng được nữa Muốn khôi phục giá trị sử dụng của nó phải tiến hành sửa chữa, thay thế
- Về mặt giá trị đó là sự giảm dần giá trị của tài sản cố định do chuyển dịch dần dần từng phần giá trị hao mòn vào giá trị SPSX Đối với các tài sản cố định vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở sự hao mòn về mặt giá trị
* Mức độ hao mòn hữu hình phụ thuộc vào :
- Các nhân tố trong quá trình sử dụng tài sản cố định như thời gian và cường độ sử dụng, việc chấp hình những quy phạm kỹ thuật trong sử dụng và bảo dưỡng tài sản cố định
- Những nhân tố về tự nhiên và môi trường sử dụng tài sản cố định
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức hao mòn hữu hình tài sản cố định sẽ giúp các DN có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó
b Hao mòn vô hình của tài sản cố định:
Là sự giảm sút về giá trị trao đổi của tài sản cố định do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học
kỹ thuật
* Hao mòn vô hình loại 1: Tài sản cố định bị giảm giá trao đổi do có những tài sản cố định
mới như tài sản cố định cũ song giá mua lại rẻ hơn Do đó trên thị trường các tài sản cố định cũ bị mất đi một phần giá trị của mình
Tỷ lệ hao mòn vô hình loại 1 (V1 )
Được xác định theo công thức: V 1 = ( G đ – G h )* 100% /G đ
Trong đó: Gđ: Giá trị mua ban đầu của TSCĐ
Gh: Giá trị mua hiện tại của TSCĐ
* Hao mòn vô hình loại 2: Là tài sản cố định bị giảm giá trị trao đổi do có những tài sản cố
định mới tuy mua với giá trị như cũ nhưng lại hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật Như vậy do
có những tài sản cố định mới tốt hơn mà tài sản cố định cũ bị mất đi một phần giá trị của mình Đó chính là một phần giá trị tài sản cố định cũ không chuyển dịch vào giá trị SP kể
từ khi có tài sản cố định mới xuất hiện Bởi vì khi tài sản cố định mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến thì điều kiện SX sẽ do các tài sản cố định mới quyết định Phần giá trị dịch chuyển được tính vào giá trị SP sẽ được tính theo mức của tài sản cố định mới Do đó nếu
DN không dùng tài sản cố định cũ để SX thì cứ một SPSX ra, DN sẽ mất đi phần giá trị chênh lệch giữa mức giá trị chuyển dịch của tài sản cố định cũ và tài sản cố định mới do không được xã hội chấp nhận tính vào giá trị SP
Tỷ lệ hao mòn loại 2 ( V2 )được tính như sau:
Được xác định theo công thức: V 2 = G K * 100% /G đ
Trong đó: Gđ: Giá trị mua ban đầu của TSCĐ
Trang 12Bài giảng - PĐT 12
Gk: Giá trị của TSCĐ cũ không chuyển dịch được vào giá trị SP
* Hao mòn vô hình loại 3: Là TSCĐ bị mất giá toàn bộ do SP chấm dứt chu kỳ sống Khi
SP chấm dứt chu kỳ sống thì đương nhiên các TSCĐ sử dụng để SX các SP đó cũng mất tác dụng ( ít nhất là đối với DN )
Như vậy nguyên nhân cơ bản của hao mòn vô hình là do tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
do đó biện pháp cơ bản để khắc phục hao mòn vô hình là :
- DN cần coi trọng công tác đổi mới công nghệ, ứng dụng kịp thời tiến bộ của khoa học kỹ thuật
- Tính toán thời gian tính trích khấu hao chính xác, áp dụng phương pháp tính khấu hao phù hợp với mức hao mòn
2.2.3.2 Khấu hao tài sản cố định và các phương pháp tính
a Khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng và bảo quản, TSCĐ bị hao mòn (hữu hình và vô hình) Một bộ phận giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn đó được dịch chuyển dần dần vào giá thành SP gọi là khấu hao TSCĐ - một yếu tố của chi phí và cấu thành trong giá thành SP được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ Sau khi SP hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ thành quỹ khấu hao TSCĐ Vậy khấu hao là việc chuyển dịch phần giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng vào giá trị SP sản xuất ra theo phương pháp tính toán thích hợp Nói cách khác, khấu hao chính là việc xác định phần giá trị hao mòn của TSCĐ đã dịch chuyển vào giá trị SPSX Như vậy khấu hao mang tính chủ quan, phụ thuộc vào phương pháp tính của DN
Số tiền khấu hao tích lũy lại thành quỹ khấu hao, là quỹ dùng để tái SX giản đơn TSCĐ Song thực tế, trong điều kiện tiến bộ KHKT, quỹ khấu hao cơ bản có khả năng tái SX mở rộng TSCĐ Khả năng này được biển hiện ở chỗ: các DN sẽ sử dụng linh hoạt quĩ khấu hao được tích luỹ hàng năm như các nguồn tài chính bổ sung cho các mục đích đầu tư phục vụ SXKD có doanh lợi hoặc nhờ nguồn này để đầu tư đổi mới TSCĐ trong những năm sau trên một quy mô lớn hơn, trang bị máy móc hiện đại hơn Qua đó, quỹ khấu hao còn được coi là nguồn tài chính quan trọng để tái SX mở rộng TSCĐ trong SXKD của
DN
Khi tính khấu hao ta cần tính hai chỉ tiêu: Mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao:
+ Mức khấu hao là số tiền khấu hao tính được trong kỳ Mức khấu hao có thể tính cho 1 năm; 1 quý; 1 tháng hoặc 1 ngày Mức khấu hao quý, tháng, ngày được tính dựa trên mức khấu hao năm theo công thức:
- Mức khấu hao tháng = Mức khấu hao năm : 12
- Mức khấu hao ngày = Mức khấu hao năm : 360 = Mức khấu hao tháng : 30
+ Tỷ lệ khấu hao: Cho biết mức khấu hao chiếm tỷ lệ bao nhiêu % so với nguyên giá TSCĐ
Về nguyên tắc, khi tính khấu hao thì số tiền khấu hao phải phù hợp với giá trị hao mòn của TSCĐ
Trang 13b Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ
* Phương pháp khấu hao đường thẳng (tuyến tính cố định)
+ Tính cho 1 TSCĐ:
Phương pháp này được sử dụng phổ biến để tính khấu hao của những TSCĐ hữu hình,
nó có tỷ lệ khấu hao và mức khấu hao không đổi hàng năm.Để tính khấu hao theo phương pháp này người ta sử dụng công thức đơn giản sau :
M K = NG / T sd Trong đó:
Mk: Mức khấu hao cơ bản cố định hàng năm
NG: Nguyên giá của TSCĐ, là toàn bộ chi phí DN bỏ ra để mua sắm, hình thành nên tài sản cố định đến khi TSCĐ ở trạng thái sẵn sàng hoạt động, bao gồm giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản, chạy thử, các lệ phí phải nộp, các khoản lãi vay phải trả đến khi TSCĐ được đưa vào hoạt động Ngoài ra trong 1 số trường hợp người ta còn trừ đi khoản thu nhập từ thanh lý TSCĐ khi nó hết thời gian sử dụng kinh tế
Tsd : Thời gian sử dụng kinh tế của TSCĐ Là thời gian mà DN xác định TSCĐ hoạt động có hiệu quả kinh tế trong điều kiện bình thường (không phải thời gian tồn tại hoặc thời gian TSCĐ có thể sử dụng)
Tỷ lệ khấu hao TK được tính theo công thức :
Trong đó:
- Tko là tỷ lệ khấu hao gốc trong điều kiện bình thường
- H1 ; H2 … Hn Là hệ số điều chỉnh khi có sự thay đổi về điều kiện sử dụng đã được quy định
Trang 14Bài giảng - PĐT 14
Tính KH theo phương pháp tỷ trọng: Là toàn bộ TSCĐ của tổ chức DN được chia thành các nhóm tỷ lệ khấu hao cá biệt tương tự Sau khi xác định tỷ trọng và tỷ lệ khấu hao của mỗi nhóm Phương pháp bình quân gia quyền được tính ra tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân và mức khấu hao của toàn bộ TSCĐ trong năm của đơn vị
Tỷ lệ KH bình quân là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến trong công tác lập kế hoạch khấu hao TSCĐ của các DN
* Phương pháp khấu hao số dư giảm dần (khấu hao theo tỷ lệ không đổi đối với giá trị còn lại)
Theo phương pháp này, mức khấu hao ở năm t nào đó sẽ được tính như sau :
M Kt = T KD G§ Ni
CL
Trong đó:
MKt : Số khấu hao TSCĐ ở năm t;
TKD : Tỷ lệ khấu hao của TSCĐ;
G§ Ni
CL : Giá trị còn lại của tài sản cố định đầu năm thứ t;
t: Thứ tự các năm sử dụng tài sản cố định ( t = 1 – n)
Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp này cố định qua các năm và thường lớn hơn so với tỷ
lệ khấu hao của phương pháp tuyến tính cố định TKD = TK.H Để khuyến khích khấu hao nhanh, người ta áp dụng hệ số điều chỉnh H như sau:
- Đối với TSCĐ có thời gian sử dụng đến 4 năm thì H = 1,5
- Tài sản sử dụng trên 4 năm đến 6 năm thì H = 2,0
- Tài sản sử dụng trên 6 năm thì H = 2,5
Phương pháp này có ưu điểm khấu hao nhanh, tránh thiệt hại do hao mòn vô hình Tuy nhiên theo phương pháp này, không thu hồi hết VĐT ban đầu vào TSCĐ
* Phương pháp khấu hao số dư giảm dần có điều chỉnh:
Theo phương pháp này thì khấu hao TSCĐ được chia thành 2 giai đoạn:
+ GĐ 1: Tính khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần
+ GĐ 2: Tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng của phần giá trị còn lại GĐ 2 bắt đầu khi khấu hao ở 1 năm nào đó theo phương pháp số dư giảm dần khấu hao theo phương pháp đường thẳng của phần giá trị còn lại
Theo phương pháp này DN thu hồi vốn nhanh, tránh được hao mòn vô hình và thu hồi được hết VĐT ban đầu
Ví dụ:
Một TSCĐ có NG là 567 Trđ, có thời gian sử dụng là 6 năm Hãy tính mức khấu hao hàng năm theo phương pháp tuyến tính cố định, số dư giảm dần và số dư giảm dần có điều chỉnh
H = 2; TKS = 100 / 6 (%);
TKS = H TK = 2 x 100 : 6 = 100/3 (%)
Để thuận tiện cho tính toán ta lập bảng sau:
Trang 15năm
M k G cl cuối năm
M lk Gcl Đầu
năm
M k G cl cuối năm
* Tính khấu hao bằng phương pháp ‘Tổng số’
Phương pháp tổng số cũng là một trong những phương pháp tính KH nhanh
Theo phương pháp “ tổng số ”, số trích KH hàng năm được tính trên cơ sở nhân tỷ lệ
KH của mỗi năm với giá trị ban đầu của TSCĐ:
M Kt = NG.T Kt
Trong đó: MKt là mức khấu hao ở năm thứ t;
TKt Là tỷ lệ khấu hao ở năm thứ t;
NG là nguyên giá tài sản cố định cần tính khấu hao
Tỷ lệ khấu hao của mỗi năm là tỷ lệ giảm dần Nó được xác định bằng cách:
- Cách 1: Chia số năm còn lại của thời hạn khấu hao cho tổng số các số thứ tự của thời hạn khấu hao
TKt = Số năm khấu hao còn lại
Tổng các số TT năm của thời hạn KH
- Cách 2: Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao được xác định theo công thức:
TKt = 2(TSD - t + 1)
TSD( TSD + 1) Trong đó: TSD thời hạn sử dụng tài sản cố định ( thời hạn khấu hao)
t số thứ tự của năm cần tính khấu hao
Ví dụ: Một doanh nghiệp mua một thiết bị, giá ghi trên hóa đơn là 90 triệu, chi phí vận
chuyển, lắp đặt, chạy thử là 10 triệu đồng Thời hạn khấu hao là 5 năm, thu thanh lý không đáng kể
Số tiền khấu hao hàng năm được tính như sau:NG = 90 +10 = 100
TT năm Số năm SD còn lại Tỷ lệ KH Mức KH (triệu)
Trang 16* Khấu hao theo sản lượng
Nhằm đảm bảo tính chính xác hơn mức độ hao mòn của TSCĐ tham gia vào SXKD người ta đưa ra phương pháp khấu hao theo sản lượng, phương pháp này được tiến hành như sau:
- Tính mức khấu hao cho 1 đơn vị sản lượng:
Mđ = NG / Q Trong đó NG là nguyên giá của TSCĐ; Q là tổng sản lượng sản phẩm dự kiến do TSCĐ làm ra trong cả đời vận hành
- Tính khấu hao cho kỳ t: Mt = Mđ qt
qt là sản lượng của kỳ t
2.2.3.4 Kế hoạch khấu hao TSCĐ
a Vai trò của kế hoạch khấu hao
Trước mỗi năm kế hoạch các doanh nghiệp đều phải tiến hành lập kế hoạch khấu hao TSCĐ vì :
- Nó là cơ sở để quản lý VCĐ
- Là căn cứ để đề ra các quyết định đầu tư, xây mới
- Là căn cứ để xây dựng kế hoạch chi phí, kế hoạch giá thành, kế hoạch thu chi tài chính
b Nội dung và trình tự lập:
* Xác định tổng nguyên giá TSCĐ đầu năm kế hoạch NGđn: Thường lấy giá trị TSCĐ ngày 30/9 năm báo cáo cộng với NG của TSCĐ dự kiến tăng trong quý 4 và trừ đi NG của các TSCĐ dự kiến giảm trong quý 4 năm báo cáo
* Xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao: Về nguyên tắc thì mọi TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tính khấu hao; tuy nhiên đối với doanh nghiệp nhà nước thì các TSCĐ sau không phải tính khấu hao:
- Đất canh tác hoặc đất xây dựng
- Các TSCĐ đình chỉ hoạt động để đưa vào dự trữ của Nhà nước; Để giám định kỹ thuật
- Các TSCĐ đưa vào sửa chữa hoặc bị hỏng do thiên tai, địch hoạ
- Các TSCĐ chờ chuyển đi nơi khác theo quyết định của cấp trên
- TSCĐ phục vụ các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp ( Nhà trẻ, câu lạc bộ,…)
- TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng theo quyết định của HĐQT hoặc của cơ quan quản lý cấp trên
Trang 17- Các TSCĐ phục vụ nhu cầu chung của xã hội, không phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như : Đê, cầu, đường,…mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý
- Các TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng trong hoạt động kinh doanh
Sau khi xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao đầu năm, tính tổng nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao đầu năm: NGđk
* Xác định tổng nguyên giá TSCĐ tăng trong kỳ: Bao gồm:
NG của các TSCĐ hoàn thành xây dựng, hoàn thành việc mua sắm, lắp đặt sẵn sàng đưa vào sử dụng, các TSCĐ được phép chuyển từ dự trữ ra sử dụng vv Những TSCĐ này cần phải tính khấu hao tăng ( NGt)
* Xác định NG bình quân tính khấu hao tăng: Do các TSCĐ tăng ở các thời điểm khác nhau nên phải căn cứ vào thời gian tăng để tính ra tổng giá trị của TSCĐ phải tính khấu hao tăng trong kỳ như sau:
NG t = (NG ti t sdi )/ 12
+ NGt: Nguyên giá bình quân tính khấu hao tăng trong kỳ;
+ tsdi : Số tháng sử dụng của tài sản cố định thứ i phải tính khấu hao tăng trong kỳ
( thường tính từ tháng kế tiếp của tháng phát sinh thêm tài sản);
+ NGti: NG của TSCĐ thứ i phải tính khấu hao tăng trong kỳ
* Xác định NG bình quân giảm trong kỳ: Các TSCĐ giảm không phải tính khấu hao trong
kỳ bao gồm: TSCĐ điều động đi nơi khác, chuyển vào dự trữ, sửa chữa theo quyết định của người có thẩm quyền; TSCĐ đã khấu hao hết,…
Do các TSCĐ giảm không đồng thời nên phải căn cứ vào thời gian giảm để tính ra tổng giá trị của TSCĐ thôi không phải tính khấu hao trong kỳ như sau:
NG g = (NG gj t kdj )/ 12 = [NG gj (12 - t sd )]/ 12
+ tkdj : Số tháng không sử dụng củaTSCĐ không phải tính khấu hao thứ j ( thường tính từ tháng kế tiếp của tháng phát sinh giảm của tài sản)
+ NGgj: NG của TSCĐ không phải tính khấu hao thứ j trong kỳ
+ NGg : Nguyên giá bình quân giảm không phải tính khấu hao trong kỳ
* Xác định tổng NG của TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong kỳ: (NG )
NG = NG đk+ NG t - NG g
* Xác định tỷ lệ khấu hao bình quân tổng hợp trong năm kế hoạch: TKH
Tỷ lệ này thường được tính theo NG đầu năm kế hoạch ( cuối năm báo cáo)
* Xác định mức khấu hao năm kế hoạch: MK = NG T KH
* Tổng hợp thành kế hoạch khấu hao theo biểu sau:
năm…
Kế hoạch năm…
1 Tổng giá trị TSCĐ đầu kỳ
a Cần tính khấu hao
b Không tính khấu hao
Trang 18Bài giảng - PĐT 18
2 Tổng giá trị TSCĐ tăng trong kỳ
a Cần tính tăng trong kỳ
b Bình quân cần tính khấu hao tăng
3 Tổng giá trị TSCĐ giảm trong kỳ
a Cần tính giảm trong kỳ
b Bình quân cần tính khấu hao giảm
4 Tổng giá trị TSCĐ cuối kỳ ( 1+2-3)
a Cần tính khấu hao (1a + 2a – 3a)
b Bình quân cần tính khấu hao ( 1b + 2b – 3b)
Trong đó: - TSCĐ thuộc vốn NSNN
- TSCĐ thuộc vốn tự bổ sung
- TSCĐ thuộc vốn vay
5 Tỷ lệ khấu hao bình quân
6 Tổng số tiền khấu hao
7 Giá trị TSCĐ thải loại, nhượng bán
8 Thu về bán TSCĐ thải loại và nhượng bán ( Đã trừ
chi phí thanh lý)
2.2.4 CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH
2.2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá
a Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ:
+ Hiệu suất sử dụng VCĐ ( sức SX của VCĐ): Hs
Hs = DTT/VCĐbq Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng VCĐ bình quân khi tham gia vào hoạt động SXKD trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần (DTT) Chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ của DN càng cao và ngược lại
NGck = NGđk + NGt - NGg
MLK
ck = MLKđk + Mk Với:
- VCĐĐK : Vốn cố đinh đầu kỳ; VCĐCK: Vốn cố định cuối kỳ;
- NGđk : Nguyên giá đầu kỳ ; NGck : Nguyên giá cuối kỳ;
- NGt: Nguyên giá tăng trong kỳ; NGg: Nguyên giá giảm trong kỳ
- Mlkđk: khấu hao lũy kế đầu kỳ; Mlk
ck: Khấu hao lũy kế cuối kỳ
Trang 19- Mk: mức khấu hao trong kỳ
+ Hiệu quả sử dụng VCĐ ( sức sinh lợi, tỷ suất lợi nhuận VCĐ, …): Hq
b Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng TSCĐ được đánh giá bằng các chỉ tiêu chỉ tiêu sau:
+ Mức sử dụng công suất của TSCĐ :
- Mức sử dụng công suất thiết kế:
%CStk = (sản lượng đầu ra thực tế / mức công suất thiết kế) x100 (%)
- Mức sử dụng công suất kinh tế:
%CSkt = (sản lượng đầu ra thực tế / mức công suất kinh tế) x100 (%)
+ Hệ số sử dụng thời gian :
Ht = (Số thời gian thực tế đã sử dụng (làm việc)/Số thời gian theo định mức).100 (%)
+ Hiệu suất sử dụng TSCĐ : HS = DTT / NGbq
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân tham gia vào SXKD thì tạo
ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ
+ Hiệu quả sử dụng TSCĐ (Sức sinh lợi, Tỷ suất lợi nhuận TSCĐ, …):
HQ = (LNT / NGbq).100 (%) Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân tham gia vào SXKD thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần (LNT) trong kỳ
Trong đó: NGbq.= (NGđk + NGck) /2
+ Hệ số hao mòn H M : HM = Mlk/ NG
Hệ số này phản ánh tình trạng kỹ thuật của TSCĐ
2.2.4.2 Các biện pháp bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Thực chất là phải đảm bảo duy trì giá trị thực của vốn cố định để khi kết thúc một vòng tuần hoàn vốn, bằng số vốn này doanh nghiệp có thể thực hiện tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng TSCĐ tính theo thời giá hiện tại
Nguyên nhân dẫn đến thất thoát vốn cố định:
Trang 20Bài giảng - PĐT 20
+ Chủ quan:
- Do đầu tư mua sắm TSCĐ không hợp lý, đầu tư không đồng bộ, đầu tư phải tài sản đã lỗi thời lạc hậu, đầu tư tài sản không phù hợp với điều kiện hoạt động của doanh nghiệp => Sản phẩm có giá thành cao, chất lượng thấp hoặc sản phẩm lỗi thời không tiêu thụ được, làm hiệu quả sử dụng vốn thấp
- Do công tác quản lý tài sản cố định và việc chấp hành quy trình, quy phạm trong quá trình sử dụng tài sản cố định => tài sản bị hư hỏng trước hạn => không thu hồi đủ vốn
- Do khấu hao quá thấp so với hao mòn thực tế của TSCĐ => doanh nghiệp không bảo toàn được vốn;
- Do quản lý kinh doanh yếu kém, thua lỗ liên tục kéo dài dẫn đến tình trạng mất vốn
* Biện pháp bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Xác định cơ cấu TSCĐ hợp lý, tăng tỷ trọng của TSCĐ sử dụng trong SX, giảm tỷ trọng của các loại TSCĐ khác
+ Triệt để sử dụng công suất hiện có của TSCĐ; chú trọng công tác đổi mới TSCĐ
+ Cải tiến tình hình sử dụng MMTB : Tăng thời gian sử dụng, nâng cao hiệu suất công tác, chú trọng công tác bảo dưỡng, sửa chữa để duy trì năng lực, giá trị sử dụng của TSCĐ + Lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp, đảm bảo nhanh chóng thu hồi VCĐ, tránh bị hao mòn vô hình
+ Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro xảy ra đối với TSCĐ
+ Sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao để tránh sự mất giá trị của quỹ này
2.3.TÀI SẢN VÀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
2.3.1 Vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
2.3.1.1 Tài sản lưu động và vốn lưu động của doanh nghiệp
- Một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục
- Một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến
Hai bộ phận này được biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động trong sản
Trang 21xuất Để phục vụ cho quá trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, vật đóng gói cũng được coi là tài sản lưu động sản xuất
Mặt khác, quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong quá trình lưu thông, còn phải tiến hành một số công việc chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh toán Đó là khâu lưu thông hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ, vốn trong thanh toán…gọi là tài sản lưu động trong lưu thông vì nó cũng luân chuyển 1 lần toàn bộ giá trị vào trong giá trị của sản phẩm
Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông thay chỗ cho nhau và vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi được gọi chung là tài sản lưu động
b Vốn lưu động( VLĐ)
Để có TSLĐ phục vụ cho SXKD, doanh nghiệp cần một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm, số vốn tiền tệ ứng trước cho những tài sản lưu động được gọi là vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp VLĐ luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang các hình thái hiện vật và cuối cùng trở về hình thái ban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, cho nên VLĐ cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành chu chuyển của vốn Do
sự chu chuyển không ngừng nên VLĐ thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất và lưu thông
Tóm lại: VLĐ của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ được lưu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất
c Quá trình chu chuyển VLĐ
VLĐ là điều kiện tiên quyết, không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong cùng một thời điểm, VLĐ của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ VLĐ cho các hình thái và đảm bảo cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý, đồng bộ với nhau Nếu như doanh nghiệp không
đủ vốn thì quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hoặc gián đoạn
VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn là phản ánh sự vận động của vật tư Nhìn chung VLĐ nhiều ít là phản ánh số vật tư hàng hoá dự trữ ở các khâu nhiều hay ít Nhưng mặt khác, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý hay không hợp lý Bởi vậy thông qua tình hình luân chuyển VLĐ còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
Ta có thể khái quát quá trình chu chuyển của VLĐ thành các giai đoạn như sau:
T -> HDT -> SX -> SP -> HLT -> T’+ Mua sắm vật tư kỹ thuật để cho sản xuất ( khâu cung ứng, dự trữ): VLĐ chuyển từ
Trang 22Bài giảng - PĐT 22
hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật
+ Đưa vật tư kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh (khâu SX): Hình thái vật chất của VLĐ chuyển từ dạng đối tượng lao động thành dạng bán thành phẩm, sản phẩm dở dang
và thành phẩm
+ Tiêu thụ sản phẩm hoặc bán thành phẩm ( khâu lưu thông): VLĐ chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái giá trị
2.3.1.2 Phân loại vốn lưu động
a Theo vai trò của VLĐ trong quá trình sản xuất
VLĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:
+ VLĐ nằm trong khâu dự trữ sản xuất
Loại này bao gồm các khoản vốn :
- Vốn NVL chính: là số tiền biểu hiện trị giá các loại vật liệu chính dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất nó hợp thành thực thể của SP
- Vốn vật liệu phụ: là giá trị những vật dự trữ dùng trong sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thành thực thể chủ yếu của SP
- Vốn nhiên liệu: là giá trị những loại nhiên liệu dự trữ dùng trong sản xuất
- Vốn phụ tùng thay thế: bao gồm giá trị phụ tùng dự trữ để thay thế mỗi khi sửa chữa TSCĐ
- Vốn cho bao bì, vật đóng gói: bao gồm giá trị những vật liệu bao bì dùng để đóng gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ SP
- Vốn công cụ lao động nhỏ: thực chất là giá trị tư liệu lao động nhưng giá trị thấp, thời gian sử dụng ngắn, không đủ tiêu chuẩn trở thành TSCĐ
+ VLĐ nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất
Loại này gồm các loại vốn:
- Vốn sản phẩm dở dang: Là giá trị những sản phẩm đang hình thành trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ …
- Vốn bán thành phẩm tự chế: Cũng là giá trị những sản phẩm dở dang nhưng khác sản phẩm đang chế tạo ở chỗ nó đã hoàn thành ở 1 giai đoạn chế biến nhất định
- Vốn về phí tổn đợi phân bổ: Là những phí tổn chi ra trong kỳ nhưng có tác dụng cho nhiều kỳ sản xuất vì thế chưa tính hết vào giá thành trong kỳ mà sẽ tính dần vào giá thành các kỳ sau
+ VLĐ nằm trong quá trình lưu thông
Loại này bao gồm các khoản
- Vốn thành phẩm: Biểu hiện bằng số tiền của các sản phẩm đã hoàn thiện, nhập kho và chuẩn bị các công việc tiêu thụ;
- Vốn tiền tệ: Bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng mà trong quá trình luân chuyển VLĐ thường xuyên có bộ phận tồn tại dưới hình thức này;
- Vốn thanh toán: Là những khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ
Theo cách này có thể thấy vốn nằm trong quá trình dự trữ vật liệu và vốn nằm trong quá
Trang 23trình lưu thông không tham gia trực tiếp vào sản xuất Vì vậy hết sức hạn chế khối lượng vật liệu cũng như thành phẩm tồn kho Đối với vốn trực tiếp nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất phải chú ý tăng khối lượng sản phẩm đang chế tạo với mức hợp lý Vì số vốn này trực tiếp tham gia vào việc tạo nên giá trị mới
b Phân loại VLĐ theo hình thái biểu hiện
Dựa vào hình thái biểu hiện và theo chức năng các thành phần VLĐ có thể chia thành:
- Vốn vật tư hành hoá: Là vốn có hình thái vật chất cụ thể, thuộc loại này bao gồm: vật
liệu chính, vật liệu phụ, vốn sản phẩm đang chế tạo, bán sản phẩm, vốn thành phẩm, phí tổn chờ phân bổ;
- Vốn tiền tệ: thuộc loại này bao gồm: vốn bằng tiền, tương đương tiền, vốn thanh toán; Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán, kiểm tra kết cấu tối
ưu VLĐ để dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số VLĐ đã bỏ ra
Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm biện pháp phát huy chức năng của các thành phần của VLĐ bằng cách xác định mức dự trữ hợp lý để từ đó mà xác định nhu cầu VLĐ
Vốn tiền tệ, vốn thanh toán nhằm đảm bảo về mặt tài chính cho quá trình tái sản xuất được thuận lợi với một số phương tiện tài chính tối ưu, loại vốn này không có quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất, được dùng để phục vụ lĩnh vực lưu thông trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và mua sắm nguyên nhiên vật liệu Vốn chuyển vào lĩnh vực lưu thông phải trở về sản xuất càng nhanh càng tốt, đó mà điều mà mỗi doanh nghiệp cần phải quan tâm đến
c Phân loại VLĐ theo quan hệ sở hữu vốn
- VLĐ chủ sở hữu: Là VLĐ thuộc quyền sở hữu và định đoạt của chủ doanh nghiệp Tuỳ loại hình doanh nghiệp mà nguồn hình thành của nó cũng khác nhau
- VLĐ đi vay, nợ: Là các khoản VLĐ được hình thành thông qua việc đi vay các tổ chức
NH, tài chính, các khoản chiếm dụng của các tổ chức hoặc cá nhân,…
d Phân loại VLĐ theo nguồn hình thành
VLĐ của doanh nghiệp dựa vào nguồn hình thành có thể chia ra các loại vốn sau đây:
- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn lưu động được hình thành từ sự đóng góp của chủ sở hữu doanh nghiệp và được ghi trong điều lệ hoạt động của doanh nghiệp
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung mà chủ yếu do doanh nghiệp lấy một phần từ lợi nhuận để lại doanh nghiệp hoặc từ quỹ đầu tư phát triển sản xuất để tăng thêm vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: Để mở rộng hoạt động SXKD, doanh nghiệp có thể thực hiện việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp đó có thể góp vốn bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá…làm tăng thêm số VLĐ của doanh nghiệp
- Nguồn VLĐ thông qua phát hành cổ phiếu: Đối với loại hình công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu mới để tăng thêm vốn (vốn lưu động và vốn cố định) cho công ty
- Nguồn vốn đi vay: Đây là một nguồn vốn quan trong mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về VLĐ thường xuyên cần thiết cho kinh doanh Tuỳ theo điều kiện cụ
Trang 24Bài giảng - PĐT 24
thể của doanh nghiệp có thể vay vốn của ngân hàng, của các tổ chức tín dụng khác hoặc có thể vay vốn của các đơn vị tổ chức khác của cá nhân trong và ngoài nước bằng việc phát hành trái phiếu – là một hình thức vay vốn cho phép các doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Việc chia vốn của doanh nghiệp ra thành các loại vốn nói trên nhằm tạo khả năng để doanh nghiệp xem xét và quyết định huy động tối ưu các nguồn vốn để đảm bảo cho nhu cầu VLĐ thường xuyên ổn định và cần tương ứng với quy mô kinh doanh nhất định Các doanh nghiệp cần dự kiến nhu cầu đầu tư VLĐ trong kế hoạch dài hạn Đồng thời cũng có thể chủ động xây dựng kế hoạch về huy động và sử dụng VLĐ hàng năm để có thể đạt hiệu quả cao
e Phân loại VLĐ theo tính chất sử dụng
Theo tính chất sử dụng, VLĐ của DN được chia thành:
- VLĐ thường xuyên cần thiết: Là số VLĐ DN cần sử dụng thường xuyên để đảm bảo cho SXKD được tiến hành bình thường, liên tục
- VLĐ tạm thời: Là số VLĐ doanh nghiệp cần sử dụng trong thời gian ngắn, không có tính chất thường xuyên
2.3.1.3 Kết cấu của VLĐ và các nhân tố ảnh hưởng
a Kết cấu vốn lưu động:
Kết cấu VLĐ thể hiện bởi các thành phần của vốn theo các cách phân loại nêu trên và quan hệ tỷ lệ của các thành phần đó trong tổng số VLĐ Các doanh nghiệp khác nhau, kết cấu VLĐ cũng khác nhau Việc phân tích VLĐ sẽ giúp ta thấy được tình hình phân bố VLĐ và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong các giai đoạn luân chuyển, từ đó xác định được trọng điểm của công tác quản lý VLĐ cho doanh nghiệp để tìm biện pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả vốn trong từng điều kiện cụ thể VD: Trong điều kiện thay đổi phương hướng sản xuất cần phải có những thay đổi kết cấu VLĐ như thế nào để đảm bảo sản xuất liên tục Mặt khác thông qua sự thay đổi kết cấu VLĐ trong thời kỳ khác nhau của mỗi doanh nghiệp, có thể thấy được những nét biến đổi về mặt chất lượng công tác quản lý VLĐ
b Các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động:
Có thể quy thành 3 nhóm nhân tố:
+ Những nhân tố về mặt dự trữ : Các doanh nghiệp có quy mô sản xuất khác nhau, tính
chất sản xuất, trình độ sản xuất, trình độ phức tạp sản xuất và những yêu cầu đặc biệt về NVL, điều kiện sản xuất đặc biệt có ảnh hưởng nhiều đến sự khác nhau về tỷ trọng VLĐ
bỏ vào khâu dự trữ sản xuất
+ Những nhân tố về mặt sản xuất: Các doanh nghiệp hàng năm phải sử dụng nhiều loại
vật tư khác nhau Khoảng cách giữa doanh nghiệp với các đơn vị bán hàng ( cung cấp), kỳ hạn bán hàng, chủng loại, số lượng và giá cả…ảnh hưởng đến tỷ trọng VLĐ bỏ vào khâu
dự trữ
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng nhất định đến kết cấu VLĐ Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa doanh nghiệp với các đơn vị
Trang 25mua hàng (tiêu thụ) xa hay gần đều trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ trọng thành phẩm và hàng hoá xuất ra nhờ ngân hàng thu hộ
+ Những nhân tố về mặt thanh toán: Nếu sử dụng phương thức thanh toán hợp lý, giải
quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng vốn trong lưu thông sẽ thay đổi Đặc biệt trong xây lắp, việc sử dụng các hình thức thanh toán khác nhau, tổ chức thủ tục thanh toán, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán có ảnh hưởng nhiều đến tỷ trọng vốn bỏ ra vào khâu sản xuất
và khâu lưu thông
+ Tính chất thời vụ của sản xuất: Nhất là trong nông nghiệp, XDCB vừa chịu ảnh
hưởng của thời vụ vừa chịu ảnh hưởng của đất đai thời tiết khác nhau và còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức và quản lý
2.3.2 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp tính
2.3.2.1 Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
a Khái niệm
Nhu cầu VLĐ là số VLĐ mà doanh nghiệp cần có để đảm bảo cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp tiến hành bình thường, liên tục
b Ý nghĩa của việc xác định nhu cầu VLĐ
Một nhiệm vụ đặt ra cho doanh nghiệp là với khối lượng SPSX theo kế hoạch được dự tính theo nhu cầu thị trường, làm thế nào để có một tỷ lệ đúng đắn giữa số VLĐ so với kết quả sản xuất Điều đó có ý nghĩa là làm thế nào để tăng cường được hiệu quả của số VLĐ
bỏ ra Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định nhu cầu VLĐ một cách đúng đắn hợp lý Nhu cầu VLĐ tính ra phải đủ để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục, nhưng đồng thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp lý Có như vậy mới thúc đẩy doanh nghiệp ra sức cải tiến hoạt động SXKD, tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu suất sử dụng VLĐ, củng cố chế độ hạch toán kinh doanh mới đảm bảo quản
Nhu cầu vốn được xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho tính liên tục của quá trình sản xuất của doanh nghiệp doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gây ra những tổn thất như: sản xuất đình trệ không bảo đảm thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để thanh toán với khách hàng kịp thời dẫn đến mất tín nhiệm trong qua hệ mua bán và
do đó không giữ được khách hàng Những khó khăn về tài chính chỉ có thể giải quyết bằng cách vay đột xuất với những điều kiện nặng nề về lãi suất, nếu để quá hạn sẽ trả lợi tức tiền vay cao làm cho lợi nhuận doanh nghiệp giảm sút
Nếu nhu cầu xác định vốn quá cao lại rất tác hại cho bản thân doanh nghiệp gây nên tình trạng ứ đọng vật tư, hàng hoá, lãng phí vốn, VLĐ chậm luân chuyển và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý làm cho giá thành tăng lên ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
Trang 26Bài giảng - PĐT 26
nghiệp
Tóm lại: Việc xác định nhu cầu VLĐ có ý nghĩa rất quan trọng:
- Đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tránh được ứ đọng gây lãng phí
- Là cơ sở để tổ chức nguồn vốn hợp lý và hợp pháp, đáp ứng được nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
- Sử dụng VLĐ tiết kiệm, có hiệu quả và là căn cứ để đánh giá kết quả công tác quản lý VLĐ của doanh nghiệp
c Nguyên tắc xác định nhu cầu vốn lưu động
Khi xác định nhu cầu VLĐ cần quán triệt các nguyên tắc sau:
+ Phải xuất phát từ sản xuất, đảm bảo nhu cầu vốn cho sản xuất một cách hợp lý Do ở
những giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất thì điều kiện sản xuất kinh doanh cũng khác nhau do đó nhu cầu VLĐ cũng khác nhau nên ta phải căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất của doanh nghiệp để xác định vốn cho hợp lý, đảm bảo cho hoạt động sản xuất được tiến hành bình thường và có hiệu quả
+ Thực hành tiết kiệm, cố gắng giảm bớt lượng vốn bị chiếm dùng để có thể đảm bảo nhu cầu sản xuất với số VLĐ thấp nhất Cần phân tích và phát hiện ra những vấn đề tồn tại, để
kịp thời xử lý các khoản vật tư, hàng hoá tồn đọng nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của VLĐ
+ Đảm bảo cân đối với các bộ phận KH khác của doanh nghiệp Kế hoạch VLĐ của
doanh nghiệp cần phải đảm bảo cho việc thực hiện KH cung ứng vật tư, KH tiêu thụ, …
+ Khi xác định VLĐ cần phải có sự tham gia của các đơn vị trực thuộc: Nhằm đảm bảo
tính thực tế của nhu cầu VLĐ
2.3.2.2 Phương pháp xác định nhu cầu VLĐ trong doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình, cần phải xác định nhu cầu VLĐ cần thiết tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh nhất định Trên cơ sở nhu cầu đó về vốn lưu động mà có kế hoạch huy động các nguồn vốn cho phù hợp
Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết có thể áp dụng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp Tuỳ theo điều kiện cụ thể để lựa chọn phương pháp
a Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu VLĐ :
Là phương pháp căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp để xác định nhu cầu từng khoản VLĐ trong từng khâu, trên cơ sở đó tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này có thể thực hiện theo trình tự sau:
- Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ: Vdt
- Xác định chính sách tiêu thụ SP và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng: VPt
- Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp: VPtr
- Tổng hợp và xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp: VNC
V NC = V dt + V Pt - V Ptr
* Xác định VLĐ trong khâu dự trữ (V dt ):
Trang 27Nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ gồm: Nhu cầu VLĐ cho nguyên vật liệu chính(Dn); nhu cầu VLĐ cho các khoản vật tư khác (Dk); nhu cầu VLĐ cho sản phẩm dở dang(Ddd); nhu cầu VLĐ chờ phân bổ(Dpb) ; nhu cầu VLĐ trong khâu lưu thông (Dtp)
Vdt = Dn + Dk + Ddd + Dpb + Dtp
+ Xác định nhu cầu VLĐ cho nguyên vật liệu chính(NVLC): Dn
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp cần tiêu hao 1 lượng rất lớn các loại NVLC, nếu thiếu sẽ làm cho quá trình sản xuất bị gián đoạn ngay nên các loại NVLC không thể cần đến đâu mua đến đó mà luôn cần phải có 1 lượng dự trữ nhất định nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục Số vốn dùng cho dự trữ các loại NVLC được gọi là vốn NVLC
Nhu cầu vốn NVLC (Dn) phụ thuộc 2 nhân tố cơ bản là: Phí tổn tiêu hao bình quân 1 ngày đêm về NVLC trong kỳ kế hoạch (Mn) và số ngày dự trữ hợp lý (Nhl):
1 j
Nkn- Số ngày kiểm nhận: Là số ngày làm các thủ tục kiểm nhận, nhập kho Trong thực tế tính toán ta có thể gộp chung với số ngày hàng đi trên đường
Ncc- Số ngày cung cấp cách nhau: Là số ngày giữa 2 lần cung cấp Số NVLC tính theo
số ngày này dùng để dự trữ trong kho nhằm đảm bảo nhu cầu sản xuất thường ngày trong khoảng thời gian giữa 2 lần cung cấp vì vậy nó còn được gọi là dự trữ luân chuyển thường ngày
Ncb - Số ngày chuẩn bị sử dụng : là số ngày cần thiết để chỉnh lý và chuẩn bị NVL theo
Trang 28Bài giảng - PĐT 28
yêu cầu về mặt kỹ thuật trước khi đưa vào sản xuất Số ngày chuẩn bị sử dụng được xác định theo thời gian cần thiết cho quá trình chỉnh lý và chuẩn bị theo tình hình cụ thể của từng loại NVL Trên thực tế, không phải loại vật liệu nào trước khi đưa vào sản xuất cũng đều phải làm công tác chuẩn bị Bởi vậy, có loại NVL không cần phải xác định số ngày này
Nbh- Số ngày dự trữ bảo hiểm: Là số ngày dự trữ tăng thêm trên số ngày dự trữ luân chuyển thường ngày để đề phòng trường hợp có thể do nguyên nhân nào đó mà NVL không thể cung cấp đều đặn được Xác định số ngày bảo hiểm về mặt khách quan có khó khăn vì không thể nào dự tính trước được 1 cách chính xác tính hình sai hẹn sẽ xẩy ra như thế nào Bởi vậy, chỉ có thể căn cứ vào kinh nghiệm thực tế trước đây của doanh nghiệp và tình hình cung cấp hiện tại để ước tính
Khi xác định số ngày bảo hiểm phải chú ý đến các trường hợp cụ thể sau đây:
Đối với những NVL mua ở xa, số ngày hàng đi trên đường dài, vận chuyển qua nhiều chặng, thì số ngày bảo hiểm nên nhiều và ngược lại
Đối với những NVL có tính chất then chốt và những NVL khan hiếm, số ngày bảo hiểm cũng nên nhiều và ngược lại
Đối với những NVL có thể thay thế được hoặc nếu có cung cấp sai hẹn cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến sản xuất thì số ngày bảo hiểm có thể ít, thậm chí không cần xác định số ngày này
+ Xác định nhu cầu VLĐ cho các khoản vật tư khác :D k
Trong doanh nghiệp các vật tư khác trong khâu dự trữ có rất nhiều, tình hình tiêu hao của mỗi loại cũng không giống nhau Có loại tiêu hao trong sản xuất rất lớn và thường xuyên Ngược lại cũng có loại số lượng tiêu hao trong sản xuất nhỏ và thỉnh thoảng mới dùng đến Do đó không thể áp dụng một phương pháp duy nhất để xác định mà căn cứ vào đặc điểm của từng loại để tính toán nhu cầu vốn cho thích hợp
- Đối với loại dùng nhiều và thường xuyên, có thể áp dụng phương pháp xác định vốn giống như NVL chính;
- Đối với loại giá trị thấp, số lượng tiêu hao không biến động lớn có thể chia từng nhóm để sử dụng phương pháp thích hợp để tính Có thể dùng công thức sau đây:
D k = M k T%
Trong đó:
Dk: Là nhu cầu vốn của loại vật tư nào đó trong khâu dự trữ của năm kế hoạch;
Mk: Tổng mức luân chuyển của loại vât tư khác đang xét trong khâu dự trữ ( tổng mức luân chuyển là tổng mức tiêu hao của loại vật tư đang xét năm kế hoạch);
T%: là tỷ lệ nhu cầu vốn so với tổng mức luân chuyển(thường lấy theo tỷ lệ của năm báo cáo)
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động cho sản phẩm dở dang: Ddd
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình sản xuất diễn ra liên tục Vì vậy trong quá trình sản xuất thường xuyên có một lượng sản phẩm dở dang Doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn nhất định cho số sản phẩm dở dang này Do tính chất phức tạp của quá
Trang 29trình sản xuất làm cho việc xác định nhu cầu vốn ở khâu này trở nên khó khăn và phức tạp Khó khăn ở đây là việc tính thời gian sản xuất và việc phân chia thời gian ấy ra từng giai đoạn đúng theo sự gia tăng của chi phí sản xuất Sự gia tăng ấy không đồng đều trong suốt thời gian sản xuất mà nó thay đổi vào thời điểm nhất định theo quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm Tuy nhiên nhu cầu vốn này nhiều hay ít nói chung phụ thuộc vào 2 nhân tố cơ bản: Phí tổn sản xuất bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch; chu kỳ sản xuất sản phẩm Có thể xác định nhu cầu vốn lưu động cho sản phẩm dở dang theo công thức sau:
D dd = P n C k
Trong đó: Ddd- Là nhu cầu vốn sản phẩm dở dang kỳ kế hoạch
Pn - Là phí tổn sản xuất bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch Phí tổn sản xuất bình quân mỗi ngày tính được bằng cách lấy tổng phí tổn sản xuất chi ra trong kỳ kế hoạch chia cho số ngày trong kỳ kế hoạch Tổng số phí tổn sản xuất chi ra trong kỳ kế hoạch tính được bằng cách nhân sản lượng sản phẩm sản xuất kỳ kế hoạch với giá thành công xưởng đơn vị của từng loại SP Đối với sản phẩm xây dựng, tổng phí tồn sản xuất được xác định theo giá trị dự toán của khối lượng công tác dự kiến thực hiện trong kỳ kế hoạch
Ck Là chu kỳ sản xuất SP Đối với hoạt động xây dựng, chu kỳ sản xuất sản phẩm được thay thế bời chu kỳ thanh toán theo hợp đồng đã ký với chủ đầu tư
+ Xác định nhu cầu vốn chờ phân bổ : D pb
Chi phí chờ phân bổ là những khoản chi phí đã phát sinh thực tế nhưng chưa tính hết vào giá thành kỳ này mà phân bổ dần làm nhiều lần để tránh sự biến động không hợp lý của giá thành phẩm
Chi phí chờ phân bổ có thể gồm:
- Công cụ lao động nhỏ xuất dùng một lần với giá trị lớn và bản thân những công cụ lao động này cũng tham gia từ 1 kỳ kế toán (thường là năm) trở lên
- Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần quá lớn
- Chi phí trong quá trình nghiên cứu, thí nghiệm phát minh sáng chế, cải tiến kỹ thuật
mà phải phân bổ dần nhiều năm cho các đối tượng chi phí
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê
- Chi phí trong thời gian ngừng việc có tính chất thời vụ
- Chi phí tháo lắp và vận chuyển máy móc thi công đến công trường
- Các công trình tạm thời, các khuôn ván, dàn giáo phải lắp dựng, chi phí khác
+
Chi phí chờ phân bổ phát sinh tăng
−
Số dự kiến phân bổ trong năm KH
+ Định mức VLĐ trong khâu lưu thông: D tp
Để đảm bảo cho quá trình cung cấp sản phẩm được thường xuyên liên tục, đòi hỏi các doanh nghiệp phải dự trữ một lượng thành phẩm nhất định Nhu cầu vốn dự trữ thành phẩm được xác định dựa trên cơ sở xem xét quá trình sản xuất và cách thức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Có thể xác định nhu cầu vốn dự trữ thành phẩm theo công thức
Trang 30Bài giảng - PĐT 30
sau:
D tp = Zn N TP
Trong đó:
- Dtp: Là nhu cầu vốn thành phẩm kỳ kế hoạch
- Zn: Là giá vốn hàng bán bình quân mỗi ngày kỳ KH, được tính bằng cách lấy tổng giá vốn hàng bán trong năm kế hoạch chia cho số ngày trong năm (360 ngày)
- NTP : Số ngày dự trữ thành phẩm, là thời gian tính từ khi sản phẩm hàng hoá nhập kho cho đến khi xuất giao cho khách hàng
* Dự kiến các khoản phải thu(V pt ):
V pt = K pt S d
Trong đó:
- Npt : Nợ phải thu dự kiến kỳ kế hoạch;
- Kpt : Thời hạn trung bình cho khách hàng nợ;
- Sd: Doanh thu bán hàng bình quân một ngày kỳ kế hoạch
* Dự kiến các khoản phải trả(V ptr )
Trong kinh doanh, doanh nghiệp có thể mua chịu nguyên vật liệu hay hàng hóa của nhà cung cấp Các khoản nợ phải trả hay mua chịu được xem như là một khoản tín dụng ngắn hạn quan trọng của doanh nghiệp vì thực chất khi được nhà cung cấp chấp nhận cho mua chậm trả cũng có nghĩa là nhà cung cấp đã cấp vốn tín dụng thương mại cho doanh nghiệp
và làm giảm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Việc sử dụng tín dụng thương mại thường có lãi suất ( chi phí sử dụng vốn) cao so với các nguồn vốn khác Vì vậy doanh nghiệp phải xem xét kỹ lưỡng các điều kiện tín dụng
do nhà cung cấp đưa ra và tình hình tài chính của doanh nghiệp để quyết định và dự kiến các khoản phải trả Trên cơ sở đó, có thể dự kiến được khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp theo công thức sau:
Nợ phải trả(V ptr )
=
Kỳ trả tiền trung bình x
Giá trị NVL liệu HH mua vào bình quân một ngày trong kỳ KH ( loại mua chịu)
b Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu VLĐ
Phương pháp này dựa vào kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn
- Một là dựa vào kinh nghiệm thực tế của doanh nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu VLĐ cho doanh nghiệp mình
Việc dựa vào hệ số VLĐ tính theo doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp cùng loại trong ngành, trên cơ sở đó xem xét quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thể qua số doanh thu tiêu thị để tính ra nhu cầu VLĐ cần thiết của doanh nghiệp Đồng thời cần xem xét tình hình cụ thể về mua sắm dự trữ vật tư về sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp để điều chỉnh nhu cầu vốn một cách thích hợp
- Hai là dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở thời kỳ trước của doanh nghiệp để xác định nhu cầu VLĐ cho thời kỳ tiếp theo khi có sự thay đổi về quy mô sản xuất
Trang 31Phương pháp này căn cứ vào số dư bình quân VLĐ và doanh thu tiêu thụ của kỳ trước đồng thời xem xét tình hình thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh và sự cải tiến tổ chức sử dụng VLĐ trong kỳ để xác định toàn bộ nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết Trên cơ sở
đó căn cứ vào tỷ trọng của từng khoản vốn trong tổng số VLĐ của kỳ trước để xác định chi tiết nhu cầu của từng khoản vốn trong từng khâu
Nhu cầu VLĐ có thể được xác định theo công thức sau:
Vnc = VL§ o M 1 (1 +t)
M o
Trong đó:
- Vnc là nhu cầu toàn bộ VLĐ năm kế hoạch;
- VL§o : là số dư bình quân của toàn bộ VLĐ năm báo cáo;
- M1 : Mức luân chuyển của toàn bộ VLĐ năm kế hoạch ( được xác định bằng doanh thu thuần trong kỳ);
- Mo : Mức luân chuyển của toàn bộ VLĐ năm báo cáo;
- t : Tỷ lệ thay đổi ( tăng, giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo
t = ( K1 - K0)/K0 Trong đó: K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo ; K1: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
VD: Một doanh nghiệp có các tài liệu sau: Mức luân chuyển năm báo cáo:
13.620.816.000đ; Mức luân chuyển năm kế hoạch dự tính 20.760.000.000 đ; VLĐ thực tế năm báo cáo là 1.513.424.000 đ và theo thống kê thì VLĐ được phân bổ 44% trong khâu
dự trữ; 36% trong khâu sản xuất và 20% trong khâu thành phẩm Trong năm kế hoạch phấn đấu tăng tốc độ luân chuyển VLĐ 10% Dự tính nhu cầu VLĐ trong năm KH:
Căn cứ vào tài liệu trên ta có :
+ Nhu cầu VLĐ trong năm kế hoạch : 1.513.424.000 x 20.760.000.000 / 13.620.816.000 x ( 1 –10%) = 2.076.000.000 đ
+ Nhu cầu VLĐ trong khâu dự trữ: 2.076.000.000 x 44% =913.440.000 đ
+ Nhu cầu VLĐ trong khâu sản xuất : 2.076.000.000 x 36% =747.360.000 đ
+ Nhu cầu VLĐ trong khâu thành phẩm: 2.076.000.000 x 20% =415.200.000 đ
Sau đó căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và các số liệu có liên quan để tính toán chi tiết các bộ phận của VLĐ
2.3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
2.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
a Tốc độ luân chuyển VLĐ
Tốc độ luân chuyển VLĐ nói lên hiệu quả công tác quản lý và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển VLĐ càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại Để đánh giá tốc độ luân chuyển VLĐ, ta dùng hai chỉ tiêu : Số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển VLĐ :
Trang 32Chỉ tiêu L cho biết :
- 1 đồng VLĐ bình quân tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trừ thuế
- VLĐ trong kỳ quay được bao nhiêu vòng
- Trong kỳ doanh nghiệp đã tiến hành được bao nhiêu chu kỳ SXKD
+ Kỳ luân chuyển bình quân
Kỳ luân chuyển VLĐ cho biết bình quân để quay hết 1 vòng thì VLĐ cần bao nhiêu ngày
Kỳ luân chuyển được tính theo công thức: K = N : L hoặc K = (N.VLĐbq ) : M
Trong đó: N: Số ngày trong kỳ (30; 90 ; 180 ; 270 ; 360 ngày)
Kỳ luân chuyển có thể tính cho toàn doanh nghiệp hoặc tính cho từng bộ phận VLĐ
+ Kỳ luân chuyển bình quân của vốn dự trữ sản xuất: Kdt
- Vdt; VSX ; Vtp: VLĐ trong các khâu dự trữ, sản xuất và thành phẩm;
- Mdt : Mức luân chuyển VLĐ trong các khâu dự trữ; Thường được tính là Tổng phí tổn tiêu hao về NVL trong kỳ;
- MSX : Mức luân chuyển VLĐ trong các khâu sản xuất - Thường tính là giá thành sản xuất;
- Mtp: Mức luân chuyển VLĐ trong các khâu thành phẩm – thường tính là giá thành sản xuất SP xuất bán
+ Khi tính kỳ luân chuyển của từng bộ phận vốn chiếm trong số ngày luân chuyển của toàn bộ VLĐ, ta cần tính đổi theo công thức: Kỳ luân chuyển bình quân đã điều chỉnh của
Trang 33bộ phận vốn thứ i: K’i
K i ’ = K i M i
M
b Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn
Chỉ tiêu nay phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo
Vtk = (M1/360) x (K1 – K0) Trong đó:
Vtk ; Số vốn lưu động có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh hưởng của tốc độ luận chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo;
M1 : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch;
K1;K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu đông kỳ kế hoach và kỳ báo cáo
e Mức doanh lợi VLĐ ( Tỷ suất lợi nhuận VLĐ, Hệ số hiệu quả sử dụng VLĐ, )
+ Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận thuần đạt được trong kỳ chia cho VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
+ Chỉ tiêu này cho biết bình quân cần bao nhiêu đồng VLĐ mới tạo ra được 1 đồng lợi nhuận thuần
Ý nghĩa nâng cao hiệu suất sử dụng VLĐ
* Khi tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ sẽ làm giảm bớt số lượng VLĐ chiếm dùng, tiết kiệm được số VLĐ trong luân chuyển
* Tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh mà không cần tăng số vốn cần sử dụng
* Tạo điều kiện để hạ giá thành và giảm chi phí lưu thông
2.3.3.2 Các biện pháp bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
a Bảo toàn vốn lưu động
* Ý nghĩa và nguyên tắc quản lý VLĐ
Vốn lưu động trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Muốn cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý tối ưu và đồng bộ với nhau, khiến cho
Trang 34Bài giảng - PĐT 34
việc chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi Nếu doanh nghiệp nào có thiếu vốn thì việc chuyển hoá hình thái sẽ gặp khó khăn, số vốn lưu động không luân chuyển được vào quá trình sản xuất cũng do đó bị gián đoạn Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn lưu động phải ánh sự vận động của vật tư Số vốn nhiều hay ít
là phản ánh số lượng vật tư dự trữ ở các khâu nhiều hay ít Nhưng không phải chỉ có thế, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không? Từ đó có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để có biện pháp quản lý tốt vốn lưu động là bộ phận chủ yếu của công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp Quản lý vốn lưu động không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý mà còn có ý nghĩa trong việc hạ thấp giá thành sản phẩm sản xuất, tiết kiệm chi phí, bảo toàn vốn, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thanh toán các khoản công nợ một cách kịp thời Do đó đặc điểm hoạt động của vốn lưu động là luân chuyển nhanh, sử dụng linh hoạt nên có góp phần quan trọng đảm bảo sản xuất ra một khối lượng sản phẩm lớn Vì vậy, kết quả hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp tốt hay xấu một phần lớn là do chất lượng công tác quản lý vốn lưu động quyết định
* Nhiệm vụ quản lý vốn lưu động là kiểm tra thường xuyên tình hình xác định nhu cầu vốn và tình hình tổ chức, các nguồn vốn và phương thức cấp vốn, tình hình chấp hành kỷ luật vay và trả, các khoản thanh toán công nợ
* Trong công tác quản lý vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm thoả mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đồng thời đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả trong công tác quản lý vốn lưu động thường có xuất hiện giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo nhu cầu vốn lưu động lớn cho sản xuất kinh doanh Giải quyết mâu thuẫn này, doanh nghiệp phải tiến hành quản lý, tăng cường hạch toán kinh doanh, đề
ra những biện pháp thích hợp để hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất mang lại hiệu quả kinh
tế cao
- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư, hàng hoá Vốn lưu động biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hoá Luân chuyển vốn lưu động và sự vận động của vật tư kết hợp chặt chẽ với nhau Cho nên quản lý tốt vốn lưu động phải đảm bảo sử dụng vốn trong sự kết hợp với vận động của vật tư Điều đó có nghĩa là tiền chi ra phải có lượng vật tư nhập vào theo một tỷ lệ cân đối, hoặc số sản lượng sản phẩm được tiêu thụ phải đi kèm số tiền thu được về nhằm bù đắp lại phần vốn đã chi ra Có như vậy mới không để xẩy ra tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau
- Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu cầu vốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng các nguồn vốn được huy động Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm của các doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đề ra của mục tiêu kế hoạch Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình cần đến trong quá trình hoạt động kinh doanh,
do đó những kết quả hoạt động của bản thân doanh nghiệp là tiền đề để tiến hành tái sản xuất mở rộng theo kế hoạch Chính vì thế khả năng phát triển trong tương lai của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào chỗ hoạt động trong năm nay đạt kết quả như thế nào Nhưng
Trang 35cũng cần nhấn mạnh rằng khoa họcông chỉ căn cứ vào tài chính hiện có trong ngày hôm nay để kế hoạch hoá mở rộng Điểm xuất phát của kế hoạch hoá tái sản xuất mở rộng là việc tiến hành những dự đoán: Sự phát triển nhu cầu, những thay đổi trong quy trình công nghệ của sản xuất do sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước, những sự cần thiết nhằm mục đích tăng khối lượng sản xuất sản phẩm đang có tín nhiệm trên thị trường, và tổng số lợi nhuận Phải xuất phát từ dự đoán tình hình đó, cần phải tổ chức huy động vốn lưu động để đảm bảo sản xuất liên tục trong điều kiện thay đổi của thị trường để tranh thủ thời cơ đem lại lợi nhuận cao Như vậy quán triệt nguyên tắc này, một mặt bản thân các doanh nghiệp phải chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, mặt khác huy động các nguồn vốn khác bằng các hình thức linh hoạt và sử dụng một cách thận trọng và hợp lý
* Biện pháp bảo toàn vốn lưu động
Quản lý và sử dụng vốn lưu động là khâu quan trọng trong công tác quản lý tài chính Trong đó việc đảm bảo vốn lưu động là vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi DN
Chúng ta đều biết vốn lưu động trong doanh nghiệp được tồn tại dưới dạng vật tư hàng hoá và tiền tệ, sự luân chuyển và sự chuyển hoá thường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động khách quan và chủ quan trong đó có những yếu tố làm cho vốn lưu động của doanh nghiệp bị sút dần:
- Hàng hoá bị ứ đọng, kém phẩm chất, mất phẩn chất hoặc không phù hợp với nhu cầu của thị trường, không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với giá bị hạ thấp
- Sự rủi ro xẩy ra bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Kinh doanh bị thua lỗ kéo dài nên sau một thời kỳ nhất định số vốn bị thiếu hụt vì doanh thu bán hàng không đủ bù đắp vốn lưu động
- Vốn lưu động trong thanh toán bị chiếm dụng lẫn nhau kéo dài với số lượng khá lớn trong khi đồng tiền dần dần bị giảm giá
Vì lẽ đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động bảo toàn vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh được thuận lơị mà thực chất là đảm bảo số vốn cuối kỳ
đủ mua một lượng vật tư hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả tăng lên tức là tái sản xuất giản đơn về vốn lưu động trong điều kiện quy mô sản xuất ổn định
Mặt khác, chúng ta đều biết, vốn lưu động ở các loại hình doanh nghiệp dưới dạng vật
tư, hàng hoá rất khác nhau, sự vận động và luân chuyển nhanh, chậm, dài ngắn khác nhau
và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tác động lẫn nhau, nên mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm cụ thể mà có phương pháp bảo toàn vốn lưu động hợp lý
+ Thời điểm tính bảo toàn vốn cần tiến hành vào cuối năm
+ Căn cứ để xác định giá trị bảo toàn vốn là chỉ số vật giá chung, hoặc chỉ số vật giá của vật tư hàng hoá chủ yếu phù hợp với nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp nho nhà nước công bố
+ Đảm bảo tái sản xuất giản đơn về vốn lưu động
Trang 36Bài giảng - PĐT 36
+ Nguồn đảm bảo lấy từ: Chênh lệch giá kiểm kê tồn kho cuối kỳ của vật tư hàng hoá khi điều chỉnh tăng giá và được ghi tăng vốn lưu động; lợi nhuận, hoặc quỹ dự phòng tài chính của doanh nghiệp
* Các biện pháp nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng đồng thời hạn chế các nguyên nhân làm cho vốn lưu động bị thất thoát, bị ngừng trệ, chậm luân chuyển:
- Định kỳ tiến hành kiểm kê, đánh giá lại toàn bộ vật tư hàng hoá, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, để xác định số vốn lưu động hiện có của doanh nghiệp theo giá trị hiện tại Trên cơ sở kiểm kê đánh giá vật tư hàng hoá mà đối chiếu với sổ sách kế toán để điều chỉnh cho hợp lý
Đối với nhưng DN lớn, việc thường xuyên kiển soát hàng tồn kho có tầm quan trọng đặc biệt Thông qua việc kiểm soát tồn kho giúp cho DN thực hiện dự trữ vật tư hàng hoá đúng chủng loại, không xẩy ra thiếu hoặc thừa vật tư hàng hoá Vốn thiếu hoặc thừa này đều dẫn đến tổn thất trong kinh doanh Cũng thông qua kiểm soát vật tư hàng hoá tồn kho
mà bảo vệ được vật tư hàng hoá bị hư hỏng mất mát, kịp thời phát hiện chất lượng của vật
tư hàng hoá và tính hữu hiệu của quản lý bảo vệ kho tàng
- Những vật tư hàng hoá tồn tại lâu ngày không thể sử dụng được do kém, mất phẩm chất không phù hợp với nhu cầu sản xuất phải chủ động giải quyết, phần chênh lệch thiếu phải sử lý kịp thời bù đắp lại
- Những khoản vốn trong thanh toán vốn bị chiếm dụng cần có biện pháp đôn đốc giải quyết tích cực để thu tiền về nhanh chóng và sử dụng ngay vào SXKD nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Đối với những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài cần tìm biện pháp để loại trừ lỗ trong kinh doanh Một trong những biện pháp tốt để loại trừ lỗ là sử dụng kỹ thuật mới vào cải tiến phương pháp công nghệ để hạ giá thành tăng vòng quay của vốn lưu động Để đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, DN phải biết lựa chọn cân nhắc để đầu tư vốn vào khoản nào vào lúc nào là có lợi nhất, tiết kiệm nhất
Để đảm bảo vốn lưu động trong điều kiện lạm phát, khi phân phối lợi nhuận cho các mục đích tích luỹ và tiêu dùng doanh nghiệp phải dành ra một phần lợi nhuận để bù đắp số hao hụt vì lạm phát và đặt sự bù đắp này trong thứ tự ưu tiên hàng đầu của trình tự phân phối lợi nhuận: Một tình trạng phổ biến trong nhiều doanh nghiệp Nhà nước là không tính đến sự hao hụt vốn do gía cả tăng chung trên thị trường, coi việc giữ được số tuyệt đối về quy mô cuối năm bằng đầu năm là bảo toàn được vốn, dồn lợi nhuận cho các mục tiêu dùng (thưởng phúc lợi) Để bù đắp được sự hao hụt vốn do lạm pháp phải căn cứ vào chỉ
số tăng giá chung trong nên kinh tế và quy mô vốn lưu động thực có cũng như đi vay để dành lợi nhuận ra bù đắp nhay hoặc đưa vào dự trữ tài chính của doanh nghiệp
b Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
+ Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu dự trữ:
-Chọn nhà cung cấp hợp lý để giảm được số ngày hàng đi trên đường, số ngày cung cấp cách nhau, giảm số ngày dự trữ bảo hiểm;
-Tổ chức, lựa chọn các mô hình cung cấp hợp lý để giảm dự trữ luân chuyển
Trang 37thường ngày;
- Kịp thời phát hiện và giải quyết những vật tư ứ đọng quá mức
+ Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu sản xuất:
- Áp dụng công nghệ hiện đại, tổ chức sản xuất và bố trí sản xuất hợp lý để rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm lượng bán thành phẩm và sản phẩm dở dang;
- Tiết kiệm chi phí trong sản xuất;
- Xác định quy mô lô sản xuất hợp lý
+ Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu lưu thông: Bằng cách nâng cao chất lượng
SPSX, làm tốt công tác tiếp thị để rút ngắn số ngày hàng tồn kho; áp dụng các thể thức thanh toán phù hợp để có thể tiêu thụ nhanh nhưng có thể sớm thu hồi vốn; tổ chức tốt công tác ký hợp đồng tiêu thụ
-