1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ xác định nghĩa vụ chung nghĩa vụ riêng của vọ chồng về tài sản và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này 1

14 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn cứ xác định nghĩa vụ chung nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 79,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung về tài sản chung: Khoản 2 điều 28, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản của vợ, chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, th

Trang 1

Mục lục:

A, ĐẶT VẤN ĐỀ………… ……… ……2

B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……… 3

I, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản ……….……… …3

1, Căn cứ xác định ghĩa vụ chung của vợ, chồng về tài sản……… …3

a, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung về cấp dưỡng……… … 3

b, Căn cứ xác đinh nghĩa vụ chung về tài sản chung……….5

2, Căn cứ xác định nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản……… 7

II, Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản……… ………..10

1, Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản……….10

2, Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản……….11

C, KẾT LUẬN……… 12

Trang 2

I, ĐẶT VẤN ĐỀ:

Với người Việt Nam, hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong cuộc sống Con người sống gắn chặt với gia đình, phẩm chất và giá trị của từng người phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình Một gia đình mẫu mực, một gia đình thuận hòa quyết định phần lớn tới bản chất của con người Gia đình hiện nay còn được xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có một

xã hội phát triển và lành mạnh thì cần phải có các gia đình tốt – gia đình văn hóa mới Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua luôn luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luật hôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững

Do tính cộng đồng hợp nhất của quan hệ hôn nhân nên để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của vợ chồng và để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục các con….thì cần phải có tài sản, tiền bạc, sản nghiệp của vợ, chồng Vì thế, bên cạnh đời sống tình cảm, sự yêu thương gắn bó giữa vợ và chồng không thể không nói đến vấn đề tài sản của vợ chồng Chính vì thế, sau đây tôi xin làm rõ những vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng qua chủ đề bài viết: “căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vọ, chồng về tài sản và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Trang 3

B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng của

vợ, chồng về tài sản:

1, Căn cứ xác định ghĩa vụ chung của vợ, chồng về tài sản:

a, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung về cấp dưỡng:

Khi hôn nhân đang tồn tại, vợ chồng có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân được đặt ra Trong trường hợp vì lý do nào đó nên họ không cùng chung sống mà một trong hai bên

ốm đau, tàn tật, có khó khăn, túng thiếu cần được chăm sóc nhưng bên kia không quan tâm chăm sóc Nếu người có khó khăn túng thiếu yêu cầu được cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong hôn nhân mới được đặt ra

- Vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau khi ly hôn Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn chỉ xảy ra khi thỏa mãn hai điều kiện sau:

+, Một bên khó khăn, túng thiếu, có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng

+, Bên kia có khả năng để cấp dưỡng

Đây là hai điều kiện cần và đủ để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì nghĩa vụ cấp dưỡng không được đặt ra

Bên túng thiếu yêu cầu được cấp dưỡng phải là trường hợp do ốm đau, già yếu, không có khả năng lao động và cũng không có tài sản để sinh sống Đối với những người có khó khăn, túng thiếu vì lười biếng không chịu lao động khi còn

có khả năng lao động hoặc khi nghiện ngập, cờ bạc, hoang phí thì không được cấp dưỡng

Trang 4

- Người có khả năng để cấp dưỡng là người có khả năng về kinh tế, có sức khỏe, có việc làm ổn định và có thu nhập vừa đảm bào cuộc sống vừa thực hiện được nghĩa vụ cấp dưỡng Nếu người phải cấp dưỡng có khó khăn hoặc nếu phải cấp dưỡng sẽ đe dọa đến đời sống của chính họ thì không coi là họ có khả năng để cấp dưỡng và khi đó thì nghĩa vụ cấp dưỡng không được đặt ra

- Về mức cấp dưỡng giữa vợ và chồng: Pháp luật quy định cụ thể một mức cấp dưỡng chung và cho phép vợ, chồng tự thoa thuận và tòa án nhân dân công nhận sự thỏa thuận đó Trong trường hợp vợ chồng không thể tự thỏa thuận được thì tòa án nhân dân sẽ quyết định Khi quyết định mức cấp dưỡng, Tòa Án Nhân Dân phải xem xét hợp lý đến khả năng của người phải cấp dưỡng và mức

độ túng thiếu của người được cấp dưỡng để có quyết định mức cấp dưỡng phù hợp

- Về thời hạn cấp dưỡng: Luận hôn nhân và gia đình 2000 không quy định về thời gian cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mà tùy từng trường hợp, các bên có thể thỏa thuận hoặc tòa án quyết định thời hạn cấp dưỡng trong trường hợp chưa hết thời hạn cấp dưỡng mà các bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định nhưng nếu bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác hoặc người được cấp dưỡng được chấm dứt Tòa án Nhân Dân có thể ra quyết định tạm ngừng hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng khi có yêu cầu

Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn thông thường khi thực hiện theo hàng tháng hoặc theo thời vụ Trong trường hợp cụ thể, nếu các bên thỏa thuận được thì có thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần Xét trên thực tế, nghịa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn thực hiện một lần là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý của vợ, chồng khi đã ly hôn

Trang 5

b, Căn cứ xác định nghĩa vụ chung về tài sản chung:

Khoản 2 điều 28, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản của

vợ, chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa

vụ chung của vợ, chồng” Nhu cầu đời sống chung của gia đình bao gồm các lợi ích về tinh thần, vật chất của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình Tài sản chung của vợ, chồng là cơ sở kinh tế nhằm đáp ứng những lợi ích của vợ, chồng và các thành viên gia đình Tính tất yếu phải có tiền bạc, tài sản chung của

vợ, chồng để đảm bảo cho gia đình tồn tại và phát triển; bảo đảm nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng; nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái…

Theo khoản 2 điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản chung của

vợ, chồng phải được bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng Cần xác định nghĩa vụ nào là nghĩa vụ chung của vợ chồng thì khối tài sản chung của

vợ chồng thì khối tài sản chung đó mới phải “ gánh chịu” cho các nghĩa vụ chung

đó Cho đến nay các văn bản quy định, hướng dẫn, áp dụng luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn bỏ qua vấn đề này

Cuộc sống chung của vợ chồng và những nhu cầu đời sống chung của gia đình đòi hỏi vợ chồng phải có mối quan hệ (giao dịch) với những người khác và những phí tổn về vật chất như tiền bạc, tài sản…để đáp ứng cho quyền lợi của vợ chồng và gia đình như cơm, áo, gạo, tiền…Nhiều khi, tài sản chung của vợ, chồng không đủ đáp ứng với quyền lợi của gia đình, vợ, chồng đã phải ‘vay, mượn” tiền bạc, tài sản của người khác vì nhu cầu của gia đình Đó chính là những khoản nợ mà vợ, chồng phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho người chủ nợ Khối tài sản cộng đồng (tài sản chung vợ chồng) phải đảm bảo cho các món nợ

đó Theo nguyên tắc, nếu là nợ chung thì cả vợ, chồng phải có nghĩa vụ trả nợ (có thể trích từ khối tài sản chung của vợ, chồng hoặc xác định nghĩa vụ của cả hai

vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm chi trả khoản nợ đó), ngược lại, nếu vợ, chồng vay nợ sử dụng vào mục đích riêng, bảo đảm cho nhu cầu riêng thì người

Trang 6

vợ, chồng đó phải có nghĩa vụ thanh toán bằng tài sản riêng (hoặc phần tài sản của người vợ, chồng đó trong khối tài sản chung của vợ, chồng khi có yêu cầu, nếu vợ chồng không có tài sản riêng), mà không buộc người vợ, chồng kia phải liên đới trách nhiệm

Thực tế cho thấy, vấn đề phân biệt nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng là rất khó khăn trên cơ sở đó để quy kết nghĩa vụ chung của vợ, chồng hay trách nhiệm

cá nhân của vợ, chồng Cuộc sống vợ, chồng rất tế nhị và phức tạp, đặc biệt đối với gia đình truyền thống phương Đông Đời sống vợ chồng chủ yếu là sự gắn kết tình cảm yêu thương, gắn bó “trăm năm hạnh phúc” giữa vợ chồng, vấn đề tiền bạc, tài sản thường bị “xem nhẹ” Tuy nhiên, khi có tranh chấp (như ly hôn) lại rất gay gắt và phức tạp, thực tiễn áp dụng luật giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ, chồng ở nước ta nhiều năm qua đã chứng minh điều đó Có trường hợp món nó đó do một bên vợ, chồng vay hoặc cả hai vợ, chồng cùng đi vay, nhưng chỉ có một bên vợ, chồng kí vào giấy vay nợ Khi có tranh chấp, việc xác định

“nợ chung” hay “ nợ riêng’ giữa vợ chồng với chủ nợ thường gặp nhiều khó khăn

Một giải pháp đã được Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (điều 25) đặt ra, đó là:

“ Vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Quy định này nhằm quy kết nghĩa vụ chung của cả 2 vợ, chồng đối với các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện vì nhu cầu thiết yếu của gia đình (nghĩa là tài sản chung của vợ chồng được đảm bảo cho các giao dịch hợp pháp dù chỉ có một bên vợ, chồng thực hiện vì lợi ích gia đình) Như vậy, nếu một bên vợ, chồng vay mượn nhằm đáp ững nhu cầu thiết yếu của gia đình (như ăn, ở, học hành, chữa bệnh) thì món nợ đó được đảm bảo thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng, nghĩa là cả hai vợ chồng đều có chung nghĩa vụ

Trang 7

trả món nợ đó Tuy nhiên cần phải xác định vợ, chồng vay nợ có nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hay không và nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình bao gồm những gì? Luật và những văn bản hướng dẫn áp dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quy định và hướng dẫn cụ thể về vấn

đề này

2, Căn cứ xác định nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản:

Vợ, chồng với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng đó một cách độc lập, không bị chi phối bởi ý chí của người chồng, vợ kia (trừ trường hợp được quy định tại khoản 5 điều

33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Đồng thời, theo luật định, vơ, chồng cũng phải chịu trách nhiệm (thực hiện nghĩa vụ) đối với các hành vi của vợ, chồng liên quan tới tài sản riêng của mỗi bên

- Thứ nhất, theo quy định tại khoản 4 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000, “tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” Nói cách khác, trong trường hợp cuộc sống chugn của gia đình gặp khó khăn, tài sản chung không đủ đảm bảo thì vợ, chồng có nghĩa vụ sử dụng, đóng góp tài sản riêng của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu đó của gia đình, bảo đảm cuộc sống của vợ chồng và các con Nghĩa vụ này của vợ, chồng xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích chung của gia đình

- Thứ hai, theo khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì

“ nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó”

Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng (còn gọi là nợ riêng của vợ, chồng) phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác, sử dụng vào mục đích cá

Trang 8

nhân, mà không vì lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định (nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái mà vợ, chồng phải thực hiện) Như vậy, theo quy định của vợ, chồng phải bằng tài sản riêng của mình để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

+, Một là, nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình

+, Hai là, nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác trong thời kì hôn nhân sử dụng vào mục đích riêng, không đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và lợi ích chung của gia đình

Các khoản nợ trên đây vợ, chồng vay từ trước hoặc trong thời kì hôn nhân

đã chỉ bảo đảm cho quyền lợi riêng của vợ, chồng Vì vậy, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đó bằng tài sản riêng của mình, không thể buộc người chồng,

vợ kia phải liên đới thực hiện các loại nghĩa vụ này Nếu tài sản riêng không đủ trả nợ thì phải trích phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung của vợ, chồng để trả nợ (theo điều 18 Luật hôn nhân và gia đình

+, Ba là, nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nợ phát sinh khi vợ, chồng đã tiến hành khai thác các hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân mà vợ, chồng không có thỏa thuận những hoa lợi, lợi tức đó vẫn thuộc tài sản riêng của mỗi người

Quá trình quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân bằng các khoản chi phí mà vợ, chồng vay của người khác, theo nguyên tắc, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản riêng của mình

+, Bốn là, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi vợ, chồng là người quản lí di sản thừa kế mà đã có hành vi thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm

Trang 9

hư hỏng, mất mát di sản (khoản 3 điều 12 nghị định 70/2001/NĐ – CP ngày 3/10/2001) Trong trường hợp này, những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hóa và có quyền yêu cầu chia tài sản; người vợ, chồng còn sống mà quản lý di sản đó có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho những người thừa kế khác theo quy định của pháp luật

+, Năm là, các khoản nợ phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân vợ, chồng như các khoản chi phí cho con riêng của mình; hoặc các chi phí cho người mà vợ, chồng là giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật dân sự và Luật hôn nhân và gia đình

+, Sáu là, nghĩa vụ cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiện liên đới với các thành viên trong gia đình theo quy định của chương V Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Trong quan hệ gia đình, vợ, chồng với tư cách là ông, bà, cha, mẹ, con, chau, anh, chị, em phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các thành viên khác trong gia đình theo quy định tại điều 47 đến 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

+, Bảy là, nghĩa vụ bồi thường khoản tiền cấp dưỡng mà vợ, chồng là người đước giao quản lý nhưng đã làm tiêu tán hoặc sử dụng không đúng mục đích +, Tám là, nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ, chồng đã có hành vi tiến hành các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ, chồng hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình (vi phạm khoản 3 điều

28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

+, Chín là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật

Về nguyên tắc, đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh trên đây, vợ, chồng có nghĩa vụ phải thanh toán, bồi thường bằng tài sản riêng của mình; nếu tài sản không có hoặc không đủ thì trích chia phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ, chồng để thực hiện nghĩa vụ Cũng có thể, nghĩa vụ tài

Trang 10

sản của vợ, chồng được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng thỏa thuận

II, Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghĩa vụ chung

và nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản:

1, Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản:

Theo các quy định tại điều 25, khoản 2 điều 28 và khoản 3 điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng chưa được luật định cụ thể

Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (Điều 25), luật cần dự liệu “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình “bao gồm các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của các thành viên trong gia đình Luật cần dự liệu cụ thể (bổ sung khoản 2 điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) về tài sản chung của vợ chồng được bảo đảm thực hiẹn các nghĩa vụ chung bao gồm:

- Các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình

- Các khoản nợ liên quan đến việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ, chồng

- Các khoản nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình

Ngày đăng: 19/09/2023, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, luật sư – thạc sĩ Nguyễn Văn Cừ, thạc sĩ Ngô Thị Hường, nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
1, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân Khác
2, Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nguyễn Văn Cừ, tạp chí luật học năm 2002 Khác
3, Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong luật hôn nhân và gia đình, Nguyễn Hồng Hải, tạp chí luật học năm 1998 Khác
5, Nguyên lý và thực hành Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, thạc sĩ luật Nguyễn Tiến, luật gia Quốc Tuấn, tủ sách khoa học pháp lý Khác
6, Chế độ tài sản của vợ, chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ, nhà xuất bản tư pháp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w