Sở dĩ phật giáo có sức lan truyền trong nhân dân và sức sống nh vậy là do Phật giáo không những đã có những phát hiện tài tình về tôn giáo, trở thành tiếng nói đồng cảm với nhân dân tầng
Trang 1đề cơng
Lời nói đầu……… 2
I Tính triết học trong Phật giáo……… 3
1 Sự xuất hiện của Phật giáo……… 3
2 Tính triết học trong Phật giáo……… 4
a.Tính triết học đợc thể hiện qua ba phạm trù chính của Phật giáo…… 4
* “Duyên khởi”………4
* “Vô ngã”……… 4
* “Vô thờng”……… 5
b.Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phật giáo………… 6
* “Khổ đế”……… 6
* “Nhân đế”……… 6
* “Diệt đế”……… 7
* “Đạo đế”……… 7
II Sự ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam……… 8
1 Thời gian và con đờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam……… 8
2 Sự ảnh hởng của Phật giáo đến đời sống xã hội ở Việt Nam………… 9
a Sự ảnh hởng tích cực……… 10
* Về chế độ xã hội……… 10
* Về đạo đức t tởng……… 11
* Về phong tục tập quán……… 13
* Về văn hoá……… 14
b Những hạn chế……… 16
3 Quan điểm của Đảng ta hiện nay……… 17
Kết luận……… 18
Tài liệu tham khảo………19
Lời nói đầu
Trớc đây đã từng có quan điểm cho rằng Hy Lạp cổ đại là cái nôi duy nhất của nền Triết học thế giới Nhng ngày nay nhờ có sự đi sâu nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng không chỉ có Hy Lạp cổ đại mà ấn
Trang 2Độ cổ đại và Trung Hoa cổ đại cũng đều là những cái nôi của nền Triết học thế giới Có thể nói rằng nếu phơng Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy
Những t tởng triết học, những triết lý tôn giáo của ấn Độ nh đạo Phật,
đạo Jaina, đạo Hindu… đã từng tỏa sáng tới nhiều quốc gia trên thế giới Phật giáo là một trào lu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ
VI trớc C.N ở miền Bắc ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa
ấn Độ và Nêpan bây giờ Sở dĩ phật giáo có sức lan truyền trong nhân dân và sức sống nh vậy là do Phật giáo không những đã có những phát hiện tài tình
về tôn giáo, trở thành tiếng nói đồng cảm với nhân dân tầng lớp dới, mà trong nội dung chính của Phật giáo còn đã thể hiện đợc những nội dung của triết học, làm cơ sở cho sự phát triển của triết học sau này, đặc biệt là triết học về con ngời
ở Đông-Nam á, trong đó có Việt Nam, Phật giáo đã đợc truyền bá sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân từ những năm đầu kỷ nguyên và sự
ảnh hởng của nó đối với đời sống nhân dân ta ngày nay còn khá sâu đậm Tại sao Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn, tình cảm, trong phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộc Việt Nam nh vậy? Để có đợc câu trả lời, chúng ta sẽ cùng xem xét vấn đề đợc đề cập tới trong phạm vi bài
viết này: “Tính triết học trong Phật giáo và sự ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam.”
i tính triết học trong phật giáo.
1 Sự xuất hiện của Phật giáo.
Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đờng giải thoát con ngời khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nô lệ ấn Độ Phật giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trớc C.N ở miền Bắc ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ và Nêpan bây giờ
Ngời sáng lập ra đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Tất Đạt
Đa họ là Cù Đàm con vua Tịnh Phạn dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Ca-ti-la-vệ Phật Thích Ca sinh ngày mồng 8 tháng 4 năm 563 trớc C.N và mất năm 483 trớc C.N Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vơng giả đi
tu luyện tìm con đờng diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh Sau 6 năm liền tu
Trang 3luyện, Tất Đạt Đa đã “ngộ đạo”, tìm ra chân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” Tất Đạt Đa đã trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni Khi đó Ngài vừa đúng 35 tuổi
T tởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn, thể hiện trong một khối lợng kinh điển rất lớn, gọi là “Tam tạng” gồm
ba bộ phận: Tạng kinh- ghi lời Phật dạy; Tạng luật- gồm các giới luật của
đạo Phật; Tạng luận- gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
Trong quá trình phát triển về sau của đạo Phật, trong Phật giáo đã hình
thành hai tông phái chính là phái Tiểu thừa và phái Đại thừa Điểm khác nhau cơ bản giữa hai phái này là: Phái Tiểu thừa có thái độ chủ yếu là thụ
động tìm cách trốn tránh đau khổ do nghiệp lực và nhân sinh gây ra bằng
cách chạy sang cõi khác; Phái Đại thừa có thái độ tích cực, đơng đầu với
những khổ nạn để thực hiện lời thề nguyện và thực hành Đạo của Bồ tát để
đạt đợc cảnh giới Phật Trong khi mục đích của phái Tiểu thừa là sự nỗ lực hoàn thiện của một cá thể thì mục đích của phái Đại thừa là cải thiện toàn xã hội và cứu vớt toàn chúng sinh Nhng cho dù hai phái Tiểu thừa và Đại thừa
có một số điểm khác nhau thì hai phái này vẫn trung thành và tuân theo những giáo lý và mục đích cơ bản của Phật giáo, trên cơ sở đó làm cho Phật giáo có sự phát triển phong phú hơn, làm cho tôn giáo này trở nên gần gũi,
dễ hoà nhập đối với dân chúng hơn, đợc truyền bá rộng rãi hơn
2 Tính triết học trong Phật giáo.
T tởng triết học Phật giáo nguyên thuỷ chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng chất phác đợc thể hiện rõ nét nhất qua ba phạm trù và bốn chân lý của Đạo Phật
a Tính triết học đợc thể hiện qua ba phạm trù chính của Phật giáo.
Phật giáo phủ định “tinh thần vũ trụ siêu nhiên” (Bratman) cũng nh phủ nhận “linh hồn” hay cái “tôi” (atman) và đa ra quan niệm “Duyên khởi”,
“Vô ngã”, “Vô thờng ” Đây chính là ba phạm trù chính của Phật giáo
* Duyên khởi“ ”: Phật giáo cho rằng tất cả các sự vật, hiện tợng tồn tại trong vũ trụ, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, đều không thoát ra khỏi
sự chi phối của luật nhân duyên Vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội tụ nhân duyên mà thành ra “có” (tồn tại) Cái nhân nhờ có cái duyên mới
Trang 4khác lại nhờ có duyên mà thành ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hoá hoá mãi Nh vậy, t
t-ởng triết học trong phạm trù “Duyên khởi” của đạo Phật đã chỉ rõ rằng
những cái gì phù hợp với nhau sẽ thúc đẩy nhau phát triển, sinh sôi, nảy nở, ngợc lại những cái gì không phù hợp sẽ bị huỷ diệt, tàn phá
* “Vô ngã”: Phật giáo cho rằng ngay bản thân sự tồn tại của thực thể
con ngời chẳng qua cũng là do nhân duyên kết hợp và đợc tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn Cái tôi sinh lý, tức thể xác gọi là sắc gồm: địa, thủy, hoả, phong, tức là cái có thể cảm giác đợc Cái tôi tâm lý, tinh thần, tức là tâm gọi là danh, với bốn yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình chất là: Thụ, cảm thụ
về khổ hay lạc đa đến sự lãnh hội với thân hay tâm; Tởng tức suy nghĩ, t t-ởng; Hành tức ý muốn thúc đẩy hành động; Thức tức là sự nhận thức, phân biệt đối tợng tâm lý, phân biệt ta là ta…Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn,
do nhân duyên hợp thành mỗi con ngời cụ thể có danh sắc Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ uẩn- Có nghĩa khi nào ta từ bỏ đợc cái tôi thì sẽ trở về đợc với bản chất
Nh vậy rõ ràng rằng phạm trù “Vô ngã” trong Phật giáo muốn nói đến
bản chất của sự vật, hiện tợng (trong đó có cả con ngời) nằm ngay trong chính bản thân sự vật chứ không phải ở đâu xa, không phải do một lực lợng siêu nhiên, thần thánh nào tạo ra cả
* “Vô thờng”: Quan điểm “vô ngã” của Phật giáo gắn liền với quan
điểm “vô thờng” Vô thờng nghĩa là không vĩnh hằng, luôn luôn biến đổi Phật giáo quan niệm rằng muôn vật sinh ra, tồn tại, rồi mất đi (sinh, trụ, hoại, diệt), dẫu có trong khoảng thời gian dài thì so với thời gian vô tận cũng chỉ là trong chốc lát
Nh vậy, qua phạm trù “Vô thờng” Phật giáo đã thể hiện đợc cái nhìn
mang tính biện chứng: Không có cái gì đứng im một chỗ, giữ nguyên một chỗ mà mọi sự vật luôn luôn biến chuyển, thay đổi theo quy luật sinh, trụ, hoại, diệt
Có thể nói rằng, với ba phạm trù chính “Duyên khởi”, “Vô ngã”, “Vô thờng” của Phật giáo, thời kỳ đầu Phật giáo đã chứa đựng đầy đủ tính duy
vật và tính biện chứng
Trang 5b Tính triết học đợc thể hiện qua bốn chân lý của Phật giáo.
Khi nghiên cứu về Phật giáo, chúng ta còn cần phải chú ý đến bốn chân lý của đạo Phật (Tứ diệu đế) Bốn chân lý lớn này của Phật giáo đã thể hiện đợc quan niệm về nhân sinh quan và con đờng cứu khổ của đạo Phật
* “Khổ đế”: Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ Cuộc sống nhân
sinh không có gì khác ngoài sự khổ đau, ràng buộc, hệ lụy, không có tự do
Đạo Phật phân chia nỗi khổ của con ngời ra làm tám loại (Bát khổ): Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Thụ biệt ly (yêu thơng nhau mà phải chia lìa), Oán tăng hội (oán ghét nhau mà phải sống với nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt đợc), và Ngũ thụ uẩn.
“Khổ đế” là sự phát hiện tơng đối đầy đủ của Phật giáo về nỗi khổ đau
của con ngời, vì thế Phật giáo đợc coi nh một tiếng nói đồng cảm với tầng lớp dới Có lẽ cũng chính vì lý do đó mà nó có sức lan truyền nhanh trong nhân dân Tuy nhiên, dới góc độ triết học đó là cái nhìn thiếu toàn diện, nó chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, do đó nó chỉ là tiếng nói đồng cảm chứ nó không thể là động lực kích thích con ngời ta vơn lên
* “Nhân đế”: Phật giáo không chỉ phát hiện ra nỗi khổ đau của con
ngời mà còn tìm ra nguyên nhân của những nỗi khổ đau của con ngời Phật
giáo cho rằng có mời hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của con ngời- thập nhị nhân duyên: Vô minh (không sáng suốt, ngu tối); Hành (tri thức); Thức (trí tuệ); Sắc (bản ngã); Lục nhập – xúc (cảm xúc), thụ (vui buồn), ái (say
mê), thủ (muốn giữ), hữu (ý thức tồn tại), sinh, lão, tử Chuỗi này đợc xác lập
từ sinh duyên (sinh, lão, tử); từ sinh, lão, tử mà có ý thức về sự tồn tại của mình (hữu duyên); do đó mà muốn chiếm đoạt, muốn nắm giữ (thú); ý muốn dẫn đến say mê, ớc muốn (ái); từ ớc muốn say mê gây ra tình cảm vui buồn (thụ); do có tình cảm vui buồn mà lục trần (6 giặc) mới nhập vào con ngời (xúc); do cảm xúc trần tục này mà thể xác mê muội, chỉ nghĩ về bản thân mình (sắc); thể xác mê muội thì trí tuệ không sáng suốt (thức); trí tuệ không sáng suốt thì không thể có tri thức đúng đắn (hành)
Qua chân lý “Nhân đế” Phật giáo đã tìm ra đợc những nguyên nhân
dẫn đến những nỗi khổ đau của con ngời Tuy nhiên đây cũng là một cái nhìn thiếu toàn diện, bởi vì những nguyên nhân mà Phật giáo nêu ra còn là
động lực thúc đẩy con ngời ta phấn đấu, vơn lên lao động trong cuộc sống, là
động lực thúc đẩy phát triển xã hội, phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật
Trang 6* “Diệt đế”: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đau có thể tiêu diệt để đạt tới trạng thái “Niết bàn” Diệt đế là lần theo thập nhị nhân duyên, tìm ra cội
nguồn của nỗi khổ và ái dục, dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc mọi hình thức đau khổ, đa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chớng, luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết
bàn Có ba biện pháp hoặc ba bậc ngăn dục từ thấp đến cao Đó là Giới,
Định, thiền Giới là tự răn mình, tự kiềm chế theo quy định cấm của nhà Phật
nh cấm sát sinh, ăn trộm, tà dâm, nói dối, uống rợu, có của riêng, bạo lực v.v…Định là trạng thái yên nghỉ trong t tởng, vô cảm để cắt đứt quan hệ với
ngoại cảnh Thiền là trạng thái sáng suốt của kẻ đã diệt đợc dục bởi “giới” và
“định”, đạt tới “bát nhã”, tới trạng thái vô ngã, vô thức h không tuyệt đối, tới
thờng trụ, tới chân tâm Từ biện pháp chung, Phật giáo đi tới đề ra phơng
pháp cụ thể cho nhận thức Đó là Đạo đế.
* “Đạo đế”: Đạo đế gồm Bát chính đạo, đó là:chính kiến (thấy mục
đích đúng đắn, thấy cái đúng); chính t (suy nghĩ đúng đắn không lẫn lộn); chính ngữ (lời nói ngay thẳng); chính nghiệp (không làm hại ngời khác); chính mệnh (không dục vọng); chính tinh tiến (rèn luyện không biết mệt mỏi); chính niệm (có niềm tin đúng đắn); chính định (tập chung t tởng).
Nh vậy qua ba cặp phạm trù và bốn chân lý của đạo Phật, Phật giáo đã thể hiện đợc những mặt tích cực và những hạn chế của nó
Mặt tích cực của Phật giáo là đã phủ định thợng đế Bàlamôn, phủ
định chế độ đẳng cấp, phủ định thuyết khổ hạnh và chủ trơng hiến tế để giải thoát của đạo Bàlamôn, đồng thời chủ chơng bình đẳng, bác ái, từ bi, đề cao
địa vị con ngời, coi Phật là tâm, là sáng tỏ, là giác ngộ, là có thể đạt tới đợc
Về mặt phơng pháp luận và nhận thức luận, Phật giáo đã thể hiện đợc những yếu tố duy vật và t tởng biện chứng tự phát trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà hạt nhân của nó là luật nhân quả tính vô thờng, sự kết hợp giữa nội tâm và ngoại cảnh gây ra nỗi khổ Có thể nói rằng Phật giáo là
sự phát hiện tài tình không những chỉ về tôn giáo mà nó còn chứa đựng cả những nội dung của triết học, làm cơ sở cho sự phát triển của triết học sau này, đặc biệt là triết học về con ngời Phật giáo đã góp phần làm cho xã hội
có đời sống tốt đẹp hơn, ngời với ngời đối với nhau thân ái hơn
Tuy nhiên phật giáo cũng có những mặt hạn chế của nó
Mặt hạn chế của Phật giáo là tính ảo tởng do bản chất Phật giáo là
duy tâm chủ quan, chỉ thấy khổ có tính chất sinh lý, sinh là đau khổ, Phật
th-ơng ngời nhng phủ nhận đời sống, tách con ngời khỏi cuộc sống, diệt dục để
Trang 7đạt dục vọng cao nhất v.v… Hạn chế trong t tởng của Phật giáo là còn mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trơng “xuất thế”, “siêu thoát”
có tính chất duy tâm, không tởng về những vấn đề xã hội Nh vậy hạn chế của Phật giáo chính là ở chỗ Phật giáo thiếu tính toàn diện, thiếu sự kích thích con ngời ta vơn lên trong cuộc sống, làm cho con ngời ta dễ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, thậm chí ngay cả khi cuộc sống đó còn nhiều bất công
ii Sự ảnh hởng của phật giáo ở việt nam.
1 Thời gian và con đờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam.
Ngày nay, căn cứ vào các tài liệu và các lập luận khoa học của nhiều học giả, giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã đợc truyền vào Việt Nam rất sớm, vào khoảng từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III sau công nguyên
Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo nhiều con đờng khác nhau, mang nhiều màu sắc địa phơng Nhng có hai con đờng chính Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam: Sự du nhập từ phía Tây và sự du nhập từ phía Bắc
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam theo con đờng từ phía Tây, thông qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia Theo con đờng này, Phật giáo đã
du nhập chủ yếu vào miền Nam Việt Nam, mà chủ yếu là tông phái Tiểu thừa Theo tông phái này, ngời tu hành phải chịu khổ hạnh nhiều hơn, họ cố
gắng giữ những giáo lý nguyên thủy của Phật giáo cổ đại Những ngời tu hành của tông phái này cho rằng họ càng tu hành khổ ải bao nhiêu thì càng
dễ đắc đạo bấy nhiêu; họ cần phải sống cuộc sống khổ cực của chúng sinh thì mới hiểu rõ đợc nỗi khổ của chúng sinh
Con đờng thứ hai Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam là từ phía Bắc,
qua Tây Tạng, Trung Hoa Theo con đờng này chủ yếu là phái Đại thừa và
chủ yếu là du nhập vào miền Bắc Việt Nam Những ngời tu hành theo tông
phái Đại thừa có xu hớng gắn bó với cuộc sống hơn Theo họ làm thế nào để
cứu chúng sinh thoát khỏi khổ ải những ngời tu hành không nhất thiết phải chịu mọi cực hình khổ đau, mà Phật là ngay tại tâm của mỗi ngời, ai cũng có thể trở thành Phật nếu nh có cái tâm hớng Phật
Tuy Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo những con đờng khác nhau
và có những tông phái khác nhau, nhng tất cả đều trung thành với t tởng của
Đạo Phật Thích Ca Ngày nay ở nớc ta đang có xu hớng hoà hợp giữa các
Trang 8tông phái với nhau, thống nhất theo sự chỉ đạo chung của Hội Phật giáo Việt Nam
2 Sự ảnh hởng của Phật giáo đến đời sống xã hội ở Việt Nam.
Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam và đã trở thành một phần của bản sắc dân tộc Trong bài xã
luận của tạp chí “Phật giáo Việt Nam” đã viết: Trong tâm hồn dân tộc Việt“
Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Hèn gì mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau nh bóng với hình Đã là viên đá nền tảng cho văn hoá dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện Ngày nay những hoàng nhoáng của một nền văn minh vật chất đã làm mờ mắt của một số đông ngời, nhng nền tảng cơ bản của nền văn hoá dân tộc vẫn đang còn bền chặt, khiến cho ngời Việt Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn x-a…”
Thật vậy, Đạo Phật đã ảnh hởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của ngời Việt Nam Tuy nhiên sự ảnh hởng đó cũng có tính hai mặt của
nó Đó là sự ảnh hởng mang nhiều yếu tố tích cực tuy vẫn còn có những mặt hạn chế
a) Sự ảnh hởng tích cực.
* Về chế độ xã hội:
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã tồn tại dới nhiều chế độ xã hội khác nhau Dới bất cứ chế độ xã hội nào Phật giáo cũng đều thể hiện đợc sự ảnh hởng của nó với những sắc thái khác nhau
ở thời Đinh, Lê, Lý, Trần, đặc biệt là thời Lý, Trần Phật giáo đã giữ vị trí tuyệt đối, đợc coi là Quốc giáo Nhà s đợc mời làm việc nớc, làm cố vấn cho nhà vua Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền s Việt Nam tham gia vào chính sự: Thứ nhất, họ là những ngời có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi nên thấu hiểu đợc nỗi đau khổ của một dân tộc bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang; Thứ hai, các thiền s không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên đợc các vua tin tởng; và thứ ba là các thiền s không cố chấp vào thuyết trung quân nh các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua nào đem lại hạnh phúc cho dân chúng
Trang 9Đến thể kỷ 20, Phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội nh cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu
Sau này trong thời kỳ diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, Phật giáo đã có ảnh hởng khá sâu rộng trong đời sống tinh thần ở miền Nam Việt Nam Vào thời Diệm, Thiệu (1959-1975) các tăng ni và Phật tử miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hoà bình và độc lập dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật giáo và chính quyền Những ngọn lửa tự thiêu của các thiền s yêu nớc nh đã thổi bùng lên ngọn lửa căm thù và khí thế sôi sục đấu tranh dành độc lập tự do của nhân dân ta Đã có biết bao tấm gơng hy sinh của các nhà s yêu nớc, đã
có biết bao những ngôi chùa đã trở thành nơi trở che nuôi dấu cán bộ cách mạng Có lẽ cuộc kháng chiến của chúng ta dành đợc thắng lợi hoàn toàn nh vậy cũng là nhờ một phần đóng góp đáng kể của các tăng ni Phật tử yêu nớc
Đến nay ta thấy tinh thần nhập thế đó cũng không ngừng phát huy, đó
là sự có mặt của các thiền s Việt Nam trong quốc hội của nớc nhà
* Về đạo đức t tởng:
T tởng từ bi, bác ái của đạo Phật, tình thơng yêu con ngời, lòng hớng
về cái thiện là những yếu tố tinh thần tích cực của Phật giáo đã có ảnh h ởng
rõ nét vào lối sống đạo đức, t tởng, tinh thần của ngời Việt Nam Những câu
nói đầu lỡi “ở hiền gặp lành , tội nghiệp , hằng hà sa số ” “tội nghiệp”, “hằng hà sa số”… ” “tội nghiệp”, “hằng hà sa số”… ”…là những câu
nói phổ biến trong quan hệ ứng xử giữa mọi ngời ở nớc ta
Các đạo lý nhân quả, nghiệp báo luân hồi, từ bi hỷ xả…là những đạo
lý của đạo Phật đã có ảnh hởng và trở thành nếp sống của ngời dân Việt Nam Dới sự ảnh hởng của những đạo lý này mà ngời ta biết lựa chọn lối sống ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức Có thể nói mọi ngời dân Việt Nam đều chịu ảnh hởng ít nhiều của giáo lý này, thậm trí trẻ con cũng biết câu “ác giả, ác báo” Có lẽ cũng chính vì vậy mà hầu nh đã là ngời Việt Nam ai cũng
có t tởng tu thân, tích đức, làm nhiều việc thiện để mong muốn có một “hậu vận” tốt đẹp, tích đức cho con cháu
Đạo lý ảnh hởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hoà, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của ngời Việt
Điều này chúng ta có thể thấy rõ qua con ngời và t tởng của Nguyễn Trãi (1380-1442), một nhà văn, nhà chính trị, nhà t tởng Việt Nam kiệt xuất, ông
đã khéo vận dụng đạo lý Từ bi và biến nó thành đờng lối chính trị nhân bản
Trang 10đem lại thành công và sự nổi tiếng rất lớn trong lịch sử nớc Việt: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn; Đem chí nhân để thay cờng bạo.”
Tinh thần thơng ngời nh thể thơng thân đã ngấm sâu vào nếp nghĩ, vào lối sống của con ngời Việt Nam, trở thành một nét đẹp văn hóa của ngời Việt Nam Điều này đã đợc nói đến từ xa qua những câu ca dao đầy xúc động:
“Nhiễu điều phủ lấy giá hơng, ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng.”
Và điều này vẫn còn đợc nhân dân ta tiếp tục gìn giữ cho đến tận bây giờ, và
có lẽ còn mãi mãi về sau Cũng chính bởi đạo lý này mà giờ đây hàng năm chúng ta vẫn có phát động tháng hành động vì ngời nghèo và quỹ vì ngời nghèo và đã nhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân, từ những em bé cho tới các cụ già
Ngoài đạo lý Từ bi, ngời Việt Nam còn chịu ảnh hởng sâu sắc một đạo
lý khác của đạo Phật là đạo Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân s trởng, ân quốc gia
và ân chúng sanh Đạo lý này đợc xây dựng theo một trình tự phù hợp với
b-ớc phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt Tình thơng mọi ngời bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thơng cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thơng trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào, quê hơng đất nớc Đặc biệt trong đạo Tứ Ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của ngời Việt
Nhìn chung, đạo lý Tứ Ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối t-ợng thực hiện, nhắm vào ngời thân, cha mẹ, đất nớc, nhân dân, chúng sanh,
vũ trụ, đó là môi trờng sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh Đạo lý Tứ
Ân còn có chung một động cơ thúc đẩy là Từ bi, Hỷ xả khiến cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực Từ cơ sở t t-ởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật giáo Việt Nam hình thành đợc một bản sắc đặc thù rất riêng của nó trên đất Việt, góp phần làm phong phú
và đa dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc
* Về phong tục tập quán:
Chúng ta có thể nói rằng những t tởng và hình ảnh của Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong phong tục tập quán của ngời dân Việt Nam Vào các ngày đại lễ Phật giáo, ngày rằm, mùng một hay lễ tết dân tộc, tất cả mọi ngời dân Việt Nam dù bận rộn đến mấy cũng vài lần trong đời đến viếng cảnh chùa để chiêm bái ch Phật, chung vui lễ hội hoặc để gần gũi tìm hiểu những di tích lịch sử văn hoá của dân tộc Chùa làng một thời đã đóng vai trò