1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tieng viet nguyen quoc van th pu nhi muong lat

16 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Tập Đọc Lớp 3 Ở Trường Tiểu Học Pù Nhi
Tác giả Nguyễn Quốc Văn
Trường học Trường Tiểu học Pù Nhi
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.. Việc giả

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC PÙ NHI

Người thực hiện: Nguyễn Quốc Văn

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Pù Nhi SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2022

Trang 2

MỤC NỘI DUNG TRANG

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3 1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 14

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chon đề tài:

Chương trình tiểu học có rất nhiều môn, trong đó môn Tiếng Việt là môn chiếm thời lượng giảng dạy nhiều nhất Môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ đặc tâm lý của các em (lớp 1, lớp 2) dễ nhớ và cũng hay chóng quên đi phần nào Từ đó, phân môn Tập đọc góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở bậc tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình Việc giảng dạy bộ môn Tập đọc trong nhà trường nhằm tạo cho các em năng lực sử dụng Tiếng Việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập phát triển các kỹ năng đọc và nghe cho học sinh, trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học để phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ thể Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng để phục

vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân như điền vào các tờ khai (đơn giản), làm đơn, viết thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp

- Phát triển một số tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán…

- Bồi dưỡng tư duy, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp, cái thiện thái độ ứng xử đúng mức trong cuộc sống, hứng thú đọc sách

và yêu thích Tiếng Việt, cụ thể:

+ Bồi dưỡng trẻ yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông

bà cha mẹ, thầy cô, yêu trường yêu lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, vị tha nhân hậu

+ Xây dựng và năng lực thể hiện những phép xã giao tối thiểu

+ Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành phát triển ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vể đẹp của Tiếng Việt

Phân môn Tập đọc trong trường Tiểu học có một ý nghĩa rất to lớn Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập Nó là một công

cụ để học tập các môn học khác Việc dạy Tập đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lô-gíc cũng như có hình ảnh

Vì vậy phương pháp dạy Tập đọc ở tiểu học nói chung và phương pháp dạy tập đọc ở lớp 3 nói riêng đều mang tính tổng hợp Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là người giáo viên phải hình thành được kỹ năng đọc cho học sinh, đó là một trong những kỹ năng cơ bản nhất Yêu cầu một học sinh đọc có chất lượng tốt là phải đọc đúng, ngắt nghỉ đúng, đọc nhẩm, đọc hiểu, đọc diễn cảm

Hiện nay ở trường Tiểu học cho ta thấy kỹ năng đọc của học sinh chưa đồng đều, một số đọc còn yếu, một số giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy cho

Trang 4

học sinh tiểu học, chưa tìm ra biện pháp dạy môn tập đọc để nâng cao hiệu quả giờ dạy Nguyên nhân của đọc yếu và đọc chưa tốt của học sinh là do nhiều tác động như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, ngôn ngữ địa phương, do tài liệu, sách giáo khoa, câu hỏi còn chung chung, chưa đi sâu vào nội dung bài, cách kết hợp các phương pháp dạy còn hạn chế Do vậy giờ dạy chưa đạt kết quả cao, dẫn đến học tốt phân môn Tập đọc còn hạn chế

Trước những vấn đề trên tôi đã nghiên cứu và viết sáng kiến kinh

nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy phân môn Tập đọc lớp 3” để giúp các em học tốt, có khả năng giao tiếp tốt, viết được bài văn hay, có

cảm nhận về văn học, yêu thích môn Tiếng Việt và tích cực đến lớp, đến trường học

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Tôi chọn học sinh lớp 3A Khu Na Tao Trường Tiểu học Pù Nhi là lớp tôi chủ nhiệm và trực tiếp giảng dạy năm học 2021-2022

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được mục được mục đích nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Thu thập các tài liệu như: sách tham khảo, các tập san báo giáo dục thời đại, giờ dạy mẫu trên Ti vi, sách giáo viên, sách hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt lớp 3

- Phân tích tài liệu dạy học sách giáo khoa lớp 3 mới và sách hướng dẫn

về nội dung và cấu trúc

- Phương pháp trao đổi với giáo viên và gia đình học sinh

- Phương pháp dạy thực nghiệm, tổ chức giờ học sôi nổi và phương pháp kiểm tra đánh giá

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Môn Tiếng Việt ở Tiểu học chia làm nhiều phân môn, trong đó Tập đọc là phân môn thực hành bằng lời nói, nếu dạy tốt môn Tập đọc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các môn học khác

Đọc là tiếp thu những thành tựu của học vần đạt được, nâng cao lên ở mức đầy đủ và hoàn chỉnh hơn, đồng thời tạo nên bốn khả năng đã nêu: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm

Phân môn Tập đọc giáo dục cho các em lòng ham đọc sách, hình thành cho trẻ thói quen làm việc với văn bản tới từng học sinh, làm quen với sách giáo khoa Qua đó nhà trường là thực sự là trung tâm văn hóa cho các em Thông qua đọc giúp các em thích đọc và xác định đọc nhiều văn bản là có ích cho cuộc sống và phát triển trí tuệ văn minh Qua đó giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thị hiếu, thẩm mỹ của các em

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: 2.2.1 Thực trạng.

+ Thuận lợi: Đa số học sinh ở trường Tiểu học Pù Nhi nói chung và học sinh lớp 3A, khu Na Tao nói riêng, hầu hết đồ dùng học tập của các em đều

Trang 5

được bố mẹ trang bị đầy đủ ngay từ đầu năm học, các em đều ngoan ngoãn, vâng lời thầy giáo

+ Khó khăn: Học sinh đầu cấp nên kỹ năng đọc chậm, còn ê a ngắt ngứ, phát âm chưa chuẩn, bộ máy phát âm còn ảnh hưởng do phát âm của tiếng địa phương, ngữ điệu của từng nhân vật trong bài Tập đọc chưa phù hợp Các em cũng ảnh hưởng từ gia đình, xã hội trong cách cư xử, giao tiếp: Phát âm tiếng địa phương

2.2.2 Kết quả thực trạng

Lớp 3A, khu Na Tao của tôi phụ trách trong năm học có 19 học sinh Ngay từ đầu năm học và qua 2, 3 tuần đầu tôi đã tìm hiểu về kiến thức môn Tiếng Việt nói chung và trong phân môn Tập đọc nói riêng, cụ thể như sau:

Chất lượng đọc đầu năm:

Tổng số học sinh: 31 em Trong đó:

Nam: 15; Nữ: 16; Dân tộc: 30

* Kết quả khảo sát môn Tiếng Việt đầu năm như sau:

Tổng số HS HTT Tỉ lệ % HT Tỉ lệ % CHT Tỉ lệ %

2 3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Giải pháp 1: Áp dụng các biện pháp dạy học chủ yếu của phân môn Tập đọc đã ứng dụng trong thực tế và có hiệu quả.

- Đối với học sinh tiểu học, biện pháp dạy tập trung cần thực hiện yêu cầu tối thiểu, đó là đọc đúng, đọc rành mạch, tốc độ dọc từ 60->70 tiếng/ phút, nắm được ý cơ bản của bài học, để đạt được yêu cầu này giáo viên cần chú trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn học sinh kết hợp hình thức đọc theo nhóm để học sinh tham gia nhiều lần đọc trong một tiết học, xen kẽ đọc đồng thanh để tạo không khí lôi cuốn học sinh yếu, học sinh còn rụt rè vào hoạt động học, đảm bảo toàn bộ học sinh được tham gia luyện đọc và đọc được càng nhiều càng tốt, giáo viên hạn chế đọc phân vai, đọc thầm

Đối với phần tìm hiểu bài, cần chú ý giải nghĩa từ khó chưa gần gũi với học sinh dân tộc Tận dụng tối đa tranh minh họa và đồ dùng dạy học, giáo viên cần giải nghĩa một cách cụ thể để học sinh dễ nhận biết, cũng vì vốn từ tiếng việt của các em còn hạn chế, giáo viên cần phải chú ý ghi rõ lên bảng các từ khó khi phát âm để học sinh theo dõi một số câu hỏi khó giáo viên chia nhỏ và gợi

mở cho học sinh, dành nhiều thời gian vào đọc rõ ràng, mạch lạc

Ví dụ: Bài Tập đọc “Người con của Tây Nguyên” tuần 13, giáo viên cần

tập trung cho học sinh học đọc đoạn, còn những học sinh yếu, kém đọc đoạn 1

và 4 dễ ngắt hơi Những học sinh khá giỏi đọc đoạn 2, 3 dài hơn, cần có thái độ biểu cảm Để tăng thời gian cho việc đọc rõ ràng, mạch lạc giáo viên phải giảm bớt phần tìm nội dung bài, những câu hỏi dài như câu 4 nên tách ra làm 2 câu hỏi nhỏ như: Đại hội tặng dân làng Kông Hoa những gì? Giáo viên cho học sinh theo dõi sách giáo khoa và nên gọi học sinh đọc đoạn: “Đại hội tặng dân làng Kông Hoa một ảnh Bác Hồ vác cuốc đi làm rẫy…cho Núp” Khi xem những vật

đó thái độ của dân làng như thế nào? yêu cầu học sinh đọc đoạn: “Khi xem những vật đó thái độ của mọi người hết sức trân trọng xem đó là những vật tặng

Trang 6

thiêng liêng Ai nấy đều rửa tay sạch trước khi cầm lên xem từng thứ, coi đi coi lại mãi đến nửa đêm” Ngoài ra ở những bài tập tập đọc khác, những câu hỏi khác được giáo viên gợi mở, hoặc chủ động giải thích… Đó cũng chính là những kinh nghiệm của tôi dạy môn tập đọc mới lớp 3 Còn những biện pháp dạy học chủ yếu vẫn là theo mục đích đề ra Đó là:

- Đọc câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh nhận xét, giải thích, tự tìm ra cách đọc, có thể đọc vài lần trong quá trình dạy học

- Đọc cụm từ, từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng góp phần nâng cao về ý thức viết đúng cho học sinh

Học sinh tìm hiểu nghĩa của từ: Giáo viên phải xác định những từ ngữ trong bài cần tìm hiểu, đó là những từ ngữ chú giải trong sách giáo khoa, từ ngữ phổ thông mà học sinh chưa quen, vì từ ngữ đóng vai trò quan trọng để học sinh hiểu nội dung bài đọc, nên giáo viên yêu cầu học sinh nêu lại phần giải nghĩa trong sách giáo khoa hoặc giáo viên dùng đồ dùng dạy học như: tranh, ảnh,vật thật, mô hình để giải nghĩa từ giúp học sinh hiểu hơn, song không nên giải nghĩa quá nhiều từ hoặc áp dụng các biện pháp kồng kềnh làm cho giờ tập đọc thiên về học từ ngữ một cách nặng nề

- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài:

Giáo viên căn cứ vào câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, có thể nêu nguyên văn hoặc gợi dẫn bằng 1,2 câu hỏi phụ để học sinh dễ trả lời, tùy thuộc vào học sinh trong lớp, tránh đặt thêm câu hỏi khai thác nội dung một cách quá yêu cầu bài học và không phù hợp với trình độ học sinh lớp 3

Giáo viên có thể nêu câu hỏi trực tiếp để định hướng cho học sinh đọc thầm và trả lời đúng nội dung, đôi khi có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc thầm, sau đó trao đổi, thảo luận những vấn đề giáo viên nêu ra

Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, giáo viên tạo điều kiện cho học sinh luyện tập một cách tích cực như: tự cá nhân trả lời câu hỏi, trao đổi theo cặp để trả lời Trong quá trình trả lời câu hỏi, giáo viên cần nêu cho học sinh cách trả lời ngắn gọn, diễn đạt lưu loát, sau đó giáo viên nhận xét, chốt lại ý chính

Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp nói chung - Nâng cao trình độ của giáo viên.

- Thực tế dạy học đòi hỏi phải đổi mới theo xu hướng chung của Việt Nam và thế giới trong mục đích đào tạo con người Nhu cầu đổi mới ấy được đặt

ra rất cấp thiết trong các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng Trường tiểu học phải rèn luyện tính cách cơ bản cho trẻ Vì vậy đòi hỏi phải dạy học theo hướng tích cực hóa này, đó là dạy tập trung vào người học Vì nền kinh

tế, văn hóa xã hội đang đổi mới từng giờ, từng ngày, nên đòi con người phải năng động, sáng tạo, do đó mục tiêu đào tạo phải đồng thời đổi mới về phương pháp giảng dạy

Trang 7

- Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và cũng là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục có chất lượng ở tiểu học, điều đó cũng đòi hỏi phải nâng cao trình độ của giáo viên

Trong thời kỳ giáo dục đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải đạt một trình độ chuẩn về nhận thức văn hóa và phương pháp thì mới có thể

có những câu hỏi xác đáng, dễ hiểu, phải kết hợp hài hòa giữa hỏi và giảng Giáo viên cần hiểu rõ mục đích của bài giảng thì mới có thể xây dựng được phương pháp đúng

Một số công việc chuẩn bị của giáo viên

1 Phân loại, nắm chắc đối tượng học sinh.

Căn cứ vào kết quả khảo sát đầu năm học, theo dõi quá trình học tập trên lớp, tôi tiến hành phân loại học sinh theo các đối tượng:

- Đối tượng đọc tốt: Những học sinh đọc đúng, đọc hay (đọc diễn cảm)

- Đối tượng tương đối: Những học sinh đọc đúng song chưa diễn cảm

- Đối tượng chưa tốt: Những học sinh đọc chưa lưu loát và còn ngọng Việc phân loại đối tượng học sinh ngay tư đầu năm học sẽ giúp tôi dạy sát đối tượng, có điều kiện sửa lỗi, kèm cặp hay bồi dưỡng kịp thời

2 Giáo viên đọc mẫu chuẩn mực

- Với việc đọc diễn cảm tốt, chúng ta đã chuyển đến học sinh không chỉ

là nội dung bài văn, bài thơ mà cả cảm xúc của mình về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, tác động đến tình cảm của học sinh Nghe giáo viên đọc diễn cảm mẫu tốt, học sinh không chỉ học tập về cách đọc mà phần nào các em nắm được nội dung và có được sự rung động cảm xúc

- Trước hết muốn rèn cho học sinh đọc thành tiếng đúng thì giáo viên phải đọc đúng, đọc hay (đọc diễn cảm) Để đạt được yêu cầu trên thì giáo viên phải rèn luyện bản thân mình đọc đúng, đọc hay Không cho phép giáo viên dạy Tập đọc mà lại đọc chưa chuẩn

- Để đọc diễn cảm tốt, tôi luôn rèn luyện công phu cả về giọng đọc, kĩ năng đọc và năng lực cảm thụ văn học Tôi luôn tìm hiểu kĩ bài văn, bài thơ để cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc, tinh tế và nhờ đó tôi sẽ tìm được giọng đọc phù hợp, hấp dẫn

- Để đọc diễn cảm tốt, tôi tiến hành như sau:

+ Trước khi soạn bài giáo viên phải đọc bài nhiều lần, đọc thể hiện được cảm xúc của tác giả khi viết bài văn, bài thơ đó

+ Xác định sắc thái giọng đọc tùy theo đối tượng miêu tả, tính cách của từng nhân vật trong văn bản

+ Tập ngắt nhịp theo dấu hiệu ngữ pháp, dựa vào cấu trúc câu, văn cảnh + Tìm từ nhấn giọng: Từ thể hiện cảm xúc, tâm trạng

* Ví dụ: Khi chuẩn bị dạy bài “Ai có lỗi?” (Tiếng Việt 3, tập 1-Trang 12).

Để chuẩn bị bài dạy, tôi rèn giọng đọc cho mình như sau:

- Đọc câu chuyện nhiều lần

- Nghiên cứu kĩ, nắm chắc ý nghĩa câu chuyện: Phải biết nhường nhịn bạn, nghĩ tốt về bạn, dũng cảm nhận lỗi khi trót cư xử không tốt với bạn

Trang 8

- Nghiên cứu các loại sách tham khảo, tôi sẽ xác định được giọng cần đọc: + Giọng nhân vật "tôi" (En-ri-cô) ở đoạn 1- đọc chậm rãi, nhấn giọng các

từ: nắn nót, nguệch ra, nổi giận, càng tức, kiêu căng.

+ Đọc nhanh, căng thẳng hơn (ở đoạn 2-hai bạn cãi nhau), nhấn giọng các

từ ngữ: trả thù, đẩy, hỏng hết, giận đỏ mặt Lời Cô-rét-ti bực tức.

+ Trở lại chậm rãi, nhẹ nhàng (ở đoạn 3) khi En-ri-cô hối hận, thương

bạn, muốn xin lỗi bạn, nhấn giọng các từ: lắng xuống, hối hận,

+ Ở đoạn 4 và đoạn 5: nhấn giọng các từ: ngạc nhiên, ngây ra, ôm chầm, Lời Cô-rét-ti dịu dàng Lời bố En-ri-cô nghiêm khắc.

Với cách xác định như vậy, đọc lại bài thơ nhiều lần cộng với sự chuyển giọng linh hoạt, tôi có thể cảm thấy tự tin hơn khi thể hiện giọng đọc của mình trước học sinh

3 Giáo viên cần lưu ý:

- Dành quỹ thời gian cho việc soạn bài và thiết kế các hoạt động cụ thể của giáo viên, học sinh ở từng đoạn của bài

- Tham khảo nội dung sách hướng dẫn giảng dạy để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức học tập cho phù hợp với đối tượng của học sinh lớp mình

- Sưu tầm đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ phục vụ cho bài dạy để học sinh hứng thú học tập tiếp thu bài sâu hơn

Giải pháp 3 Thực hiện được mục đích, yêu cầu rèn đọc, luyện tập cụ thể trong giờ Tập đọc

1 Rèn phát âm đúng từ ngữ

* Biện pháp chung:

Trong giờ tập đọc, phần đọc tiếp nối theo từng câu, giáo viên gọi học sinh đọc bài và giao nhiệm vụ cụ thể các em khác đọc thầm theo tìm những tiếng khó đọc, các tiếng dễ đọc lẫn Gọi học sinh phát hiện và phát âm, các em khác theo dõi nhận xét phát âm của bạn và phát âm lại Gọi 3, 4 em phát âm và cuối cùng giáo viên kết luận và sửa lại (nếu cần thiết)

Để rèn luyện cho học sinh phát âm đúng, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh Học sinh thường mắc các lỗi:

* Sai phụ âm: Đọc sai các tiếng có phụ âm l/ n, ch/tr, d/r/gi, s/x.

Ví dụ: lặng lẽ đọc thành: nặng nẽ-lặng nẽ-nặng lẽ

Chạy trốn đọc thành trạy trốn-chạy chốn

Sáng suốt đọc thành xáng suốt- sáng xuốt-xáng xuốt

Dỗ dành đọc thành rỗ rành-giỗ giành

- Biện pháp: Khi sửa sai những lỗi này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý theo dõi học sinh khá giỏi hoặc giáo viên phát âm rồi phát âm lại và sửa sai Giáo viên có thể nêu lại cách phát âm của những từ ngữ đó để học sinh làm theo Nếu học sinh không sửa được tôi dùng cách trực quan mô tả âm vị và

hướng dẫn học sinh tự kiểm tra Tiếng có phụ âm đầu là l khi phát âm phải cong lưỡi lên Tiếng có phụ âm đầu là n khi phát âm phải đè lưỡi xuống.

* Sai nguyên âm: Đọc sai các tiếng có nguyên âm đôi như: yê, uô, ươ,

những tiếng có vần khó như: hươu nai, chuyến tàu, khuôn khổ, …

Trang 9

* Sai vần:

+ Các tiếng có vần khó, ví dụ: khúc khuỷu, tuệch toạc, loạng choạng,

thoăn thoắt, …

+ Các tiếng có vần “anh” đọc thành vần “ăn”

Ví dụ: mạnh khoẻ-mặn khoẻ, lạnh buốt-lặn buốt

+ Các tiếng có vần “ach” đọc thành vần “ăt”

Ví dụ: chim khách-chim khắt, mách bảo-mắt bảo

- Biện pháp: Giáo viên sửa sai những lỗi dạng này cho học sinh cần chú ý cho học sinh đọc lại theo phát âm của học sinh khá giỏi hoặc giáo viên Nếu học sinh đọc chưa đúng thì cần cho học sinh đánh vần nhẩm rồi đọc trơn lại Nếu học sinh còn gặp khó khăn thì có thể cho học sinh đánh vần thành tiếng rồi đọc trơn lại tiếng đó

* Sai dấu thanh:

+ Các tiếng có thanh “ngã” đọc thành thanh “sắc”

Ví dụ: cửa ngõ-cửa ngó, lấy lãi-lấy lái, …

+ Các tiếng có thanh “hỏi” đọc thành thanh “nặng”

Ví dụ: kẻ vở - kẹ vợ, bẻ ngô - bẹ ngô, …

- Biện pháp: Khi sửa sai, giáo viên có thể phân biệt cho học sinh các từ

khi đọc sai thì nghĩa của chúng cũng khác đi Ví dụ bẹ ngô khác nghĩa với bẻ ngô Hay khi đọc sai một từ ngữ đi thì chúng sẽ trở thành không có nghĩa Ví

dụ kẻ vở thì có nghĩa nhưng kẹ vợ thì lại không có nghĩa.

* Quá trình giảng dạy cần chú ý

Giáo viên gọi học sinh khá phát âm chuẩn đọc trước, các em phát âm sai nghe, đọc lại, đọc nhiều lần sửa đến khi đọc đúng Khi đã sửa cho các em đọc đúng rồi, trong các tiết học sau giáo viên chú ý đến em đó khi đọc xem em còn mắc lỗi lại nữa không để kịp thời uốn nắn, sửa chữa riêng cho em đó Giáo viên chú ý không những sửa sai cho học sinh trong các tiết tập đọc mà còn chú ý sửa

cả trong những tiết học khác Nếu em mắc lại cần dặn học sinh về nhà chú ý luyện đọc và sửa sai tiếp Nếu số lượng học sinh mắc lỗi nhiều giáo viên cần sửa sai cho cả lớp Giáo viên tiến hành tìm các từ ngữ có âm đó luyện phát âm cho học sinh luyện thêm ở những tiết dạy luyện tập ở buổi hai

2 Rèn đọc ngắt nghỉ hơi đúng

- Trong các bài tập đọc thường có những câu văn dài học sinh cần chú ý đọc ngắt nghỉ đúng sau các dấu phẩy và giữa những cụm từ rõ nghĩa

- Các bài thơ (văn vần) trong chương trình theo thể loại thơ cũng rất

phong phú: thơ viết theo thể thơ lục bát, thơ viết theo thể thơ 4 chữ hay 7 chữ, thơ thể tự do Các bài thơ ở các thể thơ khác nhau cũng cần có cách ngắt, nghỉ hơi phù hợp với nhịp thơ, ý thơ

- Sau khi học sinh phát hiện câu văn dài hay đoạn thơ cần luyện đọc, giáo viên ghi vào băng giấy hoặc bảng phụ gọi 1, 2 em đọc Các em khác nhận xét bạn

ngắt nghỉ đúng chưa, ngắt hơi, nghỉ hơi sau những tiếng nào, em có đồng ý không? Mời em đó đọc lại Học sinh đọc và ngắt nghỉ để các bạn khác nhận xét

bổ sung và giáo viên thống nhất cách đọc

Trang 10

- Giáo viên dùng lời nói kết hợp ký hiệu và đồ dùng dạy học, hướng dẫn học sinh cách ngắt nghỉ hơi, tốc độ đọc thích hợp đoạn thơ hay câu văn Mỗi đoạn gọi một vài học sinh đọc Sau mỗi học sinh đọc, giáo viên gọi học sinh nhận xét

bạn đọc Cuối cùng, giáo viên chốt lại và sửa sai (nếu có)

- Đối với các lớp 1,2 việc đọc mẫu thường do giáo viên đảm nhiệm Đến lớp 3 kỹ năng đọc của học sinh đã được nâng cao hơn nên việc đọc mẫu có thể gọi học sinh khá đọc

+ Ví dụ: Câu trong bài: “Nhớ lại buổi đầu đi học’’

“Họ thèm vụng và ước ao/ thầm được như những người học trò cũ, /biết lớp, /biết thầy/để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ //”

3 Rèn đọc diễn cảm.

Đối với học sinh lớp 3, ngoài yêu cầu học sinh đọc đúng, học sinh còn dần tiến tới kĩ năng đọc diễn cảm (đọc hay), tới cuối lớp 3, học sinh có thể đọc diễn cảm tốt nên phải dành thời gian thích hợp

- Trong chương trình tập đọc lớp 3, phần lớn các bài tập đọc là các bài văn xuôi hay các câu chuyện Để giúp học sinh đọc diễn cảm (đọc hay) được những văn bản này, trước hết, giáo viên cần tìm hiểu kĩ nội dung bài để xác định giọng đọc phù hợp

* Đối với các bài văn xuôi:

- Giáo viên cần xác định để đọc diễn cảm được bài đọc đó thì cần chú ý đến

những yếu tố cơ bản như nhấn giọng những từ ngữ nào hay đọc với giọng ra sao thì phù hợp với cảm xúc trong bài

- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thông qua việc dẫn dắt gợi

mở để học sinh thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với hình ảnh, cảm xúc trong bài

- Giáo viên viết khổ thơ ra bảng phụ hoặc băng giấy (đã chuẩn bị) gắn lên bảng để học sinh tìm ra cách đọc Gọi 1,2 em học sinh khá giỏi đọc diễn cảm Nếu HS chưa đọc được thì GV đọc mẫu

+ Ví dụ câu trong bài “Ông ngoại” cần nhấn giọng các từ ngữ được gạch

chân nhằm nêu bật được vẻ đẹp của bầu trời sắp vào thu:

“Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.”

+ Trong bài “Cửa Tùng”, lại cần nhấn giọng một số từ ngữ chỉ đặc điểm

về màu sắc trong đoạn văn sau để người nghe cảm nhận được rõ hơn về vẻ đẹp,

sự biến đổi diệu kì của nước biển Cửa Tùng trong một ngày: “Bình minh, mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt Trưa, nước biển xanh lơ và khi chiều tà thì đổi sang màu xanh lục.”

+ Câu: “Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển.”cần nhấn giọng các từ ngữ trên

để người nghe thấy được bờ biển Cửa Tùng đẹp như thế nào?

*Đối với những câu chuyện xuất hiện những nhân vật:

Ngày đăng: 19/09/2023, 12:25

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w