Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ nàynhư một công cụ hữu hiệu, cơ bản nhằm điều tiết thị trường, ổn định tiền tệ và giátrị đồng tiền thông qua cơ chế bơm tiền vào lưu thông hoặc rút tiề
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả củaluận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ mộtcông trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Chu Thị Phương Thúy
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DANH MỤC HÀNG HÓA TRONG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 3
1.1 Khái quát về hàng hóa và danh mục hàng hóa 3
1.1.1 Định nghĩa hàng hóa 3
1.1.2 Danh mục hàng hóa 4
1.2 Khái quát về chính sách tiền tệ 4
1.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 4
1.2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 5
1.3 Một số vấn đề cơ bản về thị trường mở 8
1.3.1 Khái niệm và lịch sử phát triển nghiệp vụ thị trường mở 8
1.3.2 Cơ chế tác động 10
1.3.3 Các thành viên tham gia hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 11
1.3.4 Hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở 13
1.3.5 Cơ chế hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 15
1.4 Tìm hiểu về hàng hóa giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với thị trường mở Việt Nam 20
1.4.1 Thái Lan 20
1.4.2 Nhật Bản 21
1.4.3 Hàn Quốc 22
1.4.4 Mỹ 23
1.4.5 Hệ thống Ngân hàng Trung ương Châu Âu 25
Trang 3Việt Nam 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÀNG HÓA TRONG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 31
2.1 Thực trạng hoạt động thị trường mở tại Việt Nam 31
2.1.1 Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam .31
2.1.2 Bộ máy tổ chức, các quy định, quy trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam 33
2.1.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển nghiệp vụ thị trường mở Việt Nam .40 2.2 Thực trạng các hàng hóa được giao dịch trên thị trường mở 52
2.2.1 Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước 53
2.2.2 Tín phiếu Kho bạc Nhà nước 59
2.3 Đánh giá hoạt động nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam 66
2.3.1 Những thành tựu đạt được 66
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM ĐA DẠNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DANH MỤC HÀNG HÓA TRONG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ Ở VIỆT 78
3.1 Phương hướng hoạt động nghiệp vụ thị trường tiền tệ nói chung và thị trường mở nói riêng trong thời gian tới 78
3.1.1 Phương hướng hoạt động nghiệp vụ thị trường tiền tệ 78
3.1.2 Phương hướng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 80
3.2 Giải pháp nhằm phát triển thị trường mở và đa dạng các hàng hóa trong giao dịch thị trường mở 82
Trang 43.2.2 Giải pháp phát triển nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam 84
3.2.3 Giải pháp đa dạng danh mục hàng hóa giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở 89
3.3 Các kiến nghị 91
3.3.1 Đối với Quốc hội 91
3.3.2 Đối với Chính phủ 91
3.3.3 Đới các Bộ, Ngành liên quan 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5BOJ : Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
BOK : Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc
BOT : Ngân hàng Trung ương Thái Lan
CSTT : Chính sách tiền tệ
ESBC : Hệ thống ngân hàng Trung ương Châu ÂuFED : Cục dữ trữ liên bang Mỹ
OMO : Nghiệp vụ thị trường mở
Trang 6Các bảng
Sơ đồ 2.1 2.1.2 Bộ máy tổ chức và điều hành hoạt động 35Bảng 2.1 2.1.2 Số lượng thành viên tham gia OMO 37Bảng 2.2 2.1.3 Khối lượng trúng thầu theo các phương thức
giao dịch
46
Bảng 2.3 2.1.3 Số phiên và tần suất giao dịch OMO 49Biểu đồ 2.1 2.1.3 Tổng khối lượng giao dịch các năm 50Bảng 2.4 2.1.3 Khối lượng giao dịch OMO năm 2008 52Biểu đồ 2.2 2.1.3 Lãi suất đấu thầu mua có kỳ hạn Quý I/2008 53Biểu đồ 2.3 2.2.1 So sánh lãi suất tín phiếu NHNN và lãi suất huy
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nóliên quan tới hầu hết các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Để hoạt độngngân hàng diễn ra thông suốt cần có sự điều hành của Ngân hàng Trungương (Ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Cùng với quá trìnhchuyển sang nền kinh tế thị trường, các công cụ của chính sách tiền tệ ngàycàng được hoàn thiện và đa dạng, đặc biệt là các công cụ gián tiếp trong điềuhành và thực thi chính sách tiền tệ ngày càng được sử dụng rộng rãi và pháthuy tác dụng Một trong các công cụ đó là công cụ nghiệp vụ thị trường mở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng sử dụng nghiệp vụ trường mở làmcông cụ điều hành chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ nàynhư một công cụ hữu hiệu, cơ bản nhằm điều tiết thị trường, ổn định tiền tệ và giátrị đồng tiền thông qua cơ chế bơm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền ra khỏi lưu.Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở vàlàm thế nào để các hàng hóa của thị trường này ngày càng đa dạng và phongphú giúp cho việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đạt
hiệu quả tối ưu vì vậy, đề tài “Đa dạng danh mục hàng hóa trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Thực trạng
và giải pháp” đã được chọn để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những nét khái quát về hàng hóa, danh mục hàng hóa nóichung và hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở nói riêng
Phân tích các giai đoạn hình thành và phát triển nghiệp vụ thị trường mở,thực trạng danh mục hàng hóa đang được giao dịch trong hoạt động nghiệp vụthị trường mở tại Việt Nam
Trang 8Đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần làm đa dạng và nâng cao chấtlượng hàng hóa trong giao dịch thị trường mở nhằm phát triển thị trường mởphục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: danh mục hàng hóa giao dịch trong nghiệp vụ thị
trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về mặt lý luận cũng như thực tiễn
- Phạm vi nghiên cứu: hàng hóa trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở
rất đa dạng và có sự khác nhau ở mỗi nước Trong phạm vi luận văn chỉnghiên cứu chủ yếu về tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và tín phiếu Kho bạc từnăm 2000 đến hết năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,khoa học về Ngân hàng Trung ương, thị trường mở, giao dịch trên thị trường
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo nộidung luận văn được trình bày theo ba chương cụ thể là:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về danh mục hàng hóa trong giao dịch
nghiệp vụ thị trường mở
Chương 2 Thực trạng hàng hóa trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chương 3 Giải pháp nhằm đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hóa
trong giao dịch thị trường mở tại Việt Nam
Trang 9Trong kinh tế chính trị Mac - Lê Nin, hàng hóa được định nghĩa là sảnphẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Sản phẩm lao động manghình thái hàng hóa khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường Hàng hóa cóthể ở dạng vật chất hoặc ở dạng phi vật
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị:
Một là, giá trị sử dụng: là công cụ của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầunào đó của con người Giá trị sử dụng là thuộc tính của hàng hóa gắn liền vớivật thể của hàng hóa đó Nhưng nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thânngười sản xuất mà là cho người sử dụng Trong nền sản xuất hàng hóa, giá trị
sử dụng đồng thời cũng là vật mang giá trị trao đổi
Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng nó.Khi chưa tiêu dùng, giá trị sử dụng chỉ ở trạng thái khả năng Điều này nói lên
ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối với sản xuất
Hai là, giá trị: là lao động xã hội thể hiện và vật hóa trong hàng hóa Giátrị sử dụng của hàng hóa là một quan hệ về một số lượng, một tỷ lệ trao đổigiữa những giá trị sử dụng khác nhau
Trang 10Lao động hao phí để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa là cơ sởchung của trao đổi, được gọi là giá trị hàng hóa Giá trị hàng hóa là lao độngcủa người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Giá trị trao đổi chỉ làhình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.Như vậy, hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị Đây làhai thuộc tính thống nhất với nhau trong cùng một hàng hóa.
Hàng hóa trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở là những giấy tờ cógiá được sử dụng trong giao dịch mua bán giữa Ngân hàng Trung ương(NHTƯ) với các thành viên tham gia thị trường Vấn đề này sẽ được trìnhbày cụ thể ở phần sau
1.1.2 Danh mục hàng hóa
Danh mục hàng hóa là những hàng hóa được lựa chọn để thực hiện giaodịch trên thị trường nhằm đáp ứng một mục đích nào đó chẳng hạn mục đíchđầu tư, tích lũy, dự trữ, đầu cơ, Một danh mục hàng hóa thường có từ haihàng hóa trở lên Việc thành lập danh mục hàng hóa có ý nghĩa kinh tế quantrọng đối với người đầu tư vì trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể ta
có thể sử dụng một hay nhiều hàng hóa để giao dịch hoặc trong trường hợpkhông có loại hàng hóa này thì ta có thể thay thế bằng hàng hóa khác trongcùng danh mục Các hàng hóa trong cùng một danh mục thường có nhữngtính chất, đặc điểm tương tự nhau, có khả năng thay thế, bổ trợ cho nhau Sựlựa chọn nhiều hàng hóa vào một danh mục hàng hóa nhằm mục đích phântán rủi ro, tìm kiếm lợi nhuận cao nhất phù hợp với từng điều kiện cụ thể
1.2 Khái quát về chính sách tiền tệ
1.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ (CSTT) là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đóNHTƯ sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát điều kiện tiền
tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúcđẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý
Trang 11NHTƯ có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liênquan đến CSTT vì mọi hoạt động của NHTƯ và hệ thống ngân hàng đều ảnhhưởng đến hệ thống tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như:khối lượng tiền tệ, tín dụng, lãi suất, tỷ giá… Vì thế, xây dựng và điều hànhCSTT là trọng tâm hoạt động của mọi NHTƯ.
1.2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu củaCSTT trong từng thời kỳ bao gồm mục tiêu CSTT và hệ thống mục tiêu điềuhành Tùy hệ thống mục tiêu được lựa chọn mà NHTƯ xây dựng kế hoạch điềuhành CSTT cụ thể trong từng thời kỳ nhằm đạt được hệ thống mục tiêu đó
1.2.2.1 Mục tiêu chính sách
Mục tiêu chính sách của CSTT bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh
tế và đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ:
Một là, ổn định giá cả: là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu
trong dài hạn Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTƯnhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn mà không tập trung điều chỉnh sựbiến động giá cả về mặt ngắn hạn
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh
tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môitrường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu
tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hộimột cách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnhvượng kinh tế của một đất nước
Hai là, tăng trưởng kinh tế: CSTT phải đảm bảo sự tăng lên của GDP
thực tế, đó là nền tảng cho mọi sự ổn định; là căn cứ để ổn định tiền tệ trongnước; cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị thế củanền kinh tế trên trường quốc tế
Trang 12Ba là, đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ: CSTT phải quan tâm đến khả
năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực của xã hội do thất nghiệp Công ănviệc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng vì: chỉ số thất nghiệp là một trongnhững chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự thịnh vượng của xã hội, nó phản ánhkhả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội; thất nghiệp gây nên tìnhtrạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ đó là mầm mống cho các tệnạn xã hội; và các khoản trợ cấp thất nghiệp có thể làm thay đổi cơ cấu chitiêu ngân sách
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các mụctiêu cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của mỗi nước
1.2.2.2 Hệ thống mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ
Hệ thống mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ bao gồm mục tiêu trunggian và mục tiêu hoạt động:
Một là, mục tiêu trung gian: bao gồm những chỉ tiêu được NHTƯ lựa
chọn nhằm phản ánh điều kiện tiền tệ của nền kinh tế có ảnh hưởng trựctiếp đến các mục tiêu vĩ mô Thông thường NHTƯ lựa chọn một hệ thốngcác chỉ tiêu làm mục tiêu trung gian, trong đó có một mục tiêu chính vàmột số mục tiêu bổ sung
Trên cơ sở tôn trọng tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, các chỉtiêu định lượng phổ biến thường được sử dụng là lượng tiền cung ứng hoặc lãisuất Ngoài hai chỉ tiêu này, NHTƯ có thể sử dụng thêm một số chỉ tiêu phụnhư dư nợ tín dụng, tỷ giá… Việc lựa chọn hệ thống mục tiêu trung gian phụthuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế, sự phát triển của hệ thống thị trường tàichính và khả năng kiểm soát của NHTƯ
Hai là, mục tiêu hoạt động: là các chỉ tiêu phản ứng tức thời với sự điều
chỉnh của công cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêutrung gian Việc lựa chọn các mục tiêu hoạt động phù hợp có ý nghĩa quan
Trang 13trọng quyết định hiệu quả của CSTT Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai tròphản ánh tình trạng CSTT đồng thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT.Lãi suất liên ngân hàng là chỉ tiêu thích hợp cho vai trò này và là chỉ tiêuđược sử dụng phổ biến cho vai trò của mục tiêu trung gian Dự trữ ngân hàngcũng được sử dụng làm mục tiêu tác động trực tiếp của NHTƯ.
1.2.2.3 Hệ thống công cụ chính sách tiền tệ
Hệ thống công cụ trực tiếp và gián tiếp là hai hệ thống công cụ của CSTT:
Một là, hệ thống công cụ trực tiếp: là hệ thống những quy định của
NHTƯ nhằm tác động trực tiếp vào các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế.Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến trong thời kỳ hoạt động tài chính bịđiều tiết chặt chẽ và các yếu tố nền tảng của công cụ CSTT gián tiếp chưahoàn thiện Công cụ trực tiếp bao gồm: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá vàcác chính sách hỗ trợ khác như chính sách tín dụng, chính sách cho vay chỉđịnh, chính sách quản lý ngoại hối,
Hai là, hệ thống công cụ gián tiếp: là nhóm công cụ tác động trực tiếp
vào mục tiêu hoạt động được lựa chọn Thông qua cơ chế thị trường và mốiliên hệ giữa các bộ phận thị trường tài chính mà những tác động này chi phốitới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế Các công cụ gián tiếp được sử dụngphổ biến hiện nay là:
- Công cụ dự trữ bắt buộc: là số tiền mà các ngân hàng thương mại(NHTM) buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tạiNHTƯ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được NHTƯ áp dụng có phân biệt giữa nhữngloại tiền gửi với thời hạn khác nhau, và đối với các ngân hàng khác nhau vềquy mô cũng như tính chất hoạt động
- Chính sách tái cấp vốn: bao gồm những quy định và điều kiện cho vay củaNHTƯ đối với các NHTM thể hiện qua lãi suất tái cấp vốn, hạn mức tái cấp vốn
và các điều kiện áp dụng đối với chứng từ có giá được chấp nhận tái cấp vốn
Trang 14- Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động mua bán giấy tờ có giácủa NHTƯ với các đối tác được lựa chọn Hành vi mua bán chứng từ có giátrong hoạt động nghiệp vụ thị trường mở (OMO) cho phép NHTƯ tác động trựctiếp vào dự trữ của các NHTM, từ đó mà ảnh hưởng đến cung cầu vốn khả dụngcũng như lãi suất thị trường liên ngân hàng, những tác động này rất chủ động vàlinh hoạt Vì vậy, công cụ OMO đang trở thành công cụ được sử dụng phổ biếntrong điều hành CSTT ở hầu hết các nước.
Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứngkhoán nợ cả dài hạn và ngắn hạn Tuy nhiên, khác với những khái niệm cóphạm vi và loại hình công cụ giao dịch rõ ràng và thống nhất như thị trườngchứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở các nước khác nhau vềphạm vi, về hàng hóa giao dịch cũng như thời hạn của chúng Chẳng hạn,OMO của Nhật Bản hàng hóa chỉ bao gồm những chứng khoán nợ ngắn hạn
và các thành viên tham gia chỉ bao gồm các tổ chức tín dụng Như vậy, OMO
là một bộ phận của thị trường tiền tệ Ngược lại, Mỹ hoặc Đức lại cho phép
Trang 15giao dịch cả các chứng khoán dài hạn vì thế, phạm vi hoạt động của nghiệp vụnày bao gồm cả một bộ phận của thị trường chứng khoán Điều đó có nghĩa
là, giới hạn khác nhau về đối tượng và đối tác giao dịch của NHTƯ trongOMO sẽ quyết định khái niệm cụ thể về OMO ở mỗi quốc gia
1.3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển nghiệp vụ thị trường mở trên thế giới
OMO được Ngân hàng Anh áp dụng lần đầu tiên từ trước năm 1914.Vào thời gian này, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Anh được sử dụngnhư công cụ chủ yếu để kiểm soát tín dụng do đó tác động đến lượng tiềncung ứng Tuy nhiên, công cụ này tỏ ra kém hiệu lực khi lãi suất thị trườngtiền tệ giảm liên tục, vượt khỏi khả năng chi phối của lãi suất chiết khấu Điềunày thúc đẩy Ngân hàng Anh tìm kiếm một công cụ khác có hiệu quả hơn đểđiều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn Cách thức đầu tiênđược áp dụng nhằm tăng lãi suất thị trường là:
- Bán chứng khoán Chính phủ đồng thời hứa mua lại nó vào một ngàyxác định trong tương lai;
- Vay trên thị trường, thực chất là một khoản vay từ nhà chiết khấu hoặc
từ nhà môi giới với đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ;
- Bán hẳn các chứng khoán Chính phủ;
- Vay từ các NHTM hoặc vay từ những người gửi tiền đặc biệt;
Bằng cách đó, lượng tiền trung ương giảm đi tương ứng với khối lượngvay hoặc bán chứng khoán, vì thế lãi suất thị trường tăng lên
Cùng thời gian này, NHTƯ Thụy Sỹ cũng sử dụng nghiệp vụ bán chứngkhoán Chính phủ nhằm rút lượng vốn khả dụng dư thừa
Được thành lập vào năm 1913, ban đầu Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED)cũng sử dụng OMO như một công cụ bổ sung cho chính sách tái chiết khấu.Cho đến những năm 1920, OMO ở những nước này được sử dụng nhưcông cụ bổ trợ cho chính sách tái chiết khấu và làm cho chính sách lãi suất tái
Trang 16chiết khấu trở nên hiệu quả Sau đó, hiệu quả và tầm quan trọng của OMOngày càng tăng lên do đó nó được sử dụng như công cụ CSTT độc lập ở banước ban đầu này và sau đó trở thành xu hướng ở hầu hết NHTƯ ở các nước.Cho đến nay, OMO được sử dụng như một công cụ CSTT hiệu quả nhất
ở hầu hết các nước
1.3.2 Cơ chế tác động
* Tác động vào hệ thống dự trữ của ngân hàng
Hành vi mua, bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTƯ có khảnăng ảnh hưởng ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qualượng tiền gửi của các ngân hàng này tại NHTƯ và tiền gửi của khách hàngtại NHTM
Trường hợp NHTƯ bán chứng khoán cho các đối tác, NHTƯ có thể làmgiảm đi một khối lượng dự trữ tương ứng, dù người mua là NHTM hay kháchhàng của nó, khi tiền thanh toán cho lượng chứng khoán này được ghi nợ vàotài khoản ngân hàng tại NHTƯ Trong trường hợp người mua là khách hàngcủa NHTM thì số tiền mua chứng khoán sẽ làm giảm số dư tiền gửi của kháchhàng đó tại NHTM Sự giảm xuống của dự trữ sẽ dẫn đến giảm khả năng chovay của hệ thống ngân hàng và vì thế giảm khối lượng tiền cung ứng Có thểhình dung cơ chế này qua sơ đồ sau:
NHTƯ bán tín phiếu Kho bạc → dự trữ ngân hàng ↓ → dự trữ để mởrộng cho vay ↓ → khối lượng tín dụng giảm → khối lượng tiền cung ứng ↓.Trường hợp NHTƯ mua giấy tờ có giá thì sự tác động là ngược lại
* Tác động qua lãi suất
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTƯ có ảnhhưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường:
Thứ nhất, khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng, nó có tác động đến
cung cầu vốn NHTƯ trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung
Trang 17cầu tiền tệ trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liênngân hàng Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường sẽtruyền tác động của nó đến lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính.
Thứ hai, việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan
hệ cung cầu về loại chứng khoán đó trên thị trường mở và giá cả của nó Khigiá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu đó làloại chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường tài chínhthì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường Lãisuất thị trường thay đổi dẫn đến đầu tư thay đổi và vì thế mà thay đổi tổngcầu và sản lượng
1.3.3 Các thành viên tham gia hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
1.3.3.1 Ngân hàng thương mại
Các NHTM là đối tác quan trọng trong OMO của NHTƯ xét ở cả haiphương diện độ tin cậy và tính hiệu quả Những ngân hàng này tham gia thịtrường nhằm điều hòa mức dự trữ ngân quỹ để duy trì khả năng thanh toán,cho vay khoản vốn dư thừa để kiếm lãi Đồng thời qua thị trường này, cácNHTM thực hiện nghiệp vụ môi giới và kinh doanh chứng khoán
Với vai trò trung gian tài chính có mạng lưới hoạt động rộng và gắn kếtthành hệ thống qua trung tâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của cácngân hàng sẽ gây ảnh hưởng nhiều chiều đến khối lượng tiền cung ứng theomong muốn của NHTƯ Trong điều kiện tỷ trọng dư nợ ngân hàng chiếm đa
số trong thị trường tài chính như những nước đang phát triển thì ảnh hưởngnày càng mang tính quyết định đến hiệu quả CSTT và do đó, sự tham gia củaNHTM trong OMO càng thể hiện tính chất quan trọng của nó
1.3.3.2 Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Đó là các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệmnhà ở và các định chế tài chính khác… coi thị trường mở như là nơi kiếm thu
Trang 18nhập qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua bán giấy tờ có giá Các tổ chứcnày thường có khối lượng chứng khoán lớn và họ thường xuyên thay đổi cơcấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lời cao nhất và rủi ro dự tínhthấp nhất cho bộ đầu tư Đó chính là động cơ để họ tham gia vào OMO và trởthành đối tác của NHTƯ Khác với NHTM, hành vi giao dịch của NHTƯ vớicác đối tác này có tác dụng trực tiếp tới khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suấtthị trường qua sự biến động giá cả của loại chứng khoán được giao dịch.
1.3.3.3 Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lớn
Đối tác này thường có trong tay thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu Chínhphủ hoặc ngoại tệ Họ có nhu cầu bán các chứng khoán lấy tiền mặt hoặc đểkiếm lời trong thời gian ngắn Các hãng lớn, khi có thừa vốn tiền tệ, có thểmua những chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu Kho bạc, trái phiếu, chứngchỉ tiền gửi,… để kiếm lời
Những hoạt động mua bán trên đây của các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh có thể do họ trực tiếp thực hiện, hoặc có thể tiến hành qua những môigiới chuyên nghiệp, hay qua sự môi giới của NHTM
1.3.3.4 Hộ gia đình
Hộ gia đình tham gia OMO xuất phát từ những động cơ sau:
- Phục vụ cho mục đích giao dịch như thanh toán tiền mua hàng: họ phảichuyển giấy tờ có giá ngắn hạn mà họ đang nắm giữ thành tiền mặt có tínhlỏng mạnh nhất;
- Phục vụ cho mục đích phòng ngừa rủi ro bất ngờ;
- Đầu tư kiếm lời nhờ sự thay đổi về lãi suất dự đoán;
Tuy nhiên, sự tham gia của cá nhân này rất hạn chế bởi độ tin cậy thấp.Thông thường, đối tác này giao dịch qua các công ty chứng khoán
1.3.3.5 Nhà giao dịch chuyên nghiệp (dealers)
Nhà giao dịch chuyên nghiệp tham gia vào OMO với tư cách là người
Trang 19trung gian trong việc mua bán giấy tờ có giá giữa NHTƯ và các đối tác khácnhư các hãng sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tư nhân, các ngân hàng vàcác tổ chức tài chính phi ngân hàng Qua nghiệp vụ này, họ hưởng chênh lệchgiá mua, bán Các nhà giao dịch cũng tham gia OMO cho bản thân mình khi
họ có quỹ chứng khoán riêng để giao dịch với NHTƯ Trong thực tế, ở hầuhết các nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTƯ trên thị trường mở đượcthực hiện thông qua vai trò của nhà giao dịch Những người giao dịch thường
là các công ty chứng khoán chuyên nghiệp
Hiện nay, các đối tác tham gia giao dịch OMO của Ngân hàng Nhà nước(NHNN) Việt Nam chỉ giới hạn trong phạm vi các tổ chức tín dụng thỏa mãncác điều kiện của NHNN
1.3.4 Hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở
Hàng hóa được giao dịch trong OMO không giống nhau ở từng nước.Những nước như Anh, Mỹ, OMO chỉ là hành vi giao dịch chứng khoán Chínhphủ của NHTƯ với các đối tác Nhưng các chứng khoán được giao dịch trongOMO lại phong phú hơn ở các nước như Nhật Bản, Pháp, Austraylia Một sốnước chỉ cho phép các chứng khoán ngắn hạn được giao dịch trong OMO,nhưng chứng khoán dài hạn lại được chấp nhận ở một số nước khác… Về mặt
lý thuyết, OMO không giới hạn chủng loại cũng như thời hạn các hàng hóagiao dịch, có thể kể tới các loại phổ biến sau:
1.3.4.1 Tín phiếu Kho bạc
Là giấy nợ của Chính phủ được phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thờitrong năm tài chính, có thời hạn dưới 12 tháng Đây là hàng hóa chủ yếu củaOMO ở hầu hết các nước vì:
- Tín phiếu Kho bạc có tính thanh khoản cao;
- Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn, vì thế có thể đáp ứng đượcnhu cầu can thiệp của NHTƯ với mức độ khác nhau
Trang 201.3.4.2 Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của các ngân hàng, tổ chức tài chínhphi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào các tổchức này trong một thời gian nhất định và với một mức lãi suất nhất định.Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắn hạn (cũng có trường hợp lêntới 3 – 5 năm) Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bảntrong cơ chế quản lý ngân hàng: Chuyển từ quản lí tài sản Nợ sang quản lí tàisản Có bởi nó cung cấp một hình thức huy động vốn mang tính chủ động thay
vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửikhiến nó được sử dụng như là hàng hóa phổ biến trong OMO
1.3.4.3 Thương phiếu
Thương phiếu là chứng chỉ có giấy ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toánhoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thờigian nhất định Đây là giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệpnhằm bổ sung cho nhu cầu vốn ngắn hạn Luật và Pháp lệnh thương phiếu ởcác nước đảm bảo tính chất an toàn cho công cụ này bằng những quy đinh
về điều kiện được phát hành thương phiếu Thương phiếu là tài sản Có đốivới người sở hữu, có thể là ngân hàng (thông qua các hành vi chiết khấuhoặc cho vay có đảm bảo bằng thương phiếu) hoặc các tổ chức phi ngânhàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp Do đó, việc mua bán thương phiếucủa NHTƯ sẽ ảnh hưởng mạnh đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửicủa khách hàng tại NHTM
1.3.4.4 Trái phiếu Chính phủ
Là chứng khoán Nợdài hạn được Nhà nước phát hành nhắm bù đắp thiếuhụt Ngân sách Nhà nước Mặc dù là chứng khoán dài hạn nhưng trái phiếuChính phủ là một trong những hàng hóa được sử dụng phổ biến trong OMObởi tính an toàn, khối lượng phát hành lớn, tính ổn định trong phát hành và khảnăng tác động trực tiếp đến giá cả trái phiếu Kho bạc trên thị trường tài chính
Trang 211.3.4.5 Trái phiếu chính quyền địa phương
Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng khác về thời hạn cũng nhưcác điều kiện ưu đãi liên quan tới trái phiếu Thông thường, người sở hữu tráiphiếu của chính quyền địa phương được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập từtrái phiếu Sự can thiệp của NHTƯ qua việc mua bán hàng hóa này cũngtương tự như trái phiếu Chính phủ
Hàng hóa trên thị trường mở có xu hướng ngày càng đa dạng điều này
do những yếu tố sau:
Một là, do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng trở nên gay gắt,
đặc biệt là dưới sự ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa hoạt động tài chính vàxuất hiện nhiều tổ chức cung cấp tài chính mới Tình trạng này đòi hỏi các tổchức tài chính phải tìm ra những hàng hóa mới thỏa mãn nhu cầu thu hút vốn vềcác mặt: thời hạn, mức độ rủi ro, mức sinh lời và cách thức thanh toán nợ Xuhướng này sẽ có ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu hàng hóa trên thị trường mở
Hai là, do sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ ngân hàng nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng phức tạp của khách hàng và mức độ khẩn trương củacuộc sống là động lực quan trọng trong việc tìm kiếm và cho ra đời các sảnphẩm tài chính mới có ảnh hưởng đến chủng loại của hàng hóa trên thị trường
1.3.5 Cơ chế hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
1.3.5.1 Các nghiệp vụ thị trường mở
Các nghiệp vụ thị trường mở bao gồm: nghiệp vụ giao dịch giấy tờ có
giá, phát hành chứng chỉ nợ của NHTƯ, giao dịch hoán đổi ngoại tệ và giaodịch hoán đổi chứng khoán đến hạn
Một là, nghiệp vụ giao dịch giấy tờ có giá: giấy tờ có giá được giao dịch
theo hai hình thức là giao dịch không hoàn lại và giao dịch hoàn lại:
* Giao dịch không hoàn lại (hay giao dịch mua đứt bán đoạn) bao gồm:
các nghiệp vụ liên quan đến việc NHTƯ mua hoặc bán các giấy tờ có giá theo
Trang 22phương thức mua đứt bán đoạn Hình thức giao dịch này làm chuyển hẳnquyền sở hữu đối giấy tờ có giá là đối tượng giao dịch Vì ảnh hưởng của cácgiấy tờ có giá đối với dự trữ của các ngân hàng là dài hạn nên nó thường được
sử dụng trong trường hợp NHTƯ muốn điều chỉnh cơ cấu hoặc can thiệp vàothị trường để thay đổi các điều kiện tiền tệ Nếu những sự thay đổi của thịtrường tiền tệ là tạm thời thì hình thức giao dịch này sẽ không phù hợp vì nó
có thể làm lệch hướng chiến lược CSTT bởi tác động dài hạn của nó
- Những hàng hóa được sử dụng trong hình thức giao dịch này phải đápứng được một số tiêu chí chung đó là: là các công cụ nợ, mức rủi ro thấp vàđược phát hành bởi những tổ chức có đủ điều kiện
- Lãi suất trong giao dịch không hoàn lại được xác định theo lãi suất thịtrường và được thể hiện bằng mức lãi suất thỏa thuận (trong giao dịch songphương), lãi suất đấu thầu (trong đấu thầu lãi suất) hoặc lãi suất công bố củaNHTƯ (trong đấu thầu khối lượng)
* Giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn): Phương pháp chủ yếu được
sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp đồng mua lại (Repos) Hợpđồng mua lại được sử dụng khi NHTƯ thực hiện một giao dịch theo hợp đồngmua lại, có nghĩa là việc mua chứng khoán từ người môi giới trên thị trường,người đồng ý để mua lại vào một ngày xác định trong tương lai
Sơ đồ 1.1 Hợp đồng mua lại
t = 0 NHTƯ Tiền(M1) người giao dịch
Tín phiếu Kho bạc
Mua lại TPKB
t = T Tiền(M2)
Trang 23Hai là, phát hành chứng chỉ nợ của Ngân hàng Trung ương: NHTƯ
thường sử dụng việc phát hành chứng chỉ nợ của NHTƯ nhằm hấp thụ khảnăng thanh toán đang dư thừa Nó thích hợp để điều chỉnh lượng vốn khả dụng
dư thừa trong nền kinh tế và đặc biệt khi các công cụ OMO khác chưa phát huytác dụng Các chứng chỉ nợ có thể được phát hành dưới hình thức chứng chỉghi sổ trên cơ sở quy định chuẩn mực về mệnh giá và thời hạn
Chứng chỉ nợ được phát hành dưới hình thức chiết khấu, nghĩa là pháthành thấp hơn mệnh giá Khi đáo hạn người sở hữu nhận được số tiền thanhtoán bằng mệnh giá của chứng chỉ nợ Chênh lệch giữa giá phát hành vàmệnh giá là lãi suất phát sinh trên giá phát hành, lãi suất áp dụng đối với cácchứng chỉ nợ là lãi suất đơn, tính theo ngày thực tế với số ngày trong nămquy ước là 365 ngày
NHNN Việt Nam đã bắt đầu sử dụng nghiệp vụ phát hành tín phiếu từnăm 1994 nhằm hấp thụ vốn khả dụng dư thừa trong nền kinh tế Tuy nhiên,hoạt động nghĩa vụ này còn lẻ tẻ và hiệu quả còn hạn chế
Ba là, giao dịch hoán đổi ngoại tệ: tương tự như giao dịch có hoàn lại,
giao dịch hoán đổi ngoại tệ bao gồm hai giao dịch đồng thời là giao dịch giaongay và giao dịch có kỳ hạn giữa đồng nội tệ và ngoại tệ được chọn để giaodịch Bằng cách đó, NHTƯ có thể tác động đến khối lượng vốn khả dụng củanền kinh tế trong khoảng thời gian cần thiết tùy thuộc vào hợp đồng kỳ hạn
Bốn là, giao dịch hoán đổi chứng khoán đến hạn: nghiệp vụ này được
thực hiện khi NHTƯ hoán đổi các chứng khoán Chính phủ mà nó sở hữu đãđến hạn bằng chứng khoán Chính phủ mới phát hành Nếu giá trị các chứngkhoán Chính phủ đến hạn lớn hơn giá trị chứng khoán Chính phủ mới thay thếthì dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm xuống khi giá trị các chứng khoánmới thay thế lớn hơn lượng chứng khoán đến hạn
Trang 241.3.5.2 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở hoạt động theo hai phương thức là giao dịchsong phương và đấu thầu:
Một là, giao dịch song phương: là giao dịch được thực hiện trực tiếp
giữa NHTƯ với một hoặc một số đối tác được lựa chọn mà không qua thủ tụcđấu thầu Như vậy, giao dịch song phương có thể được thực hiện theo hai cách:
Thứ nhất, giao dịch trực tiếp giữa NHTƯ với các đối tác, điều chủ yếu
trong giao dịch song phương trực tiếp là lựa chọn đối tác giao dịch sao cho cóhiệu quả nhất Cách giao dịch này được sử dụng đối với các hợp đồng có hoànlại và không hoàn lại trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ và huy động tiền gửi
có kỳ hạn
Thứ hai, giao dịch thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc các
đại lý thị trường Đối với loại giao dịch này, đối tác không bị giới hạn và thủ tụcgiao dịch các công cụ nợ được điều chỉnh theo tập quán của thị trường Tronggiao dịch này NHTƯ như là một thành viên bình thường trên thị trường
Thông thường, các giao dịch song phương không được thông báo trước
ra công chúng và ngày can thiệp tùy thuộc vào quyết định của NHTƯ
Hai là, giao dịch theo phương thức đấu thầu: có hai phương thức đấu
thầu phổ biến là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất
* Đấu thầu khối lượng
NHTƯ niêm yết trước mức lãi suất, các thành viên tham gia đấu thầu chỉviệc đăng ký số tiền trên cơ sở chấp nhận mức lãi suất cho trước Việc phânphối khối lượng thầu đối trong một phiên đầu thầu được tiến hành theo trình tựsau: trước hết toàn bộ sổ đăng ký đặt thầu được cộng lại với nhau, nếu tổng sốđặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng giá trị khối lượng tiền dự định của NHTƯ thì toàn
bộ số đơn đặt thầu đều trúng thầu đúng khối lượng đăng ký Nếu khối lượngđặt thầu lớn hơn thì các đơn đặt thầu sẽ được phân phối theo công thức sau:
Trang 25Tỷ lệ % phân phối thầu:
Trong đó:
A: số lượng thầu được phân phối
K: tỉ lệ phân phối thầu
n: tổng số các tổ chức tham gia thầu
a: số lượng đặt thầu của tổ chức
Theo đó số lượng trúng thầu của tổ chức i là Ti được tính như sau:
Ti =K x (ai)
* Đầu thầu lãi suất
Trên cơ sở khối lượng tiền cần cung ứng hoặc hấp thu về đã đượcNHTƯ thông báo, các tổ chức tham gia đấu thầu tự đăng ký số tiền với mỗimức lãi suất do chính mình lựa chọn
Đối với đấu thầu nhằm cung ứng thêm vốn khả dụng, các số lượng đặtthầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân phối theo các mức lãi suất từ caoxuống thấp Nghĩa là, những số lượng đăng ký thầu ứng với lãi suất thầu cao
sẽ được ưu tiên phân phối cho đến khi số lượng phân phối được sử dụng hết.Nếu lãi suất thấp nhất được chấp nhận, số lượng đăng ký dự thầu lớn hơn sốlượng được phân phối thì quá trình phân phối được tiến hành như sau:
A
K = n
a (r m)
Trang 26Trong đó:
K(rm): tỷ lệ % trúng thầu được phân phối tại mức lãi suất cuối cùng
rs: mức lãi suất thứ s được đăng ký
a(rs)i: số lượng tiền đặt thầu ứng với mức lãi suất rs của thành viên i
a(rs): tổng số tiền mặt đặt thầu với mức lãi suất rs của tất cả các tổ chức
rm: mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận
Đối với đấu thầu để cung ứng khả năng thanh toán thì r1 ≥ rs ≥ rm
Số lượng trúng thầu được phân phối cho tổ chức i tại mức lãi suất rmT(rm)i = K(rm) x a(rm)
Tổng số trúng thầu được phân phối cho tổ chức i là: a(rs) + T(rm)i
Trường hợp đấu thầu để hấp thụ khả năng thanh toán thì các quy trìnhđược thực hiện theo hướng ngược lại
Trong đấu thầu lãi suất, NHTƯ có thể áp dụng dưới hình thức một giá(đấu thẩu kiểu Hà Lan) hoặc nhiều giá (đấu thầu kiểu Mỹ) Có nghĩa là, nếutheo phương pháp đấu thầu kiểu Hà Lan lãi suất trúng thầu sẽ là mức lãi suấtthấp nhất mà tại đó NHTƯ đạt đủ khối lượng vốn khả dụng cần cung ứng, hoặclãi suất cao nhất mà tại đó NHTƯ đạt đủ khối lượng vốn khả dụng cần hấp thụ.Còn theo phương pháp đấu thầu kiểu Mỹ, lãi suất trúng thầu là tất cả các mứclãi suất lớn hơn hoặc bằng mức lãi suất trúng thầu thấp nhất trong trường hợpcung ứng khả năng thanh toán; tất cả các mức lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng mứclãi suất trúng thầu cao nhất trong trường hợp hấp thụ vốn khả dụng dư thừa
1.4 Tìm hiểu về hàng hóa giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với thị trường mở Việt Nam
1.4.1 Thái Lan
Ngân hàng Trung ương Thái Lan (The Bank of Thailand - BOT) thựchiện hoạt động OMO thông qua mua bán giấy tờ có giá với các thành viên của
Trang 27thị trường như các NHTM, tất cả các định chế tài chính khác và một số doanhnghiệp nhà nước.
Hàng hóa: hàng hóa sử dụng trong thị trường mở bao gồm các chứng
khoán chính phủ, tín phiếu NHTƯ và trái phiếu doanh nghiệp nhà nước được
Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành và được gửi tại NHTƯ Tại Thái Lan, do số
dư trái phiếu Chính phủ giảm mạnh trong một vài năm qua từ tình trạng ngânsách nhà nước bội thu và nhiều trái phiếu Chính phủ đã được thanh toán trướchạn nên BOT đã mở rộng giao dịch bằng chứng khoán khác và tự phát hànhtín phiếu NHTƯ để tạo điều kiện thuận lợi cho OMO
Phương thức giao dịch OMO: là các giao dịch có kỳ hạn thông qua các
hợp đồng Repos, thậm chí đã có thời gian BOT chọn hình thức giao dịchmua bán có kỳ hạn thông qua các hợp đồng mua bán lại trên thị trường thứcấp mà không thực hiện các hoạt động OMO trên thị trường sơ cấp Nhưngsau này, số dư trái phiếu Chính phủ giảm mạnh thì họ cũng thực hiện việcđấu thầu tín phiếu NHTƯ trên thị trường mở
1.4.2 Nhật Bản
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (The Bank of Japan - BOJ) có lịch sửmua bán giấy tờ có giá từ khá lâu Tuy nhiên, lúc đầu các hoạt động OMOđược thực hiện rất hạn chế trong những trường hợp ngoại lệ để hỗ trợ chohoạt động tái cấp vốn của BOJ
Hàng hóa: hàng hóa được sử dụng đầu tiên trong OMO của BOJ là các
giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao như trái phiếu và tín phiếu Chính phủ.Đến nay, thị trường trái phiếu, tín phiếu Chính phủ vẫn là cơ sở quan trọngcho các hoạt động của OMO Nhật bản Đặc biệt trên thị trường đấu thầu hailoại này BOJ được phép thực hiện vai trò là người mua cuối cùng Điều nàygiúp cho BOJ luôn có được công cụ chủ động để điều hành thị trường tiền tệ
mà không nhất thiết phải phát hành tín phiếu NHTƯ
Trang 28Phương thức giao dịch: ban đầu phương thức giao dịch được áp dụng
trong OMO của BOJ chỉ là giao dịch mua bán có kỳ hạn thông qua các hợpđồng mua lại theo lãi suất cố định Sau đó phương thức giao dịch chuyển sangmua bán theo giá thị trường, thông qua hình thức đấu thầu nhằm nâng cao khảnăng điều chỉnh lãi suất trên thị trường Việc tổ chức đấu thầu không chỉ đượcthực hiện theo định kỳ mà BOJ còn tổ chức đấu thầu nhanh, trong đó khốilượng giấy tờ có giá mà NHTƯ cần mua được xác định và thực hiện ngaytrong một ngày Điều này góp phần nâng cao tính linh hoạt của thị trường
Thành viên tham gia OMO: chủ yếu là các ngân hàng Ban đầu BOJ thực
hiện mua bán giấy tờ có giá trực tiếp với ngân hàng Hiện nay, BOJ đã thựchiện các giao dịch OMO chủ yếu thông qua các nhà giao dịch sơ cấp và chỉgiới hạn trong phạm vi các ngân hàng mà không bao gồm các trung gian tàichính phi ngân hàng và doanh nghiệp Vì vậy, tác động của OMO tại Nhật Bảnkhông mạnh như tại các NHTƯ của các nước phát triển khác trên thế giới
1.4.3 Hàn Quốc
OMO được áp dụng tại Hàn Quốc từ tháng 11 năm 1961 với việc pháthành trái phiếu bình ổn thị trường tiền tệ của ngân hàng Trung ương Hàn Quốc(The Bank of Korea - BOK) Hoạt động mua bán trái phiếu Chính phủ và tráiphiếu công cộng giữa BOK với các ngân hàng được thực hiện từ tháng 2 năm
1969, đến năm 1977 thì các định chế tài chính phi ngân hàng được tham gianghiệp vụ này Từ năm 1978 OMO với quy mô đầy đủ (full - scale OMO) bắtđầu được áp dụng
Hàng hóa giao dịch trong OMO: những chứng khoán khác sử dụng
trong OMO bao gồm: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu bảo lãnh của Chínhphủ, trái phiếu phát triển đất đai,… Trong đó trái phiếu bình ổn tiền tệ (doBOK phát hành) là công cụ hàng hóa chủ yếu khi mà khối lượng trái phiếuChính phủ và trái phiếu công cộng phục vụ cho hoạt động của OMO còn
Trang 29hạn chế Trái phiếu bình ổn tiền tệ bao gồm trái phiếu chiết khấu và tráiphiếu coupon Trái phiếu bình ổn tiền tệ được sử dụng như công cụ điềuchỉnh cơ cấu với những tác động kéo dài
Hình thức giao dịch: đối với trái phiếu bình ổn tiền tệ thì hiện nay BOK
sử dụng 2 hình thức là đấu thầu hoặc bán trực tiếp Đấu thầu được thực hiệnvào thứ 3 hàng tuần Tần suất, quy mô phát hành trái phiếu hàng tuần đượcxác định dựa trên những yếu tố như việc thanh toán trái phiếu, các điều kiệntiền tệ và dự trữ Đối với giao dịch chứng khoán tại OMO: những giao dịchnày được chia thành 2 hình thức là giao dịch mua, bán hẳn và hợp đồng mualại Các Repos được sử dụng khi dư thừa hoặc thiếu hụt vốn khả dụng mangtính tạm thời hoặc lãi suất ngắn hạn cần phải điều chỉnh, trong khi các giaodịch mua, bán thẳng được sử dụng khi dư thừa hoặc thiếu hụt vốn khả dụngđược xác định là một hiện tượng cơ cấu (structural phenomenon)
Thành viên tham gia OMO: thành viên tham gia các giao dịch được
BOK xác định vào tháng 8 hàng năm, căn cứ vào những tiêu chí về kết quảtham gia đấu thầu OMO, kết quả giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp,khối lượng trái phiếu nắm giữ, chất lượng tài sản và sự lành mạnh tài chínhcủa các định chế tài chính Những ngân hàng không đáp ứng các tiêu chuẩnnày, BOK có quyền cắt quan hệ giao dịch Cho đến nay có 35 định chế tàichính được lựa chọn làm đối tác tham gia các giao dịch chứng khoán và 42định chế tài chính được tham gia giao dịch phát hành trái phiếu bình ổn tiền
tệ BOK không thông báo đến công chúng danh sách đối tác cũng như nhữngtiêu chuẩn đối với các đối tác, vì không muốn có những hiểu lầm không cầnthiết về các định chế không là đối tác
1.4.4 Mỹ
Cục dự trữ liên bang Mỹ bắt đầu thực hiện OMO từ cuối những năm
1920 Khi đó OMO được sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho vay chiết khấu
Trang 30của FED Nhưng đến nay, OMO được coi là một công cụ CSTT linh hoạt, cóhiệu quả và quan trọng nhất của FED vì hoạt động OMO có tính chất quyếtđịnh đến sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường Đểđiều hành OMO, FED đã thành lập Ủy ban OMO, theo định kỳ 6 tuần/lần Ủyban này họp bàn phân tích các diễn biến kinh tế - tiền tệ và những yếu tố ảnhhưởng để đưa ra các quyết định về mục tiêu tăng trưởng M1, M2 và lãi suất liênngân hàng, định hướng lãi suất chiết khấu, từ đó quyết định khối lượng giấy tờ
có giá giao dịch trên OMO
Hàng hóa giao dịch: FED lựa chọn những chứng khoán có tính thanh
khoản và độ an toàn cao làm công cụ thực hiện OMO nhằm đạt được mục tiêuđiều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất.Chứng khoán Chính phủ Mỹ là hàng hóa chủ yếu được sử dụng trong các giaodịch OMO do có khối lượng giao dịch trên thị trường lớn, có tính thanh khoản
và độ an toàn cao Thời hạn của các chứng khoán Chính phủ được giao dịchtrên thị trường rất đa dạng từ dưới 01 năm đến trên 10 năm
Hình thức giao dịch: tùy theo từng điều kiện cụ thể mà FED áp dụng
hình thức mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn thông qua hình thức đấu thầulãi suất Giao dịch mua bán hẳn thường được sử dụng khi việc dự báo nhữngnhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ của các NHTM như khối lượng tiền ngoàilưu thông, khả năng chi tiêu của Chính phủ… cho thấy mức dự trữ cần đượctiếp tục điều chỉnh trong một thời gian dài Ngoài ra khi cần tăng dự trữ thìbên cạnh việc mua hẳn FED có thể sử dụng thêm hình thức thanh toán trướchạn các chứng khoán Thực chất cả hai nghiệp vụ mua bán hẳn và thanh toántrước hạn chứng khoán đều có tác dụng giống nhau
Thành viên OMO: chủ yếu là các ngân hàng Tuy nhiên, hầu hết các giao
dịch OMO thực hiện thông qua những nhà giao dịch chứng khoán Chính phủchuyên nghiệp
Trang 311.4.5 Hệ thống Ngân hàng Trung ương Châu Âu
Hệ thống Ngân hàng Trung ương Châu Âu (European System of CentralBank - ESBC) bao gồm NHTƯ Châu Âu và NHTƯ của các thành viên liênminh Châu Âu Cũng giống như các nước khác, hoạt động OMO đóng vai tròrất quan trọng trong CSTT của ESBC nhằm đạt được mục đích là hướng dẫnlãi suất thị trường, kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông
Để tiến hành hoạt động thị trường mở ESBC sử dụng thường xuyên năm loạinghiệp vụ: giao dịch có hoàn lại được tiến hành trên cơ sở hợp đồng mua lại và cáckhoản cho vay thế chấp; giao dịch không hoàn lại; phát hành các chứng chỉ nợ; giaodịch hoán đổi ngoại tệ và huy động tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất có định
Phương thức giao dịch: để thực hiện những giao dịch nói trên, ESBC sử
dụng phương thức đấu thầu tiêu chuẩn, đấu thầu nhanh và các giao dịch songphương Đấu thầu tiêu chuẩn tiến hành trong 24 giờ kể từ khi thông báo đấuthầu cho tới khi nhận kết quả phân phối trúng thầu Với đấu thầu nhanh chỉ cómột số lượng rất hạn chế các thành viên được lựa chọn tham gia và mọi thủtục được tiến hành trong vòng 1 giờ Riêng các giao dịch song phương giữaESBC với một số ít tổ chức được tham gia sẽ được thực hiện qua Sở giao dịchchứng khoán hay các đại lí thị trường mà không phải qua thủ tục đấu thầu.Những quy định về trình tự, thủ tục tiến hành giao dịch, các điều khoảnquy định về thành viên được quy định rất rõ ràng cho từng nghiệp vụ cụ thể,
đó chính là cơ sở quan trọng để công cụ OMO phát huy tối đa hiệu quả trongđiều hành CSTT của ESBC
Như vậy, OMO ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định phụ thuộc vàođiều kiện kinh tế, thể chế, mục tiêu CSTT của mỗi nước nhưng có thể nhậnthấy OMO cũng có nhiều nét tương đồng, giống nhau ở bản chất và mục đích
sử dụng của công cụ này Qua đó, rút ra được những ưu và nhược điểm nóichung của OMO
Trang 32So với các công cụ khác của CSTT, OMO có một số ưu điểm sau:
Một là, OMO có tác động nhanh, chính xác và có thể được sử dụng ở bất
kỳ mức độ nào: OMO có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây những
chậm trễ về mặt hành chính Khi NHTƯ quyết định muốn thay đổi cơ số tiềnhoặc thay đổi dự trữ, nó chỉ việc ra lệnh và việc mua bán được thực hiện ngaylập tức Mặt khác, việc thay đổi mức dự trữ hoặc cơ sở tiền ở mức độ nhỏ, thìOMO cũng đáp ứng được thông qua việc mua bán giấy tờ có giá với khốilượng nhỏ và ngược lại
Hai là, OMO rất linh hoạt: khi có một sai lầm xảy ra trong khi tiến hành
OMO thì NHTƯ có thể lập tức đảo ngược lại Chẳng hạn, nếu thấy cung ứngtiền tăng quá khối lượng cần thiết do việc mua chứng khoán trên thị trường
mở thì NHTƯ có thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hành việc bánchứng khoán trên thị trường
Ba là, OMO là công cụ CSTT chủ động: nó cho phép NHTƯ có thể tạo ra
những biến động có khả năng hướng dẫn xu hướng thị trường trên cơ sở dự báonhu cầu vốn khả dụng; bên cạnh đó, việc mua bán giấy tờ có giá trên OMOkhông phụ thuộc nhiều lắm vào ý thích chủ quan của các đối tác vì NHTƯ cóthể buộc những đối tác này hoạt động theo mục đích của mình bằng việc đưa racác chế tài, quy định, quy chế buộc các thành viên phải thực hiện
Bốn là, nhờ có nghiệp vụ này NHTƯ có thể kiểm soát được lượng tái cấp vốn không vay: Việc kiểm soát này không thể thực hiện được trong nghiệp vụ
tái chiết khấu Ở nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTƯ chỉ có thể khuyến khích hoặchạn chế khối lượng tái chiết khấu và có thể khống chế hạn mức chiết khấunhưng không thể kiểm soát được nhu cầu tái chiết khấu của các NHTM
Bên cạnh những ưu điểm kể trên thì công cụ này cũng còn một số hạn chế:
- Vì các ảnh hưởng của OMO đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác độngngược chiều nên dự trữ của ngân hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau
Trang 33các hoạt động mua bán chứng khoán của NHTƯ Chẳng hạn, do dòng chảyngược chiều của vốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán, hoặc do số dưtiền gửi ngân sách ở NHTƯ tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán củaNHTƯ nhằm tăng lượng tiền cung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ;
- Các NHTƯ không phải lúc nào cũng tăng hay giảm lượng cung ứng tíndụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của OMO
Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mụctiêu mở rộng tín dụng như nhu cầu trả nợ NHTƯ, nhu cầu sử dụng tiền mặttăng lên,…
- Khi lãi suất thị trường giảm xuống như là kết quả tất yếu của sự tănglên của lượng tiền cơ sở thì không phải lúc nào khối lượng tín dụng cũng tănglên tương ứng Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nềnkinh tế, mức độ rủi ro và sự thiếu ổn định trong môi trường đầu tư;
Như vậy, khả năng phát huy tối đa hiệu quả của OMO không những phụthuộc vào NHTƯ mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vicủa công chúng và quyết định của các NHTM
1.4.6 Bài học kinh nghiệm trong điều hành nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam
Qua việc tìm hiểu ưu, nhược điểm và việc điều hành, sử dụng OMO củaNHTƯ các nước trong khu vực và trên thế giới chúng ta có thể rút ra được một
số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc sử dụng công cụ gián tiếp này:
Một là, tùy theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mức độ phát triển
của thị trường tài chính trong từng giai đoạn để vận dụng và xử lý linh hoạtcông cụ OMO trong điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm thực thiCSTT Vì vậy, việc sử dụng công cụ này tại Việt Nam vào năm 2000 là mộtbước đột phá tất yếu trong xây dựng và điều hành CSTT của NHNN ViệtNam, trong điều kiện các thị trường tài chính tiền tệ chưa thực sự phát triển
Trang 34Hai là, cần phối hợp hài hòa công cụ OMO với các công cụ khác trong
quá trình thực thi để thực hiện các mục tiêu CSTT cụ thể trong từng thời kỳ.Tuy công cụ OMO là loại công cụ được sử dụng phổ biến trong điều hànhCSTT nhưng không thể giải quyết được tất cả các tình huống của thị trường.Chính vì vậy, NHTƯ các nước đã lựa chọn các công cụ khác như swap, tỉ giá,tái chiết khấu… để phối hợp trong điều hành Cùng với các công cụ này đãhình thành nền hệ thống công cụ CSTT và đảm bảo thực hiện có hiệu quảCSTT trong các tình huống
Ba là, về các loại hàng hóa giao dịch trên thị trường mở, nhìn chung tất
cả các quốc gia đều xem các loại chứng khoán của Chính phủ như tín phiếuKho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và tín phiếu NHTƯ là những loạihàng hóa chủ yếu trong giao dịch OMO Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì đây
là những giấy tờ có giá nhìn chung có thời hạn ngắn, có khối lượng đủ lớn và
có tính thanh khoản cao để NHTƯ có thể can thiệp Bên cạnh đó một số giấy
tờ có giá của các doanh nghiệp lớn, có uy tín, đã được niêm yết trên thịtrường Tại Việt Nam, NHNN cũng nên cho phép các hàng hóa được giaodịch đa dạng hơn để tăng thêm sự linh hoạt và chủ động của công cụ này.Như vậy, việc lựa chọn và quyết định loại hàng hóa cho giao dịch thị trường
mở tùy thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng quốc gia Tuy nhiên, cácloại chứng khoán của Chính phủ vẫn là hàng hóa chủ yếu và không thể thiếu tạibất kỳ một quốc gia nào Các loại giấy tờ có giá do các doanh nghiệp phát hànhcũng có thể giao dịch nếu như đủ uy tín và tính thanh khoản cao
Bốn là, đối tác giao dịch của NHTƯ trong các hoạt động OMO: trong
giai đoạn đầu thì BOJ chỉ giao dịch với các tổ chức tín dụng, sau đó chuyểnsang giao dịch sơ cấp gồm các ngân hàng, công ty tài chính, công ty chứngkhoán như một kênh giao dịch bổ sung Đối tác giao dịch chủ yếu của FED làcác ngân hàng Điều này cho thấy, khi hệ thống ngân hàng đủ lớn mạnh và có
Trang 35thể tác động tới thị trường tài chính thì NHTƯ vẫn ưa thích chọn các ngânhàng làm đối tác giao dịch chủ yếu Còn nếu thị trường tài chính chưa thực sựphát triển thì NHTƯ sẽ mở rộng đối tác giao dịch nhằm tăng cường khả năngtác động tới thị trường.
Năm là, trong giao dịch thị trường mở yếu tố thời gian cho một giao dịch
được các thành viên hết sức quan tâm và một trong các yếu tố quyết định tớiđiều đó chính là công nghệ Công nghệ hiện đại sẽ rút ngắn được thời giangiao dịch đồng thời nó còn là thước đo phản ánh mức độ phát triển cũng nhưtính chuyên nghiệp của các giao dịch Nếu chỉ xét dưới góc độ này thì ViệtNam sẽ cần phải cố gắng nỗ lực và đầu tư nhiều hơn nữa nhằm hiện đại hóacông nghệ để có thể tiến kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới
Sáu là, trong toàn bộ quy trình OMO thì công tác dự báo vốn khả dụng
có vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng tới sự đúng đắn của các quyết định củaNHTƯ Ở Việt Nam, công tác này cũng đã nhận được những sự quan tâmxứng đáng tuy nhiên thì vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu thực tế
Bảy là, thời hạn cho một giao dịch kỳ hạn các giấy tờ có giá ở các nước
có thị trường mở phát triển thường rất ngắn Chính điều này đã giúp choNHTƯ có thể phát huy được tính chủ động và linh hoạt trong điều hànhCSTT nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Ở Việt Nam kỳ hạn giaodịch khá phong phú nhưng vẫn còn khá dài đã phần nào cản trở tính chủ động
và linh hoạt của NHNN Việt Nam trong điều tiết thị trường và thực thi CSTT
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã tập chung nêu lên những nét khái quát vềhàng hóa, danh mục hàng hóa, chính sách tiền tệ; các vấn đề cơ bản về hoạtđộng nghiệp vụ thị trường mở như khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển,
cơ chế tác động, cơ chế hoạt động, các thành viên tham gia thị trường, hànghóa trong giao dịch OMO; nghiên cứu, trình bày kinh nghiệm hoạt động, điềuhành thị trường mở của một số nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ
sở những lý luận cơ bản của OMO và kinh nghiệm của một số nước, luận văn
đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong việc điều hành công cụ nàynói chung và sử dụng các hàng hóa trong hoạt động thị trường mở nói riêngtại Việt Nam
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HÀNG HÓA TRONG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ
THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
2.1 Thực trạng hoạt động thị trường mở tại Việt Nam
2.1.1 Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở
ở Việt Nam
Bên cạnh các điều kiện vĩ mô về tiền tệ ngân hàng cho sự ra đời của OMOthì việc thiếu cơ sở pháp lý hợp lý sẽ hạn chế hoạt động và phát triển của thịtrường Về cơ bản, hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động thị trường mởphải bao gồm các lĩnh vực sau: giới hạn phạm vi thị trường, các công cụ của thịtrường, quy định về phát hành giấy tờ có giá, cơ chế hoạt động của thị trườngthứ cấp, quy chế can thiệp của NHNN, quản lý vốn khả dụng của NHNN Chođến tháng 3/2000, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp lý làm cơ sở cho sự ra đời
và hoạt động của OMO đã hình thành Cụ thể:
Thứ nhất, khung pháp lý về phạm vi và công cụ của thị trường
Theo quy định tại Điều 21 Luật NHNN: "NHNN thực hiện OMO thôngqua việc mua bán tín phiếu Kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi vàcác loại giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTTquốc gia." Như vậy, thị trường mở chỉ giới hạn trong phạm vi thị trường tiền
tệ, ngụ ý rằng các giao dịch thị trường mở phải có thời gian dưới 12 tháng vàcác loại giấy tờ có giá giao dịch cũng phải đáo hạn trong vòng 1 năm
Tuy nhiên, điều này đã được thay đổi theo Quyết định số NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì OMO là việcNgân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá vớicác tổ chức tín dụng Nghĩa là chuyển từ việc OMO mua bán các giấy tờ có giá
Trang 3801/2007/QĐ-ngắn hạn chuyển sang mua bán 01/2007/QĐ-ngắn hạn các giấy tờ có giá Từ đó, làm phongphú thêm các hàng hóa được phép giao dịch trên OMO giờ đây không chỉ làcác giấy tờ có giá ngắn hạn (chỉ bao gồm các loại tín phiếu cùa NHNN và Khobạc), mà còn cả các giấy tờ khác được mua bán trong ngắn hạn.
Thứ hai, khung pháp lý về việc phát hành các giấy tờ có giá - hàng hoá
của thị trường
Để cung cấp hàng hoá cho thị trường, một số loại giấy tờ có giá đã đượcphát hành Hệ thống pháp lý về việc ban hành các giấy tờ có giá này đã đượchoàn thiện, như:
- Quy chế phát hành tín phiếu NHNN ban hành theo Quyết định số362/1999/QĐ-NHNN1 ngày 08/10/1999 của Thống đốc;
- Quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ theo Nghị định số 72/CP ngày26/7/1994 của Chính phủ và Quyết định 01/2000/QĐ-TTg ngày 13/01/2000của Thủ tướng Chính phủ;
- Pháp lệnh thương phiếu tháng 2/1999;
- Luật Thương mại năm 1997
Thứ ba, khung pháp lý về thị trường thứ cấp
NHNN đã ban hành nhiều văn bản quy định về các giao dịch thứ cấpnhằm tạo tính thanh khoản cho các hàng hóa trên và thị trường thứ cấp như:
- Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường nội tệ liên ngân hàng theoQuyết định số 136 QĐ/NH2 ngày 20/7/1993 của Thống đốc NHNN;
- Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàngtheo Quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 ngày 26/3/1999 của Thống đốc;
- Quy chế về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN đối với cácngân hàng theo Quyết định 356/1999/QĐ-NHNN14 ngày 06/10/1999 củaThống đốc
Trang 39Thứ tư, khung pháp lý về hoạt động can thiệp của NHNN trên OMO
Quy chế OMO được ban hành theo Quyết định 85/2000/QĐ-NHNN14ngày 09/3/2000 của Thống đốc về việc hướng dẫn thực hiện giao dịch trênOMO, nghiệp vụ thanh toán, lưu ký,… và sự can thiệp của NHNN trên thịtrường NHNN cũng đã thành lập Ban điều hành OMO để quyết định tất cảcác vấn đề liên quan
Thứ năm, khung pháp lý về quản lý vốn khả dụng
Quy chế quản lý vốn khả dụng được ban hành theo Quyết định số37/2000/QĐ-NHNN1 ngày 24/01/2000 của Thống đốc Đây là yếu tố nềntảng cho hoạt động OMO và hoạt động tái cấp vốn của NHNN Nó xác địnhlượng vốn khả dụng thừa thiếu hàng ngày làm căn cứ để quyết định chiềuhướng và mức độ can thiệp của NHNN trên thị trường mở
Như vậy, để chuẩn bị cho công cụ OMO triển khai hoạt động, NHNN đãban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan Thông qua các quy định này,NHNN đã hướng dẫn cụ thể việc tổ chức và thực hiện các giao dịch trên thịtrường mở, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng nắm bắt và triển khai thựchiện Hệ thống các văn bản pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của thị trường
mở đã cơ bản đầy đủ và sẽ hoàn thiện trong tương lai Các quy định này đảmbảo hoạt động thị trường mở trôi chảy từ khâu phát hành giấy tờ có giá đếngiao dịch giấy tờ có giá cũng như cơ sở để xác định mức độ can thiệp thịtrường của NHNN
2.1.2 Bộ máy tổ chức, các quy định, quy trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam
2.1.2.1 Bộ máy tổ chức điều hành nghiệp vụ thị trường mở
Để điều hành OMO, NHNN cũng đã hình thành được 1 bộ máy tổ chức
và triển khai hoạt động thị trường mở tại NHNN bao gồm: Ban điều hànhOMO, một số bộ phận tại Vụ, Cục cũng được thiết lập nhằm huy động tối đa
Trang 40mọi nguồn lực về con người, trang thiết bị để xây dựng và ngày càng hoànthiện hoạt động thị trường mở.
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức và điều hành
Ban Điều hành OMO gồm 1 Trưởng ban, 2 Phó trưởng ban, 3 thành viên
và 2 thư ký do một Phó Thống đốc làm Trưởng ban, có nhiệm vụ phân tích cácthông tin về tình hình dự báo vốn khả dụng của tổ chức tín dụng, tình hình giấy
tờ có giá mua bán trong từng thời kỳ, chỉ số lạm phát, lãi suất cho vay của nềnkinh tế,… từ đó quyết định phương thức, khối lượng, lãi suất,…trong các phiêngiao dịch OMO
Mọi vấn đề từ chủ trương định hướng đến các quyết định cụ thể trongtừng phiên hay các sáng kiến cải tiến cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật đềuđược Ban điều hành bàn bạc tập thể và Trưởng ban quyết định trên cơ sở các
ý kiến đã thống nhất Việc điều hành OMO đã ngày càng mang tính thịtrường, các quyết định mua và bán giấy tờ có giá với các phương án đấu thầu,xét thầu cụ thể đối với từng phiên đều được Ban điều hành cân nhắc kỹ lưỡngtrên cơ sở xem xét tình hình vốn khả dụng của hệ thống các tổ chức tín dụng,
xu hướng lãi suất thị trường và mục tiêu điều hành CSTT của NHNN
Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc vụ CSTT có nhiệm vụ xây dựng vàquản lý vốn khả dụng; trực tiếp thu thập các thông tin để báo cáo sự biến độngvốn khả dụng trên thị trường, đề xuất với Ban điều hành về định hướng hoạtđộng OMO cũng như khối lượng, lãi suất và phương thức giao dịch của từng
Ban điều hành OMO
Phòng Thị trường tiền
tệ và bảo lãnh thuộc
Vụ Tín dụng
- P Kế toán
- P TToán
- P kỹ thuật
- P ngân quỹ…