TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Việc sử dụng cây thuốc đã gắn liền với sự phát triển của nhân loại từ những ngày đầu xuất hiện trên trái đất, khi con người biết khai thác các loài thực vật để duy trì sự sống.
Trong quá trình nghiên cứu, các loài thực vật với khả năng phòng và chữa bệnh đã được phát hiện, dẫn đến việc tích lũy và phổ biến kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học truyền thống của các dân tộc Sự phát triển của khoa học đã nâng cao tri thức nhân loại, mở rộng việc sử dụng cây thuốc, mang lại hiệu quả lớn trong việc bảo vệ sức khỏe con người.
Kể từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền y học cổ truyền mang đặc trưng riêng
Nghiên cứu lịch sử các cây thuốc của các dân tộc và vùng lãnh thổ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, và họ đã cung cấp nhiều bằng chứng xác thực.
“Lịch sử niên đại cổ” ấn hành năm 1878, Charles PiKering đã chỉ rõ: Ngay từ năm
417 trước công nguyên (TCN) người dân khu vực Trung cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây để làm lương thực và chữa bệnh
Căn cứ vào các bằng chứng khảo cổ học, Borisova B (1960) cho rằng khoảng 5000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và trở thành mục tiêu chiếm đoạt trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, cùng với phụ nữ và các loại cây lương thực Điều này cho thấy tầm quan trọng của cây thuốc đã được nhân loại nhận thức từ rất sớm, với việc thu thập và nhập nội các giống cây thuốc quý được thực hiện bởi các chiến binh từ thời cổ đại.
Châu Úc được coi là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất thế giới, với các thổ dân đã định cư tại đây từ hơn 6000 năm trước Họ đã phát triển những kiến thức quý giá về các loài cây thuốc bản xứ, tạo nên những kiến trúc thực tiễn độc đáo.
Cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus), loài cây đặc hữu của Châu Úc, đã được sử dụng hiệu quả trong y học truyền thống, nhưng phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị thất lạc khi người châu Âu đến định cư Hiện nay, nhiều dược thảo ở Châu Úc chủ yếu có nguồn gốc từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước ven biển Thái Bình Dương Ngược lại, Châu Âu sở hữu sự đa dạng về dược thảo, phần lớn dựa vào nền tảng y học cổ điển Galen (131 – 200 SCN), một thầy thuốc của hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, đã có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các vị thuốc từ thảo mộc và viết hàng trăm cuốn sách được áp dụng trong y học Châu Âu suốt hơn 1500 năm Vào thế kỷ I SCN, thầy thuốc Hi Lạp Dioscorides cũng đã biên soạn một cuốn sách dược thảo nổi tiếng.
“De material Medica” là một cuốn sách quan trọng chứa đựng 600 loại thảo mộc, có ảnh hưởng sâu sắc đến y học Phương Tây và được sử dụng làm tài liệu tham khảo chính ở Châu Âu cho đến thế kỷ XVII Cuốn sách đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tư và tiếng Hebrew Trong thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu của thần thánh” đã chỉ ra rằng hình dạng của các loại thảo mộc có thể liên quan đến công dụng y học của chúng, ví dụ như lá đốm của cây Cỏ Phổi (Pulmonaria officinalis) giống như mô phổi và có khả năng chữa trị hiệu quả các bệnh về phổi Ở Châu Phi, sự đa dạng của ngành dược thảo cổ truyền vượt trội hơn bất kỳ châu lục nào khác, với việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã tồn tại từ rất lâu.
Những bản viết tay từ thời Ai Cập cổ đại đã ghi chép hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng, với bản giấy cói Ebers khoảng 1500 năm TCN ghi lại hơn 870 toa thuốc và 700 loài dược thảo Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc Châu Phi đã tồn tại ít nhất từ 3000 năm trước Từ thế kỷ V đến XII SCN, các thầy thuốc Ả Rập đóng vai trò quan trọng trong sự tiến bộ của ngành y.
5 giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học BNEiBeitar đã xuất bản cuốn sách “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi
Dược thảo Châu Á gắn liền với hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Lịch sử y học Trung Quốc từ đầu thế kỷ II đã ghi nhận việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh, như việc dùng nước chè đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ Cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê nhiều loại cây cỏ có tác dụng chữa bệnh.
Rễ Gấc (Momordococochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt Gấc trị sưng tấy, đau xương khớp, sốt rét, vết thương tụ máu…
Văn minh Ấn Độ cổ đại, phát triển cách đây hơn 5000 năm, tọa lạc dọc bờ sông Indus ở miền nam Ấn Độ, được ghi chép trong sử thi Vedas vào năm.
Vào khoảng 1500 TCN, có nhiều kiến thức phong phú về dược thảo, trong đó y học dân tộc Bungari, được biết đến là "Đất nước của hoa hồng", đã sử dụng Hoa hồng như một vị thuốc chữa trị nhiều bệnh Hoa, lá và rễ của cây Hoa hồng được sử dụng để điều trị tình trạng huyết ứ và bệnh phù thũng Hiện nay, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cánh Hoa hồng chứa một lượng lớn tanin, glycosid và tinh dầu, không chỉ được dùng để chế tạo nước hoa mà còn có tác dụng chữa trị nhiều loại bệnh.
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang ngày càng phổ biến và trở thành xu hướng toàn cầu, với hơn 40.000 mẫu cây thuốc được nghiên cứu, phát hiện hàng trăm loại có khả năng chữa bệnh ung thư Tại Mỹ, 5% đơn thuốc sử dụng chế phẩm từ Hoa Hồng (Cantharanthus roesus), loại cây này đặc biệt hiệu quả trong việc điều trị bệnh máu trắng ở trẻ em tại Madagascar, giúp tăng tỷ lệ sống từ 10% lên 90%.
Nhận thức về giá trị chữa bệnh của cây thuốc bắt nguồn từ hoạt tính sinh học có trong các nguyên liệu tự nhiên Do đó, việc nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất đã được thực hiện và mang lại nhiều kết quả khả quan.
Các nghiên cứu này yêu cầu nguồn kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao Vì vậy, chúng chủ yếu được thực hiện tại các nước phát triển và một số quốc gia đang phát triển.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng số 250.000 loài thực vật đã biết, gần 20.000 loài được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp hoạt chất cho dược phẩm Cụ thể, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, và một số nước Đông Nam Á sở hữu đến 2.000 loài cây thuốc, đặc biệt là trong vùng nhiệt đới Châu Á.
Ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích khoảng 330.541 km², nằm dọc bờ biển Đông Nam Á, với ba phần tư lãnh thổ là đồi núi và đồng bằng Đồng bằng châu thổ miền Bắc và miền Nam sông Mê Công kết nối qua miền Trung ven biển, nơi có nhiều núi và hẹp Do vị trí địa lý đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hệ thống gió mùa Tây Nam và Đông Bắc, tạo nên khí hậu nhiệt đới đặc trưng với đặc điểm nóng ẩm và lượng mưa lớn.
Việt Nam sở hữu sự đa dạng sinh học phong phú với hơn 12.000 loài thực vật bậc cao, nhờ vào đặc trưng khí hậu và địa hình đa dạng.
Việt Nam, với hệ thực vật phong phú và đa dạng, được xem là quốc gia có tiềm năng lớn về tài nguyên cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á (Nguyễn Tiến Bân, 2005) Bên cạnh đó, y học cổ truyền của Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ y học cổ truyền Trung Quốc qua hàng ngàn năm Bắc thuộc.
Từ thời Vua Hùng dựng nước vào khoảng 2900 năm TCN, tổ tiên ta đã sử dụng cây cỏ làm gia vị để tăng cường hương vị món ăn và chữa bệnh, điều này được ghi chép trong các văn tự Hán Nôm và truyền thuyết còn sót lại.
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam được ghi chép trong "Nam Dược thần Hiệu" và "Hồng nghĩa giác tư y thư" của Tuệ Tĩnh, trong đó mô tả hơn 100 loại cây thuốc quý.
Trong lịch sử y học Việt Nam, có 630 vị thuốc và 13 đơn thuốc điều trị nhiều loại bệnh, cùng với 17 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn, nhấn mạnh tài năng xuất chúng của các vị thầy thuốc Ông được tôn vinh là “vị thần thuốc Nam” với những tác phẩm quý giá như “Tuệ Tĩnh y thư” và “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” Đến thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã cho ra đời bộ sách “Y tông tâm tĩnh” với 28 tập, 66 quyển, cung cấp kiến thức chi tiết về thực vật và các đặc tính chữa bệnh Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là sau khi miền Bắc được giải phóng, các nhà khoa học Việt Nam đã có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi, một trong những người tiên phong, đã dành nhiều năm để biên soạn tài liệu về dược liệu, với bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” ra mắt năm 1957, mô tả công dụng của hơn 100 cây thuốc nam.
Từ năm 1962 đến 1965, Đỗ Tất Lợi đã xuất bản bộ sách "Những cây thuốc và gia vị thuốc Việt Nam" với 6 tập Đến năm 1969, bộ sách này được tái bản thành 2 tập, trong đó tác giả đã giới thiệu những kiến thức quý giá về cây thuốc và gia vị trong y học cổ truyền Việt Nam.
Ông đã giới thiệu hơn 500 loại thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc, động vật và khoáng vật Với sự kiên trì trong nghiên cứu, ông liên tục bổ sung các loài cây thuốc vào các công trình của mình, được tái bản nhiều lần qua nhiều năm.
Vào năm 1960, Phạm Hùng Hộ và Nguyễn Văn Dương đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam”, mặc dù chưa bao quát toàn bộ hệ thực vật Việt Nam, nhưng đã giới thiệu nhiều công dụng của các loại thuốc Năm 1965, Đỗ Tất Lợi cho ra đời “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, tái bản vào năm 2000, liệt kê gần 800 loài cây và vị thuốc Năm 1966, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã phát hành cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, in lại lần thứ hai vào năm 1976 Đến năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” với 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện.
Năm 1976, Võ Văn Chi trong luận phó Tiến sĩ khoa học của mình, ông đã thống kê 1360 cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Đến năm
Năm 1991, trong một báo cáo tại hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II ở Thành Phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu danh sách 2280 loài cây thuốc bậc cao có mạch thuộc 254 họ Dựa trên các nghiên cứu và tài liệu đã công bố, năm 2002, ông đã cho ra mắt “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, tài liệu này được xem là bộ sưu tập lớn nhất và đầy đủ nhất về cây thuốc ở nước ta Đến năm 2003, một nhóm tác giả từ Viện Dược liệu đã biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, bao gồm hơn 1000 loài, trong đó có 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc.
Các nhà nghiên cứu tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành thu thập và nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan đến cây thuốc, trong đó nổi bật là một tập tài liệu quan trọng.
2 tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mới
9 và cộng sự (2001; 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam
Nguyễn Tiến Bân và Cộng sự đã phát hành sách "Danh mục các loài thực vật Việt Nam", một tài liệu quan trọng cho việc tra cứu các thành phần cây thuốc.
Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thực hiện nhiều nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Các công trình nghiên cứu này, đặc biệt về cây thuốc cổ truyền của dân tộc Tày, Nùng, đã góp phần cập nhật và bổ sung dữ liệu về cây thuốc ở Việt Nam.
Hiện nay, cây thuốc đang bị khai thác quá mức do sức ép từ thị trường, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt và đe dọa nguồn tài nguyên này Chính phủ và các ban ngành y tế đã nỗ lực bảo tồn tài nguyên sinh vật, đặc biệt là cây thuốc Nhiều nghiên cứu và dự án đầu tư của Nhà nước cùng với các dự án Phi Chính Phủ đã được triển khai nhằm bảo tồn và trồng các loài cây thuốc, đặc biệt là những loài có giá trị tại tỉnh Bắc Kạn.
Cây thuốc đã gắn bó với đời sống con người từ lâu và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng Tuy nhiên, tại Vườn quốc gia Ba Bể, nguồn tài nguyên này đang bị suy yếu nghiêm trọng, với hàng chục tấn cây thuốc bị khai thác mỗi năm, theo số liệu từ kiểm lâm Mặc dù Ban quản lý đã triển khai nhiều biện pháp khắc phục, tình trạng vẫn diễn biến phức tạp Việc bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này và duy trì cuộc sống cho người dân phụ thuộc vào rừng là thách thức lớn đối với các cấp, ban, ngành và cộng đồng địa phương tại Vườn quốc gia Ba Bể.
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu chung Đánh giá được hiện trạng tài nguyên, tình hình khai thác, sử dụng cây thuốc tại địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở để đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc trong khu vực Đồng thời đề xuất thêm các loài cây thuốc mới vào nhằm việc gây trồng và giữ gìn những loài cây thuốc quý có giá trị
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá giá trị sử dụng và tri thức cây thuốc tại cộng đồng
- Đánh giá trình trạng khai thác và sử dụng thị trường tiêu thụ tại khu vực địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên cây thuốc tại khu vực địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Hiện trạng một số loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể
- Điều tra số họ, ngành, chi, loài của các loài cây thuốc phân bố tại khu vực nghiên cứu
- Tính đa dạng của cây thuốc về dạng sống
- Phân bố cây thuốc theo nơi sống
2.3.2 Giá trị sử dụng tri thức cây thuốc tại cộng đồng
- Các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc
- Tìm hiểu những nhóm bệnh của người dân chữa được
2.3.3 Thị trường tiêu thụ cây thuốc và thực trạng khai thác cây thuốc
- Tìm hiểu phương thức thu hái, sơ chế, bảo quản cây thuốc
- Tìm hiểu một số bài thuốc truyền thống và cách chế biến
- Giá trị cây thuốc tại địa bàn địa phương
- Giá trị cây thuốc tại thị trường trong nước
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc bảo tồn giữ gìn các loài cây thuốc tại địa phương, nơi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp
Tiến hành bằng 3 phương pháp sau:
2.4.1.1 Phương pháp điều tra thực địa
Để thực hiện điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC) đại diện cho khu vực, cần dựa vào bản đồ địa hình và hiện trạng rừng nhằm xác định các tuyến và ô cần thiết.
Các tuyến điều tra được thiết lập dựa trên hệ thống các tuyến điển hình, cắt ngang qua các trạng thái và sinh cảnh rừng trong khu vực Việc điều tra cần có sự tham gia của người dân địa phương, có thể nhờ hoặc thuê họ đi cùng để thu thập thông tin về các loại cây thuốc mà họ thường sử dụng, tên gọi địa phương và vị trí xuất hiện của chúng.
Những cây không xác định được tên thì lấy mẫu về xác định tên sau Các thông tin điều tra được ghi lại vào mẫu biểu 01
Mẫu biểu 01: Thống kê các loài cây thuốc theo tuyến điều tra
Tuyến số:… Ngày điều tra:…
Trong khu vực được chọn làm vị trí điển hình cho việc thiết lập các OTC, chúng tôi sẽ lập 3 OTC với diện tích mỗi OTC là 1000m2 Tại các OTC này, sẽ tiến hành điều tra tương tự như điều tra tuyến và khảo sát tình hình phân bố của các cây thuốc Thông tin thu thập từ các OTC sẽ được ghi chép vào các mẫu biểu đã được chuẩn bị sẵn.
Mẫu biểu 2: Điều tra cây gỗ trong OTC
OTC số:… Trạng thái rừng…
Người điều tra… Ngày điều tra…
STT Tên loài H VN (m) D 1.3 (cm) Đánh giá sinh trưởng Ghi chú
- Điều tra ô dạng bản (ODB), lập 5 ô dạng bản 4 ô ở bốn góc và 1 ô ở giữa, mỗi ô có diện tích 16m 2 để điều tra cây tái sinh và cây bụi thảm tươi
Mẫu biểu 3: Điều tra cây tái sinh
OTC số:… Trạng thái rừng…
Người điều tra… Ngày điều tra…
STT ODB Tên loài Chiều cao (m) Tình hình sinh trưởng Ghi chú
Mẫu biểu 4: Điều tra cây bụi, thảm tươi
OTC số:… Trạng thái rừng:
Người điều tra… Ngày điều tra…
STT ODB Tên loài Dạng sống Số bụi Ghi chú
Mẫu biểu 5: Thống kê các loài cây thuốc trong OTC
Người điều tra… Ngày điều tra…
Tên khoa học Dạng sống Bộ phận sử dụng Công dụng
2.4.1.2 Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình điều tra nghiên cứu cộng đồng sử dụng phương pháp PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia)
Một số kỹ thuật thường sử dụng trong PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được lựa chọn
Phỏng vấn mở là một hình thức phỏng vấn linh hoạt, cho phép người phỏng vấn đặt ra bất kỳ câu hỏi nào tùy thuộc vào tình huống cụ thể Thứ tự của các câu hỏi có thể được điều chỉnh một cách tự do dựa trên phản hồi của người được phỏng vấn, tạo ra một cuộc trò chuyện tự nhiên và sâu sắc hơn.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số câu hỏi có thể hỏi thêm vào tùy ý theo tình huống cụ thể
Phỏng vấn cấu trúc, hay còn gọi là phỏng vấn sâu, là một phương pháp phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi cụ thể nhằm thu thập thông tin từ những người tham gia được chọn lọc.
Phỏng vấn tái diễn, hay còn gọi là trình diễn tri thức, là hình thức phỏng vấn mà trong đó chúng ta yêu cầu người dân địa phương giải thích lại một quy trình xử lý hoặc chế biến cụ thể nào đó.
- Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người khác đưa ra trong lần phỏng vấn trước
Mẫu biểu 2.6: Tình hình gây trồng, thu hái, bộ phận sử dụng công dụng và giá cả
STT Tên chủ hộ Tên cây
Mẫu biểu 2.7: Mùa thu hái, cách chế biến và bảo quản cây thuốc
STT Tên chủ hộ Tên cây Bộ phận Mùa thu hái Chế biến Bảo quản
2.4.1.3 Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập số liệu sẵn sàng có của các nghiên cứu trước đây ở Vườn quốc gia Ba
Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, bản đồ, báo cáo các dự án có liên quan, báo cáo khoa học
- Sử dụng bảng tính số liệu excel để phân tích xử lý số liệu
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Vườn Quốc gia Ba Bể cách Hà Nội 250 km về phía Bắc thuộc địa bàn huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn, bao gồm toàn bộ diện tích đất xã Nam Mẫu, một phần ở các xã Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ
Vườn có tọa độ địa lý 22°30' vĩ Bắc và 105°36' kinh Đông, quản lý tổng diện tích 7.610 ha, bao gồm khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.226,2 ha, khu phục hồi sinh thái 4.038,6 ha, khu hành chính dịch vụ 300,2 ha, và vùng đệm ước tính khoảng 42.100 ha.
Vườn Quốc gia Ba Bể có độ cao từ 150 đến 1.098 mét so với mặt nước biển, với cấu trúc địa chất chủ yếu là đá vôi, tạo nên những đỉnh núi lởm chởm và nhiều thung lũng, sông suối Nơi đây có nhiều hang động, trong đó Động Puông dài 300m và có sông Năng chảy qua, tạo nên cảnh quan thiên nhiên ấn tượng Hồ Ba Bể, nổi bật giữa địa hình đá vôi, là một hồ nước ngọt độc đáo với hình dáng thắt ở giữa và phình to ở hai đầu, được bao quanh bởi những vách đá dựng đứng và những đường cong uốn lượn vào các thung lũng Hồ nằm trong khu vực địa hình caxto Chợ Rã - Ba Bể - Chợ Đồn, thuộc vùng trũng của khối nâng Việt Bắc, hình thành từ sự phá hủy của khối lục địa Đông Nam Á khoảng 200 triệu năm trước.
Hồ Ba Bể nổi bật với những đặc điểm độc đáo khác biệt so với các hồ Caxto trên toàn cầu Do đó, vào tháng 3 năm 1995, Hội nghị Quốc tế về hồ nước ngọt tại Mỹ đã công nhận Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên toàn cầu cần được bảo vệ.
Vườn Quốc gia Ba Bể, tọa lạc trong tiểu vùng khí hậu Đông Bắc Việt Nam, được bảo vệ bởi các dãy núi cao như Phja Bjoóc và Phja, tạo nên một môi trường tự nhiên độc đáo và phong phú.
Khí hậu nơi đây rất thuận lợi cho sự phát triển của rừng nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22°C Nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 39°C, trong khi nhiệt độ thấp nhất ghi nhận là 6°C Độ ẩm trung bình hàng năm là 83% và lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1378mm.
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi ba con sông chảy vào hồ, nhưng nước hồ vẫn duy trì màu xanh và có tốc độ lưu thông 5m/s, giúp hồ luôn trong sạch và tươi mát.
Ba Bể là một hồ nước độc đáo, vừa có tính chất sông vừa có tính chất hồ, với độ sâu trung bình từ 20 đến 25m, nơi sâu nhất đạt 35m và nơi nông nhất từ 5 đến 10m Mùa lũ, mực nước hồ có thể dao động từ 2,5 đến 3m so với mức bình thường Đáy hồ không bằng phẳng, với nhiều núi ngầm và hang động, tạo điều kiện lý tưởng cho các loài thủy sinh và động vật dưới nước sinh sống.
Hồ Ba Bể, với diện tích 500ha và sức chứa bình quân 90 triệu m3 nước, đóng vai trò quan trọng trong việc phân lũ cho lưu vực sông Năng và sông Lô tỉnh Tuyên Quang Khi lũ sông Năng gia tăng, hồ Ba Bể hoạt động như một bể chứa nước, và khi lũ giảm, nước trong hồ lại được xả ra sông Năng, giúp điều tiết lũ cho các lưu vực sông Gâm và sông Lô Giá trị này của hồ Ba Bể rất quan trọng đối với việc quản lý lũ lụt trong khu vực.
Hồ Ba Bể nhận nước từ các nguồn chính như Sông Tà Han và suối Bó Lù ở phía Tây, cùng với sông Chợ Lèng ở phía Tây Nam, tạo thành hệ thống thủy văn phía Nam của Vườn Quốc Gia Nước từ Hồ chảy theo hướng Nam - Bắc, đổ ra sông Năng ở phần phía Bắc của VQG, sau đó tiếp tục theo hướng Tây để gặp sông Gâm tại phía Đông tỉnh Tuyên Quang.
Vườn quốc gia nằm trong khu vực sinh học Đông Bắc, nổi bật với địa hình đa dạng bao gồm núi đất và núi đá, tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều kiểu thảm thực vật và thực vật rừng đặc trưng.
Theo nghiên cứu của các nhà thực vật thì Vườn quốc gia Ba Bể có ít nhất
Rừng kín lá rộng nhiệt đới thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi phân bố ở độ cao từ 400 đến 1000m Kiểu rừng này ngày càng hiếm và đặc trưng bởi các ưu hợp thực vật như Nghiến, Đinh thối, lát hoa cùng một số loài họ Dẻ.
Rừng trên núi đá vôi, mặc dù còn diện tích lớn, nhưng chủ yếu là rừng thứ sinh sau khai thác chọn, dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc và tổ thành thực vật Các loài chính trong rừng bao gồm Thung, Đinh thối, cùng với các loài ven hồ như Trám trắng, Mùng quân và Trâm vối.
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi đất cao trung bình, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 700 đến 1500m, đã bị khai thác nhiều lần, dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc rừng Các đỉnh núi cao có sự xuất hiện của các loài như Dẻ, Thích, Côm, Lòng mang, trong khi vùng sườn núi chủ yếu có Đinh, Lát, Sấu Bên cạnh đó, vùng phục hồi sau nương rẫy có sự góp mặt của các loài cây như Hu, Trám, Sòi, Chẹo.
Trảng cây bụi và cây gỗ mọc rải rác chủ yếu xuất hiện ở vùng đất thấp, nơi đã bị thoái hóa do hoạt động canh tác nương rẫy Trong loại rừng này, các loài cây gỗ như Thôi ba, Thôi chanh, Hồng bì cùng với những loại cây bụi như Tổ kén và Cò ke thường gặp.
Rừng tre nứa là kiểu rừng thường xuất hiện ven hồ, bao gồm các loài như Vầu và Trúc sáo Ngoài ra, trên các vách đá dọc theo sông Năng, có sự hiện diện của Trúc dây, một loài đặc hữu tại Ba Bể.
Khu hệ thực vật ở Ba Bể mang đặc trưng bản địa Bắc Việt Nam với 2 yếu tố cơ bản như sau:
- Yếu tố bản địa có các họ: Re, Dâu, Trầm, Dẻ Đậu, Trôm, Xoan, Bồ hòn, Bứa…
- Yếu tố di cư gồm:
Tình hình dân sinh – kinh tế
Vườn Quốc gia Ba Bể tọa lạc tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, giáp ranh với huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang ở phía Tây Khu vực này có mối liên hệ vùng đệm với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nà Hang (xã Đà Vị, huyện Nà Hang) Hiện tại, trong khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn có 524 hộ dân với khoảng 3.200 nhân khẩu, trong khi số dân sống trong vùng đệm lên tới hơn 6.000 người.
Khu vực này có sự đa dạng dân tộc với người Tày chiếm 44%, người H’mông 54%, và các dân tộc khác như Dao, Nùng, Kinh chiếm 2% Mặc dù có nhiều dân tộc khác nhau, nhưng cư dân nơi đây sống đoàn kết và có tính cộng đồng cao Mỗi dân tộc đều giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo của riêng mình Người Tày thường xây nhà sàn bằng gỗ ở vùng thấp để thuận tiện cho nông nghiệp, đánh bắt cá và dệt vải, trong khi người H’Mông và Dao sinh sống trên các sườn núi cao hoặc thung lũng, chủ yếu canh tác nương rẫy, du canh và săn bắt động vật hoang dã.
Người dân ở đây chủ yếu canh tác lúa nước và nương rẫy, với thu nhập bình quân hàng năm khoảng 298kg lương thực quy thóc Các hộ nghèo thường thiếu lương thực từ 2 đến 4 tháng trong năm Chi tiêu hàng ngày của mỗi gia đình chủ yếu dựa vào sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm khai thác từ rừng Khi nguồn thu từ nghề rừng giảm sút, họ phải phụ thuộc vào thu nhập từ sản xuất nông nghiệp (lúa, hoa màu, sản phẩm phụ) và các khoản trợ cấp từ Nhà nước (nếu có).
Bảng 3.1 Thu nhập của dân cư vùng Hồ Ba Bể
TT Xã Dân số Đất NN bình quân (ha)
Thu nhập bình quân năm
5 Quảng Khê 2993 0.13 Không có số liệu
7 Hoàng Trĩ 1221 0.08 Không có số liệu
Theo báo cáo đa dạng sinh học VQG Ba Bể tháng 8/2000, tình trạng kinh tế kém phát triển đi đôi với trình độ dân trí thấp tại 7 xã quanh VQG Mỗi xã chỉ có một trường tiểu học, nhiều trường lớp xuống cấp, cơ sở vật chất nghèo nàn và thiếu giáo viên Tình trạng mù chữ vẫn còn phổ biến, với 11,8% người đến tuổi không đi học và chỉ 4,4% đạt trình độ cấp III, trong khi tỷ lệ người có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm 0,1%.
Cơ sở hạ tầng giao thông tại khu vực Hồ Ba Bể chủ yếu được kết nối qua đường ô tô chính - đường 258, nối huyện lỵ với thị trấn Bằng Lũng - huyện Chợ Đồn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển từ trung tâm huyện đến Vườn Quốc Gia Tuy nhiên, giao thông tại các xã xung quanh hồ vẫn gặp nhiều khó khăn Người dân địa phương thường sử dụng thuyền độc mộc, xuồng máy và đi bộ, trong đó thuyền độc mộc đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng cư dân vùng hồ.
Ngành Điện lực Bắc Kạn đã kết nối điện lưới quốc gia đến khu vực VQG Ba Bể, tuy nhiên, đến năm 2000, chỉ có 250 trong số 3197 hộ của 7 xã vùng hồ được sử dụng điện.
Hai xã Khang Ninh và Nam Mẫu đã có điện, chiếm tỷ lệ 7,8% Tại khu vực hồ Ba Bể, người dân đã khai thác các nguồn nước để xây dựng các nhà máy thuỷ điện nhỏ.
Hiện trạng kinh tế - xã hội tại các xã quanh VQG cho thấy phần lớn người dân vẫn sống trong cảnh nghèo đói, kèm theo đó là trình độ dân trí thấp Nhiều người, nhằm cải thiện thu nhập, đã bất chấp pháp luật để khai thác lâm sản trái phép Mặc dù công tác quản lý bảo vệ VQG và nhận thức của người dân đã được cải thiện, nhưng nghèo đói và dân trí thấp vẫn là những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn Để đạt được sự bền vững trong bảo tồn, cần phải nâng cao đời sống và nhận thức của người dân một cách nhanh chóng.
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Hiện trạng một số loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể
4.1.1 Số lượng ngành, họ, chi, loài của các cây thuốc phân bố tại khu vực nghiên cứu
4.1.1.1 Đa dạng về bậc ngành
Kết quả nghiên cứu từ tài liệu của hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể cho thấy vùng nghiên cứu này có nhiều loại cây thuốc mà người dân thường sử dụng để chữa bệnh.
Bảng 4.1: Sự phân bố và tỉ lệ thực vật theo ngành tại khu vực nghiên cứu
- Ngành hạt trần (Pinophyta) có 4 họ, 4 chi, 4 loài
- Ngành Dương xỉ (Piodiophyta) có 4 họ, 5 chi, 5 loài
- Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 90 họ, 205 chi, 372 loài
Thành phần loài cây thuốc tại đây rất đa dạng và phong phú, không chỉ về số lượng mà còn về sự phân bố giữa các ngành khác nhau.
98 họ, 214 chi, 381 loài, trong đó nhiều nhất là ngành Ngọc lan (Mognoliophyta)
25 với 90 họ (chiếm 90.88%), 205 chi (chiếm 92.6%) và 372 loài (chiếm 98.1%) Hai ngành còn lại chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ không đáng kể
4.1.1.2 Sự đa dạng về bậc họ của cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể
Qua nghiên cứu thực địa, chúng tôi phát hiện tại Vườn quốc gia Ba Bể có 90 họ thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc trong y học và các bài thuốc dân gian của các dân tộc địa phương Khu vực này không chỉ nổi bật với sự đa dạng sinh học mà còn là nguồn tài nguyên quý giá cho y học cổ truyền tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Sự đa dạng của 10 họ được sử dụng nhiều nhất và được thống kê qua bảng 4.2
Bảng 4.2: Đánh giá về sự đa dạng bậc họ của cây thuốc tại
Vườn quốc gia Ba Bể
Tên khoa học Tên Việt Nam Số lượng Tỉ lệ
Bảng 4.2 cho thấy sự phân bố không đồng đều về số lượng giữa các chi và loài trong họ Trong số đó, chi cúc có số lượng loài nhiều nhất với 23 loài, trong khi một số chi khác lại có số lượng loài ít hơn.
26 họ Long não 4 loài Để đánh giá mức độ đa dạng của bậc họ chuyên đề áp dụng công thức 4.1 P = 𝑛𝑖 Σ𝑁1 = x100 (của Tolma cho VA.L, 1974) (4.1) Trong đó:
- P%: Tỉ lệ % tổng số loài trong 1 họ có số lượng loài lớn nhất so với tổng số các loài đã được điều tra ngoài thực địa
- ni: Tổng số loài trong 10 họ có số lượng loài lớn nhất
- Ni: Tổng số loài điều tra được trong khu vực nghiên cứu Vậy ta có thể lý giải
+ P% < 50% Tổng số điều tra được thì ta kết luận khu vực nghiên cứu có thành phần cây thuốc đa dạng về họ
+ P% > 50% Tổng số loài điều tra được thì ta kết luận khu vực nghiên cứu có thành phần cây thuốc không đa dạng về họ
Trong khu vực nghiên cứu, chỉ có 10 họ cây thuốc chiếm 5,98% tổng số loài, cho thấy sự đa dạng của thành phần loài cây thuốc ở cấp bậc họ.
Nghiên cứu cho thấy sự phân bố không đều giữa các chi, với Ficus dẫn đầu khi có tới 9 loài, trong khi một số chi chỉ có 2 loài Để đánh giá tính đa dạng, 10 chi có số loài nhiều nhất đã được chọn và thể hiện trong bảng 4.3.
Bảng 4.3: Bảng đánh giá tính đa dạng về bậc chi
Số loài Tỉ lệ (%) Tên khoa học Tên khoa học
Khu vực nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Bể có tổng cộng 51 loài thực vật, trong đó 3 chi Ficus, Euphorbia và Cinnamomum chiếm số lượng lớn nhất với 9 và 7 loài, tương ứng Điều này cho thấy hệ thực vật tại đây rất đa dạng về bậc chi, đặc biệt là các loài có giá trị dược liệu cao.
4.1.1.4 Đa dạng về bậc loài
Vườn quốc gia Ba Bể, nằm tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, có diện tích nhỏ so với toàn tỉnh và cả nước, nhưng lại sở hữu một tỷ lệ thực vật cây thuốc đáng chú ý, chiếm 9,89% tổng số cây thuốc của Việt Nam với 381 loài trong tổng số 3849 loài Đây chỉ là những số liệu ban đầu, và nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng trong tương lai, số lượng cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể có thể sẽ gia tăng đáng kể.
Kết quả điều tra số liệu cây thuốc thường được người dân sử dụng tại khu vực này được thể hiện ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Bảng đánh giá tính đa dạng về loài ST
Tên phổ thông Tên khoa học Dạng sống Bộ phận sử dụng
1 Củ nâu Dioscorea cirrhosa lour Thân leo Củ
2 Hà thủ ô Fallopia multiflora (Thunb.) Spreng Thân leo Củ
Paris polyphylla Sm Cây bụi Củ, thân
Tinosprasinensis Thân leo Thân, lá
5 Dây gắm Gncyumynemom Thân leo Lá, thân
6 Ngũ gia bì Schefflera Octocphylla Cây bụi Thân, quả
7 Gừng gió Zingiber zerumbet Cây bụi Củ
8 Cây gấc Momordica cochinchinensis (lour)
9 Huyết đắng Sargentodoxa cuneata Thân leo Thân
10 Nhội Bischofia javanica Blume Thân gỗ Cành, lá
11 Cây một lá Nerlivia fordii schultze Thân thảo Thân, củ, lá
12 Thông đất Huperzia squarrosa Thân thảo Thân, lá
13 Tầm bóp Physalys angualata Thân thảo Quả, thân
14 Diếp cá Houttuynia cordata Thân thảo Thân, lá, rễ
Phyllanthus urinaria Thân thảo Thân, lá
16 Ngải cứu Artemisia vulgaris Thân thảo Thân, lá
Smilax glabra Cây bụi Củ
18 Ba kích Morinda officinalis How Cây bụi Rễ
19 Đỗ trọng Eucomia ulmoides Thân gỗ Vỏ
Gynostemma pentaphyllum Thân leo Thân, lá
Anoectochilus setaceus Thân bò Rễ, thân, lá
22 Xạ đen Celastrus hindsii Thân gỗ Cành, lá
23 Kinh giới Elsholtzia cristata Thân thảo Thân, lá
24 Chuối hột Musa acuminata Thân thảo Hoa, quả
Lactuca indica Thân thảo Thân, lá
26 Sa nhân Amomun santhioides Wall Cây bụi Quả, thân
Stemona toberosa leor Thân leo Củ
28 Sâm nam Selgeffleraheptaphylla Thân thảo Củ
29 Hoàng tinh Rhizome Plygonati Cây bụi Củ, thân
30 Bìm bịp Clinacanthus nutans Thân thảo Thân
Fbraureatinetoria Thân thảo Củ, thân
32 Lược vàng Callisia fragrans Thân thảo Thân, lá
4.1.2 Tính đa dạng cây thuốc về dạng sống
Vườn quốc gia Ba Bể sở hữu đa dạng các dạng sống của cây thuốc, bao gồm cây gỗ, cỏ một năm, cỏ trùm, cỏ nhiều năm và thân thảo Kết quả thống kê chi tiết được trình bày trong bảng 4.5.
Bảng 4.5: Bảng thống kê dạng sống các loài STT Dạng sống Số lượng loài Tỷ lệ (%)
Theo bảng 4.5, Vườn quốc gia Ba Bể có sự đa dạng phong phú về cây thuốc, trong đó cây bụi chiếm số lượng lớn nhất với 139 loài, tương đương 36,48% Cây thân thảo đứng thứ hai với 123 loài (32,28%), tiếp theo là cây gỗ với 86 loài (22,57%) và dây leo có 33 loài (8,66%) Những số liệu này cho thấy cây bụi đóng vai trò quan trọng trong tài nguyên cây thuốc của khu vực, từ đó cung cấp cơ sở cho việc đánh giá và xây dựng chính sách bảo tồn hiệu quả trong tương lai.
4.1.3 Sự phân bố cây thuốc theo nơi sống
Tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể được người dân vùng đệm sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các sinh cảnh vùng núi cao Số lượng loài cây thuốc thường gặp không đồng đều giữa các sinh cảnh, với một số loài có khả năng phân bố ở nhiều sinh cảnh khác nhau, trong khi một số loài chỉ phát triển trong những điều kiện sinh cảnh cụ thể.
Giá trị sử dụng và tri thức cây thuốc tại cộng đồng
4.2.1 Tình hình sử dụng cây thuốc tại cộng đồng
Tại khu vực sinh sống của người dân, cây thuốc hoang dại và y học cổ truyền đóng vai trò quan trọng trong việc chế biến và chiết xuất các phương thuốc chữa bệnh hiệu quả Phương pháp chữa bệnh bằng cây thuốc nam không chỉ tiết kiệm chi phí so với thuốc tây mà còn mang lại hiệu quả lâu dài, không gây tác dụng phụ và rất tốt cho sức khỏe.
Kết quả điều tra tại Vườn quốc gia Ba Bể cho thấy hơn 65% cây thuốc mà người dân sử dụng được thu hái từ tự nhiên, chủ yếu từ các quần thể rừng Do đó, việc khai thác cây thuốc trong rừng tự nhiên vẫn diễn ra thường xuyên và liên tục.
Mặc dù có nhiều loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng để chữa bệnh, nhưng 9 loài phổ biến nhất được các hộ gia đình thu hái nhiều nhất, như thể hiện trong bảng 4.6.
Bảng 4.6: Những loài được thu hái phổ biến hiện nay tại
Vườn quốc gia Ba Bể STT Tên phổ thông Tên khoa học Họ
1 Dây đau xương Tinosprasinensis Menispermaceae 20 6,82
3 Huyết đắng Sargentodoxa cuneata Sagertodoxaceae 31 9,19
4 Giảo cổ lam Gynostemma pentaphyllum Cucurbitaceae 50 16,02
7 Chuối hột Musa acuminata Musaceae 48 14,2
8 Lan kim tuyến Anoectochilus setaceus Orchidaceae 39 11,57
9 Hoàng tinh Rhizome Plygonati Liliaceae 27 8,01
Tổng số hộ điều tra là 20 hộ gia đình
Kết quả phỏng vấn hộ gia đình cho thấy mỗi hộ thu hoạch và bán khoảng 20-40kg cây thuốc tươi mỗi tháng, tương đương 20-24 tấn cây thuốc mỗi năm Hoạt động thu hái này có tác động đáng kể đến môi trường tự nhiên.
4.2.2 Các bộ phận của cây thuốc được sử dụng làm thuốc
Nghiên cứu về các bộ phận của cây thuốc cho thấy sự phong phú và đa dạng trong khả năng phòng và chữa bệnh, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và bảo tồn cây thuốc Điều này giúp đánh giá tiềm năng và tính bền vững của việc khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc trong cộng đồng dân tộc tại vùng nghiên cứu.
Thực tế chỉ ra rằng các bộ phận của cây để làm thuốc tại Vườn quốc gia Ba
Bể rất đa dạng và phong phú Người dân sử dụng hầu hết tất cả các bộ phận của cây thuốc để làm thuốc Được thể hiện ở bảng 4.7
Bảng 4.7: Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc
STT Bộ phận sử dụng Số loài Tính bền vững
Theo bảng 4.7, rễ và củ là bộ phận được sử dụng nhiều nhất trong y học dân gian với 125 loài, tiếp theo là cả cây với 113 loài và lá với 112 loài Việc sử dụng rễ, củ và cả cây của nhiều loài cây làm thuốc rất phổ biến, dẫn đến sự biến động của một số loài cây thuốc Do đó, cần tìm ra các biện pháp bảo vệ và phát triển những cá thể còn lại của cây thuốc trong rừng tự nhiên, kết hợp với kỹ thuật nhân giống nhân tạo để trồng với quy mô lớn và mở rộng ra toàn quốc Nếu không có biện pháp nhân rộng, nhiều loài cây thuốc hiện tại như lan kim tuyến, bảy lá một hoa và huyết đắng có nguy cơ bị giảm sút và mất đi.
4.2.3 Tìm hiểu các nhóm bệnh người dân vùng đệm chữa được
Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn hiện đang sở hữu một nguồn dược liệu phong phú, với nhiều loại cây thuốc có khả năng chữa trị các bệnh cho người dân địa phương.
33 cách chữa của người dân thì có thể chia thành những nhóm bệnh sau: Được thể hiện qua bảng 4.8
Bảng 4.8: Các nhóm bệnh người dân chữa được
STT Nhóm các bệnh trị được Tỷ lệ chữa được bệnh (%)
1 Bệnh do thời tiết (cảm cúm, nhức đầu, sốt, ) 70
2 Bệnh ngoài da (ghẻ lở, hắc lào, lang beng,…) 75
3 Bệnh về đường tiêu hóa (tả, lị, tiêu chảy,…) 85
4 Bệnh về đường hô hấp (ho, viêm quản, phế quản,…) 54
5 Bệnh về xương (gãy xương, bong gân, chật khớp,…) 46
6 Bệnh về thận (thận hư, sỏi thận,…) 50
7 Bồi dưỡng sức khỏe (tầm bổ, hồi sức, ) 55
8 Bệnh của phụ nữ (sinh đẻ, bại huyết, đẻ con,…) 68
9 Bệnh về thân kinh (bại liệt, thần kinh tọa,…) 16
10 Động vật cắn (rắn, rết, bọ cạp,…) 65
11 Bệnh về gan (viêm gan, A, B, C,….) 35
12 Bệnh về trẻ em (còi xương, giun, sởi,…) 40
13 Bệnh về răng (sâu răng,…) 30
15 Bệnh vô sinh, yếu sinh lý 65
Tri thức của người dân về việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh rất phong phú và đa dạng, không thể nghiên cứu hết trong một phạm vi nhỏ Tuy nhiên, có thể nhận thấy sự tương đồng trong cách phân chia nhóm bệnh giữa người dân khu vực nghiên cứu và các khu vực khác đã được các nhà khoa học khảo sát Chẳng hạn, nghiên cứu của Tạ Quang Thiệp (2005) về nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào Sán Dì huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ cao các hộ gia đình có khả năng chữa các bệnh như ngoài da, tiêu hóa, suy thận, cúm, sốt, điều này phản ánh sự phong phú và đa dạng của dược liệu từ miền núi mà các dân tộc thiểu số sử dụng.
Thực trạng khai thác cây thuốc vì mục đích thương mại tại khu rừng Vườn quốc gia Ba Bể
4.3.1 Giá trị cây thuốc tại địa phương
Thị trường hiện nay được hình thành bởi cung và cầu, với mục tiêu chính là bảo vệ sức khỏe con người Khi nhu cầu sử dụng thuốc gia tăng, giá trị của các cây thuốc cũng theo đó tăng lên Đặc biệt, những loài cây thuốc hiếm gặp có giá cả tăng nhanh hơn Theo điều tra, người dân cho biết giá nguyên liệu cây thuốc trong khu vực đã tăng đáng kể so với những năm trước.
- Do việc tìm kiếm các loài cây thuốc này khó khăn hơn
- Do nguồn gốc cây thuốc trong tự nhiên đã khan hiếm
- Do sự quản lý của kiểm lâm và pháp luật chặt chẽ hơn
- Do giá cả sinh hoạt tăng nhanh nên giá cả cây thuốc tại vùng nghiên cứu tăng lên theo
Giá cả cây thuốc tại vùng nghiên cứu đã tăng nhanh chóng so với các năm trước, với một số loài thuốc như Bảy lá một hoa, Hà thủ ô, Lan kim tuyến và Dây đau xương tăng gấp 2,5 lần.
Bảng 4.9: Giá trị bằng tiền của các cây thuốc được buôn bán ở Vườn quốc gia Ba Bể
TT Tên thường dùng Tên khoa học Đơn giá
3 Nấm ngọc cẩu Cynomorium songaricum Rupr 350.000 250 87.000.000
Theo điều tra phỏng vấn, sự biến động giá cả của gần 20 loài cây thuốc vào năm 2020 cho thấy khối lượng và giá trị giao dịch giữa thương gia, thầy lang và người dân địa phương Bảng biểu 4.10 thể hiện thứ tự giá trị của các loài cây thuốc từ cao xuống thấp.
Ba kích rừng, Nấm ngọc cẩu và Lan kim tuyến là những cây thuốc có giá trị cao nhất, dao động từ 350.000 đến 1.700.000 VNĐ/kg Tuy nhiên, sự lưu hành của chúng trên thị trường vẫn còn hạn chế, cho thấy rằng số lượng của những loài cây này đang ngày càng hiếm.
Nấm ngọc cẩu, ba kích và lan kim tuyến là ba loại cây thuốc quý có giá trị cao trên thị trường Nấm ngọc cẩu có lượng buôn bán khoảng 250 kg/năm, tương đương 87.000.000 VNĐ Ba kích đạt 100 kg/năm với giá trị 50.000.000 VNĐ, trong khi lan kim tuyến có lượng tiêu thụ 20 kg/năm, tương đương 22.000.000 VNĐ Những loại cây này thường được thương lái thu mua với giá trị rất cao.
Theo thống kê, tổng khối lượng 14 loài cây thuốc phổ biến tại thị trường địa phương đạt 1.660 kg khô mỗi năm, với giá trị lên tới 338.000.000 VNĐ Điều này tạo ra áp lực lớn lên nguồn tài nguyên cây thuốc trong Vườn quốc gia Ba Bể, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của nhiều gia đình nghèo trong khu vực.
4.3.2 Thị trường tiêu thụ cây thuốc tại khu vực nghiên
Hình 4.1: Sơ đồ thị trường tiêu thụ tại Vườn quốc gia Ba Bể
Thị trường thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể và toàn bộ gia đình rất phong phú và đa dạng, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi của khu vực này.
Trung Quốc và các tỉnh lân cận (Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên
Người thu gom sản phẩm
Tỉnh 37 tiếp giáp với Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng và có nhiều thương lái Trung Quốc, mở rộng thị trường dược liệu Tuy nhiên, các đại lý dược liệu và bệnh viện y học cổ truyền không tham gia vào việc buôn bán cây thuốc, vì đại lý chỉ tập trung vào kinh doanh để kiếm lợi nhuận mà không chế biến cây thuốc Họ chỉ buôn bán sản phẩm đã qua chế biến, trong khi các bệnh viện y học cổ truyền lại cần một lượng hàng hóa lớn theo tiêu chuẩn và phương pháp nhất định, do đó việc buôn bán nhỏ lẻ không đáp ứng đủ nhu cầu này.
Tại khu vực điều tra, người dân đã nhận thức rõ tầm quan trọng của rừng và cây thuốc, từ đó việc khai thác và chế biến cây thuốc diễn ra hợp lý và có quy trình Họ hiểu rằng việc khai thác bừa bãi mà không có quy hoạch sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho chính họ Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ người nghèo thiếu hiểu biết vẫn chưa ý thức được việc bảo vệ và bảo tồn cây thuốc, chỉ nhìn thấy lợi nhuận tức thời từ rừng Họ phụ thuộc vào việc thu hái cây thuốc mà không nghĩ đến tương lai, dẫn đến tình trạng một số cây thuốc quý không còn khả năng tái sinh.
4.3.3 Một số bài thuốc dân gian và cách bào chế
Bài 1: Chữa bệnh sỏi thận
Để trị sỏi thận, bạn cần 7 quả chuối hột còn xanh (cả vỏ) Thái mỏng, phơi khô, sao vàng và hạ thổ, sau đó sắc với ba bát nước ấm để ăn cơm, còn một bát uống khi còn nóng sau bữa ăn Mỗi ngày uống 4 bát, hoặc có thể cho vào ấm và hãm như trà, với 3-4 ấm mỗi ngày Chỉ cần kiên trì trong khoảng 1 tháng, sỏi thận sẽ được tống ra ngoài qua đường tiểu tiện.
Bài 2: Chữa tiểu khó, nước tiểu sén đỏ
Rau càng cua 150 – 200g, rửa sạch, cho 300ml nước đun sôi, chia hai lần uống trong ngày Uống liên tục 5 ngày
Bài 3: Hỗ trợ viêm gan vàng da, giải nhiệt, giải độc
Cho nước 3 bát cơm, sắc còn một bát chia làm 3 lần uống trong ngày Dùng liên tục 3 ngày 1 liệu trình
Bài 4: Thuốc an thần, trợ tim, ngủ âm, địa thần kinh
Trộn đều cho vào 600ml nước sắc còn 200ml nước uống hàng ngày trong 1 tháng
Tán bột và uống trước khi ngủ
Bài 6: Chữa bệnh tiêu chảy, kiết lỵ
Hoa gạo 20 – 30g, thái mỏng, sao vàng sắc lấy nước uống ngày 1 hoặc 2 lần uống Uống liên tục 5 ngày
Bài 7: Chữa ho, mất tiếng
Tất cả để tươi, nghiên nát rồi hòa với nước 20ml nước, thêm ít mật ong vừa đủ trộn đều, uống làm 3 lần trong ngày Dùng liên tục 3 – 5 ngày
Bài 8: Trị bong gân, chật khớp
Lá và cành non cỏ rào có thể được vò dập, xào nóng và đắp lên chỗ đau, thay băng sau mỗi 12 giờ Ngoài ra, có thể sử dụng 30g lá vòi vô, 3 củ tỏi và 10g muối ăn, giã nát và đắp lên vùng đau, cũng cần thay băng sau 12 giờ.
Bài 9: Chữa bong gân, gãy xương
Dây đau xương 15g Đại hàn 15g
Ba thứ băm mịn, giã nát và hầm nóng, sau đó đổ vào vải sạch để quấn vào vết thương Thay băng mỗi ngày, liên tục trong 15 đến 45 ngày sẽ giúp vết thương khỏi.
Sắc nước quả ké đầu ngựa, ngậm 10 phút rồi nhổ ra ngậm nhiều lần trong ngày
Bài 11: Điều kinh, bổ huyết
Hà thủ ô lá, rễ 2kg Đậu đen 0,5kg
Đem các nguyên liệu giã nát, cho vào nồi ngập nước và nấu cho nhừ Sau đó, lọc nước cốt bằng vải mỏng, nấu sắc thành cao, rồi thêm 0,5 lít mật ong vào trộn đều và nấu lại cho đến khi thành cao Để hỗn hợp vào hộp hoặc lọ kín, sử dụng một muỗng canh ba lần mỗi ngày, liên tục trong khoảng 1 – 2 tuần để đạt hiệu quả.
Bài 12: Chữa phong thấp, đau nhức chân tay chân yếu mỏi mệt
Tất cả trộn đều, sắc nước uống liên tục với thời gian dài mới có công hiệu
Bài 13: Chữa tắc tia sữa
40 Đổ 500ml nước sắc còn 250ml chia làm 2 lần uống trong ngày Uống khi nước thuốc còn nóng Uống liên tục 5 – 7 ngày
Bài viết này giới thiệu một số bài thuốc dân gian từ các ông thầy lang ở nhiều khu vực, đã giúp chữa khỏi cho nhiều bệnh nhân trong vùng đệm Mặc dù còn nhiều bài thuốc chữa bệnh từ cây rừng của người dân địa phương, nhưng do thời gian hạn chế của chuyên đề tốt nghiệp, tôi không thể khám phá hết tất cả.
4.3.4 Mức độ đe dọa và nguyên nhân suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể
4.3.4.1 Sự khai thác quá mức của người dân
Qua quá trình điều tra và phỏng vấn, nhận thấy rằng người dân vào rừng thu hái cây thuốc chủ yếu vì mục đích kinh tế, điều này được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Các biện pháp bảo tồn
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các ban ngành khác nhau, các ban quản lý bảo vệ rừng, và sự tham gia tích cực của toàn thể người dân cùng các trưởng thôn, xóm.
Cần thiết phải kết hợp biện pháp bảo tồn và gây trồng để bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể và trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
4.4.1 Biện pháp bảo tồn một số loài cây thuốc có nguy cơ bị đe dọa
Bảo tồn in-situ là biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ các loài cây có nguy cơ tuyệt chủng tại rừng tự nhiên, đặc biệt là ở Vườn quốc gia Ba Bể và trên toàn quốc Những loài cây này thường khó gieo trồng và nhân giống, đồng thời có khả năng sống thấp, khiến việc gây trồng ở khu vực khác ngoài môi trường tự nhiên trở nên khó khăn Do đó, hiện tại, việc áp dụng biện pháp bảo tồn chuyển vị cho các cây thuốc này là chưa khả thi.
Trong số các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn và phát triển nguyên vị được thể hiện ở phụ biểu 02
Phụ biểu 02: CÁC LOẠI CÂY NÊN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
STT Tên Việt Nam Tên khoa học SĐVN
5 Cốt toái bồ Drynariafortunei T VU
6 Đẳng sâm Codonopsjaponicas V EN IIA
8 Hoàng tinh Disporopsislongifolia V EN IIA
10 Kim tuyến Anorcotochinluslylei E EN IA
4.4.2 Gây trồng một số loài cây thuốc trong vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Hình thức thuần hóa bảo tồn chuyển vị các loại cây thuốc có nguy cơ bị đe dọa trong tự nhiên không chỉ nhằm bảo tồn mà còn kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế Điều này mang lại khả năng khả thi cao, đặc biệt là ở các vùng đệm khu rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn nguồn gen, và khu phát triển kinh tế tổng hợp cây trồng.
Để bảo tồn hiệu quả các loài cây thuốc, việc xác định chính xác và tỉ mỉ các loài cây cần được đưa vào bảo tồn là rất quan trọng.
- Các tiêu chí để xác định các loài ưu tiên bảo tồn
Các loài hiếm trong tự nhiên có khả năng sinh trưởng tốt và giá trị kinh tế cao, đồng thời sở hữu chất lượng tốt và khả năng tồn tại bền vững Chúng có tiềm năng chiếm lĩnh vị trí thương mại và tạo ra thị trường tiêu thụ rộng rãi và ổn định.
- Các loài có khả năng và nhu cầu tiêu thụ lớn trong cộng đồng
- Góp phần vào bảo tồn tài nguyên cây thuốc
Sau khi đánh giá các cây thuốc theo tiêu chí yêu cầu, những loài cây này sẽ được đề xuất để phát triển, trồng trọt và bảo tồn nguồn gen.
4.4.3 Nâng cao hiệu quả công tác Quản lý nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Để quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể được tốt hơn Em xin đề xuất một số hoạt động cần làm như sau:
- Quy hoạch cụ thể hóa từng phương thức và vùng khai thác
Hỗ trợ cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện hương ước liên quan đến việc thu hái, sử dụng, buôn bán và phát triển cây thuốc Hương ước này sẽ quy định chi tiết từng hạng mục phù hợp với từng đối tượng khai thác, đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào việc phát triển và bảo vệ cây thuốc.
- Quy hoạch cụ thể hóa từng phương thức và vùng khai thác
- Nghiêm cấm những loài đã thống kê thông báo không cho phép buôn bán
- Mở các lớp tập huấn thu hái bền vững, chế biến, bảo quản, và sử dụng cây thuốc cho nhân dân
- Mở lớp tập huấn cho cán bộ kiểm lâm, cán bộ chuyên trách hiểu và nắm bắt được thông tin về các loài cây thuốc
- Mở các lớp tập huấn thường xuyên trao đổi, chuyển giao kĩ thuật cho cán bộ và nông dân địa phương
Hỗ trợ vốn và kỹ thuật canh tác là yếu tố quan trọng trong việc mở rộng mô hình vườn cây thuốc tại nhà, đặc biệt dành cho các hộ dân nghèo và những đối tượng chính sách.
- Tuyên truyền và thông tin kịp thời cho người dân để bảo vệ và phát triển cây thuốc có hiệu quả tốt nhất
- Áp dụng các biện pháp mạnh, hình sự đối với những trường hợp cần thiết
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 5.1 Kết luận
Theo nghiên cứu tại rừng Vườn quốc gia Ba Bể, có ba ngành thực vật chính là Hạt trần, Dương xỉ và Ngọc lan Đặc biệt, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 372 loài (98,1%), 90 họ (90,88%) và 205 chi (97,6%) Khu vực nghiên cứu thể hiện sự phong phú và đa dạng về loài.
Vườn quốc gia Ba Bể có sự đa dạng về dạng sống của cây thuốc, chủ yếu bao gồm cây bụi, cây thân thảo, cây gỗ và dây leo Cây bụi chiếm tỷ lệ cao nhất với 139 loài, tương đương 36,48%, tiếp theo là cây thân thảo với 123 loài (32,28%), cây gỗ với 86 loài (22,57%) và cuối cùng là dây leo với 33 loài, chiếm 8,66%.
Người dân tại khu vực nghiên cứu chủ yếu là các dân tộc Tày, Mông, Dao, sử dụng cây thuốc để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau Tại Vườn quốc gia Ba Bể, họ chủ yếu thu hái cây thuốc từ rừng Trung bình, mỗi hộ gia đình thu hái và bán khoảng 25-35 kg cây thuốc tươi mỗi tháng, dẫn đến việc người dân trong vùng nghiên cứu sử dụng khoảng 15-39 tấn cây thuốc mỗi năm.
- Mỗi năm tại khu vực nghiên cứu Vườn quốc gia Ba Bể thu hái được hàng chục tấn cây thuốc bán ra thị trường khu vực và xuất khẩu
- Nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể đã giảm đi đáng kể khoảng 35 – 45 % so với những năm về trước
Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Bể là hệ quả của việc khai thác quá mức từ người dân trong thời gian dài.
Chuyên đề đã tổng hợp 13 vị thuốc thường được các thầy thuốc sử dụng trong việc điều trị các bệnh thường gặp, cùng với một số cây thuốc quý hiếm được người dân tìm kiếm và áp dụng Mặc dù còn nhiều bài thuốc quý khác tồn tại, nhưng do tính chất bí mật và gia truyền, các thầy lang không thể chia sẻ thêm thông tin.