BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NẠO PHÁ THAI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NI[.]
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
ĐỀ CƯƠNG
MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
Đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NẠO PHÁ THAI CỦA TRẺ
VỊ THÀNH NIÊN HIỆN NAY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
1 Võ Trương Quỳnh Giao 21061141
2 Trương Huỳnh Mai 21076761
Trang 31.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2.1 Mục tiêu chính 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu: 2
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái niệm cơ bản 3
2.1.1 Khái niệm “Vị thành niên” 3
2.1.2 Khái niệm “Nạo phá thai” 3
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 13
2.2.3 Những khía cạnh chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đó 14
III NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP 15
3.1 Thiết kế nghiên cứu: Định lượng và cắt ngang, chọn mẫu xác suất 15
3.2 Chọn mẫu 15
3.3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 17
Trang 43.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.5 Quy trình thu thập dữ liệu 18
3.6 Xử lí dữ liệu 18
IV CẤU TRÚC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN 19
Chương 1: Cơ sở lý luận về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em 19
Chương 2: Nội dung – Phương pháp 19
Chương 3: Kết quả và thảo luận 19
Chương 4: Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế việc nạo phá thai ở trẻ vị thành niên hiện nay 19
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 19
V KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
PHỤ LỤC A 24
PHỤ LỤC B 28
Trang 5I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình phát triển
và hoàn thiện của mỗi người Đây là giai đoạn bước tiếp từ tuổi ấu thơ sangngười trưởng thành Và cũng chính ở giai đoạn này con người phát triển mạnh
mẽ và phức tạp nhất trong một đời của họ Giai đoạn này xảy ra đồng thời mộtloạt những thay đổi bao gồm sự hoàn thiện về thể chất, sự biến đổi về tâm lý vàcác quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách Nhưng đây cũng chính làgiai đoạn nảy sinh nhiều vấn đề về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác Ở tuổinày thì trẻ có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em đang ở vào độ tuổi vịthành niên, nên chưa hoàn thiện hoàn toàn về sinh dục, chưa ổn định về mặt tâmsinh lý và chưa thể làm cha, làm mẹ được
Những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên đangnổi lên như những quan tâm lớn của cộng đồng nhiều nước trong khu vực vàtrên thế giới Ở Hà Lan, theo thống kê gần đây, mỗi năm có khoảng 7000 ca nạophá thai ở tuổi vị thành niên Theo số liệu của Bộ Y tế nước ta, số ca nạo pháthai hàng năm ở độ tuổi vị thành niên là khoảng 120000 ca/năm, chiếm 12% sốngười phá thai ở mọi lứa tuổi
Với các số liệu trên, chúng ta có thể thấy nạo phá thai ở tuổi vị thànhniên là một vấn đề báo động cần được quan tâm nhất Vì vậy để làm rõ vấn đềnày cũng như cho mỗi chúng ta một cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề nhóm chúng
em xin chọn đề tài “Thực trạng nạo phá thai của giới trẻ vị thành niên hiện
Trang 6- Khảo sát thực trạng nạo phá thai ở trẻ vị thành niên hiện nay ở Thành phố
Hồ Chí Minh
- Tìm hiểu hậu quả của việc phá thai ở trẻ vị thành niên
- Đề xuất giải pháp tránh mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai ở giới trẻ
vị thành niên
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng nạo phá thai ở trẻ vị thành niên hiện nay như thế nào?
- Những hậu quả của việc nạo phá thai đối với trẻ vị thành niên là gì?
- Những giải pháp nào giúp giới trẻ vị thành niên tránh mang thai ngoài
ý muốn và việc nạo phá thai ?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến thực trạng nạo pháthai ở trẻ vị thành niên
- Đối tượng khảo sát là các bạn nam và nữ ở độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian khảo sát được tiến hành từ tháng 02/ 2023 đến tháng 04/2023
1.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu được tiến hành giúp tìm hiểu về thực trạng, những hậu quảcủa việc nạo phá thai của trẻ vị thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh và đưa rathêm các giải pháp để hạn chế tình trạng trên
Nghiên cứu làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận, thực tiễn, pháp lý và đánh giáđúng thực trạng nạo phá thai của trẻ vị thành niên hiện nay Từ đó cũng gópphần vào việc nâng cao nhận thức của trẻ vị thành niên ở Việt Nam
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 7Đề tài nghiên cứu này giúp chúng ta nhận ra được hậu quả của thựctrạng nạo phá thai ở trẻ vị thành niên Từ đó giúp trẻ hiểu và nhận thức đúngđắn về tính nghiêm trọng của hậu quả nạo phá thai và giúp các em hiểu thêmcách hạn chế tình trạng này.
Đề tài còn có ý nghĩa trong việc tuyên truyền cho trẻ vị thành niên ýthức, hiểu rõ hơn về tính nghiêm trong của nạo phá thai Nhằm hạn chế phầnnào thực trạng đáng báo động của nạo phá thai ở giới trẻ vị thành niên
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1 Khái niệm cơ bản
II.1.1.Khái niệm “ Vị thành niên”
Vị thành niên còn được gọi là chưa đủ tuổi trưởng thành hoặc là chưa làngười lớn Ở Việt Nam, thì trẻ vị thành niên là trẻ em có lứa tuổi từ 10 – 19tuổi Và trẻ em được luật pháp bảo vệ và chăm sóc giáo dục sẽ dưới 16 tuổi Vềluật pháp vị thành niên là người dưới 18 tuổi Tuổi vị thành niên sẽ được chiathành ba nhóm: nhóm một sẽ từ 10 tuổi đến 13 tuổi là vị thành niên sớm, nhómhai sẽ từ 14 tuổi đến 16 tuổi là vị thành niên giữa, nhóm ba sẽ từ 17 tuổi đến 19tuổi là vị thành niên muộn Khi mà phân chia theo ba nhóm này sẽ được dựatheo các đặc điểm giống nhau, khác nhau về sự phát triển tâm sinh lý và cơ thểcủa tuổi vị thành niên, để dễ phân chia chăm sóc sức khỏe cho phù hợp với banhóm đối tượng Vì vậy cách phân chia này chỉ mang tính tương đối chứ khôngchắc chắn chính xác được
II.1.2.Khái niệm “ Nạo phá thai”
Nạo phá thai là mục đích muốn chấm dứt thai kì hoặc muốn bỏ bào thai
mà không mong muốn thường áp dụng vào các trường hợp thai nhi từ 8 tuầntuổi đến 12 tuần tuổi đang ở trong giai đoạn sớm của chu kỳ thai Phá thai sẽqua một tiểu phẩu tác động đến trực tiếp cơ quan sinh sản của phụ nữ Nạo pháthai tuyệt đối không phải là biện pháp tránh thai mà là do hoàn cảnh gia đình,cuộc sống hoặc là do bắt buộc phải phá Những trường hợp nạo phá thai khi thainhi đã quá lớn là ở giai đoạn hơn 22 tuần tuổi trở lên, khi bỏ thai nhi vào thời
Trang 8điểm đó sẽ rất nguy hiểm lẫn mẹ và con Vì lúc này giai đoạn chu kì thai nhi đã
có kích thước quá to, nếu mà thực hiện phá thai sẽ gây ra rất nhiều biến chứng,thậm chí đe dọa cả tính mạng của mẹ
II.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Bác sĩ Phạm Thanh Hải nói về “ Phá thai ở nữ vị thành niên” Vịthành niên là giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ thiếu niên sang người lớn.Chất lượng của cuộc sống tương lai vị thành niên phụ thuộc nhiều vào những cơhội được tận dụng để phát triển nhân cách cá nhân như học tập, có công ǎn việclàm để có thể tránh được những vấn đề phát sinh ra do quan hệ tình dục nhưmang thai ngoài ý muốn, bắt buộc phải nghỉ học hoặc các tác động nghiêmtrọng đến sức khỏe (Bongaarts và cộng sự, 1998).Giai đoạn hình thành và pháttriển vị thành niên chịu tác động rất lớn bởi những yếu tố kinh tế, vǎn hóa, xãhội đặc trưng Do phong tục tập quán ở những môi trường vǎn hóa xã hội khácnhau rất khác nhau nên rất khó đánh giá vị thành niên theo khía cạnh vǎn hóacủa các quốc gia Tuy nhiên, vị thành niên cũng có những đặc tính chung nhưtính tò mò, ảnh hưởng của bạn đồng lứa đối với các vấn đề tình dục, sự thiếuhiểu biết về thụ thai và sinh sản cũng như tránh thai Theo các nhà nhà nghiêncứu thì đây là những yếu tố ảnh hưởng đến mang thai vị thành niên Tuy nhiên,trong những xã hội khác nhau thì sự ảnh hưởng của những yếu tố này đến vịthành niên cũng khác nhau (UN, 1998) Hiện nay, quan hệ tình dục tuổi vị thànhniên và tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi này đang là một vấn đề xã hội của mọiquốc gia trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam nói chung và Thành phố HồChí Minh nói riêng Bài viết này sử dụng kết quả của một số nghiên cứu và tạpchí để tổng hợp một các khái quát thực trạng phá thai ở nữ VTN và các vấn đềliên quan Hiện nay trên thế giới, phá thai ở phụ nữ VTN rất khác nhau tùythuộc vào nhiều yếu tố như qui định của pháp luật, tôn giáo, phong tục tập quán của từng nước Tỷ suất phá thai ở nữ VTN rất cao như ở Cu Ba (91%), Mỹ
Trang 9(30% – 44%) hoặc rất thấp như ở Đức và Hà Lan (dưới 10‰) Có một thống kêcho rằng trong số 500 triệu thanh thiếu niên tuổi từ 15 – 19 trên thế giới có quan
hệ tình dục có khoảng 1,1 triệu có thai ngoài ý muốn, hậu quả có 38% nạo pháthai, 13% sẩy thai và khoảng 554800 bé gái sanh con Tại Việt Nam, từ năm
1989 luật pháp cho phép phụ nữ được nạo hút thai theo yêu cầu mà không phảiqua các thủ tục phiền hà Việt Nam hiện nằm trong danh sách 10 nước có tỷ lệphá thai cao nhất thế giới (khoảng 20%) Tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết khảo sáttại Thái Bình nhận thấy 1/3 các trường hợp phá thai to tại bệnh viện Tỉnh ở lứatuổi VTN, tỷ lệ này tại Hải Phòng là 17,3% (Trần Việt Phương và cộng sự) Tạithành phố Hồ Chí Minh, theo số liệu thống kê của bệnh viện Từ Dũ cho thấy tỷ
lệ phá thai ở tuổi VTN không ngừng gia tăng theo thời gian (Bs.Phạm ThanhHải, 2010)
Nghiên cứu vấn đề “Thực trạng bạo lực bạn tình và một số yếu tố liênquan ở phụ nữ phá thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2018” của tác giảPhạm Thị Trang Diễn Đàn Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Đà Nẵng năm 2019cho thấy có 34% phụ nữ từng kết hôn cho biết họ từng bị chồng bạo hành về thểxác hoặc tình dục, 58% phụ nữ chịu ít nhất một loại bạo lực về thể xác, tình dục,hoặc tinh thần ít nhất một lần trong đời Người phụ nữ không chỉ chịu bạo lựctrong thời gian chung sống cùng chồng hoặc bạn tình, mà thậm chí họ còn bịbạo lực trong thời gian mang thai, thời gian họ cần được quan tâm và chăm sócnhiều hơn Trên thế giới, 8 – 44% phụ nữ từng bị bất kỳ một loại hình thức bạolực trong khi mang thai Ở Việt Nam, theo một nhiên cứu gần đây nhất (năm2017), hơn 1/3 phụ nữ trong quá trình mang thai đã trải qua ít nhất một hìnhthức bạo lực do chồng (35,2%), trong đó, bạo lực về tinh thần là phổ biến, gần10% phụ nữ trải qua bạo lực tình dục và 3,2% phụ nữ bạo lực thể xác Theothống kê của Tổ chức Y tế thế giới, trong số 211 triệu phụ nữ có thai ước tínhmỗi năm có 46 triệu ca phá thai Tại Việt Nam, phá thai đang ở mức đáng báođộng với ước tính mỗi năm có hơn 1,4 triệu ca nạo phá thai Những năm qua,nhờ có các chính sách quyết liệt về kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ phá thai có
Trang 10chiều hướng giảm, tuy nhiên thực tế đáng lo ngại đó là nhu cầu phá thai tăng lên
ở lứa tuổi vị thành niên Và nhiều bằng chứng cho thấy bạo lực có liên quan đếnviệc mang thai ngoài ý muốn, theo WHO có tới 40% phụ nữ chấm dứt thai kỳ
đã trải qua lạm dụng tình dục và/hoặc thể xác ở một số giai đoạn của cuộc đời.Bạo lực bạn tình có liên quan đáng kể với sức khỏe thể chất và tinh thần củaphụ nữ, không chỉ làm gia tăng tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, gây nạo phá thai,sẩy thai tự phát mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày Trênthế giới đã thực hiện một số nghiên cứu về bạo lực bạn tình trên các đối tượngphụ nữ đã kết hôn hoặc sống chung với bạn tình, phụ nữ mang thai hoặc sausinh Ở Việt Nam, nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ liên quan đến vấn đềsức khỏe sinh sản còn khá hạn chế Có một số nghiên cứu đã thực hiện chủ yếutập trung vào phụ nữ nói chung hoặc phụ nữ trong suốt thời kỳ mang thai Chođến hiện tại, chưa thấy nghiên cứu bạo lực trên đối tượng phụ nữ phá thai đượccông bố Và liệu những phụ nữ đến phá thai có bị bạo lực bạn tình từ trước haytrong khi mang thai và đó có phải là một trong các nguyên nhân dẫn đến pháthai hay không ( Phạm Thị Trang, 2019)
Nghiên cứu “thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai trong nhóm phụ nữmang thai ngoài ý muốn đến phá thai tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020 vàmột số yếu tố liên quan” tác giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh , Trần Thị ThanhThuỷ , Lê Thị Thư (Trường Đại học Y Hà Nội) Điều tra thực trạng trên 396phụ nữ mang thai ngoài ý muốn đến phá thai tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm
2020 Chọn mẫu: Là những phụ nữ mang thai ngoài ý muốn đến phá thai trongvòng 22 tuần đầu của thai kỳ tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội Kết quả: Phụ nữ có
sử dụng BPTT chiếm 74,2%, và sử dụng các BPTT hiện đại chiếm đa số(87,4%) Tỷ lệ sử dụng: bao cao su nam (36,4%), thuốc tránh thai khẩn cấp(29,8%), que cấy tránh thai (15,4%) Nhóm 15 – 19 tuổi có khả năng sử dụngBPTT cao hơn các nhóm còn lại Phụ nữ có đủ con gái trai còn sống có xuhướng sử dụng BPTT cao gấp 3,4 lần so với chỉ có con một bề Phụ nữ cóchồng, người yêu cho rằng lần mang thai này là ngoài ý muốn thì có xu hướng
Trang 11sử dụng BPTT cao hơn 1,8 lần so với nhóm còn lại Phụ nữ mang thai ngoài ýmuốn đến phá thai tại bệnh viện có tỷ lệ sử dụng thất bại BPTT hiện đại cao(Thị Thúy Hạnh Nguyễn, Thị Thanh Thuỷ Trần, Thị Thư Lê, 2022).
Nghiên cứu “kiến thức, thái độ về các biện pháp tránh thai của sinh viênđiều dưỡng trường đại học kỹ thuật y tế hải dương” tác giả Hoàng Thị Bắc ỞViệt Nam nhóm tuổi thanh niên từ 16 tới 30 tuổi có khoảng 6,1 triệu người 1.Khoảng 31,5% trong cơ cấu dân số- chiếm tỉ lệ cao nhất khu vực châu Á 2.Thanh niên Việt Nam hiện nay đang có những thay đổi mạnh mẽ trong quanniệm về tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình…bằng chứng thực tế là họ thểhiện quan hệ tình yêu tự do và cởi mở hơn so với các thế hệ trước trong rấtnhiều vấn đề và đặc biệt là quan hệ trước hôn nhân 3 Việt Nam hiện nay đangphải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản (SKSS) và chămsóc SKSS như có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, tệ nạn ma túy, các bệnh lâytruyền qua đường tình dục (STDs) 4 Theo điều tra Quốc gia về vị thành niên
và thanh niên Việt Nam, tỷ lệ thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hônnhân đang tăng, có đến 44% thanh thiếu niên chấp nhận tình dục trước hôn nhân
và độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ngày càng giảm trung bình 18,1 tuổi 20 5.Theo Hội Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam, trung bình mỗi năm cả nước cókhoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh,sinh viên Việt Nam cũng là một trong ba nước có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới(1,2 – 1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó khoảng 20% là thuộc lứa tuổi vị thànhniên/thanh niên (VTN&TN) 6 Bên cạnh đó, theo thống kê của Bộ y tế, sốngười nhiễm mới HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 20-29 (30%), đường lây chủyếu là quan hệ tình dục không an toàn (58%) 7 Một trong những nguyên nhânchủ yếu của thực trạng trên là do sự hiểu biết chưa đúng và đầy đủ về kiến thức,thái độ và thực hành của VTN&TN về SKSS nói chung và các biện pháp tránhthai (BPTT) nói riêng 8 Nhiều nghiên cứu lớn trên các quốc gia đã khẳng địnhkiến thức, thái độ, hành vi đúng về các BPTT hiện đại trong quan hệ tình dục(QHTD) giúp tránh được có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và STDs 9 Ở Việt
Trang 12Nam, theo thống kê có 40% thanh thiếu niên cho biết rằng họ không hiểu gì vềcác biện pháp tránh thai 10 Nghiên cứu trên sinh viên 6 trường Đại học/Caođẳng của Hà Nội thấy rằng tỉ lệ sinh viên có kiến thức và thái độ tốt về cácBPTT rất thấp chỉ có 10,1% và 10,5% 11 Điều này cho thấy kiến thức, thái độcủa lứa tuổi VTN về SKSS nói chung và các biện pháp tránh thai nói riêng cònthiếu và yếu Trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương là một trong những ngôitrường trọng điểm quốc gia về đào tạo Điều dưỡng theo năng lực và cung cấpnguồn nhân lực Điều dưỡng chất lượng cao cho ngành y tế Sinh viên ĐiềuDưỡng của trường vừa mang đặc điểm chung của giới trẻ Việt Nam vừa lànguồn nhân lực tương lai của ngành y tế Trong tương lai, với vai trò là nhânviên y tế, Điều dưỡng có trách nhiệm và nghĩa vụ tư vấn, giáo dục sức khỏecung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về SKSS nói chung và BPTT nói riênggiúp cộng đồng tăng cường hiểu biết về các BPTT từ đó thay đổi hành vi vàgiúp giảm tỉ lệ có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và STDs Do vậy vấn đề giáodục và tích lũy kiến thức cho sinh viên Điều dưỡng là vô cùng quan trọng Tuynhiên chưa có một nghiên cứu nào khảo sát về kiến thức, thái độ của sinh viênĐiều Dưỡng về các BPTT tại trường Để biết được thực trạng kiến thức, thái độcủa sinh viên Điều dưỡng về các BPTT và góp phần nâng cao hiệu quả củachương trình đào tạo Điều dưỡng tại trường chúng tôi quyết định chọn đề tàinghiên cứu: “Kiến thức, thái độ về các biện pháp tránh thai của sinh viên ĐiềuDưỡng trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương” với các mục tiêu nghiên cứu:
1 Đánh giá kiến thức, thái độ về các BPTT của sinh viên Điều Dưỡng trườngĐại học kỹ thuật y tế Hải Dương 2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiếnthức, thái độ về các BPTT của sinh viên Điều Dưỡng trường Đại học kỹ thuật y
tế Hải Dương (Hoàng Thị Bắc, 2020)
Nghiên cứu vấn đề “ Phân tích các yếu tố tác động đến sự lựa chọnphương pháp tránh thai ở phụ nữ: nghiên cứu tình huống tại Tp Hồ Chí Minh”tác giả Đặng Minh Quang Trong thời kì hội nhập thế giới, cùng với sự pháttriển về kinh tế là sự du nhập và hòa hợp văn hóa với các nước Phương Tây
Trang 13Những vấn đề quan hệ tình dục và sức khỏe sinh sản ngày càng được quan tâm
và phổ biến một cách rộng rãi Nhu cầu quan hệ tình dục an toàn và kế hoạchhóa gia đình trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi người,nhất là trong giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh với cơ cấu dân số gồm 244002người có độ tuổi từ 15 đến 29, chiếm 31.51% tổng dân số của Thành phố, luônxem xét và ưu tiên thực hiện những biện pháp nhằm giảm tỷ lệ có thai ngoài ýmuốn cũng như quan hệ tình dục an toàn trong cộng đồng Tuy rằng đã có rấtnhiều chiến dịch được thưc hiện nhằm hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình, sức khỏesinh sản cho người dân và đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận, tỷ lệ có thaingoài ý muốn cũng như tỷ lệ nạo phá thai vẫn còn rất cao Đồng thời, nhu cầuchăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân, cũng như những quan điểm trongquan hệ tình dục cũng thay đổi theo thời gian Do đó, chúng ta cũng phảithường xuyên tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháptránh thai nhằm hõ trợ đúng nhu cầu của người dân, nâng cao sức khỏe sinh sản,
và phát huy được vai trò của lực lượng lao động trẻ trong quá trình xây dựng đấtnước Bài nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụngphương pháp tránh thai ở thanh niên độ tuổi từ 18 đến 30 ở Thành phố Hồ ChíMinh bao gồm: tuổi, số năm đi học, số lần sẩy thai, số lần nạo, phá thai, kiếnthức về các phương pháp tránh thai, xác suất mang thai khi không sử dụng biệnpháp tránh thai, chuẩn chủ quan trong việc sử dụng TTT, hiệu quả của phươngpháp sử dụng TTT, tính tiện lợi của phương pháp sử dụng TTT, tác dụng phụnhẹ của phương pháp sử dụng TTT Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xác địnhnhững yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn thuốc và BCS ở nhóm có sửdụng phương pháp tranh thai khi quan hệ tình dục như tuổi, số năm đi học, tuổiquan hệ tình dục lần đầu, chuẩn chủ quan trong việc sử dụng TTT, chuẩn chủquan trong việc sử dụng phương pháp rào cản, tác dụng phụ nhẹ của phươngpháp sử dụng TTT Tiếp theo đề xuất các giải pháp nhằm giúp tăng cường sửdụng các biện pháp tránh thai và giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn Tuy nhiêncũng có những giải pháp đưa ra chưa thực hiện được ngay trong điều kiện hiện
Trang 14tại, cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan, đơn vị và chủ thể khác ( Đặng MinhQuang, 2017).
Nghiên cứu “nhận xét đặc điểm của thai phụ phá thai to tại bệnh việnphụ sản hà nội” tác giả Lê Thị Anh Đào ,Nguyễn Duy Ánh (Đại học Y hà Nội,Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội) Mô tả đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng ởnhóm phụ nữ phá thai từ 13 tuần đến 22 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản HàNội Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắtngang trên 171 phụ nữ có thai từ 13 tuần đến 22 tuần, đến phá thai không dobệnh lý mẹ và thai, tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội, từ 1/9/2020 –31/12/2020 Kết quả: Tuổi thai trung bình khi vào viện là 15,8 ± 2,4 tuần, trong
đó 14 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất 28,7% Nhóm đối tượng có 2 con trở lên chiếm
tỷ lệ cao nhất, 45,6% Có 73,7% đối tượng nghiên cứu chưa bao giờ phá thai
Tỷ lệ đối tượng không sử dụng biện pháp tránh thai nào chiếm hơn ba phần tưcác trường hợp Nguyên nhân phá thai chủ yếu là do mang thai ngoài ý muốn,chỉ 2,3% số đối tượng phá thai là do sự phản đối của gia đình Hai phương phápđược sử dụng là phá thai bằng thuốc và nong gắp thai chiếm tỷ lệ lần lượt là25,7% và 74,3% Kết luận: Tuổi thai hay gặp nhất của nhóm đối tượng phá thai
to là 14 tuần chiếm 28,7%, và nong gắp thai là phương pháp được sử dụng chủyếu, chiếm 74,3% ( Thị Anh Đào Lê, Duy Ánh Nguyễn, 2022)
Nghiên cứu “một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sức khỏe sinh sảncủa nữ vị thành niên tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An năm 2022” tác giảNguyễn Thị Bích Nguyệt , Nguyễn Thị Mai Thơ , Hoàng Thị Quỳnh Hương(Trường Đại học Y khoa Vinh) Kế hoạch hành động quốc gia về sức khỏe sinhsản cho vị thành niên Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 đã nhấn mạnh mục tiêu:
ít nhất 80% vị thành niên có hiểu biết về những nội dung cơ bản trong chăm sócsức khỏe sinh sản như tình dục an toàn, các biện pháp tránh thai, hậu quả củamang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, phòng chống các bệnh lâytruyền qua đường tình dục Nghiên cứu được tiến hành trên 409 học sinh nữđang học tại phường trung học cơ sở (THCS) Quỳnh Thiện và trường trung học
Trang 15phổ thông (THPT) Hoàng Mai nằm trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, Nghệ An từtháng 1/2022 đến tháng 6/2022 Kết quả thu được: 35,2% đối tượng nghiên cứu(ĐTNC) có kiến thức chung tốt; 64,8% ĐTNC có kiến thức chung chưa tốt Cómối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0.05) giữa đặc điểm cá nhân ĐTNC vàkiến thức chung về sức khỏe sinh sản: Nhóm em thuộc giai đoạn vị thành niên(VTN) sớm có khả năng có kiến thức chưa tốt cao hơn nhóm VTN muộn (OR =10,08) Nhóm em học sinh cấp 2 có khả năng có kiến thức chưa tốt cao hơnnhóm học cấp 3 (OR = 7,26) Nhóm em sống cùng với cả bố và mẹ có khả năng
có kiến thức tốt hơn nhóm chỉ sống với bố hoặc mẹ/ người khác (OR = 3,16).Nhóm em đã có kinh nguyệt có khả năng có kiến thức tốt hơn những em chưa
có kinh nguyệt (OR = 9,59) Nhóm em đã/đang có người yêu có khả năng cókiến thức tốt hơn nhóm chưa có người yêu (OR = 9,19) Nhóm đã được học vềsức khỏe sinh sản (SKSS) ở trường/câu lạc bộ có khả năng có kiến thức tốt hơnnhóm chưa được học về SKSS (OR = 9,04) Những em có mẹ là nông dân cókhả năng có kiến thức chưa tốt về SKSS cao hơn nhóm có mẹ làm nghề cán bộ(OR = 2,58) (Thị Bích Nguyệt Nguyễn, Thị Mai Thơ Nguyễn, Thị QuỳnhHương Hoàng, 2022)
Nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu
và stress ở phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nộinăm 2021” tác giả Phạm Thị Thu, Đỗ Như Huyền Mục tiêu: tìm hiểu một sốyếu tố liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứtthai kỳ ngoài 12 tuần Phương pháp nghiên cứu: thiết kế kết hợp định lượng vàđịnh tính được sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu Điều tra bằng bảng hỏi với
220 thai phụ và phỏng vấn sâu 22 thai phụ để tìm hiểu các yếu tố liên quan đếnnguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress Kết quả: tuổi càng cao thì nguy cơ mắcbệnh càng thấp; những phụ nữ làm nông nghiệp hoặc lao động tự do nguy cơthấp hơn nhóm làm công chức, viên chức; nhóm có trình độ học vấn cao cónguy cơ mắc bệnh cao hơn Các yếu tố từ gia đình, văn hóa-xã hội và tiền sửsinh sản đều có liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ
Trang 16trước phá thai Kết luận: quá trình quyết định chấm dứt thai kỳ ảnh hưởng rấtlớn đến tâm lý của người phụ nữ Sự giúp đỡ, chia sẻ của gia đình và xã hội lànhững biện pháp trị liệu hiệu quả cho vấn đề sức khỏe này (Thị Thu Phạm, NhưHuyền Đỗ, 2022).
Nghiên cứu “Ngăn chặn hành vi phá thai vì lí do giới tính bằng pháp luậthình sự ở Việt Nam trên cơ sở tiếp thu quy định pháp luật hình sự Cộng hòaLiên bang Đức” tác giả Lê Thị Hồng Trân Phá thai vì lí do giới tính là mộthành vi tàn ác, vô nhân đạo, diễn ra phổ biến ở Việt Nam và để lại nhiều hậuquả nguy hại cho xã hội Tuy nhiên, việc ngăn cấm bằng cách quy định là tộiphạm và trừng phạt đối với hành vi này lại vấp phải nhiều rào cản như: khóchứng minh hành vi phạm tội trên thực tế, mâu thuẫn với việc đảm bảo quyền tự
do riêng tư của phụ nữ Để giải quyết đồng bộ những vấn đề trên, bài viết thamkhảo quy định có liên quan trong Bộ luật hình sự của Cộng hòa liên bang Đứctrong việc đề xuất giải pháp ngăn chặn hành vi phá thai vì lý do giới tính bằngpháp luật hình sự ở Việt Nam (Hong Tran Le Thi, 2017)
II.2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Barbour B nghiên cứu về kiến thức và thực hành của SV đại học Beirut,
Li Băng (2009) cho thấy: mức độ kiến thức của sinh viên thấp Nghiên cứu củaAlves A.S và Lopes M.H (2008) trên 295 sinh viên tại một trường đại học tạiSao Paulo về kiến thức, thái độ và thực hành về thuốc tránh thai cho thấy kiếnthức của sinh viên cao hơn thực hành của họ (Alves A.S., Lopes M.H., 2008) Nghiên cứu về nạo phá thai tuổi vị thành niên ở Thụy Điển (2005) thấy
vị thành niên đồng tình với nạo phá thai Vị thành niên thường ngại sử dụng cácbiện pháp tránh thai và QHTD khi sử dụng bia rượu là yếu tố làm tăng nguy cơ
có thai Các dữ liệu trong nghiên cứu của Zhou H cho thấy 58,7% sinh viên cóthể chấp nhận QHTD trước hôn nhân, 29,7% có thái độ tiêu cực đối với biệnpháp tránh thai (Zhou H., Wang X., Ye F et al, 2012)