1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths câu ghép tiếng việt cấu trúc ngữ nghĩa cấu trúc lập luận cấu trúc thông tin

150 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Ghép Tiếng Việt: Cấu Trúc Ngữ Nghĩa - Cấu Trúc Lập Luận - Cấu Trúc Thông Tin
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Án
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 366,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quan hệ giữa các vế trong CG xét trên ba phương diện: ngữ nghĩa, lập luận và thông tin để từ đó tìm ra các kiểu cấu trúc của kiểu câu này theo từngphương diện cũng có nghĩa là

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Trong ngữ pháp truyền thống, bên cạnh việc nghiên cứu câu theo mục đích nói

(phân loại câu theo mục đích nói), theo tình thái (câu khẳng định, câu phủ định), người

ta thường nghiên cứu câu ở phương diện hình thức Theo đó, câu được phân tích rathành các mô hình cấu trúc với các bộ phận - các thành phần câu như: chủ ngữ, vị ngữ,

bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ Đây là cấu trúc ở dạng tĩnh, được gọi là “cấutrúc cú pháp”, nó cần cho việc hiểu câu đúng và tạo câu đúng Tuy nhiên, theo hướngnày, câu vẫn chỉ được coi như là một cái gì độc lập với nghĩa và chức năng của nótrong giao tiếp Sau đó, như một sự phát triển tất yếu của khoa học, ngữ pháp hiện đại

ra đời, câu được chú ý nhiều hơn tới mặt nội dung, hoàn cảnh và mục đích sử dụng vớicác kiểu cấu trúc khác như: cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc lập luận,cấu trúc thông tin

1.2 Câu ghép (CG) là kiểu câu có tần số xuất hiện cao trong nhiều loại hình văn

bản Nó là phương tiện ngôn ngữ diễn đạt những sự vật, sự việc, hiện tượng… trongthế giới hiện thực và thế giới tinh thần của con người được đặt trong những mối quan

hệ với nhau Để thực hiện được chức năng đó, mỗi CG phải chứa ít nhất hai vế (haimệnh đề), mỗi vế thông báo một sự việc và giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ gắn

bó, chi phối lẫn nhau theo kiểu: “có sự kiện này là do có sự kiện kia, sự kiện này lànguyên nhân, điều kiện, mục đích hay hệ quả của sự kiện kia” [116, tr.151] Đây có thểxem là một thuộc tính tất yếu của CG, đồng thời cũng là cơ sở để phân biệt CG với cáckiểu câu khác (câu đơn, câu phức, câu đặc biệt)

Như thế, khi nghiên cứu về CG, không thể không nghiên cứu mối quan hệ giữa các

vế tạo nên nòng cốt CG Chúng tôi cho rằng, giữa các vế trong CG có thể tồn tại nhữngmối quan hệ khác nhau: ngoài quan hệ ngữ pháp, quan hệ ngữ nghĩa như phần đôngcác nhà nghiên cứu cú pháp đã khẳng định, chúng còn có nhiều quan hệ khác như:quan hệ lập luận, quan hệ thông tin

1.3 Nghiên cứu quan hệ giữa các vế trong CG xét trên ba phương diện: ngữ nghĩa,

lập luận và thông tin để từ đó tìm ra các kiểu cấu trúc của kiểu câu này theo từngphương diện cũng có nghĩa là chúng tôi đã đặt đối tượng nghiên cứu của mình trongmối tương quan với ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Điều này, theochúng tôi, vừa có ý nghĩa về lí luận (góp thêm tiếng nói minh chứng cho những thànhtựu về một hướng nghiên cứu mà hiện nay đang được các nhà cú pháp chú ý - ngữpháp chức năng), vừa có ý nghĩa về thực tiễn (giúp cho những người quan tâm đến ngữpháp tiếng Việt, đặc biệt là sinh viên ngành Ngữ văn có được cái nhìn toàn diện hơn về

Trang 2

CG trên cả ba phương diện: hình thức, nội dung, cách sử dụng), đồng thời tạo lập vàlĩnh hội CG có hiệu quả hơn.

Với những ý nghĩa trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề Câu ghép tiếng Việt: cấu trúc ngữ nghĩa - cấu trúc lập luận - cấu trúc thông tin làm đề tài nghiên cứu của

mình

2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là CG Đây là kiểu câu hoạt động rộng rãi ởcác loại văn bản, đặc biệt là tác phẩm văn học Vì thế, nguồn ngữ liệu mà chúng tôikhảo sát chủ yếu vẫn nằm trong loại hình văn bản này

Nói đến CG là nói đến mối quan hệ giữa các vế Vì thế, khi xem xét các kiểu cấutrúc ngữ nghĩa, lập luận và thông tin của CG, chúng tôi chủ yếu xem xét quan hệ giữacác vế để tìm ra các kiểu cấu trúc của chúng

Lấy đối tượng nghiên cứu là các kiểu cấu trúc của CG nhưng xét trên hai bình diện:cấu trúc ngữ nghĩa (thuộc bình diện ngữ nghĩa), cấu trúc lập luận, cấu trúc thông tin(thuộc bình diện dụng học), vì thế mọi ứng dụng đối với kiểu câu này cũng chủ yếudừng lại ở hai bình diện đó

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, luận án đặt ra mục đích nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc lậpluận và cấu trúc thông tin của CG tiếng Việt để nhận biết sâu sắc hơn về các phươngdiện ngữ nghĩa, ngữ dụng của CG Đây là một khoảng trống vẫn còn bỏ ngỏ trong cáccông trình nghiên cứu về cú pháp trước đây Qua đó góp phần hoàn thiện lí luận về cácbình diện của CG và nâng cao năng lực lĩnh hội và sử dụng câu Cụ thể:

- Xác lập các kiểu cấu trúc nghĩa trong CG: các loại sự tình (cùng loại và khác loại)biểu hiện ở các vế trong CG, các tham thể chung và riêng của các sự tình trong các vế,các loại ý nghĩa tình thái trong CG

- Xác lập các kiểu cấu trúc lập luận trong CG theo các tiêu chí: các thành phần lậpluận, sự hiện diện của các thành phần lập luận, vị trí của các thành phần lập luận,hướng của luận cứ đến kết luận, độ phức tạp của lập luận

- Xác lập các kiểu cấu trúc thông tin trong CG: CG có các vế chứa hoàn toàn tin mới,

CG có các vế chứa hoàn toàn tin cũ, CG có vế đi trước chứa tin cũ, vế đi sau chứa tinmới, CG có vế đi trước chứa tin mới, vế đi sau chứa tin cũ, CG có các vế đan xen giữatin cũ và tin mới

Trang 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết ba bình diện của câu (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) đểlàm cơ sở lí luận cho đề tài Đề tài của chúng tôi, tuy chỉ nghiên cứu CG trên hai bìnhdiện: ngữ nghĩa và ngữ dụng, nhưng quan niệm về CG không thể không xuất phát từcấu trúc ngữ pháp của nó, cho nên, những vấn đề lí thuyết ba bình diện sẽ được chúngtôi vận dụng để xem xét sự chi phối và tác động của chúng tới các kiểu cấu trúc (ngữnghĩa, lập luận và thông tin) của CG

- Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài: khái niệm cấu trúc nghĩa của câu, kháiniệm cấu trúc lập luận, khái niệm cấu trúc thông tin

- Xác định cơ sở nhận diện các loại sự tình, các tham thể chung và tham thể khácbiệt của các vế, nghĩa tình thái của CG (đối với cấu trúc ngữ nghĩa), các thành phần lậpluận: luận cứ - kết luận (đối với cấu trúc lập luận), các thành phần thông tin: tin cũ - tinmới (đối với cấu trúc thông tin)

- Phân tích các nhân tố chi phối tới từng kiểu cấu trúc (ngữ nghĩa, lập luận vàthông tin) trong CG

- Nghiên cứu các kiểu cấu trúc của CG xét trên hai bình diện: ngữ nghĩa và ngữdụng từ đó khẳng định trong CG, giữa các vế không chỉ tồn tại quan hệ ngữ pháp, quan

hệ ngữ nghĩa mà còn có cả quan hệ lập luận, quan hệ thông tin

4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

4.1 Về khoa học

- Luận án góp phần khẳng định và làm phong phú thêm quan niệm về ba bình diệncủa ngôn ngữ, qua đó góp phần lí giải những vấn đề còn “hạn chế” của ngữ pháptruyền thống

- Thông qua việc nghiên cứu các kiểu cấu trúc ngữ nghĩa, lập luận và thông tintrong CG tiếng Việt cùng với các đặc trưng của nó, luận án khẳng định sự tồn tại đadạng của nhiều kiểu cấu trúc khác nhau trong khuôn khổ một CG, từ đó thấy được vaitrò đa chức năng của kiểu câu này với tư cách là một đơn vị cơ sở trong việc cấu thànhvăn bản

4.2 Về thực tiễn

- Lâu nay, CG tiếng Việt vẫn thường được các nhà nghiên cứu cú pháp xem xét ở

bình diện ngữ pháp gắn với các kiểu cấu trúc: CG đẳng lập, CG chính phụ… và phầnnào đó được nghiên cứu ở bình diện nghĩa với các kiểu quan hệ nghĩa như: quan hệnguyên nhân, quan hệ điều kiện, quan hệ mục đích Thực hiện đề tài này, chúng tôi hivọng những tư liệu và kết quả nghiên cứu có được sẽ giúp cho những người nghiên cứu

về cú pháp nói chung và CG tiếng Việt nói riêng, đặc biệt là sinh viên ngành Ngữ văn

Trang 4

có được cái nhìn đầy đủ và sâu sắc hơn về CG trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữnghĩa và ngữ dụng.

- Góp phần xác định những cách thức nhận diện các kiểu cấu trúc ngữ nghĩa, cấutrúc lập luận, cấu trúc thông tin khi tiếp nhận văn bản và cách thức tổ chức các kiểu cấutrúc này của người nói (viết) trong quá trình tạo lập văn bản

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu

sau:

5.1 Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ: Phương pháp này được sử dụng

khi chúng tôi giải thích, tường minh hóa các kiểu cấu trúc của CG xét trên các phươngdiện: ngữ nghĩa, lập luận, thông tin

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn: Mỗi CG là một đơn vị của diễn ngôn.

Phương pháp phân tích diễn ngôn đòi hỏi xác lập mối quan hệ giữa diễn ngôn và cácđơn vị của nó với ngữ cảnh Chính ngữ cảnh chi phối cấu trúc trong CG, đặc biệt là cấutrúc lập luận và cấu trúc thông tin Do đó phương pháp phân tích diễn ngôn là phươngpháp chính trong đề tài này

5.3 Phương pháp so sánh: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CG xét trên hai bình

diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, cho nên phương pháp này được sử dụng để định vị, khubiệt CG khác với các kiểu loại câu khác (câu đơn, câu phức); nhận diện và khu biệt cáckiểu cấu trúc của CG xét theo từng bình diện, đặc biệt là cấu trúc lập luận, cấu trúcthông tin

Trong quá trình tiến hành đề tài theo các phương pháp trên, chúng tôi bắt buộc phải

sử dụng thủ pháp làm việc là thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu để tìm ra các kiểu cấu

trúc của CG xét theo từng bình diện Chúng tôi đã thống kê được 7100 CG Kết quảnày là cơ sở thuận lợi giúp chúng tôi nhận diện, phân tích và miêu tả các kiểu cấu trúccủa CG được chính xác, phong phú và đạt hiệu quả cao

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo và danh mục nguồn ngữ liệu, nộidung chính của luận án được trình bày trong 4 chương

Chương 1: Tổng quan (gồm 42 trang).

Trong chương này, chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng quát, có tính toàn cảnh vềnhững công trình của những tác giả đi trước có liên quan đến đề tài như: lịch sử nghiêncứu về câu trên thế giới và Việt Nam, lí thuyết về câu ghép, lí thuyết ba bình diệnnghiên cứu câu, trong đó đặc biệt chú ý đến lí thuyết về các kiểu cấu trúc (ngữ nghĩa,

Trang 5

lập luận và thông tin) trong câu Đóng góp chủ yếu của chúng tôi ở chương này là thulượm, hệ thống hóa những vấn đề lí luận, xác lập một khung lí thuyết chắc chắn choviệc phân tích và miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc lập luận và cấu trúc thông tin của

CG ở các chương tiếp theo

Chương 2: Cấu trúc ngữ nghĩa trong câu ghép tiếng Việt (gồm 35 trang).

Trong chương này, trên cơ sở khung lí thuyết đã xác định, chúng tôi đi sâu vàophân tích và miêu tả các kiểu cấu trúc ngữ nghĩa của CG ở các bình diện: các loại sựtình mà các vế trong CG biểu hiện (cùng hay khác loại hình sự tình), quan hệ về thamthể ở các sự tình (có chung hay khác biệt về các loại tham thể cơ sở và tham thể mởrộng) và sự tham gia của thành phần nghĩa tình thái (các vế có chung hay khác biệtnhau về một số loại nghĩa tình thái)

Chương 3: Cấu trúc lập luận trong câu ghép tiếng Việt (gồm 33 trang).

Trong chương này, bắt đầu từ việc xây dựng các cơ sở xác định cấu trúc lập luậntrong CG, chúng tôi đi sâu vào phân tích và miêu tả các kiểu cấu trúc lập luận ở cácphương diện: số lượng các thành phần lập luận, vị trí của các thành phần lập luận, sựhiện diện hay khiếm diện của các thành phần lập luận, hướng của luận cứ đến kết luận

và độ phức tạp của lập luận, qua đó giúp người đọc thấy được bức tranh đa dạng củacấu trúc lập luận ở CG và khẳng định sự tồn tại của quan hệ lập luận giữa các vế củakiểu câu này

Chương 4: Cấu trúc thông tin trong câu ghép tiếng Việt (gồm 31 trang).

Trong chương này, chúng tôi cũng bắt đầu từ việc xây dựng các cơ sở xác định cấutrúc thông tin trong CG (dựa vào ngữ cảnh, vị trí các vế của CG, các từ ngữ có chứcnăng đánh dấu thông tin) để phân loại và miêu tả cấu trúc thông tin của CG (CG có cấutrúc thông tin đơn và CG có cấu trúc thông tin phức hợp) Trên cơ sở đó, chúng tôicũng xem xét các nhân tố chi phối đến trật tự hai thành phần tin cũ và tin mới đượcbiểu hiện trong các vế như cách lập luận, tính liên kết, mạch lạc của văn bản, sự đánhgiá chủ quan của người nói đối với các sự tình được biểu hiện trong câu

Trang 6

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

1.1.1 Trong lịch sử nghiên cứu về ngữ pháp, câu là đơn vị được nghiên cứu sớm

nhất - nó được nghiên cứu từ thời cổ đại cách đây 2000 năm mà người khơi nguồnchính là Aristotle Từ đó đến nay, câu đã được các khuynh hướng, các trường pháingôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau

Mấy chục năm gần đây, dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học,lĩnh vực nghiên cứu câu đã có nhiều sự kiện sôi động, nhiều hướng nghiên cứu mớiđược mở ra, cho phép nhìn nhận, khám phá sâu hơn bản chất của ngôn ngữ với tư cách

là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Theo đó, bên cạnh bình diện kếthọc (tương ứng với bình diện ngữ pháp), vốn đã quen thuộc trong ngữ pháp truyềnthống, câu còn được quan tâm nghiên cứu ở bình diện nghĩa học và dụng học

1.1.2 Trên thế giới, việc nghiên cứu câu trên phương diện nghĩa bắt đầu từ những

luận đề chính yếu của L.Tesnière về cấu trúc tham tố của câu Cấu trúc này được ông

xây dựng vào những năm 30 của thế kỉ XX với tên gọi Lí thuyết diễn trị (valence).

Quan niệm của L.Tesnière là một bước tiến đáng kể trong cố gắng tách ngôn ngữ học

ra khỏi ảnh hưởng của lôgic học Bởi như đã biết, ngữ pháp truyền thống, do chịu ảnhhưởng của chủ nghĩa duy lí nên đã chủ trương phân tích câu theo cấu trúc của mệnh đề,gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, tương đương với chủ thể (S) và vị thể(P) của mệnh đề Trong khi đó, đối với Tesnière, ngữ pháp là vấn đề của ngôn ngữ chứkhông phải là của lôgic Theo ông, “cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và cácdiễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó.Mỗi vị từ biểu hiện “một màn kịch nhỏ”, nó có một diễn trị (valence) riêng được thểhiện trong số lượng các diễn tố của nó” (dẫn theo 55, tr.81-82) Như vậy, theo

Tesnière, khái niệm chủ ngữ trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống đã bị xem

nhẹ: nó không còn là một trong hai thành phần chính của câu nữa, mà chỉ đóng vai trò

là một trong các thực thể quay xung quanh thành tố cốt lõi là vị từ (vị tố) Với lí thuyết

này, ông đã gợi ra một giải pháp nghĩa học độc lập cho việc phân tích câu và do đó, cóthể xem Tesnière là người đã đặt nền móng cho nghĩa học của cú pháp

Sau L.Tesnière, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng đã quan tâm tới vấn đề này C.J

Fillmore (1970) với những mối quan hệ cách (case relationships) hữu hạn và phổ quát

giữa một vị ngữ và các tham tố (arguments) trong khung (frame) động từ Lí thuyết củaFillmore đã được khá nhiều tác giả sau này như: Clark (1971, 1972, 1978), Trần TrọngHải (1972), Nguyễn Đăng Liêm (1973) dùng để miêu tả các ngôn ngữ khác nhau trong

Trang 7

những công trình “Ngữ pháp cách”, trong đó có cả những công trình về tiếng Việt.

J.Lyons (1978) đã đưa ra một danh sách lược đồ (cấu trúc hạt nhân) của câu gồm vị từ/

hệ từ và danh ngữ/ danh từ hay tính từ Một tác giả khác, S.C.Dik (1981), cho rằng

“một cấu trúc chủ - vị hạt nhân xét toàn bộ biểu thị một sự tình được xác định bởithuộc tính hay mối quan hệ do vị ngữ biểu thị liên kết các thực thể do danh tố biểu thị”(dẫn theo 55, tr.91) Theo C.Hagège (1982), không thể phân loại câu dựa trên tiêu chí

về hình thức cú pháp của cấu trúc chủ - vị mà dựa trên lược đồ giữa một bên là sự tình

và một bên là tham tố M.A.K Halliday (1985) - một nhà ngôn ngữ học người Anh nổi

tiếng thế giới vì đã xây dựng được lí thuyết chức năng hệ thống, một lí thuyết đã vàđang thu hút sự quan tâm đáng kể của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó

có các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam quan niệm rằng: “cái phần nằm trong nội dungnghĩa được coi là phản ánh một sự tình được rút ra từ cái thế giới được miêu tả, bêncạnh những bình diện nội dung khác của câu khi nó được xét như một thông điệp” (dẫn

theo 55, tr.93) là bình diện biểu hiện Theo ông, “xét trên bình diện biểu hiện, câu diễn

đạt một “quá trình”, được ta cảm thụ như một thể trọn vẹn, nhưng khi ta biểu hiện nótrong lời nói, ta lại phân tích nó thành một mô hình nghĩa gồm có ba yếu tố: bản thânquá trình, các tham tố trong quá trình và cái hoàn cảnh có liên hệ với quá trình” (dẫntheo 55, tr.93)

Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về câu trên bình diện nghĩa của các nhà ngôn

ngữ học trên thế giới, ở Việt Nam, việc nghiên cứu những cơ chế biểu hiện ngôn từtiếng Việt trên bình diện kết cấu ngữ nghĩa cũng đã được các nhà Việt ngữ học tậptrung nghiên cứu Có thể thấy rõ điều này qua hàng loạt các công trình của các tác giảnhư: Cao Xuân Hạo [55]; Diệp Quang Ban [6, 7]; Nguyễn Thiện Giáp [47]; Bùi MinhToán [116, 117]; Lý Toàn Thắng [103]; Nguyễn Văn Hiệp [57]

Trong các công trình này, các tác giả đã cung cấp cho người đọc một bức tranh cầnthiết và đầy đủ về cấu trúc ngữ nghĩa của câu Dù diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau,song về cơ bản, họ đều gặp gỡ nhau ở quan điểm: cái sự tình được phản ánh vào trong

câu qua điểm nhìn, sự tri nhận của người nói được gọi là nghĩa miêu tả Mỗi sự tình là một cấu trúc nghĩa gồm một vị tố trung tâm và quây quần xung quanh là các tham tố trong chức năng các vai nghĩa, trong đó có những vai nghĩa tất yếu, bắt buộc phải có,

do bị chi phối, bị quy định bởi bản chất ngữ nghĩa của vị tố trung tâm và những vainghĩa không tất yếu, có tính tùy thuộc Như vậy, có thể hiểu cấu trúc nghĩa miêu tảchính là cấu trúc giữa vị tố và các vai nghĩa Cũng thông qua các công trình nghiên cứucủa mình, các nhà ngôn ngữ học đã rút ra một danh sách khá phong phú về các vainghĩa mà hầu như ngôn ngữ nào cũng có cách thể hiện Tuy nhiên, xét riêng về tên gọicác vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa của câu thực sự vẫn chưa có sự thống nhất Song

Trang 8

nhìn chung, các tham thể có tính tất yếu, bắt buộc phải có thường được các tác giả gọitheo chức năng nghĩa (vai nghĩa) mà vị tố ấn định cho nó trong cấu trúc vị tố - tham

thể Chẳng hạn, tác giả Cao Xuân Hạo gọi bằng các tên: vai tác thể, vai hành thể, vai động thể, vai lực thể, vai đương thể, vai đối thể, vai tiếp thể, vai đích [55]; còn tác giả Diệp Quang Ban gọi là động thể, đương thể, cảm thể, phát ngôn thể, đích thể, tiếp thể, đắc lợi thể [8]; hay tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại gọi bằng các tên: người hành động, người tác động, lực tác động, người thể nghiệm, người nhận, người/ vật bị tác động [47]

Theo quan sát của chúng tôi, việc nghiên cứu bình diện nghĩa của câu trong cáccông trình nêu trên chủ yếu mới giới hạn ở phạm vi câu đơn (cú) mà chưa có công trìnhnào nghiên cứu bình diện nghĩa trong CG Vì thế, trong luận án này, một trong nhữngvấn đề mà chúng tôi hướng tới nghiên cứu là cấu trúc nghĩa của CG, đặc biệt là cấutrúc nghĩa xét trong mối quan hệ giữa các vế của CG

1.1.3 Từ năm 1938, trong lòng của ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ dụng học bắt đầu nảy

sinh mà dấu mốc đánh dấu sự ra đời của nó là công trình Những cơ sở của lí thuyết kí hiệu của nhà kí hiệu học Mĩ Charles W.Morris Lần đầu tiên, trong công trình này, ông

đã phân biệt ba bình diện của kí hiệu: kết học, nghĩa học và dụng học Ngôn ngữ là một

hệ thống kí hiệu Ngành dụng học trong ngôn ngữ học được gọi là Ngữ dụng học Tuynhiên, để có một công trình về lí thuyết kí hiệu thì Ch.Morris cũng đã phải dựa trênnhững tiền đề lí thuyết về kí hiệu học của Peirce (1910) Ngoài ra, cũng có nhiều nhànhà nghiên cứu, từ rất sớm đã có những công trình nghiên cứu những phương diệnkhác nhau của ngữ dụng học như công trình về nghĩa học của O.Frege (cuối thế kỉ 19),

công trình Ngôn ngữ học đại cương của Saussure (1916), công trình về phân tích ngôn

ngữ đời thường của L.Wittgenstein (cuối thập kỉ 20) Điều này đã tạo nên bức tranh

đa dạng và phức tạp về sự phát triển của ngữ dụng học

Một trong những vấn đề mà bình diện dụng học quan tâm nghiên cứu là lí thuyếtlập luận Bởi lẽ, trong hoạt động giao tiếp, người nói không đơn thuần chỉ truyền đạt vềmột “cái gì đấy” mà quan trọng hơn là hướng người nghe đến một mục đích nào đấy

Và đây mới chính là mục đích thật sự của nói năng, người ta không tường thuật chỉ đểtường thuật, không miêu tả chỉ để miêu tả Vì nói năng cũng là một hoạt động cho nêntrong quá trình thực hiện hoạt động này, người nói sẽ chuẩn bị những lí lẽ để hướngngười nghe tới kết luận và kết luận này, thông thường người nói hướng người nghe đến

sự chấp nhận chứ không muốn bác bỏ Như vậy, hành động ngôn ngữ thể hiện ở chỗ

người nói đưa ra những luận cứ với những lí lẽ để dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận gọi là lập luận [23].

Trang 9

Lập luận không phải là một vấn đề mới Ngay từ thời cổ đại, từ thế kỉ V trước côngnguyên, lập luận đã được chú ý nghiên cứu Buổi đầu lập luận được coi là một lĩnh vựcthuộc phạm vi của thuật hùng biện - “một nghệ thuật nói năng” Vấn đề này đã được

trình bày trong Tu từ học của Aristote Sau đó nó trở thành vấn đề liên quan đến phép

suy luận logic và phép nói của các diễn giả trước công chúng

Vào thập kỉ 70 của thế kỉ XX, lí thuyết lập luận được quan tâm trở lại Lúc này, lậpluận bắt đầu trở thành địa hạt nghiên cứu của ngữ dụng học Người có công nghiêncứu, chứng minh lập luận là bản chất của ngữ dụng học là hai nhà ngôn ngữ học ngườiPháp là O.Ducrot và J.C.Anscombre Chính hai tác giả này, trong các công trình nghiêncứu của mình đã chứng minh bản chất ngữ dụng của lập luận, chứng minh rằng nókhông bị chi phối bởi các quy tắc, các tiêu chuẩn đánh giá của lập luận lôgic thôngthường O.Ducrot cho rằng “cái nghĩa hàng đầu của một phát ngôn miêu tả là nhằmthực hiện một hành vi lập luận” [18, tr.5]

Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu của ngôn ngữ học thế giới, năm 1993, lần

đầu tiên lí thuyết lập luận được giới thiệu trong Đại cương ngôn ngữ học (tập 2) của tác giả Đỗ Hữu Châu và năm 1998 trong Ngữ dụng học (tập 1) của tác giả Nguyễn Đức

Dân Ở đây, những vấn đề về lí thuyết lập luận đã được các tác giả trình bày một cáchtương đối trọn vẹn và có hệ thống Chúng tôi xin khái quát một số luận điểm cơ bảnsau đây:

Thứ nhất, lập luận được hiểu là một hành động mà người nói đưa ra những lí lẽ

nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy

Thứ hai, một cấu trúc đầy đủ của lập luận gồm hai phần: luận cứ và kết luận

Thứ ba, trong một lập luận, sẽ xuất hiện những yếu tố có tác dụng chỉ dẫn lập luận

đó là tác tử (opérateurs) lập luận và kết tử (connecteurs) lập luận.

Thứ tư, cơ sở để xác định một lập luận là topos (Đỗ Hữu Châu dịch là lẽ thường, còn Nguyễn Đức Dân gọi là lí lẽ) Đó là những chân lí thông thường, tuy không có tính

tất yếu, bắt buộc như các tiên đề lôgic nhưng lại là những kinh nghiệm của cuộc sống

đã được con người phản ánh và đúc kết lại Những “lẽ thường” này là cơ sở để mỗingười xây dựng lập luận của mình

Về sau, lập luận cũng đã được một số tác giả chú ý nghiên cứu trong một số côngtrình nghiên cứu về ngữ pháp, chủ yếu là khi bàn đến tính mạch lạc và liên kết trongvăn bản Có thể thấy rõ điều này trong các công trình của Diệp Quang Ban [9], BùiMinh Toán [115], Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp [110]… Tuy nhiên, trongnhững công trình này, quan niệm về lập luận của các tác giả hầu hết mới chỉ ứng dụngđối với đối tượng là đoạn văn và văn bản, chủ yếu là văn bản nghị luận Ở đó, lập luậnđược coi là yếu tố quan trọng quyết định tính mạch lạc, liên kết cho đoạn văn, văn bản,

Trang 10

đồng thời tạo nên sức thuyết phục đối với người đọc Cũng trong công trình nghiên cứucủa mình, các tác giả này đã đưa ra quan niệm về các thành phần của một lập luận, tuynhiên, giữa các quan niệm có những sự khác biệt, chẳng hạn, Bùi Minh Toán và

Nguyễn Quang Ninh cho rằng trong một văn bản nghị luận thì luận điểm, luận cứ và kết luận là ba thành phần quan trọng làm nên giá trị lập luận cho một văn bản [115], tác

giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp thì quan niệm một văn bản có lập luận

một mặt cần phải nêu rõ các luận điểm, mặt khác cũng phải biết cách luận chứng [110], tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng: luận cứ, kết luận và quan hệ lập luận là những bộ

phận làm nên cấu trúc một lập luận [9], cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu và Nguyễn

Đức Dân, tác giả Đinh Văn Đức nhấn mạnh: cốt lõi của lập luận là hai phương diện: lí

lẽ / luận chứng và kết luận [44]

Như vậy, lập luận đã được quan tâm nghiên cứu cả trong hội thoại, cả trong vănbản tiếng Việt và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, theo quan sátcủa chúng tôi, trong các công trình hiện có đến nay, lập luận được tiếp cận theo cơ cấu

tổ chức của nó nói chung và thông thường quan hệ lập luận được xem xét theo quan hệgiữa các câu, các phát ngôn Còn lập luận diễn ra trong nội bộ một câu, như trong CGthì chưa được quan tâm nghiên cứu Do đó, trong luận án mà chúng tôi tiến hành,những vấn đề về cấu trúc lập luận trong CG sẽ được làm sáng tỏ

1.1.4 Ngữ dụng học đã đẩy khoa học ngôn ngữ phát triển lên một bước mới và

thành tựu nó thu được là hết sức rực rỡ Một trong những nhiệm vụ nghiên cứu của ngữdụng học là làm rõ giá trị thông báo của câu: đâu là tin cũ (tin đã biết, tin cho sẵn), đâu

là tin mới (tin chưa biết, tin cần biết) Như vậy, bên cạnh việc nghiên cứu trên phươngdiện nghĩa, phương diện lập luận, câu còn được nghiên cứu trên phương diện sử dụng,gắn với cấu trúc thông tin

Cấu trúc thông tin được đề cập tới lần đầu tiên dưới tên gọi phân đoạn thực tại, donhà nghiên cứu ngôn ngữ V Mathesius, thuộc trường phái Praha nêu ra vào năm 1936.Tuy nhiên, theo quan niệm của ông thì vấn đề này đã được bàn đến ở khuynh hướngtâm lí học trong nghiên cứu ngôn ngữ từ nửa sau thế kỉ 19, nhưng khi đó “không dùngđến tên gọi này” [2, tr.26] Theo Mathesius, phân đoạn thực tại nghĩa là “làm rõ cáchthức đưa câu vào cái ngữ cảnh sự vật làm cơ sở cho câu xuất hiện” [2, tr.26] Mỗi phân

đoạn thực tại sẽ gồm hai yếu tố cơ bản là điểm xuất phát của câu nói, được gọi là phần

“đề” hay “thông tin cho sẵn” và hạt nhân của nó, được gọi là phần “thuyết” hay “thông

tin mới” Tư tưởng này đã được các nhà nghiên cứu sau đó tiếp thu và vận dụng theonhiều hướng khác nhau, nổi bật là hai hướng sau đây:

Hướng thứ nhất, tiếp tục duy trì cách phân loại lưỡng phân của Mathesius và cáchọc giả của nhóm ngôn ngữ học Praha, tuy nhiên cách nhìn nhận vấn đề có đôi chút

Trang 11

khác biệt Nếu như một số tác giả như Alisova (1971) Li & Thompson (1976) vẫn phânloại “đề - thuyết” theo tiêu chí “cũ - mới”, coi “đề” là “thông tin cũ”, “thuyết” là

“thông tin mới” theo quan niệm truyền thống, hay Chomsky (1970), Jackendoff (1972)thay sự đối lập “cũ - mới” bằng cặp “tiền giả định - tiêu điểm” thì Danes (1966),Halliday (1970) lại xem “đề” là cái được nói đến còn “thuyết” là bộ phận thuyết minhcho đề và không nhất thiết phải tương ứng với khái niệm “cũ - mới” [27]

Hướng thứ hai, không áp dụng cách phân chia lưỡng phân của truyền thống mà đưa

ra cách phân đoạn tam phân là đề - chuyển đề - thuyết (J Firbas, 1966), hay phân biệt

vị thế thông tin của các thành tố ở bình diện dụng học thành bốn chức năng: khởi đề,kết đề, chủ đề và tiêu điểm (S.Dik, 1981), hoặc quan niệm cấu trúc câu xét theo quanđiểm thông báo chỉ có một trung tâm với cốt lõi là hạt nhân thông báo, phần còn lại chỉ

là một cái khung mà nội dung là một tiền giả định được chia sẻ giữa người nói vớingười nghe (Dooley, 1982) [27]

Như vậy, nghiên cứu cấu trúc thông tin, các nhà ngôn ngữ không đặt câu ở trạngthái tĩnh tại mà xem xét câu trong sự vận hành, gắn với người sử dụng và hoàn cảnh sửdụng Qua mỗi giai đoạn nghiên cứu, mỗi quan điểm nghiên cứu, cấu trúc thông tin cóthể được nhìn nhận theo nhiều hướng khác nhau và theo đó sẽ có nhiều kiến giải khácnhau, song nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ nhau ở một điểm chung là:trong mỗi câu đều có thể chia thành hai phần tin: một phần tin biểu thị điều đã được nóiđến trước đó hoặc có thể suy ra từ ngữ cảnh, ít có giá trị thông tin, được gọi là phần tin

cũ và một phần tin lần đầu tiên được đề cập tới, có giá trị thông báo cao, gọi là phần tinmới Xin dẫn ra đây một số quan niệm tiêu biểu:

Trong Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Halliday quan niệm: xét về chức năng thông

tin, trong hình thức lí tưởng, mỗi câu sẽ tương ứng với một đơn vị thông tin, bao gồmmột thành phần tin cũ và một thành phần tin mới Theo ông, ý nghĩa của thông tin cũ

và thông tin mới là ở chỗ: thông tin cũ là “thông tin được người nói thể hiện như thể cóthể phục hồi được”, nó có thể là cái “đã được nói đến trước đó” hoặc là “một cái gì đóhoàn toàn không ở quanh đó mà là một cái gì đó người nói muốn thể hiện như là thôngtin cũ để phục vụ cho mục đích tu từ” Và tin mới là “thông tin được người nói thể hiệnnhư thể không phục hồi được”, “là một cái gì đó chưa được nói đến trước đó” hoặc là

“một cái gì đó ngoài dự kiến, cho dù trước đó nó có được nói đến hay không” [51,tr.475]

Cũng bàn về cấu trúc thông tin, sự phân biệt thông tin cũ và thông tin mới, trong

cuốn sách Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, tác giả W.L Chafe đã nhấn mạnh “ngôn

ngữ có khả năng truyền đạt thông tin từ ý thức người nói đến người nghe” [15, tr.271]

“Thông tin ấy có thể được xem như là được tổ chức trong các câu mà mỗi câu gồm có

Trang 12

các đơn vị ngữ nghĩa tạo nên một hình thể phức tạp” [15, tr.271] Ông quan niệm: tinmới là “thông tin mà lần đầu tiên anh ta (tức người nói) đưa vào ý thức người nghe”.Còn tin cũ là “thông tin mà cả người nói lẫn người nghe đều đã đoán định được tronglúc phát ra câu Cái thông tin chung này là điểm xuất phát dựa trên cơ sở những kháiniệm đã “bay vào không khí” mà cái thông tin mới có thể có liên hệ Thông tin cũ cóthể là chung do môi trường chung xung quanh mà trong đó người nói và người nghe cóhoạt động trao đổi qua lại Trong trường hợp này, chúng ta có thể nói rằng hoàn cảnhchung xung quanh được tạo nên bằng con đường ngôn ngữ học” [15, tr.272].

Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, ởViệt Nam, việc nghiên cứu về cấu trúc tin trong hơn hai mươi năm qua cũng đã để lạinhững dấu ấn khá đậm nét

Mở đầu cho việc nghiên cứu về cấu trúc thông tin ở Việt Nam là tác giả Lí Toàn

Thắng với bài viết Giới thiệu lí thuyết phân đoạn thực tại câu đăng trên Tạp chí Ngôn

ngữ số 1 năm 1981 Trong bài viết này, tác giả chủ yếu giới thiệu về sự phân đoạn chủ

đề - thuật đề của sự phân đoạn thực tại (PĐTT) câu Theo tác giả: “Vì là thông tin thựctại không trực tiếp thể hiện trong sự phân đoạn câu về mặt cú pháp (ra các thành phầncâu) nên cần phải có một sự phân đoạn nữa dành riêng cho thông tin này Sự phân đoạn

đó được gọi là phân đoạn thực tại, thành hai thành phần chủ đề (Theme, Topic) vàthuật đề (Rheme, Comment)” [102, tr.47] Với quan niệm như vậy, tác giả đã đưa rahai cách hiểu về chủ đề và thuật đề như sau: a) “chủ đề là cái mà vào thời điểm giaotiếp người nghe đã biết (hoặc đoán nhận được) nhờ vào ngữ cảnh hoặc vốn tri thứcchung Còn thuật đề là cái mới, cái chưa biết”; b) “chủ đề là cái được nói đến, được nêulàm đề mục của câu, còn thuật đề là cái nói về chủ đề, là trung tâm thông báo của câu.Theo cách hiểu thứ hai này về chủ đề và thuật đề thì cái đã biết và cái mới không liênquan đến sự PĐTT câu mà liên quan đến cấu trúc từ vựng - ngữ nghĩa của câu” [102,tr.47] Tiếp đó, tác giả còn khẳng định: “Xu thế chung của các nhà nghiên cứu là đitheo cách hiểu thứ hai, bởi lẽ ngữ liệu của các ngôn ngữ cho thấy: tuy thường thì chủ

đề trùng với cái đã biết, nhưng cũng có khi nó lại là cái chưa biết, là điều thông tin mới.Ngược lại, tuy thuật đề thường trùng với cái chưa biết, nhưng cũng có khi nó lại là cái

đã biết, là điều thông tin cũ” [102, tr.47] Như vậy, với việc phân biệt chủ đề và thuật

đề, Lí Toàn Thắng đã phần nào giúp cho người đọc có những hình dung ban đầu về cấutrúc thông tin trong câu

Tiếp sau đó, hướng phân tích câu theo cấu trúc thông tin cũng đã được nhiều nhàViệt ngữ học quan tâm nghiên cứu, đó là: Diệp Quang Ban [2, 7]; Cao Xuân Hạo [55];Nguyễn Minh Thuyết [46]; Nguyễn Thiện Giáp [46]; Bùi Minh Toán [116, 117]; TrầnNgọc Thêm [107]; Nguyễn Hồng Cổn [27]

Trang 13

Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả trên đều cho rằng xét trongmối quan hệ với thông tin người nói định truyền đạt và người nghe muốn tiếp nhận, cấutrúc câu được chia thành hai phần, một phần biểu thị cái đã biết hay tin cũ và một phầnbiểu thị cái chưa biết hay tin mới Tất nhiên, tên gọi kiểu cấu trúc và hai thành phần tin

ở những tác giả này thật sự vẫn chưa có sự thống nhất Chẳng hạn, tác giả Trần Ngọc

Thêm (1985) đã sử dụng thuật ngữ nêu - báo để gọi tên cho sự phân đoạn thông báo

trong câu Theo ông, các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc bao giờ cũng được chiathành hai phần rõ rệt: “phần nêu (cái mà người đọc đã biết hoặc giả định là đã biết) và

phần báo (cái mới)” [107, tr.47] Cao Xuân Hạo (1991) thì dùng thuật ngữ: cái cũ - cái mới để gọi tên hai thành phần trong cấu trúc thông tin của câu Ông chỉ rõ: “cái “cũ”

hay cái “cho sẵn” là cái mà người nói căn cứ vào tình huống của cuộc đối thoại mà ứcđoán là đang có mặt trong ý thức của người nghe lúc mình sắp nói Còn cái “mới” làcái mà người nói cho là không có mặt trong ý thức của người nghe lúc bấy giờ ( )Thường thường, người nói có xu hướng chọn cái “cũ” làm đề, tức làm xuất phát điểmcho sự nhận định, và để phần có giá trị thông báo thực sự (“cái mới”) ra sau Đó là mộtcách tổ chức phát ngôn thuận tiện và giản dị” [55, tr.73-74] Tác giả Diệp Quang Ban

(2005) sử dụng thuật ngữ cấu trúc tin và gọi tên hai thành phần trong cấu trúc này là: cho sẵn và mới Tác giả quan niệm: “Phần “cho sẵn” (given) trong câu là phần nội

dung đã được cung cấp hoặc dễ nhận biết trong trường hợp dùng cụ thể đó (vì vậy cũngdịch là phần “cũ”), nó là phần không mang tin, theo đúng nghĩa của từ “tin” Phần

“mới” là phần nghịch đối với phần cho sẵn, nó chỉ ra nội dung chưa được biết đến, nó

là cái mới hay là phần mang tin” [7, tr.274-275]

Trên đây là những trình bày khái quát của chúng tôi về những quan điểm đã trở nêntương đối thống nhất của các nhà nghiên cứu về cấu trúc hai thành phần: tin cũ - tinmới trong câu Nhưng, nhìn chung, khi bàn đến cấu trúc thông tin của câu, hầu hết cáctác giả mới chỉ dừng lại xem xét cấu trúc thông tin trong cú hay câu đơn Theo quan sátcủa chúng tôi, tính đến nay, chưa có một công trình nào quan tâm đến cấu trúc thôngtin trong CG Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sẽ hướng tới đối tượng là CG khinghiên cứu về cấu trúc thông tin

1.1.5 CG như đã nói là một kiểu câu có cấu tạo phức hợp, bao gồm ít nhất hai vế

có quan hệ với nhau cả về ý nghĩa và ngữ pháp Từ xưa đến nay, nó đã trở thành đốitượng nghiên cứu của nhiều nhà cú pháp học Cùng với dòng chảy của thời gian, có thểnói không thể kể hết được có bao nhiêu công trình nghiên cứu, bao nhiêu cuộc tranhluận về nó Các ý kiến tương đồng và dị biệt diễn ra triền miên, nhưng có lẽ nhờ vào

đó mà chúng ta có được cái nhìn đầy đủ hơn về kiểu câu vốn “biểu hiện nhiều mặt cáchiện tượng khách quan” này Đáng chú ý là ý kiến của các tác giả: Nguyễn Kim Thản

Trang 14

[98]; Hoàng Tuệ [120]; Cao Xuân Hạo [55]; Hoàng Trọng Phiến [86]; Diệp Quang Ban[7, 8]; Bùi Minh Toán [116]; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia[121] và sau này là Nguyễn Thị Lương [75]; Nguyễn Thị Thìn [105] Tuy nhiên,trong các công trình nghiên cứu này, hầu hết các tác giả mới chỉ tập trung ở các khíacạnh sau đây:

- Quan niệm về CG

- Đặc điểm của CG về phương diện cấu trúc, quan hệ ý nghĩa giữa các vế

- Cách phân loại CG

- Dấu hiệu nhận diện giữa CG với các kiểu câu khác (câu đơn, câu phức)

Trong quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi đặc biệt chú ý tới vấn đề về quan

hệ giữa các vế trong CG, vì đây cũng chính là vấn đề mà đề tài luận án của chúng tôiđang quan tâm nghiên cứu Các tác giả đều khẳng định rằng, giữa các vế trong CG luôn

tồn tại những mối quan hệ ngữ nghĩa với nhau, đó là quan hệ “nương tựa nhau” (Hoàng Trọng Phiến), quan hệ tương thuộc (Diệp Quang Ban), hay quan hệ thuyết tính

(Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia) Theo đó, các tác giả này đều chorằng trong CG sẽ tồn tại những kiểu quan hệ ngữ nghĩa như: quan hệ thời gian, quan hệnguyên nhân - kết quả, quan hệ điều kiện - hệ quả, quan hệ đối lập

Gần đây nhất, trong Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (2007) và Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt (2012), tác giả Bùi Minh Toán cho rằng, trong CG, đặc biệt là CG

chính phụ, ngoài quan hệ ngữ pháp, quan hệ ngữ nghĩa còn có quan hệ lập luận Tácgiả cũng cho rằng, có thể xem mỗi CG chính phụ là một lập luận ngắn gọn vì giữa các

vế có quan hệ với nhau theo kiểu luận cứ với kết luận [116] Ngoài ra, trong hoạt độnggiao tiếp, CG cũng cần được “hiện thực hóa theo một trật tự tối ưu, trật tự này phục vụcho nhiệm vụ phát ngôn ở bình diện thông báo, lập luận, hoặc liên kết văn bản” [117,tr.60] Những quan điểm này, dù chưa được trình bày một cách chi tiết, song thiết nghĩ,đây sẽ là những gợi mở quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

1.1.6 Việc xem xét cấu trúc câu trên các phương diện hình thức, nội dung và cách

sử dụng đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều và kết quả là chúng ta đã cómột bức tranh tương đối đầy đủ và rõ nét về câu tương ứng với ba bình diện kết học,nghĩa học và dụng học Tuy nhiên, việc xem xét đó mới chỉ dừng lại trong cấu trúc củakiểu câu đơn, kiểu câu mà bản thân nó đáp ứng được nhu cầu tối thiếu về tư duy vàgiao tiếp của con người Nhưng, vấn đề là trên thực tế, chúng ta không chỉ dùng nhữngcâu với cấu trúc đơn giản để giao tiếp mà còn sử dụng những câu phức tạp, thể hiệnmối quan hệ đan giằng giữa các sự việc trong hiện thực khách quan, cũng có nghĩa làthể hiện sự phức tạp trong nhận thức, tư duy của con người Để thể hiện điều đó, nhấtthiết chúng ta phải cần tới một kiểu cấu trúc khác, đó là CG Chính vì vậy, CG vẫn là

Trang 15

một khoảng trống cần được nghiên cứu một cách hệ thống để có cái nhìn toàn diện, phùhợp với đối tượng hơn.

Đề tài của chúng tôi cũng giống như các công trình nghiên cứu khoa học kháckhông thể xây dựng được trên khoảng không Các tác giả đi trước cùng với những côngtrình nghiên cứu của họ mà chúng tôi trình bày khái quát trên đây đã trở thành “tiền đề”

về mặt lí thuyết giúp chúng tôi thực hiện đề tài: Câu ghép tiếng Việt: cấu trúc ngữ nghĩa - cấu trúc lập luận - cấu trúc thông tin.

1.2 LÍ THUYẾT VỀ CÂU GHÉP

1.2.1 Quan niệm về câu ghép

Lâu nay, qua cách phân loại của phần lớn các nhà ngữ pháp truyền thống, CG

thường được xem xét dựa trên dấu hiệu hình thức là số lượng kết cấu chủ - vị (C - V)nòng cốt và mối quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận (các vế) trong CG Theo đó, CG làcâu có từ hai kết cấu C - V trở lên và các kết cấu C - V này không bị bao hàm trongnhau, mỗi kết cấu thông báo một sự việc, giữa các sự việc có quan hệ về nghĩa vớinhau và được thể hiện bằng một quan hệ ngữ pháp nào đó Ví dụ:

(1) Giá như cậu ta bớt lăng xăng quanh thủ trưởng thì có lẽ em yêu rồi.{28, tr.173} Câu trên có hai kết cấu C - V, kết cấu C - V thứ nhất cậu ta bớt lăng xăng quanh thủ trưởng và kết cấu C - V thứ hai em yêu rồi, mỗi kết cấu ứng với một vế câu, hai vế

này có quan hệ phụ thuộc nhau (quan hệ chính phụ) theo kiểu điều kiện - hệ quả, thể

hiện qua cặp quan hệ từ nối kết giá…thì.

Cách xác định CG như trên cho đến nay vẫn được áp dụng một cách cơ bản trongngữ pháp nhà trường Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng dấu hiệu hình thức để xácđịnh CG và phân biệt nó với các kiểu câu khác như: câu đơn, câu phức không phải lúcnào cũng dễ dàng và không phải lúc nào cũng có thể căn cứ vào dấu hiệu hình thức đểkhu biệt, hơn nữa, trong tình hình hiện nay, khi ngữ pháp chức năng đang chiếm giữmột vị trí quan trọng đối với ngành ngữ pháp tiếng Việt thì việc xác định và phân chianhững kiểu câu (câu đơn, câu phức, câu ghép) một cách rạch ròi lại càng trở nên khókhăn hơn Có những trường hợp, nếu chỉ căn cứ vào lí thuyết, sẽ khó lòng xác địnhchúng là CG hay thuộc về những kiểu câu nào khác Ví dụ:

(2) Nếu lụt thì đói.

(3) Này, nếu yêu nhau thật lòng thì cưới đi {29, tr.177}

(4) Mắt đăm đăm nhìn ra cửa bể, Kiều dõi theo cánh buồm xa xa mà nghĩ đến cảnh

cô đơn của mình.

(5) Chiếc xe tải đã nghiến nát chân trái của Trâm khi cô mới bước vào năm cuối cùng của thời cấp hai {28, tr.87}

Trang 16

- Câu (4) và (5) cũng gồm hai bộ phận, mỗi bộ phận được cấu tạo bằng một kết cấu

C - V hoàn chỉnh, song chúng không có tính độc lập về nghĩa Cụ thể, ở (4), quan hệ

giữa hai chủ ngữ mắt và Kiều là quan hệ bộ phận và chỉnh thể, kết cấu C - V có chủ ngữ chỉ bộ phận mắt chỉ biểu thị một trạng thái của chủ thể, nghĩa là nó bị phụ thuộc về nghĩa, trong mối quan hệ với chủ thể là Kiều, do đó nó không thể đóng vai trò là một C

- V có tính độc lập về nghĩa Trên cơ sở đó có thể xem kết cấu C - V mắt đăm đăm nhìn ra cửa bể trong ví dụ này là thành phần trạng ngữ chỉ tình huống (còn gọi là vị ngữ phụ) Câu (5) có kết cấu C - V cô mới bước vào năm cuối cùng của thời cấp hai, nhưng kết cấu này lại được dẫn nhập bằng một danh từ chỉ thời gian khi, vì thế, nó chỉ

đóng vai trò là thành phần phụ có chức năng hạn định ý nghĩa cho danh từ (làm địnhngữ) Và do vậy, nó cũng không phải là kết cấu C - V có tính độc lập về nghĩa Hai câu(4) và (5) không phải là CG, đó là những câu phức

- Câu (6) và (7) gồm hai bộ phận, mỗi bộ phận tạo nên một vế câu, trong đó, vế đứngtrước, tuy không được cấu tạo bằng một kết cấu C - V hoàn chỉnh nhưng vẫn biểu thịmột sự tình tương đối độc lập và hoàn toàn có thể xác lập được mối quan hệ với sự tình

nêu ở vế đứng sau, đó là quan hệ giả thiết - hệ quả (thể hiện bằng quan hệ từ nếu) Tuy

nhiên, sự khác nhau giữa hai câu này là ở chỗ: ở câu (6), chủ ngữ của vế thứ nhất và vếthứ hai hoàn toàn khác nhau, trong đó, vế thứ nhất không nhất thiết phải có thành phầnnày (có thể xem đây là vế CG có nòng cốt của một câu đơn đặc biệt); ở câu (7), chủngữ của hai vế trùng nhau, trong đó, chủ ngữ của vế thứ nhất bị tỉnh lược (đây là vế CG

bị tỉnh lược chủ ngữ) Như thế, nếu một trong hai vế câu hoặc cả hai vế đều không cóchủ ngữ, nhưng nếu giữa chúng vẫn có thể xác lập được một quan hệ như giữa hai vếcủa CG thì vẫn được coi là CG Vậy câu (6) và (7) đều là hai CG

Dựa trên quan niệm về CG của các nhà nghiên cứu, đồng thời căn cứ vào nhữngngữ liệu mà chúng tôi khảo sát được, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xin nêu ra

Trang 17

một số đặc trưng cơ bản của CG làm cơ sở cho việc xác định phạm vi CG Để tiện làmviệc, mỗi bộ phận trong CG có tính độc lập tương đối về cấu trúc hình thức và ý nghĩa,chúng tôi gọi là một vế của CG.

Thứ nhất, về phương diện cấu trúc: mỗi CG phải có từ hai vế trở lên Mỗi vế câu

thường ứng với một kết cấu C - V Ví dụ:

(8) Mày làm con Tuyết phải hư hỏng, mày làm xấu mặt tao, bây giờ tao xin nhờ mày {40, tr.235} (CG có ba vế, mỗi vế tương ứng với một kết cấu C - V)

Thứ hai, về phương diện ý nghĩa: mỗi vế của CG sẽ tương ứng với một sự việc.

Chính vì thế, mỗi CG diễn đạt ít nhất hai sự việc Các sự việc trong CG luôn có quan

hệ lôgic chặt chẽ: toàn bộ sự việc của vế này có quan hệ với toàn bộ sự việc nêu ở vếkia Ví dụ:

(9) Cái quạt điện đang quay, nên tờ giấy bay veo {15, tr.311}

CG trên diễn đạt hai sự việc, trong đó sự việc nêu ở vế đi trước là nguyên nhân tấtyếu dẫn đến sự việc nêu ở vế đi sau Như vậy, chúng được liên kết với nhau theo quan

hệ nhân quả

Thứ ba, về phương tiện ngôn ngữ cơ bản: phương tiện ngôn ngữ cơ bản được dùng

để biểu thị mối quan hệ nghĩa giữa các vế trong CG là hư từ (quan hệ từ, phụ từ) hoặcmột số đại từ Ngoài ra, phương thức ngữ điệu và phương thức trật tự cũng là dấu hiệulàm nên quan hệ gắn bó chặt chẽ về ngữ nghĩa giữa các vế Ví dụ:

- Câu ghép dùng phương thức hư từ:

(10) Nếu anh không hại tôi, thì làm gì tôi không lấy được người chồng tử tế {11,

tr.74} (Dùng quan hệ từ)

(11) Trời tối càng lâu, nỗi sốt ruột của tôi càng tăng {4, tr.79} (Dùng phụ từ)

- Câu ghép dùng phương thức ngữ điệu:

(12) Nàng còn đẹp, nàng chưa yêu thật, nàng còn giữ được rất nhiều tình xuân.

{15, tr.429}

- Câu ghép dùng phương thức trật tự:

(13) Đứa nào nó chửi ông ấy, ông ấy không làm gì được nó, ông ấy cứ người ta ông ấy húc {15, tr.407}

Thứ tư, về yếu tố đánh dấu biên độ của câu ghép: trong CG, đặc biệt là những CG

không dùng phương thức hư từ, các vế câu thường được ngăn cách bằng dấu phảy (,)hoặc dấu chấm phảy (;) Tất nhiên, đặc trưng hình thức này luôn được xác định cùngvới đặc trưng về mối quan hệ ý nghĩa lôgic giữa các vế, bởi nếu không thì không thểtạo thành ý nghĩa CG Ví dụ:

Trang 18

(14) Tôi lỡ quên không giắt theo tiền trong người, nhà hàng cho tôi gửi tạm vật này làm tin, mai mốt tôi sẽ cho người nhà tới chuộc nó về {45, tr.86} (các vế được ngăn

cách bằng dấu phảy, biểu thị quan hệ thời gian kế tiếp)

(15) Và hắn thấy thế làm ức lắm; bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì! {15, tr.28} các vế được ngăn cách bằng dấu

chấm phảy, biểu thị quan hệ nhân quả)

Từ những đặc trưng cơ bản dùng trong việc xác định phạm vi CG đã trình bày trên

đây, chúng tôi xin nêu quan niệm về CG như sau: Câu ghép là câu được cấu tạo từ hai hoặc hơn hai bộ phận có tính độc lập tương đối về cấu trúc và ý nghĩa, mỗi bộ phận tạo nên một vế câu, nêu lên một sự việc, giữa các vế có những quan hệ nhất định và được diễn đạt bằng những phương tiện ngôn ngữ nhất định

1.2.2 Các kiểu câu ghép trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, để phân loại CG, các nhà ngôn ngữ thường căn cứ vào cả kiểu

quan hệ ngữ pháp khái quát giữa các vế trong CG lẫn các dấu hiệu hình thức là các hư

từ Tuy nhiên, vì tiếng Việt không có hiện tượng biến hình từ, các phạm trù ngữ phápcủa tiếng Việt không có sự biến đổi về hình thái, hơn nữa, trong một CG giữa các vế cóthể biểu thị nhiều mối quan hệ khác nhau cho nên việc phân chia CG thành những kiểunhỏ hơn cho đến nay, thực sự vẫn chưa có một quan điểm thống nhất (x [8], [59],[86], [121], [100], [116]…) Trong luận án này, chúng tôi chia sẻ quan niệm với các tácgiả Diệp Quang Ban [8], Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương [116]… cho rằng CGtiếng Việt được chia thành hai loại: CG đẳng lập và CG chính phụ

(16) Tôi vẫn đợi chờ tiếng bước chân em hàng đêm, cánh cổng nhà tôi vẫn mở, những cơn gió đã không còn đi hoang nữa, gió lùa vào nhà tôi dịu dàng và mong nhớ.

Trang 19

(18) Phong cảnh ấy thật là tuyệt đẹp; hai bên bờ sông, ruộng mạ non phớt theo chiều gió, nương chè sắn thắm ở ven đồi, mờ dần đường xa sau một làn sương nhẹ.

{20, tr.115} (quan hệ bổ sung)

Thực tế khảo sát ngữ liệu của chúng tôi cho thấy có những trường hợp một CGđẳng lập nhưng có thể diễn đạt nhiều kiểu quan hệ nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào tìnhhuống sử dụng Ví dụ:

(19) Nhà có hai con gái, của nả trong nhà sẽ phải chia đều thành hai món hồi môn.

{34, tr.206}

Nhìn về phương diện hình thức, đây là CG đẳng lập có hai vế, giữa hai vế, khôngchứa dấu hiệu hình thức ngôn ngữ cụ thể để biểu thị quan hệ nghĩa Vì vậy, tùy thuộcvào ngữ cảnh, vào cách suy luận của mỗi người, chúng có thể xuất hiện một trong haikiểu quan hệ nghĩa sau đây:

(Vì) nhà có hai con gái (nên) của nả trong nhà sẽ phải chia đều thành hai món hồi môn.

(Nếu) nhà có hai con gái (thì) của nả trong nhà sẽ phải chia đều thành hai món hồi môn

- Về phương tiện liên kết các vế câu: CG đẳng lập có thể sử dụng các từ nối như: các

quan hệ từ, cặp quan hệ từ đẳng lập (và, với, rồi, hay, nhưng, thà… chứ, thà… còn hơn…), các cặp phụ từ (vừa… vừa, càng… càng, chưa… đã, không những… mà còn…), các cặp đại từ (sao… vậy, đâu… đấy, bao nhiêu… bấy nhiêu…) hoặc sử dụng

phương thức ngữ điệu (quãng ngắt, dấu phảy) hay phương thức trật tự Ví dụ:

(20) Mới đây tôi nghe tin phong thanh thằng Hệ hi sinh nhưng nguồn tin không

(23) Hoặc anh sẽ đến với tôi, hoặc tôi sẽ đến với anh.

(24) Anh Cần nói chuyện với em về chị nhiều lắm, hôm nay em mới được gặp chị.

{17, tr.341}

Trang 20

Ở ví dụ (23), hoàn toàn có thể thay đổi trật tự giữa hai vế mà không làm thay đổinội dung thông báo của câu Nhưng ở ví dụ (24) thì ngược lại, do bị chi phối bởi trình

tự thời gian của hai sự kiện: vế đứng trước nêu sự kiện xảy ra trước, vế đứng sau nêu

sự kiện xảy ra sau nên trật tự này là cố định

- Về khả năng tách thành câu đơn: các vế trong kiểu CG này có vai trò như nhau,ngang hàng nhau, không vế nào phụ thuộc vào vế nào cho nên chúng có thể dễ dàngtách khỏi nhau để tạo thành những câu đơn

1.2.2.2 Câu ghép chính phụ

Đây là CG mà giữa các vế không có quan hệ bình đẳng, ngang bằng nhau: có vế

giữ vai trò là vế phụ, vế kia là vế chính

Đặc trưng nổi bật của CG loại này được thể hiện qua những phương diện sau đây:

- Về số lượng các vế: thường chỉ có hai vế Ví dụ:

(25) Giá có phép màu biến mình nhỏ lại thành con mèo thôi, mọi việc đều đơn giản biết bao! {34, tr.119}

- Về ngữ nghĩa: sự việc nêu ở các vế câu có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau thànhtừng cặp trong mối quan hệ ràng buộc, chi phối nhau, theo kiểu: sự việc nêu ở vế này lànguyên nhân, điều kiện hay mục đích cho sự tồn tại của sự việc nêu ở vế kia và ngượclại Ví dụ:

(26) Nếu Vân không chê tớ xấu giai, con nhà nghèo thì chúng mình báo cáo tổ chức {28, tr.165} (sự việc ở vế trước là điều kiện, sự việc ở vế sau là hệ quả)

- Về phương tiện liên kết các vế câu: CG chính phụ chủ yếu sử dụng các cặp quan hệ

từ để liên kết và biểu thị mối quan hệ nghĩa giữa các vế câu:

+ Ở dạng đầy đủ (khi vế phụ đi trước vế chính), CG chính phụ thường sử dụng cặp

quan hệ từ để nối kết: vì, do, tại, bởi… nên; nếu, hễ, giá… thì…(Xem ví dụ (25) ở trên).

+ Ở dạng không đầy đủ, chỉ có một quan hệ từ, hoặc ở vế chính, hoặc ở vế phụ Xem

ví dụ (26) và ví dụ sau:

(27) Tôi về nhà quê vắng nên cái lồng sáo không có ai coi sóc {15, tr.147}

- Về trật tự: thông thường vế phụ đứng trước, vế chính đứng sau, nhưng trong ngữcảnh cụ thể, tùy thuộc vào vai trò trong cấu trúc tin của câu mà vế phụ có thể đứng sau

vế chính Ví dụ:

(28) Tôi sẽ trả ông gấp mười người khác nếu ông vẽ {34, tr.82}

(29) Cậu không thể biết tôi là ai được, vì lần này là lần đầu cậu gặp tôi.{24,tr.383}

- Về khả năng tách thành câu đơn: do có quan hệ phụ thuộc, chi phối lẫn nhau nênđối với loại CG này, khả năng tách thành câu đơn là rất khó Mặc dù vậy, cũng cótrường hợp, do mục đích thông báo, người nói vẫn có thể tách hai vế của CG chính phụ

ra thành hai câu đơn Lúc đó, việc tách câu cần thỏa mãn hai điều kiện:

Trang 21

+ Vế phụ chuyển lên đứng trước vế chính.

+ Vế chính không chứa quan hệ từ hô ứng

Ví dụ:

(30) Đường xa những bao nhiêu ngày, tôi không biết Vì họ nhốt tôi vào một cái

hộp kín bưng cùng với năm bạn xấu số nữa và cứ nhốt mãi như thế {7, tr.117}

(31) Ngủ trọ phải hai xu một tối Nếu chị không ăn cơm, ăn quà {48, tr.132}

1.3 LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU CÂU

Lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu có nguồn gốc từ sự phân biệt ba lĩnh vựckhác nhau của tín hiệu mà Ch Morris (1938) đã khởi xướng Theo Ch Morris, trong líthuyết tín hiệu học, ba lĩnh vực cần được xem xét là:

- Kết học (syntactics): nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ với các tín hiệu khác

- Nghĩa học (semantics): nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực bênngoài mà tín hiệu biểu thị

- Dụng học (pragmatics): nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu và việc sử dụng tínhiệu (người sử dụng, mục đích, hoàn cảnh sử dụng…)

Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, ngôn ngữ cũng là một hệ thống tín hiệu

và câu là sản phẩm được tạo ra bởi sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ với nhau theonhững quy tắc nhất định nên nó cũng cần được xem xét từ ba bình diện là kết học,nghĩa học và dụng học “Câu chính là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó cả ba bìnhdiện đều được thể hiện” [55, tr.19] Đây là sự khác biệt rất lớn so với quan niệm củangữ pháp truyền thống vốn xem xét câu ở phương diện cú pháp (ngữ pháp hình thức).Ngữ pháp hình thức không coi bình diện nghĩa và bình diện sử dụng là đối tượngnghiên cứu của câu Cho nên, có thể coi thành tựu lớn nhất của ngữ pháp chức năng là

đã phân biệt được ba bình diện khác nhau: bình diện kết học (cấu trúc hình thức củacâu), bình diện nghĩa học (nghĩa của câu), bình diện dụng học (phương diện sử dụngcâu) Giữa ba bình diện này, vừa có tính độc lập, vừa có mối quan hệ khăng khít vớinhau “Các bình diện ấy tồn tại vì nhau và nhờ có nhau, cho nên không thể hiểu thấuđáo bất cứ bình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện kia, và nhiệm vụ của ngữpháp chức năng là xác minh mối quan hệ giữa cả ba bình diện” [55, tr.19]

1.3.1 Bình diện kết học (ngữ pháp)

Đây là bình diện hình thức của câu, nghiên cứu các mối quan hệ giữa các thành tốtạo nên câu: từ và từ, cụm từ và cụm từ Ở bình diện này, những vấn đề được quan tâmnghiên cứu là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ tạo thành cấu trúc cú phápcủa câu (thành phần câu) và các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu (cấu trúc câu)

Trang 22

1.3.1.1 Thành phần ngữ pháp trong câu

Thành phần câu, đã từ lâu được quan niệm là một trong những yếu tố quan trọng đểcấu tạo câu theo quy tắc ngữ pháp, đồng thời khu biệt các kiểu cấu trúc hình thức củacâu, đặc biệt là trong loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt Theo quan niệm củangữ pháp truyền thống, tổ chức của câu được miêu tả thông qua hệ thống các thànhphần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định, trạng ngữ… Mỗi thành phần này có nhữngđặc trưng riêng về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Từ trước đến nay, khinghiên cứu về cú pháp tiếng Việt, vấn đề thành phần câu đều được quan tâm chú ý và

có cả những chuyên luận về nó, tuy nhiên, cho đến nay, nó vẫn là vấn đề còn gây tranhcãi và sự thực chưa có một quan điểm thống nhất Mặc dù các nhà ngữ pháp đã cố gắngmiêu tả thành phần câu một cách kĩ lưỡng nhưng ý kiến của họ rất phân tán trong việcquan niệm thế nào là thành phần câu, số lượng các thành phần câu và làm thế nào đểphân biệt thành phần câu một cách hình thức Trong luận án này, chúng tôi xin đượcchia sẻ quan niệm về thành phần câu của hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và NguyễnVăn Hiệp, cho rằng: “thành phần câu là những từ tham gia nòng cốt câu (bắt buộc cómặt để đảm bảo tính trọn vẹn của câu) hoặc phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt câu” [109,tr.57] Tuy nhiên, khác với quan điểm về sự phân chia thành phần câu của hai tác giảnày (chia thành phần câu thành hai loại: thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữbắt buộc); thành phần phụ (khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ câu, trạng ngữ)), trongluận án này, cùng quan điểm với tác giả Trần Kim Phượng [90], chúng tôi cho rằng, đểphân loại thành phần câu một cách chi tiết, đồng thời thuận lợi cho các thao tác khiphân tích câu về mặt hình thức, thành phần câu tiếng Việt được chia thành bốn kiểu, đólà:

- Thành phần chính của câu (còn gọi là thành phần nòng cốt): Đây là thành phầnđảm bảo cho câu được trọn nghĩa và thực hiện được chức năng giao tiếp, ngay cả trongtrường hợp câu tồn tại độc lập, tách biệt với văn cảnh hoặc hoàn cảnh sử dụng Trong

trường hợp bình thường, câu có hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.

- Thành phần phụ của câu: Là thành phần nằm ngoài nòng cốt của câu, bổ sung ýnghĩa tình huống cho nòng cốt câu Sự có mặt của chúng, nhìn chung, không đóng vaitrò quyết định tới tính trọn vẹn về ý nghĩa và tính tự lập về ngữ pháp của câu Thành

phần phụ bao gồm: trạng ngữ, đề ngữ và vị ngữ phụ.

- Thành phần phụ của từ: Là thành phần đóng vai trò bổ sung ý nghĩa cho một thực từ

(danh từ, động từ, tính từ) trong câu Đó là hai thành phần: định ngữ và bổ ngữ.

- Thành phần biệt lập: Là thành phần không nằm trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản củacâu Nói cách khác, đây là những thành phần không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa

Trang 23

sự việc của câu, đồng thời thường được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ

điệu Bao gồm: tình thái ngữ, phụ chú ngữ, hô ngữ, liên ngữ.

Một số ví dụ:

(32) Vậy mà, ông ạ, trong huống cảnh hung dữ ấy, gia đình chúng tôi lại chứa chấp một gia đình người Pháp {34, tr.14}

Trong ví dụ này có các thành phần câu như sau:

+ Thành phần chính của câu: chủ ngữ: gia đình (từ trung tâm); vị ngữ: chứa chấp (từ trung tâm).

+ Thành phần phụ của câu: trạng ngữ: huống cảnh (từ trung tâm)

+ Thành phần phụ của từ: bổ ngữ (cho động từ chứa chấp): một gia đình người Pháp (trong đó gia đình là trung tâm); định ngữ (cho danh từ huống cảnh): hung dữ, ấy; định ngữ (cho danh từ gia đình): chúng tôi, một, người Pháp.

+ Thành phần biệt lập: liên ngữ: vậy mà; hô ngữ: ông ạ.

(33) Về bằng chứng ngoại phạm, tôi trắng tinh hơn cô đấy, bác sĩ thân mến!

{28, tr.119}

Các thành phần câu trong ví dụ trên được xác định như sau:

+ Thành phần chính của câu: chủ ngữ: tôi; vị ngữ: trắng tinh (từ trung tâm).

+ Thành phần phụ của câu: đề ngữ : bằng chứng (từ trung tâm).

+ Thành phần phụ của từ: bổ ngữ (cho tính từ trắng tinh): cô; định ngữ (cho danh từ bằng chứng): ngoại phạm.

+ Thành phần biệt lập: tình thái ngữ: đấy; hô ngữ: bác sĩ thân mến.

Có thể khái quát các thành phần câu trong hai ví dụ trên trong bảng sau:

Vậy

mà ông ạ (trong)

huống cảnh

hung

dữ ấy đình gia chún g tôi lại chứ a

chấ p

ngữ, ĐN: định ngữ, LN: liên ngữ, HN: hô ngữ, TTN: tình thái ngữ, TTT: từ trung tâm)

1.3.1.2 Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu

Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu về thành phần câu, kết học còn xem xét các kiểucấu tạo ngữ pháp của câu Đây là vấn đề loại hình học cấu trúc của câu Mỗi kiểu cấu

Trang 24

trúc đều được xây dựng thành một mô hình trừu tượng khái quát Trong tiếng Việt,

phần đông các nhà nghiên cứu đều dựa vào số lượng kết cấu C - V (cụm chủ vị) nòng cốt để phân biệt cấu trúc câu thành ba phạm trù: câu đơn, câu phức và câu ghép

- Câu đơn: chỉ có một nòng cốt, bình thường được cấu tạo bằng một kết cấu C - V.Với nòng cốt như thế, câu đơn đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về tư duy và giao tiếp

- Câu phức: có từ hai kết cấu C - V trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu C - V là nòngcốt, kết cấu C - V (hay các kết cấu C - V) còn lại được gọi là “kết cấu bị bao” đượcdùng để đảm nhiệm một thành phần nào đó của câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, địnhngữ…)

- Câu ghép: Như đã trình bày trong mục lí thuyết về câu ghép, đây là kiểu câu có từ

hai kết cấu C - V trở lên, trong đó các kết cấu C - V có tính độc lập tương đối so vớinhau, không là thành tố cấu tạo của nhau, tuy vẫn có quan hệ với nhau cả về ý nghĩa vàngữ pháp

Trong mỗi phạm trù cấu trúc trên, lại phân biệt thành một số tiểu loại cấu trúc nhỏhơn Chẳng hạn, trong câu đơn tiếp tục được phân thành câu đơn bình thường và câuđơn đặc biệt; trong câu phức, căn cứ vào chức năng ngữ pháp của kết cấu C - V “bịbao”, có thể phân thành: câu phức thành phần chủ ngữ, câu phức thành phần vị ngữ,câu phức thành phần bổ ngữ…; trong CG, căn cứ vào quan hệ ngữ pháp giữa các vếcâu để phân thành CG chính phụ và CG đẳng lập Ví dụ:

(34) Tưởng tượng cũng là một hình thức của tồn tại {29, tr.82}

(35) Tiếng một cái gì rơi vỡ

(36) Cô lại sợ chúng tôi bắt cô hát chứ gì? {16, tr.131}

(37) Một đời em chỉ có hai người đàn ông thân thiết, cả hai đều cho em uống mật đắng {16, tr.169}

Ví dụ (34) là câu đơn bình thường gồm có một chủ ngữ (C): tưởng tượng và một vị ngữ (V): một hình thức của tồn tại (là một cụm danh từ có hình thức là trung tâm) Mô

hình của câu này là: C là V

Ví dụ (35) là một câu đặc biệt, được cấu tạo bằng một cụm danh từ, trong đó có

danh từ tiếng làm trung tâm

Ví dụ (36) là một câu phức, có hai kết cấu C - V, trong đó có một kết cấu C - V làm

nòng cốt và một kết cấu C - V “bị bao” (chúng tôi bắt cô hát) đảm nhiệm vai trò làm

bổ ngữ Mô hình: C - V - B (C - V)

Ví dụ (37) là một CG, có 2 kết cấu C - V (kết cấu C - V thứ nhất: “ Một đời em chỉ

có hai người đàn ông thân thiết” và kết cấu C - V thứ hai: “cả hai đều cho em uống mật đắng”), mỗi kết cấu tạo nên một vế của câu, chúng có quan hệ ngữ pháp đẳng lập

với nhau Có thể khái quát thành mô hình: C1 - V1, C2 - V2

Trang 25

Sự phân chia các kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu như trên tưởng như đã rõ ràng,nhưng thực tế thì cho đến nay, vấn đề này thực sự vẫn chưa có được một quan niệmthống nhất giữa các nhà nghiên cứu Chẳng hạn, tác giả Cao Xuân Hạo quan niệmnhững câu có định ngữ và bổ ngữ có cấu tạo là một cấu trúc C - V không phải là câuphức, bởi vì đó không phải là những thành phần bậc câu trực tiếp cấu cạo câu “Đó chỉ

là các thành phần phụ cho các từ trung tâm của các ngữ, dù cấu trúc của chúng như thếnào thì tư cách chức năng của ngữ mà chúng tham gia cũng không thay đổi” [54, tr.86]

Vì thế, ông xếp những kiểu câu mà ngữ pháp truyền thống vẫn quen gọi là câu phức

thành phần định ngữ và câu phức thành phần bổ ngữ vào cùng một loại: câu đơn Ông

chỉ chấp nhận những câu mà thành phần chính được tổ chức như một tiểu cú (“câu

nhỏ” trong câu), kiểu như: Cụ Tú tóc bạc hết cả rồi mới được gọi là câu phức [54, tr.87] Có tác giả lại cho rằng, không có cái gọi là câu phức bởi vì nếu xét về ý nghĩa

thì những kiểu câu có cấu trúc C V bị bao vẫn biểu đạt một nội dung thông báo đơn biểu đạt một sự việc (khác với CG - biểu đạt hai sự việc trở lên) [90, tr.67]

Đối với một số trường hợp những kiểu câu mà ngữ pháp truyền thống gọi là CG

chính phụ như: Để xí nghiệp không bị tiếp tục thua lỗ, ông ta đã xin từ chức, Cao Xuân

Hạo cũng không nhất trí cho là CG Những câu này, theo ông nên xếp vào cùng một

loại là câu đơn, bởi vì các vế câu phụ chỉ là phụ trong tư cách thông báo, trong nội

dung thông báo, chứ không phụ trong cấu trúc ngữ pháp [54, tr.89]

Chúng tôi cho rằng, vì bình diện kết học là bình diện nghiên cứu mặt hình thức củacâu cho nên khi phân chia câu theo cấu trúc ngữ pháp thì bắt buộc phải căn cứ vàophương diện hình thức (chứ không xét trên phương diện nghĩa), nghĩa là sẽ lấy sốlượng kết cấu C - V nòng cốt làm tiêu chí Theo đó, tất cả những câu có từ hai kết cấu

C - V trở lên nhưng chỉ có một kết cấu C - V làm nòng cốt, các kết cấu C - V còn lạithực hiện chức năng làm thành phần phụ cho từ (danh từ, động từ, tính từ) đều đượcxếp vào câu phức, còn những câu có các kết cấu C - V nằm ngoài nhau, nếu lược một

vế câu thì vế còn lại vẫn đầy đủ tư cách là một câu độc lập, đều được gọi là CG Quanniệm như vậy sẽ tạo ra sự nhất quán trong việc phân chia các kiểu câu, đồng thời giúpcho người học ngữ pháp dễ dàng hơn trong quá trình phân tích và xác định kiểu câu Khái niệm CG mà đề tài này hướng tới chính là một khái niệm được xây dựng từbình diện ngữ pháp: CG đó là một kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu, ở đó có từ hai vế trởlên, các vế câu có quan hệ qua lại, chế định lẫn nhau Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định

lí thuyết bình diện kết học của câu sẽ là một trong những cơ sở lí luận quan trọng cho

đề tài

Trang 26

1.3.2 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa)

Bình diện nghĩa học là bình diện nghiên cứu mặt nội dung của câu Cụ thể, nghĩahọc nghiên cứu về mối quan hệ giữa câu với cái mà câu diễn tả Nói cách khác, bìnhdiện này nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với các vật, việc, hiện tượng và trạng thái

mà câu biểu hiện Chúng tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo, chorằng: “Bình diện nghĩa của câu là bình diện biểu hiện, tức là cái phần nằm trong nộidung nghĩa được coi là phản ánh một sự tình được rút ra từ thế giới được miêu tả ”[55, tr.93]

Có thể nói, sự ra đời của lí thuyết về bình diện nghĩa là một trong những minhchứng cho thấy sự phát triển của của ngành ngôn ngữ học Nếu trước đây, trên phươngdiện nghĩa học, ngôn ngữ chỉ bó hẹp trong phạm vi nghiên cứu nghĩa của từ riêng lẻ thìnay nó đã vượt qua giới hạn đó để đến với những đơn vị có quy mô và kích thước lớnhơn, phản ánh đúng hoạt động giao tiếp của con người Và một trong những đơn vịthực hiện được chức năng giao tiếp là câu Với đơn vị câu, bình diện nghĩa học đã tập

trung vào việc xem xét hai loại nghĩa, đó là: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Có thể

tóm tắt nghĩa của câu bằng mô hình sau:

Ví dụ:

(38) Theo tôi được biết, từ trẻ đến già, cô tôi sống theo một số nguyên tắc.

{16, tr.185}

Trong ví dụ trên có thể nhận ra:

- Nghĩa miêu tả của câu là sự tình: cô tôi - đối tượng được đề cập đến trong phátngôn là người trong suốt cuộc đời sống theo những nguyên tắc của mình, trong đó, vị

tố là sống, các tham thể là: cô tôi, một số nguyên tắc, từ trẻ đến già.

- Nghĩa tình thái của câu gồm các nội dung như:

+ Nhận định của người nói về cách sống của cô mình (ứng với dạng trần thuật) + Thể hiện sự đánh giá chủ quan của người nói về sự việc được nêu trong câu (quán

ngữ: theo tôi được biết: biểu thị ý nghĩa đây là căn cứ để người nói bày tỏ nhận định)

1.3.2.1 Nghĩa miêu tả

Nghĩa miêu tả (còn gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa sự việc, nghĩa kinh nghiệm) làthành phần nghĩa phản ánh những mảng của thế giới hiện thực hay thế giới nội tâm củacon người Mỗi câu đề cập đến một hay một vài sự tình Mỗi sự tình được phản ánhvào trong câu là một cấu trúc nghĩa gồm cái lõi của sự tình cùng với các yếu tố tham

Nghĩa của câu

Trang 27

gia vào sự tình Cái lõi của sự tình thường biểu hiện trong tiếng Việt bằng một vị tố(VT), còn các yếu tố tham dự vào sự tình là các tham thể - tham tố (TT) của nó Vì vậy,tìm hiểu nghĩa miêu tả của câu chính là “xác định vị tố cùng với các vai nghĩa quayquần xung quanh nó và xác lập mối quan hệ giữa chúng với vị tố trong câu” [7, tr.68].

Trên cơ sở đó, trong phần nội dung này, chúng tôi đề cập đến ba vấn đề: vị tố, tham thể

và các kiểu sự tình.

a) Vị tố

Vị tố (predicate) là cái lõi của sự tình, làm cơ sở cho sự tình được phản ánh trongcâu, đóng vai trò trung tâm của vị ngữ Đó là thành tố “có chức năng tự mình làm thànhmột vị ngữ hoặc làm trung tâm ngữ pháp, hay làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữbiểu hiện nội dung của sự thể” [94, tr.35] Ở trong câu, VT biểu hiện bằng một động từ,tính từ, danh từ hay các từ chỉ quan hệ Ví dụ:

(39) Chúng tôi sống và chiến đấu bằng năng lượng của củ chuối rừng {31, tr.161}

(VT là động từ)

(40) Hiệu may này thật là choáng lộn đặc biệt {40, tr.50} (VT là tính từ)

(41) Năm ấy, Xuân 22 tuổi {28, tr.29} (VT là cụm danh từ)

(42) Những kẻ chỉ suốt đời tính toán là những kẻ tự làm khổ thân suốt đời {15,

- VT không đòi hỏi một TT nào (vô trị): Đó là những VT trong câu đặc biệt Ví dụ:

(43) Khổ thật! {24, tr.411}

(44) Thế à? Hay! {24, tr.436}

Ngoài ra, các VT đều đòi hỏi các TT Số lượng các TT do VT đòi hỏi là khôngngang bằng nhau Những TT do các VT đòi hỏi sẽ trở thành những tham thể bắt buộc

- VT đòi hỏi một TT (VT một diễn tố / VT “một vai” / đơn trị): Đó là các VT trạng

thái, tính chất, đặc điểm, sinh lí, tâm lí và một số VT hoạt động : buồn, rơi, ngã, mọc, bong, gãy, thức, ngủ, đứng, nằm, lớn, xanh, nhỏ, đẹp Ví dụ:

Trang 28

(45) Chờ độ năm phút, Dung cũng ngồi dậy {25, tr.99} (VT hoạt động).

(46) Cái kiện này to lắm! {24, tr.186} (VT đặc điểm).

- VT đòi hỏi hai TT (VT hai diễn tố / VT “hai vai” / song trị): Thuộc loại này là các

VT tác động, VT quan hệ, VT cảm nghĩ : đánh, chặt, cắt, xây, bẻ, của, tại, vì, là, nghĩ, thấy, hiểu, biết, tin, nghe Ví dụ:

(47) Tôi chỉ là ngọn gió tù {34, tr.145} (VT quan hệ).

(48) Trong khi yêu, người ta chỉ nghĩ đến chữ chung tình {24, tr.351} (VT cảm

nghĩ)

- VT đòi hỏi ba TT (VT ba diễn tố / VT “ba vai” / tam trị): Loại này xuất hiện trong

các VT sai khiến, VT trao tặng: sai, cấm, đề nghị, yêu cầu, cho, tặng, gửi… Ví dụ:

(49) Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! {15, tr.86} (VT trao

tặng)

(50) Họ yêu cầu cơ quan cấp nhà ở (VT sai khiến)

b) Tham thể (tham tố)

Để tạo nên cấu trúc nghĩa miêu tả của câu thì bên cạnh VT làm cốt lõi, còn có các

nhân tố quây quần xung quanh làm nên một câu trọn vẹn tối thiểu đó là các tham thể

(participants) Như vậy, TT được hiểu là các thực thể quay xung quanh VT, biểu thịnhững vai nghĩa nào đó Tuy nhiên, như đã đề cập, để cho phần nghĩa miêu tả - thểhiện qua cấu trúc VT - TT được rõ ràng, trọn ý, mỗi loại VT đòi hỏi phải có một haymột số TT cùng tham gia Căn cứ vào chức năng nghĩa của các TT trong mối quan hệ

với VT, TT được chia thành hai loại: tham thể cơ sở (TTCS) và tham thể mở rộng

(TTMR)

Tham thể cơ sở (tham thể bắt buộc / diễn tố) là các TT xuất hiện một cách tất yếu

do ý nghĩa của bản thân VT quy định Về điều này, Halliday đã khẳng định: “Mọi quátrình đều có quan hệ với một tham thể và tham thể này là thành phần chủ chốt trongquá trình đó; nó là tham thể qua đó quá trình được hiện thực hóa, và nếu không có nóthì sẽ không có bất kì quá trình nào hết” [51, tr.289] Mặt khác, TTCS là các TT đặctrưng cho từng loại VT và chỉ hiện diện ở từng loại VT nhất định Ngược lại, sự có mặtcủa các TTCS sẽ xác định đặc trưng cho từng loại VT và từng loại sự tình cụ thể Tác

giả Cao Xuân Hạo đã gọi TTCS bằng thuật ngữ diễn tố và quan niệm nó như sau:

“Diễn tố là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung vị từ như mộtnhân vật được giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đithì cái sự tình hữu quan không thể được thực hiện, không còn là nó nữa” [54, tr.113]

Chẳng hạn, một hành động mở sẽ đòi hỏi hai TT: chủ thể của hành động và đối tượng

chịu tác động của hành động Lúc đó, ta sẽ có một sự tình hành động như “tôi mở cửa”,

hoặc một sự tình cho trong câu “tôi cho nó một quyển sách” sẽ phải có ba TT: tôi

Trang 29

(người cho - hành thể), nó (người nhận - tiếp thể) và một quyển sách (vật đem cho - đối

thể)

Trong các sự tình được miêu tả, một số TTCS thường gặp là: hành thể, tiếp thể, đối thể, động thể, đương thể, nghiệm thể (cảm thể), đích thể Ví dụ:

(51) Tôi nghĩ ông sẽ có đủ tiền sống một năm để hoàn tất bức vẽ của tôi.

nghiệm thể thể nội dung {34,tr.81}

(52) Bành Lê Phi luôn đưa chìa khóa cửa cho một cô gái sau khi cô ta tự nguyện

hành thể đối thể tiếp thể

leo lên giường của hắn {31, tr.96}

Tham thể mở rộng (tham thể không bắt buộc / chu tố) là các TT xuất hiện trong sựtình, song chúng không phải do bản thân ý nghĩa của VT quy định, không được giảđịnh một cách tất yếu mà mang tính tùy nghi Chúng không có tác dụng xác định đặctính cho các loại VT, cho cấu trúc VT - TT, cho từng loại hình sự tình được phản ánh.Chúng chỉ là các thành phần biểu hiện các ý nghĩa về thời gian, không gian, địa điểm,cách thức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích Ví dụ:

(53) Tỉnh lại, anh bỗng nhận ra mình chưa chết qua tiếng chim hót ánh ỏi trên cao

và những tia nắng mặt trời sáng nhạt qua kẽ lá bắt đầu dọi xuống những viên đá sắc cạnh {22, tr.106}

Cấu trúc nghĩa miêu tả trong ví dụ trên được phân tích như sau: VT cảm nghĩ: nhận

ra và hai TTCS: anh - nghiệm thể, mình chưa chết - thể nội dung Sự có mặt của hai

TT này là do nội dung nghĩa của VT nhận ra đòi hỏi, nếu thiếu nó, cấu trúc nghĩa của

ví dụ trên sẽ không hoàn chỉnh, khó tồn tại Còn sự có mặt của TTMR biểu thị ý nghĩa

phương tiện tiếng chim hót viên đá sắc cạnh chỉ bổ sung thêm chi tiết cho cấu trúc nghĩa và nếu thiếu nó thì cấu trúc nghĩa nòng cốt: anh bỗng nhận ra mình chưa chết

vẫn tồn tại được Mặc dù, nếu xét về chức năng thông tin thì chính vai nghĩa này lại tỏ

ra có vai trò thiết yếu hơn bản thân các TTCS có mặt trong sự tình vì nó đóng vai trò

quan trọng trong việc cung cấp “hậu cảnh”, khiến cho ý nghĩa của VT nhận ra được tô

đậm một cách cụ thể và rõ nét hơn

Tuy rằng xuất hiện trong sự tình không do sự ấn định của VT mà do tình huống,hoàn cảnh mách bảo, có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng tới tính trọn vẹn của câu,nhưng, các TTMR cũng phải được ý nghĩa nêu ở VT chấp nhận, chứ không thể ghép

tùy tiện Chẳng hạn, chỉ có thể nói Anh ấy đá bóng bằng chân trái mà không thể nói Anh ấy đá bóng bằng tay trái.

Sự phân biệt TTCS hay TTMR chỉ có tính chất tương đối: một TTCS trong một sựtình này có thể là một TTMR trong một sự tình khác Chẳng hạn, trong hầu hết các sự

Trang 30

tình, thời gian thường đóng vai trò là một TTMR, tuy nhiên, trong một số trường hợp,

nó có thể là một TTCS So sánh:

(54) Hôm nay, cậu bị làm sao vậy? {29, tr.81} (TTMR)

(55) Hôm nay là tròn bốn mươi ngày liên tục tôi ngồi săn loài cá lạ {31, tr.82}

(TTCS)

Các TTMR thường gặp trong sự tình là: thời gian (thời điểm, thời hạn, số lần), không gian (vị trí, hướng, điểm đến, đường đi), cách thức, phương tiện, nguyên nhân, điều kiện, nghịch đối, mục đích, kết quả Ví dụ:

(56) Hay là ông trời làm ra thế để thử thách các tài năng! {30, tr.161} (TT mục

đích)

(57) Trong lúc đang len lỏi giữa những bụi cây rậm rạp, một con rắn màu xanh

vắt ngang đường họ đi {30, tr.206} (TT thời gian)

(58) Người đàn bà nói bằng giọng âm u thoảng nhẹ {34, tr.85} (TT phương tiện) (59) Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè {34, tr.34} (TT cách thức)

Có thể nói, nghĩa miêu tả của câu với cấu trúc VT - TT đã được trình bày khá kĩtrong các công trình nghiên cứu về cú pháp Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề số lượng

và ý nghĩa của VT cũng như danh sách các TT cùng với các vai nghĩa của nó vẫn làmột vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, đòi hỏi sự tiếp tục khảo sát trên nhiềunguồn ngữ liệu khác nhau Trên đây, chúng tôi chỉ tổng kết và đánh giá các kết quảnghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học để làm cơ sở cho nội dung nghiên cứu của mình

c) Các kiểu sự tình

Khi được đề cập vào trong câu, sự tình trở thành nội dung câu, là thành phần nghĩamiêu tả của câu Nói như vậy không có nghĩa là sự tình đồng nhất với nghĩa miêu tả.Nghĩa miêu tả chỉ là hình ảnh của những sự tình trong thực tế khách quan được conngười nhận thức và đề cập trong câu Tuy nhiên, nghĩa miêu tả và sự tình luôn có mốiquan hệ mật thiết với nhau Để hiểu được nghĩa miêu tả của phát ngôn, cần xác địnhxem nó thuộc về kiểu sự tình nào, ngược lại, để xác định phát ngôn được nói ra thuộc

về loại hình sự tình nào thì cần phân xuất cho được các thành tố tạo nên cấu trúc nghĩamiêu tả của phát ngôn đó Do đó, việc xác định các sự tình cũng đồng nghĩa với việcphân loại các cấu trúc nghĩa miêu tả của câu

Cho đến nay, việc xây dựng tiêu chí để xác định loại hình sự tình và áp dụng chúngvào việc phân chia sự tình còn khá nhiều các quan điểm khác nhau Sau đây, chúng tôixin tóm tắt các cách phân chia sự tình của một số tác giả tiêu biểu

* Cách phân chia của S.C.Dik (1981)

Trang 31

S.C.Dik đã phân loại các sự tình dựa trên hai tiêu chí cơ bản: tính [động] dynamism và tính [chủ ý] - control

Dựa theo tiêu chí [động] có thể phân biệt các sự tình động và các sự tình tĩnh(không động) Dựa trên tiêu chí [chủ ý] lại phân biệt hai loại sự tình chủ ý và khôngchủ ý Phối hợp hai tiêu chí trên dẫn đến sự phân biệt bốn loại hình sự tình, được diễnđạt bằng biểu đồ sau đây:

SỰ TÌNH+ Động

BIẾN CỐ

- ĐộngTÌNH THẾ

- Sự tình hành động có đặc trưng là [+động], [+chủ ý] làm nên nghĩa miêu tả cho cáccâu chỉ hành động Ví dụ:

(60) Thầy u mà ép con thì con cắn lưỡi con chết, con đâm đầu xuống ao, xuống chuôm con chết {146, tr.158}

- Sự tình quá trình mang đặc trưng là [+động], [-chủ ý] làm nên nghĩa miêu tả chocác câu chỉ quá trình Ví dụ:

(61) Mặt trời đã lặn xuống tận mặt đất {48, tr.74}

- Sự tình tư thế mang đặc trưng là [-động], [+chủ ý] làm nên nghĩa miêu tả cho cáccâu chỉ tư thế Ví dụ:

(62) Gã ngồi đúng tư thế ấy trên xe Tây Bắc về Hà Nội {34, tr.172}

- Sự tình trạng thái có đặc trưng là [-động], [-chủ ý] làm nên nghĩa miêu tả cho cáccâu chỉ trạng thái Ví dụ:

(63) Nhưng thói thường người đời rất ghét những ai chọc mũi dao vào yếu huyệt của họ {29, tr.284}

* Cách phân chia của Halliday (1985)

Halliday gọi sự tình bằng thuật ngữ “quá trình” (process) và ông đã phân chia nóthành một mô hình nghĩa gồm có ba yếu tố: bản thân quá trình, các TT trong quá trình

và các chu cảnh có liên hệ với quá trình, trong đó:

Quá trình: được hiện thực hóa bởi vị từ, cụm vị từ

Tham thể: được hiện thực hóa bởi danh từ, cụm danh từ hay đại từ

Chu cảnh: được hiện thực hóa bởi cụm phó từ hay giới từ

Ví dụ:

(64) Trong nhà, rượu bắt đầu xông lên một mùi hăng nồng {13, tr.95}

Trang 32

chu cảnh tham thể quá trình tham thể

Từ mô hình nghĩa này, Halliday đề nghị các kiểu quá trình khái quát nhất như sau:

- Các quá trình vật chất, phản ánh thế giới vật lí Ví dụ:

(65) Hai bên còn đương cò kè bớt một thêm hai thì bà Phó Đoan đã vận được cái

áo dài lối cổ để tiếp ông sư {40, tr.211}

- Các quá trình tinh thần, phản ánh thế giới ý thức Ví dụ:

(66) Bỗng dưng em khao khát được cùng anh thâm nhập hang tình Mắc Cỡ!

{32, tr.110}

- Các quá trình quan hệ, phản ánh các mối quan hệ trừu tượng Ví dụ:

(67) Lần này là lần đầu chị chàng nhà quê được biết đến cửa công {48, tr.118}

Bên cạnh đó là các quá trình chuyển tiếp như: quá trình hành vi (chuyển tiếp giữaquá trình vật chất và quá trình tinh thần), quá trình ngôn từ (chuyển tiếp giữa quá trìnhtinh thần và quá trình quan hệ), quá trình tồn tại (chuyển tiếp giữa quá trình vật chất vàquá trình quan hệ) Ví dụ:

(68) Cả nhà đều thở dài ngao ngán trước sự khởi đầu không may mắn {34, tr.206}

(quá trình hành vi)

(69) Này, bà bảo cho mày biết: mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu {48, tr.72} (quá trình ngôn từ)

(70) Ngoài cổng bỗng có trống báo giật giọng {48, tr.129} (quá trình tồn tại)

* Cách phân chia của Cao Xuân Hạo (1991)

Cao Xuân Hạo đã dựa vào cách phân chia của S.C.Dik để phân loại sự tình theokhung ngữ vị từ, gồm vị từ trung tâm và các tham tố của nó Ông cho rằng hai tiêu chí

cơ bản [động] và [chủ ý] mà Dik đã đưa ra là “tối quan trọng trong bất kì ngôn ngữnào” Tuy nhiên, tác giả đã đề nghị đưa thêm sự “tồn tại” vào hàng sự tình cơ bản.Theo đó, các sự tình được ông phân loại như sau:

SỰ TÌNH

Biến cố Tồn tại Tình hình

(+động) (-động)

Hành động Quá trình Trạng thái Quan hệ

(+chủ ý) (-chủ ý) (+nội tại) (-nội tại)

Trang 33

(73) Một đêm nọ, trong giấc ngủ say sưa, nàng thoáng thấy một bóng đen cao lớn nhảy vào lều {30, tr.217} (Sự tình tình hình chỉ trạng thái)

* Cách phân chia của Diệp Quang Ban (2001)

Áp dụng cách phân loại của Halliday, đồng thời dựa trên tiêu chí [+động] và động] của Dik, Diệp Quang Ban cho rằng các sự thể (tác giả gọi khái niệm “sự thể”thay cho “sự tình”) có thể phân biệt thành: sự thể động, sự thể tĩnh Ngoài ra, trong câunói thông thường còn có thể nhận ra các sự thể thuộc thế giới vật lí bên ngoài conngười, các sự thể thuộc thế giới của ý thức, nội tâm con người và các sự thể thuộc thếgiới của quan hệ trừu tượng giữa các vật thể Trên cơ sở đó, tác giả đã phân biệt:

sở (mỗi câu chỉ đề cập đến một sự tình) vào một đối tượng mới: câu ghép

1.3.2.2 Nghĩa tình thái

Bên cạnh nghĩa miêu tả thì nghĩa tình thái là thành phần luôn có mặt ở trong câu.Bởi vì người nói khi phản ánh hiện thực khách quan vào ngôn ngữ thì anh ta đồng thờicũng thể hiện điểm nhìn, thái độ đánh giá của mình về hiện thực khách quan đó

“Ngôn ngữ tự nhiên (của con người) nếu tước bỏ hoàn toàn các bình diện của tình tháithì không thể phản ánh được thế giới với tính cách là hiện thực trong hoạt động chiếmlĩnh và tương tác liên nhân của con người”[40, tr.19] Tính tình thái, đó là “linh hồncủa phát ngôn” (Bally) (dẫn theo 40, tr.19) Nhưng, nghĩa tình thái lại là một bộ phậnnghĩa khá phức tạp và tinh tế, nhiều khi trừu tượng cho nên không phải lúc nào, bằngcảm quan, ta cũng có thể nhận biết được Phức tạp hơn là nhiều loại ý nghĩa tình tháiđược hòa quyện với nhau trong một phương tiện ngôn ngữ, thậm chí đan xen trong cấutrúc nghĩa miêu tả, hay trong nhiều trường hợp, nó lại được hàm ẩn trong phát ngôn,người nghe phải căn cứ vào từng ngữ cảnh để suy ra ý nghĩa của nó Về điều này, tácgiả Cao Xuân Hạo nhấn mạnh: “trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành

Trang 34

một bảng màu cực kì đa dạng, trong đó phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay giántiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khácnhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau” [55, tr.97] Có lẽ vì vậy mà cho đến nay,khái niệm tình thái vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và được hiểu rất khácnhau Đến nỗi, Panfilov đã phải thốt lên rằng: “không có một phạm trù nào mà bản chấtngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt vàđối lập nhau như phạm trù tình thái” [40, tr.19]

Chúng tôi đồng tình với ý kiến của tác giả Bùi Minh Toán, cho rằng: “nghĩa tìnhthái là phần nghĩa có tác dụng làm cho sự tình mà câu biểu hiện hướng đến mục đích,đến những hành động ngôn ngữ nhất định, hoặc thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá củangười nói đối với sự tình được đề cập đến hay đối với người nghe” [117, tr.31] Tuynhiên, với quan niệm như vậy, nghĩa tình thái không chỉ thuộc bình diện ngữ nghĩa màcòn thuộc cả bình diện dụng học, vì nó có quan hệ mật thiết với các nhân tố thuộc lĩnhvực sử dụng ngôn ngữ như: hoàn cảnh, nhân vật, mục đích giao tiếp…

Trong ngôn ngữ học hiện nay, người ta thường phân biệt hai loại tình thái khác

nhau: tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn

Tình thái của hành động phát ngôn (tình thái của hành động nói) là tình thái màthông qua hành động nói, người nói thể hiện ý định, mục đích, thái độ của mình đối vớingười nghe và đối với nội dung, hiện thực được nói đến trong câu Đây chính là mộtloại ý nghĩa tình thái thường trực của phát ngôn Bởi vì không có phát ngôn nào màkhông có tính mục đích, do đó không có phát ngôn nào có thể vắng mặt loại tình tháinày Vì vậy, chúng ta có thể nhận biết tình thái của hành động phát ngôn bằng cách trảlời các câu hỏi: người nói nói ra câu đó nhằm mục đích gì? Chẳng hạn: để thông báo,

để hỏi, để xin, để cấm, để thề, để hứa, để giải thích, để bác bỏ, để sai khiến, để biểu lộtâm trạng tương ứng với mỗi mục đích phát ngôn là một loại ý nghĩa tình thái Ví dụ:

(77) Tôi bảo dùng thuốc một năm, sao mới có ba tháng đã vội chết? {42, tr.252} (78) Cô không muốn lấy chồng nhưng ngày ấy cũng sắp đến rồi {49, tr.17}

Hai ví dụ trên thể hiện hai hành động phát ngôn khác nhau, do đó thể hiện hainghĩa tình thái khác nhau Ở ví dụ (77) là hành động hỏi tương ứng với tình thái hỏi, ở

ví dụ (78) là hành động trình bày (kể, thuật sự việc) tương ứng với tình thái kể

Tình thái của lời phát ngôn chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đốivới nội dung được nói đến trong câu hay đối với người nghe Đây là phần quan trọng

của bình diện nghĩa học Tình thái của lời phát ngôn lại được phân biệt thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan.

Tình thái khách quan (còn được gọi là tình thái lôgic) là loại tình thái loại bỏ vai tròcủa người nói Đây là loại tình thái được lôgic học quan tâm bởi nó quan tâm tới tính

Trang 35

đúng sai hay giá trị thực cách của nội dung câu nói đối với hiện thực khách quan Nhưvậy, đối với loại tình thái này, tất cả các nhân tố chủ quan như tình cảm, thái độ, ý chí,quan điểm, lập trường, mức độ cam kết của người nói đối với sự tình… không đượcxem xét tới (xem thêm Nguyễn Văn Hiệp [58, tr.96]) Ví dụ:

(79) Khẩu súng ấy vẫn treo ở tường, nhưng đạn thì cha tôi cất cẩn thận trong tủ kính đứng có chìa khóa ngay cạnh bàn giấy {14, tr.100}

Ở ví dụ trên, hai sự tình khẩu súng treo ở tường và đạn cất cẩn thận trong tủ kính

chỉ được người nói trình bày lại một cách khách quan, như nó vốn có

Tình thái chủ quan thể hiện quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối vớingười nghe hoặc đối với nội dung câu Khi giao tiếp, người nói và người nghe luônnằm trong những mối quan hệ nhất định, với những nội dung giao tiếp nhất định Vìvậy, khi phát ra một câu, người nói một mặt bộc lộ thái độ, tình cảm của mình với đốitượng giao tiếp, mặt khác, cũng thể hiện cách đánh giá của mình đối với nội dung câu.Lúc này, các biểu thức tình thái (các trợ từ, tiểu từ hay quán ngữ tình thái) trở thànhphương tiện để biểu thị tình thái chủ quan, thể hiện cách đánh giá và lập trường củangười nói Ví dụ:

(80) Nào ngờ ông vẫn quen thói hồn nhiên vung tay vung chân, chúm chím đôi

môi, tủm tỉm, điệu đàng, hát hò, ngâm thơ, kể chuyện tiếu lâm trong giờ làm việc

{32, tr.373}

Ở ví dụ trên, ngoài việc diễn đạt sự tình của hiện thực khách quan, người nói cònthể hiện thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, không lường trước được sự việc xảy ra thông qua

quán ngữ tình thái nào ngờ.

Như vậy, nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái là hai thành phần tạo nên bình diện ngữnghĩa của câu, chúng tồn tại trong sự phối hợp với nhau mà không phải trong trạng thái

cô lập, tách rời Chúng giống như hai mặt của một tờ giấy, vì vậy ta không thể quantâm tới mặt này mà không đồng thời quan tâm tới mặt kia và ngược lại

1.3.3 Bình diện dụng học (ngữ dụng)

Bình diện dụng học là bình diện nghiên cứu việc sử dụng câu trong những tình

huống sử dụng cụ thể, gắn với những đối tượng giao tiếp cụ thể, trong những văn cảnh

cụ thể, nhằm vào những mục đích cụ thể

Những năm 60 của thế kỉ XX, bình diện này được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

“ngữ cảnh”, “giao tiếp thông tin”, “phân đoạn thực tại”, “lôgic - ngữ pháp” Sangnhững năm 80 của thế kỉ XX, nó được gọi là bình diện “siêu ngữ pháp” Và hiện nay,

nó được gọi là bình diện dụng học (bình diện ngữ dụng) Ở bình diện này, câu khôngtồn tại ở dạng biệt lập, tách khỏi hoạt động giao tiếp, mà luôn nằm trong mối quan hệvới các nhân tố giao tiếp Có lẽ vì thế mà so với bình diện kết học và nghĩa học, đối

Trang 36

tượng nghiên cứu của bình diện dụng học rộng và phức tạp hơn nhiều: đó là những gìcòn lại sau khi nghiên cứu câu ở phương diện cấu trúc (bình diện kết học) và phươngdiện nghĩa chỉ sự việc của câu (bình diện nghĩa học)

Với việc xem xét câu trong hoạt động giao tiếp, bình diện dụng học quan tâm đếncác vấn đề như: cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin (sự phân bố giữa tin cũ - tinmới), cấu trúc lập luận, các hiện tượng tiêu điểm hóa, các thành phần nghĩa ngữ dụngcủa câu (nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn), tình thái của câu (thể hiện ở mục đíchgiao tiếp của câu, các hành động ngôn ngữ mà câu thực hiện trong giao tiếp, cách thứcthực hiện hành động ngôn ngữ của người nói: trực tiếp hay gián tiếp), sự hiện thực hóacấu trúc cú pháp của câu trong phát ngôn Tuy nhiên, liên quan đến phạm vi khảo sát

của luận án là hai vấn đề: cấu trúc lập luận và cấu trúc thông tin của câu.

1.3.3.1 Cấu trúc lập luận

a) Khái niệm

Lập luận là một quá trình hoạt động, phản ánh và trao đổi ý kiến về hiện thực: từmột hay một số tiền đề đưa đến một kết luận nào đó Lập luận có thể diễn ra trong mọilĩnh vực của đời sống Chúng ta dùng lập luận để giải thích hay chứng minh một điều

gì đó Trong khoa học và trong sinh hoạt hàng ngày, dùng lập luận để thuyết phụcngười khác tin vào một sự kiện hay bác bỏ một ý kiến nào đó… Vì nói năng cũng làmột hoạt động cho nên trong quá trình thực hiện hoạt động này, người nói sẽ chuẩn bịnhững lí lẽ hay dẫn chứng (luận cứ) để hướng người nghe tới kết luận và kết luận này,thông thường người nói hướng người nghe đến sự chấp nhận chứ không muốn bác bỏ.Theo Đỗ Hữu Châu, “lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến mộtkết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [23, tr.155]

Có thể tóm tắt cấu trúc lập luận theo mô hình sau:

trong đó, P, Q là lí lẽ, R là kết luận (P, Q, R có thể được diễn đạt bằng các phát ngôn

b) Các thành phần trong cấu trúc lập luận

b1) Luận cứ

P, Q → R

Trang 37

Khi lập luận, người nói (hoặc người viết) sử dụng những lí lẽ và dẫn chứng thuyết

minh để hướng người nghe (người đọc) đến một KL nào đó nhằm mục đích nhất định

Các lí lẽ và dẫn chứng thuyết minh, phục vụ cho việc rút ra kết luận được gọi là luận

cứ Nhìn một cách khái quát, LC có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Về cấu tạo, LC có thể là một từ, một cụm từ (chính phụ, đẳng lập hoặc chủ vị), cóthể là một vế câu, một câu, một đoạn hoặc nhiều câu, nhiều đoạn được liên kết vớinhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định

- Về nội dung, LC có thể là những sự việc, hiện tượng trong thực tế, có thể là những

lí lẽ thông thường, hay một định luật, một nguyên lí xử thế nào đó

- Về chức năng, LC là những căn cứ, những bằng chứng để từ đó rút ra KL

- Về vị trí, LC có thể đứng trước, đứng sau hay nằm giữa các KL Ở mỗi vị trí, LCđều giữ vai trò là chỗ dựa cho KL, song nó thể hiện sự khác nhau trong cách thức suyluận của người lập luận và kiểu cấu trúc lập luận

- Về quan hệ định hướng lập luận, LC có thể đồng hướng lập luận, nghĩa là các LC

P, Q được đưa ra cùng phục vụ cho một KL R nào đấy; ngược lại, các LC có thểnghịch hướng lập luận, khi P hướng tới R còn Q hướng tới - R (với điều kiện R và - Rphải cùng một phạm trù, nói cách khác, - R phải là phủ định của R)

- Về trật tự sắp xếp, trong trường hợp lập luận có nhiều hơn một LC mà các LC cóhiệu lực lập luận khác nhau, nghĩa là P có sức mạnh đối với R hoặc (- R) lớn hơn Qhoặc ngược lại thì các LC có hiệu lực lập luận mạnh hơn sẽ được đặt ở gần KL vì nóquyết định hướng lập luận

Ví dụ:

(82) Tuyết, con gái nhà giầu đẹp đẽ, con nhà quý phái tân thời (P), còn con thì, như ông đã biết đấy, không cha không mẹ lêu lổng từ bé, nhặt quần, bán phá sa, đã làm

nhiều nghề hèn (Q) Con nghĩ con không xứng đáng chút nào cả (R) {40, tr.248}

(83) Em muốn anh cứu vớt em ra khỏi mọi hình phạt của chồng (P), nhưng anh đã thế (Q) thì em cũng đành từ đây… (R) {41, tr.258}

Hai ví dụ trên là hai lập luận, mỗi lập luận gồm hai LC và một KL LC trong ví dụ(82) được cấu tạo bằng một câu, diễn đạt những sự việc theo nhận định của người nói.Đây là những LC có quan hệ đồng hướng lập luận nhưng vì Q là LC có số lượng âmtiết nhiều hơn, có hiệu lực lập luận mạnh hơn P nên được đặt ở sau, gần KL LC trong

ví dụ (83) được hình thành từ hai vế của CG diễn đạt hai sự việc: một sự việc tồn tạitrong suy nghĩ của người nói và một sự việc đã xảy ra trong thực tế, tuy nhiên hai sựviệc này có hiệu lực lập luận khác nhau đối với R, trong đó P là LC phủ định R còn Qlại hướng tới chấp nhận R Hai LC này, vì vậy, nghịch hướng với nhau trong quan hệvới KL đã cho

Trang 38

cần có một sự cộng hưởng hàm ý để tạo nên một KL chung Như vậy, KL là cái đích cuối cùng của lập luận, là cái mà các LC hướng tới

Trong giao tiếp, có những lập luận chỉ có một KL, các thành phần còn lại đều là

LC, được gọi là lập luận đơn; có những lập luận có nhiều KL, các KL tiếp tục có sựcộng hưởng để tạo ra một KL lớn nhất, chung cho toàn lập luận hoặc móc nối với nhautheo kiểu KL đứng trước trở thành LC cho KL đứng sau, cứ như vậy cho đến khi tìm rađược một KL cuối cùng, có giá trị thuyết phục cao nhất Loại lập luận như vậy, đượcgọi là lập luận phức hợp Ví dụ:

(84) Tôi mà là giám đốc (P) thì tôi cho mụ trưởng phòng về hưu ngay (R).

{17, tr.156}

(85) Ông nghỉ hưu rồi (P), ông ít tiếp xúc với thực tế (R), ông không hiểu, đời bây giờ tệ lắm, ông ạ (R) Có tiền là xong hết! {17, tr.29}

Lập luận ở ví dụ (84) chỉ có một LC và một KL, đó là lập luận đơn Lập luận ở ví

dụ (85) có hai KL nhưng quan hệ với nhau theo kiểu móc xích: KL thứ nhất được suy

ra từ LC đứng trước, tiếp đó, KL này tiếp tục đóng vai trò là LC để rút ra KL thứ hai.Trong lập luận này, trật tự giữa các vế trong CG và bản thân mối quan hệ lôgic ngữnghĩa tiền đề - hệ quả đã đủ sức diễn đạt lập luận theo quan hệ nguyên nhân Ở đây, ta

có thể đưa vào các phương tiện diễn đạt để làm rõ mối quan hệ đó như sau:

Vì ông nghỉ hưu rồi (P) nên ông ít tiếp xúc với thực tế (R).

Vì ông ít tiếp xúc với thực tế (P) nên ông không hiểu, đời bây giờ tệ lắm, ông ạ (R).

Trong một lập luận, các thành phần LC và KL có thể hiện diện một cách tường minh

và tạo thành một cấu trúc lập luận đầy đủ (các ví dụ trên), nhưng cũng không ít trườnghợp một trong hai thành phần này có thể hàm ẩn, người lập luận không nói ra, ngườinghe phải căn cứ vào ngữ cảnh rồi tự suy ra ý nghĩa hàm ẩn đó Ví dụ:

(86) Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy Hôm thì lão ăn củ chuối (P1), hôm thì lão ăn sung luộc (P2), hôm thì ăn rau má (P3), với thỉnh thoảng một vài

củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc (P4) {15, tr.93}

Lập luận trên chỉ hiện diện các thành phần LC P1, P2, P3, P4, thiếu vắng KL R.Các LC trong lập luận này là những thông tin miêu tả về cuộc sống hàng ngày của lão

Trang 39

Hạc Tuy nhiên, đó không đơn thuần chỉ là những thông tin miêu tả chỉ để miêu tả màthông qua miêu tả, Nam Cao muốn hướng người đọc đến một KL hàm ẩn, KL này nằm

ngoài sự vật, hiện tượng được miêu tả, đó là: cuộc sống của lão Hạc đã đến tận cùng của sự bế tắc.

c) Những tín hiệu định hướng hoặc thể hiện quan hệ lập luận

Muốn lập luận, người xây dựng lập luận cần có các LC và KL Tuy nhiên, để lậpluận có sức thuyết phục, phù hợp với mục đích đặt ra, người lập luận phải biết tìm,trình bày LC, rút ra KL hợp lí, ngoài ra cũng phải biết sử dụng các tín hiệu định hướnglập luận (các chỉ dẫn lập luận), đó là các tác tử và kết tử lập luận Các tín hiệu địnhhướng lập luận này được xem như là chiếc chìa khóa giúp người tiếp nhận có thể giải

mã được những suy nghĩ, ý định của người lập luận So sánh:

(87) Bà ngoại có mình mạ là con, giờ ở một mình, hai mạ con đã về đó sống.

(88) Bà ngoại chỉ có mình mạ là con, giờ lại ở một mình nên hai mạ con đã về đó

sống {35, tr.267}

Hai ví dụ trên đều giống nhau trong việc đề cập đến các sự việc, nhưng khác nhau ởchỗ: trong ví dụ (87), người nói chỉ trình bày các sự việc mà anh ta quan sát được,trong ví dụ (88), người nói không đơn thuần là nêu các sự việc mà chủ yếu là thể hiệncách đánh giá của mình về các sự việc và nêu mối quan hệ giữa các sự việc đó Mối

quan hệ này được thể hiện thông qua các tín hiệu ngôn ngữ: chỉ có… lại, nên Chúng

không chỉ giúp người nói khẳng định chính kiến của mình, thuyết phục người nghe tánthành với ý kiến đó mà còn giúp người nghe có thể nhận ra phát ngôn mà người nóiđưa ra là một lập luận Như vậy, những tín hiệu ngôn ngữ có chức năng nối kết các sựviệc trong một hay nhiều phát ngôn hoặc tạo ra một định hướng nghĩa nào đó được gọi

là những tín hiệu ngôn ngữ có chức năng định hướng lập luận Những tín hiệu ngôn

ngữ định hướng lập luận gọi là các chỉ dẫn lập luận (instructions argumentatives) Các chỉ dẫn lập luận được thực hiện nhờ các tác tử lập luận (opérateurs argumentatifs) và các kết tử lập luận (connecteurs argumentatifs) Các tác tử và kết tử thường do các hư

từ (trợ từ, phụ từ, quan hệ từ) đảm nhiệm Chúng tuy không thực hiện chức năng địnhdanh, gọi tên, nghĩa là không thể thông qua chúng mà liên hệ tới một đối tượng, hoạtđộng, hay đặc điểm, tính chất… cụ thể nào đó trong hiện thực nhưng lại có vai trò vôcùng quan trọng để người nói thực hiện hành động ngôn ngữ của mình, trong đó có lậpluận

Theo Nguyễn Đức Dân, “Tác tử lập luận là những yếu tố tác động vào một phát

ngôn sẽ tạo ra một định hướng nghĩa làm thay đổi tiềm năng lập luận của phát ngôn”[31, tr.176] Còn theo Đỗ Hữu Châu thì “Tác tử lập luận là một yếu tố khi được đưavào một nội dung miêu tả nào đấy sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập

Trang 40

với thông tin miêu tả vốn có của nó” [23, tr.180] Xét về phương diện từ loại, nhữngtác tử thường là những trợ từ, phụ từ góp phần phụ thêm, đệm thêm nghĩa tình thái chocâu, đồng thời hướng người nghe tới một dụng ý nào đó của người lập luận Ví dụ:

(89) Đã có đủ điều kiện để vợ tôi có thể tung tẩy hẹn hò và vui vẻ với những người đàn ông khác, bởi vì nàng mới chỉ hơn ba mươi tuổi {31, tr.165}

(90) Cô lại ghen tuông, thèm cãi vã hắn, nhưng hắn chỉ nhìn cô với ánh mắt giễu

Lập luận ở ví dụ (90) chỉ có hai LC còn KL thì ở dạng hàm ẩn Tuy nhiên, nhờ sự

hỗ trợ của hai tác tử lại, chỉ và kết tử nhưng mà người nói vừa diễn đạt ý nghĩa nghịch

hướng trong lập luận của mình, vừa giúp người nghe có thể dễ dàng suy ra KL hàm ẩn

là: hắn không yêu cô Trong lập luận này, tác tử lại chỉ sự tiếp diễn, làm đầy thêm tình huống, trạng thái và hành động của nhân vật cô được người nói đề cập tới trong phát ngôn, qua đó, người nghe có thể hình dung được tình yêu mà cô dành cho hắn là khá lớn, ngược lại, tác tử chỉ nhấn mạnh vào ý nghĩa hạn định duy nhất (đối với cô thì ngoài hành động nhìn với ánh mắt giễu cợt, hắn không có thêm bất kì một hành động nào khác), nghĩa là hắn không muốn dành tình yêu cho cô, hắn không yêu cô.

Như vậy, tác tử lập luận là những yếu tố tình thái mà người nói đưa vào phát ngôn nhằm tạo ra sự tác động của chúng đến nội dung miêu tả của phát ngôn, giúp cho người nói có thể lập luận theo một định hướng nhất định Theo quan sát của chúng tôi,

tác tử lập luận có thể chia thành các nhóm nhỏ sau đây:

Thứ nhất, nhóm tác tử định hướng sự đánh giá về thời gian: tác tử mới, vừa, vừa mới, mới… thôi… biểu thị thời gian còn sớm, còn dài; tác tử đã, đã… rồi… biểu thị

thời gian đã kéo dài, đã muộn Ví dụ:

(91) Tôi mới làm việc được hai tiếng đồng hồ thôi.

(92) Tôi đã làm việc được hai tiếng đồng hồ rồi.

Thứ hai, nhóm tác tử định hướng sự đánh giá về lượng: các tác tử chỉ, có, chỉ có, thôi thể hiện sự đánh giá là “ít”, “rẻ”, “nhẹ” về đối tượng được đề cập tới so với chuẩn thông thường hoặc trong quan hệ đối chiếu với một cái gì đó; các tác tử: những, kia, đấy thể hiện sự đánh giá với ý nghĩa “nhiều”, “đắt”, “nặng” về đối tượng được

Ngày đăng: 18/09/2023, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w