1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc

113 643 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc

Trang 1

Quan h th ng m i Vi t Nam-Hàn Qu c ệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc ương mại Việt Nam-Hàn Quốc ại Việt Nam-Hàn Quốc ệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc ốc

Quy mô thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã thực sự có bước phát triển nhanh chóng, tăng gấp 3 lần sau 10 năm Hiện tại, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 6 của Việt Nam, chỉ sau Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan và Mỹ Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam–Hàn Quốc chiếm khoảng 6,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2002-2005

Năm 2004, xuất khẩu của Việt Nam đạt 603 triệu đôla Mỹ, tăng 18,1% so với năm 2003, trongkhi đó xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 3.328,5 triệu đôla Mỹ, tăng 26,8% đưa tổng kim ngạch lêntới hơn 3,9 tỷ đôla Mỹ Năm 2005, xuất khẩu của Việt Nam đạt 694,04 triệu US$, tăng 5,4% sovới năm 2004, trong khi đó xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 3.431, 65 triệu US$, tăng 3,1%.Thương mại giữa hai nước trong năm 2005 vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng đã có dấu hiệuchững lại Xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2004 có mức tăng cao là do trong năm này ta đãxuất được dầu thô với trị giá 51,64 triệu US$ Trong năm 2005, do Hàn Quốc không mua dầuthô nữa nên kim ngạch chung không tăng Tuy nhiên, nếu không tính dầu thô, thì xuất khẩu của

Trong 5 năm trở lại đây, kim ngạch buôn bán giữa hai nước tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên, ViệtNam luôn nhập siêu từ Hàn Quốc và với việc kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa hai nước ngàycàng tăng thì nhập siêu của Việt Nam ngày càng lớn Nếu năm 1995 ta nhập siêu hơn 1 tỷ US$thì năm 2002 ta nhập siêu gần 1,8 tỷ US$, năm 2004 ta nhập siêu 2,5 tỷ US$ và năm 2005 con

số này đã lên tới hơn 2,74 tỷ US$ Mặc dù vậy, việc nhập siêu từ Hàn Quốc được đánh giá làmang tính tích cực, phản ánh sự gia tăng đầu tư vào Việt Nam của Hàn Quốc Điều này đượcthể hiện rất rõ trong cơ cấu nhập khẩu từ Hàn Quốc của Việt Nam với vị trí chủ yếu là các nhómhàng công nghiệp như: máy móc, thiết bị và phụ tùng, ôtô (CKD, SKD và nguyên chiếc), nguyênphụ liệu dệt may, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép, xăng dầu, linh kiện điện tử và thuốc tân dược

Để cải thiện cán cân thanh toán, ta không chủ trương hạn chế nhập khẩu mà phải tìm biện pháptăng cường xuất khẩu sang Hàn Quốc

Trong tình hình thương mại giữa hai nước như hiện nay, việc ta cùng với các nước ASEANkhác đàm phán với Hàn Quốc về AKFTA sẽ tạo điều kiện tăng cường trao đổi kinh tế-thươngmại với các nước tham gia AKFTA, mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường thu hút đầu tư Với cơ cấu kinh tế giữa hai nước mang tính bổ sung nhiều hơn là cạnh tranh, AKFTA sẽ tạođiều kiện thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hàn Quốc, giúpViệt Nam từng bước giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Hàn Quốc bằng cách tăng cường xuấtkhẩu mà không hạn chế nhập khẩu

Việc tăng cường quan hệ kinh tế-thương mại với Hàn Quốc còn giúp ta tranh thủ được sự trợ

Trang 2

giúp kỹ thuật của Hàn Quốc thông qua các chương trình, dự án hợp tác kinh tế và tháo dỡ phầnnào khó khăn do hàng rào thuế quan và các biện pháp bảo hộ phi thuế quan mà Hàn Quốc đang

áp dụng đối với các mặt hàng nông sản và thuỷ sản

CHÍNH SÁCH KHU V C M U D CH T DO C A HÀN QU C VÀ N L C ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY Ỗ LỰC ĐẨY ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ĐẨY Y NHANH CÁC ÀM PHÁN KHU V C M U D CH T DO Đ ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY

Nền kinh tế Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu Tổng kim ngạch ngoại thương của Hàn Quốc chiếm tới 70% GDP của nước này Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, Hàn Quốc vẫn bị xem là quốc gia tụt hậu rất xa

so với các nước thành viên WTO khác trong các đàm phán Khu vực Mậu dịch Tự do (FTA) vào thời điểm mà làn sóng FTA đang lan rộng ở khu vực Châu Á và một số khu vực khác trên thế giới Hàn Quốc là một trong hai nước thành viên WTO còn lại, cùng với Mông Cổ, không tham gia vào bất cứ hiệp định FTA nào trước khi nước này kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định FTA đầu tiên với Chi Lê vào tháng 3 năm ngoái.

Một năm sau khi ký kết Hiệp định FTA với Chi Lê, xuất khẩu của Hàn Quốc sang quốc gia Nam

Mỹ này đã tăng lên một cách nhanh chóng Theo Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc(KITA), hàng hoá chuyên chở bằng đường biển của Hàn Quốc sang Chi Lê đã tăng 58,7% trong

11 tháng qua so với năm trước đó sau khi Hiệp định FTA ký với Chi Lê có hiệu lực vào tháng 4năm ngoái Xuất khẩu ôtô của Hàn Quốc sang Chi Lê cũng tăng 59,3%, xuất khẩu điện thoại diđộng tăng 225,7% và xuất khẩu tivi màu tăng 110.4% Nhập khẩu từ Chi Lê cũng tăng 54,3%trong cùng thời kỳ đó, chủ yếu là các nguyên vật liệu thô, trong đó có quặng đồng Nhập khẩucác sản phẩm nông nghiệp, trừ rượu, từ Chi Lê tăng thấp hơn mức dự kiến 2,6% đã làm dịu bớtnhững lo ngại của nông dân, những người luôn đấu tranh chống lại việc mở cửa thị trường hàngnông sản vốn đang được Hàn Quốc bảo hộ chặt chẽ

Nhìn chung, Hiệp định FTA với Chi Lê đã cho thấy tiềm năng tăng trưởng mới trong năm qua,làm tăng niềm tin về mở cửa thị trường và xoa dịu những lo ngại đối với tự do hoá thương mạicủa quốc gia này Lạc quan về tình hình xuất khẩu gia tăng sau khi ký kết Hiệp định FTA đầutiên với Chi Lê, Hàn Quốc thể hiện tham vọng muốn đẩy mạnh đàm phán và ký kết các hiệp địnhFTA với ít nhất 15 quốc gia khác, dự kiến hoàn thành vào năm 2007 trước khi nhiệm kỳ 5 nămcủa Tổng thống Roh Moo-huyn kết thúc Nhằm đạt mục tiêu này, Hàn Quốc sẽ tiến hành cácđàm phán với 50 đối tác thương mại trên toàn thế giới

Trong điều kiện như hiện nay, Hàn Quốc hiểu rằng các FTA đóng một vai trò quan trọng trong

sự phát triển của nền kinh tế Chính sách đa biên sẽ giúp Hàn Quốc đẩy mạnh tự do hoá thươngmại, giảm dần các rào cản đối với thương mại và bảo đảm đem lại nhiều lợi ích hơn cho nềnkinh tế vốn phụ thuộc vào xuất khẩu của mình Một chiến lược dài hạn nhằm phát triển và mởrộng thương mại là cần thiết đối với nền kinh tế Hàn Quốc vốn đang phải đối mặt với nhiều điềukiện bất lợi từ bên ngoài như giá dầu tăng cao, đồng won tăng giá so với đồng đôla Mỹ và ngàycàng xuất hiện nhiều rào cản thương mại khác Mở rộng các đàm phán FTA được xem là giảipháp duy nhất để các công ty Hàn Quốc có thể tiếp cận tốt hơn với thị trường bên ngoài Trongkhi đó, một số quan điểm khác lại cho rằng việc đẩy nhanh các đàm phán FTA có thể sẽ phảntác dụng, ảnh hưởng xấu đến một số ngành công nghiệp chủ chốt trong nước

Hàn Quốc đã hoàn tất những khâu cuối cùng để Quốc hội chính thức thông qua Hiệp định FTA

ký kết với Singapore vào tháng 4 vừa qua Với Hiệp định FTA này, Hàn Quốc hy vọng có thểđẩy nhanh các đàm phán FTA với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc vàcác quốc gia ở Châu Á khác trong tương lai

Hàn Quốc hiện nay đang triển khai đàm phán FTA với 16 quốc gia khác, gồm Nhật Bản,Canađa, 10 nước thành viên ASEAN và 4 nước thành viên Hiệp hội Thương mại Tự do Châu

Âu (EFTA) Theo ước tính của Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc, một Hiệp định FTA

ký kết với ASEAN sẽ làm tăng GDP của Hàn Quốc 14,6 tỷ đôla Mỹ trong ngắn hạn và 18,2 tỷđôla Mỹ về lâu dài Một Hiệp định FTA ký kết với EFTA sẽ làm tăng xuất khẩu của Hàn Quốc26% mỗi năm Ngoài ra, Hiệp định FTA với EFTA cũng được xem như là sự khởi đầu đối với

Trang 3

các hiệp định phi thuế quan với Liên minh Châu Âu (EU) vì EFTA gồm bốn nước Châu Âu là xơ-len, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sỹ đã ký kết một Hiệp định FTA với EU.

Ai-Hàn Quốc hiện đang tiến hành các nghiên cứu chung với 7 quốc gia, trong đó có Ấn Độ, Mêhicô

và Nga, về tính khả thi của các đàm phán FTA Hàn Quốc cũng đang tiến hành các đối thoại banđầu với 27 quốc gia, trong đó có Mỹ, Trung Quốc và EU

Nhật Bản hiện đang là một đối tác thương mại lớn của Hàn Quốc, với kim ngạch thương mạisong phương đạt 67,8 tỷ đôla Mỹ trong năm ngoái Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bảntăng 2,24 tỷ đôla Mỹ, tăng 310% so với năm trước, đã đưa quốc gia này, cùng với Mỹ thành mộttrong những nước đầu tư lớn nhất vào Hàn Quốc

QU N LÝ C NH TRANH TRONG L NH V C PHÂN PH I C A HÀN QU C ẢN LÝ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA HÀN QUỐC ẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA HÀN QUỐC ĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA HÀN QUỐC ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY

Luật thương mại công bằng:

Hội đồng thương mại công bằng Hàn Quốc (KFTC) điều chỉnh rất chặt chẽ những hành động thương mại bất công của những công ty bán lẻ lớn Từ khi các tập đoàn đa quốc gia như Wal-mart và Carrefour mở chi nhánh của họ tại Hàn Quốc, họ phải cạnh tranh với những công ty bản lẻ lớn trong trước Sự cạnh tranh giữa các công ty bản lẻ lớn gây ra những cuộc chiến giảm giá rất gay gắt, các công ty bản lẻ lớn thường gây áp lực giảm giá rất phi lý đối với các công ty cung cấp của họ

Khi các công ty bán lẻ lớn chiếm vị trí vượt trội trên thị trường, KFTC sẽ điều chỉnh khắt khe hơn

so với những đối thủ không chiếm ưu thế trên thị trường Tiêu chuẩn của vị trí vượt trội trên thịtrường là thị phần

Khi thị phần của một công ty chiếm hơn 50% hoặc tổng của ba công ty trên thị trường chiếm75% (Trong trường hợp này, công ty nào có thị phần dưới 10% bị loại khỏi thị trường) thì nhữngcông ty này đang thống trị thị trường Theo luật thương mại công bằng của Hàn Quốc, nhữngcông ty thống trị thị trường bị cấm không được lạm dụng sự vượt trội này

Những tiêu chuẩn để cấm lạm dụng vị trí vượt trội trên thị trường:

 Vô cớ sửa, duy trì hoặc thay đổi giá sản phẩm hoặc dịch vụ

 Vô cớ đưa ra giảm giá hàng hoá hoặc dịch vụ

 Vô cơ can thiệp vào các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác

 Vô cớ ngăn chặn các đối thủ mới gia nhập thị trường

 Đe doạ, kiềm chế các đối thủ hoặc làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng

Khi bất kỳ doanh nghiệp nào đang chiếm ưu thế trên thị trường có những hành động lạm dụng vịtrí này, KFTC sẽ ra lệnh cho doanh nghiệp này giảm giá, loại bỏ những hành động nêu trên,công bố rộng rãi việc vi phạm này hoặc sử dụng những biện pháp cần thiết theo Luât điều chỉnhđộc quyền và thương mại công bằng Hội đồng này cũng có thể phạt doanh nghiệp vi phạm với

số tiền không quá 3% tổng số doanh thu có được trong thời gian bắt đầu và kết thúc vi phạm Trong những biện pháp khắc phục, việc công khai về vi phạm là một biện pháp rất hiệu quả đểngăn chặn việc doanh nghiệp lạm dụng vị trí của mình Mặc dù việc phạt cao hơn mức phạt tối

đa là 2% tổng doanh thu cho các hành động kinh doanh bất công, các doanh nghiệp dễ dàngtăng giá và chuyển những phí phạt này sang người tiêu dùng Tuy nhiên, sự công bố về việc viphạm có thể làm hỏng hình ảnh và sự tin cậy của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp đã bỏ ra rấtnhiều tiền để gây dựng nên hình ảnh và sự tin cậy bằng quảng cáo, các doanh nghiệp sẽ khôngmuốn làm hỏng hình ảnh này bằng việc vi phạm luật Vì vậy, công bố về việc vi phạm là mộttrong những biện pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn các hành động thương mại bất công

Trang 4

Khi doanh nghiệp không chiếm ưu thế trên thị trường, luật cũng cấm các doanh nghiệp này cónhững hành động phi cạnh tranh Tiêu chuẩn cho những hành động này là:

 Vô cớ từ chối giao dịch hoặc tẩy chay một đối tác nào đó

 Vô cớ tham gia vào những hoạt động để loại bỏ đối thủ

 Vô cớ thuyết phục hoặc lừa dối người tiêu dùng của đối thủ

 Vô cớ lợi dụng vị trí để thương lượng với các đối tác khác

 Giao dịch với đối tác với những điều khoản hoặc điều kiện vô cớ hạn chế và phá hoại cáchoạt động kinh doanh của đối tác

 Sử dụng quảng cáo hoặc những tuyên bố không đúng sự thật hoặc có thể lừa dối hoặc làmngười tiêu dùng lầm tưởng về doanh nghiệp hoặc sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó Các biện pháp để trừng phạt những hành động thương mại bất công cũng giống như hành độnglạm dụng địa vị nổi trội trên thị trường ngoại trừ mức phạt tối đa ít hơn 1% so với lạm dụng địa vịnổi trội trên thị trường Luật cạnh tranh công bằng cũng đã ghi rõ rằng hội đồng đưa ra lời cảnhbáo về các loại và các tiêu chuẩn đối với các hành động kinh doanh bất công theo kinh doanhcủa các cửa hàng phân phối lớn

Các lời cảnh báo đối với những hành động kinh doanh không công bằng đặc biệt có liên quantới kinh doanh của các công ty bán lẻ lớn có những loại như sau:

1 Hoàn trả sản phẩm một cách bất công: Một doanh nghiệp không có quyền trả, theo từng phầnhoặc toàn bộ sản phẩm mà doanh nghiệp này đã mua từ nhà cung cấp (bao gồm việc hoàn trảsản phẩm thực tế, như việc thay các thoả thuận mua bán bằng các thoả thuận bằng miệng hoặcthay các hàng hoá đã mua bằng hàng hoá khác), trừ những trường hợp sau:

a Trả lại hàng hoá hư hại, bị hỏng và có lỗi của người cung cấp trong khoảng thời gian hợp lý

từ ngày gửi hàng phù hợp với những hoạt động của hải quan do lỗi của người cung cấp

b Trong trường hợp hàng hoá được gửi tới khác với hàng hoá đã đặt, việc trả lại hàng hoá củangười cung cấp phải được thực hiện trong thời hạn hợp lý so với ngày chuyển hàng

c Việc trả lại hàng hoá cho người cung cấp phải có sự đồng ý của nhà cung cấp, với điều kiệndoanh nghiệp này chịu mọi chi phí của việc hoàn trả

d Việc trả lại hàng hoá cho người cung cấp khi người cung cấp cho rằng việc hoàn trả trực tiếphoặc người cung cấp bán sẽ có lợi hơn và yêu cầu người bán lẻ lớn trả lại hàng hoá

2 Giám giá bất công: Không một doanh nghiệp nào được quyền giảm giá hàng hoá sau khi đãnhận hàng hoá từ người cung cấp, trừ những trường hợp sau:

a Giảm giá mua ở một mức hợp lý (trong thời gian hải quan kiếm soát từ ngày giao hàng), khihàng hoá bị hư, hỏng hoặc bị lỗi do lỗi của người cung cấp

b Giảm giá mua ở một mức hợp lý (trong thời gian hải quan kiếm soát từ ngày giao hàng), khihàng hoá nhận được khác với hàng hoá đã đặt

3 Vô lý thanh toán chậm: Không một doanh nghiệp nào được vô lý thanh toán chậm nếu nằmtrong những trường hợp sau đây:

a Thanh toán chậm không có lý do hợp lý sau khi đã chịu trách nhiệm về hàng hoá

b Thanh toán chậm không có lý do hợp lý, trong trường hợp doanh nghiệp nhận và quản lý tiềnhàng bán được với tư cách của cửa hàng đang thuê

4 Đưa ra những yêu cầu vô lý: Không một doanh nghiệp nào có quyền can thiệp vào các hoạt

Trang 5

động của người cung cấp:

a.Đưa ra những yêu cầu vô lý đối với người cung cấp hoặc người thuê cửa hàng theo hợp đồngcần phải đáp ứng theo mỗi lần mua hàng

b.Yêu cầu bằng vũ lực nhà cung cấp phải bán hàng hoá với một mức giá thấp hơn giá bìnhthường để thực hiện những hoạt động đặc biệt như giảm giá bán hoặc giá thương lượng …

c Yêu cầu bằng vũ lực người cung cấp hoặc người thuê cửa hàng tham gia vào những hoạtđộng giảm giá đặc biệt như là giảm giá cao hoặc giảm giá đặc biệt

d.Yêu cầu bằng vũ lực người cung cấp hoặc người thuê cửa hàng phải mua hàng hoặc có quàtặng bằng phiếu

e.Yêu cầu đơn phương bằng vũ lực người cung cấp hoặc người thuê cửa hàng phải thay đổicách trang trí, nội thất, địa điểm của cửa hàng và hàng hoá bán ra v.v… trước khi kết thúc hợpđồng mà hai bên đã ký kết

5 Từ chối nhận hàng vô cớ: Doanh nghiệp không được quyền nhận chậm hoặc từ chối nhậntoàn bộ hoặc một phần hàng hoá không có lý do là do lỗi của nhà cung cấp, sau khi đã thực hiệncái thoả thuận về kích cỡ, mẫu mã hoặc mẫu đơn đặc biệt đã được cung cấp từ trước

6 Gửi nhân viên bán hàng: Doanh nghiệp không được ép người cung cấp chịu chi phí cho cácnhân viên do chính các nhà cung cấp gửi đến và có liên quan tới những công việc kinh doanhcủa doanh nghiệp hoặc người do chính doanh nghiệp giao việc, trừ khi người cung cấp gửi nhânviên bán hàng và muốn người nhân viên đó bán hàng của mình

7 Đẩy phí quảng cáo bất công: Doanh nghiệp không được quyền đòi hỏi hoặc chuyển trái ýngười cung cấp hoặc người thuê cửa hàng phí quảng cáo hoặc chi phí cho việc trang trí hoặcmua nội thất

Những biện pháp đối phó với những vi phạm khai báo cũng giống như đối với những vi phạmcạnh tranh không công bằng Công ty bán lẻ lớn có thể dễ dàng nhận biết những hành độngkinh doanh bất công bằng việc khai báo và họ có thể tránh vi phạm luật cạnh tranh

Những trường hợp xử lý cụ thể:

Công ty “The Walmart-Korea” đã thành lập 6 cửa hàng bán lẻ lớn tại Hàn Quốc Vào năm 1999,công ty này đã bán hàng có trị giá 250 triệu USD Walmart-Korea đã có hành động từ chối nhậnhàng không công bằng, trả hàng hoá không công bằng, ép buộc người cung cấp mua sản phẩmkhông công bằng, giảm bất công giá sản phẩm có liên quan sau khi đã đặt mua của người cungcấp và đẩy phí quảng cáo cho người cung cấp KFTC đã ra lệnh Walmart dừng ngay nhữnghoạt động này và đã phạt 1,6 triệu USD KFTA cũng đã ra lệnh cho Walmart-Korea công bố racông chúng về những vi phạm luật thương mại công bằng trên 2 tờ báo lớn theo hình thứcquảng cáo

Vào năm 2001, công ty “Korea-Carrefour” đã vô cớ giảm giá sản phẩm của 112 nhà cung cấp,KFTA đã quyết định dừng hành động này và phạt 63 nghìn USD KFTA cũng đã ra lệnh “Korea-Carrefour” phải công bố ra công chúng về những vi phạm luật thương mại công bằng trên 2 tờbáo lớn theo hình thức quảng cáo

UBQG (Theo tài liệu cua UNCTAD - Kim Shun Jhong

H i nh p kinh t ASEAN và h p tác ASEAN - Hàn Qu c ội nhập kinh tế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ập kinh tế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ợp tác ASEAN - Hàn Quốc ốc

Từ những năm 1990, ASEAN đã thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm hướng tới một thị trường chung Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thành lập từ năm 1992

Trang 6

nhằm loại bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước thành viên ASEAN và tạo ra một thị trường khu vực với 686,3 tỉ USD cho 541,9 triệu người thông qua việc tăng số lượng thành viên gồm cả Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia (CLMV) Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận loại bỏ tất cả thuế nhập khẩu vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên ban đầu của ASEAN và vào 2015 đối với 4 nước thành viên mới (CLMV)

Sau khủng hoảng tài chính, ASEAN đã có những bước đi quan trọng hướng tới hội nhập khuvực thông qua sáng kiến ASEAN cộng 3 nhằm tăng cường vị trí thông qua việc hiện thực hóaAFTA sớm hơn thông qua hình thức hợp tác kinh tế và chính trị Gần đây, ASEAN đang nỗ lực

để tăng cường hội nhập cùng với việc mở rộng và tăng cường liên kết kinh tế với các nướcĐông Bắc Á Hiện nay, có rất nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN và các nướcđang được thảo luận nhằm phản ánh rõ ràng xu hướng hội nhập kinh tế của ASEAN kể từ saucuộc khủng hoảng tài chính

Hàn Quốc cũng có sự quan tâm chặt chẽ với quá trình hội nhập kinh tế ASEAN cũng như nỗ lựccủa ASEAN nhằm xây dựng hợp tác kinh tế toàn diện với các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn

Độ Trong những thập kỷ qua, ASEAN và Hàn Quốc là những đối tác kinh tế quan trọng, thươngmại và đầu tư song phương giữa Hàn Quốc và ASEAN tăng lên vững chắc trong những nămvừa qua Hiện nay ASEAN đứng thứ 3 trong nguồn đầu tư FDI từ Hàn Quốc và đứng thứ 5 vềthương mại

Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế chặt chẽ, ASEAN và Hàn Quốc đã xây dựng thànhcông mối quan hệ đa dạng và toàn diện cũng như hệ thống đối thoại Kết quả là các nhà lãnhđạo ASEAN và Hàn Quốc đã thống nhất thông qua Tuyên bố chung về đối tác hợp tác toàn diện

và quyết định tiến hành đàm phán Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) tại Hộinghị Thượng đỉnh vào tháng 11/2004 tại Lào Các cuộc đàm phán AKFTA đã được khởi động từđầu năm 2005 và sẽ được hoàn tất trong vòng 2 năm

1 Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN:

Do hội nhập với nền kinh tế toàn cầu tăng lên, ASEAN đang phải đương đầu với các cơ hội vàthách thức quan trọng bao gồm yêu cầu về hội nhập tốt hơn của các thành viên mới vào nềnkinh tế khu vực và toàn cầu Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận sáng kiến về liên kếtASEAN (IAI) và lịch trình hội nhập của ASEAN (RIA), theo đó lợi ích của hội nhập ASEAN đượcchia sẻ Tuy nhiên, từ tháng 1/2002, ASEAN đã thông qua hệ thống liên kết ASEAN về chươngtrình ưu đãi mà theo đó thuế ưu đãi sẽ được các nước thành viên cũ của ASEAN dành cho cácthành viên mới trên cơ sở tự nguyện và thỏa thuận song phương dựa trên những sản phẩm docác nước CLMV đưa ra

Vào tháng 11/2000, các nhà lãnh đạo ASEAN thỏa thuận đưa ra sáng kiến liên kết ASEANnhằm định hướng và tập trung vào các nỗ lực chung của ASEAN trong việc thu hẹp khoảngcách phát triển giữa các thành viên cũ và thành viên mới của ASEAN Để hiện thực hóa mụctiêu này, các nhà lãnh đạo ASEAN tại cuộc họp Thượng đỉnh tại Phnom Penh vào tháng11/2002 đã thông qua Chương trình hành động nhằm đảm bảo sự tăng trưởng năng động vàbền vững của khu vực và sự thịnh vượng của người dân ASEAN

Kế hoạch hành động 6 năm hiện nay (từ tháng 7/2002 – tháng 6/2008) đối với các nước CLMV

đã được phát triển nhằm hỗ trợ những nước này theo kịp với các nước thành viên cũ với tốc độngày càng tăng Chương trình hợp tác này tập trung vào 4 lĩnh vực ưu tiên, chủ yếu là phát triển

cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin và viễn thông, thúc đẩy hội nhậpkinh tế khu vực về thương mại hàng hóa và dịch vụ, hải quan, tiêu chuẩn và đầu tư ở các nướcCLMV

Trang 7

Đến tháng 1/2005, đã có 84 dự án trong Kế hoạch hành động này ở các giai đoạn thực hiệnkhác nhau Nguồn tài trợ đã được đảm bảo cho 66 dự án chiếm 78,6%, trong đó 28 dự án đãđược hoàn thành, 14 dự án đang được thực hiện Ngoài việc đóng góp của các nước thành viênASEAN-6 đối với Kế hoạch hành động này, 11 bên đối thoại và các tổ chức phát triển cũng ủng

hộ các dự án thông qua việc tài trợ với tổng số 14,1 triệu USD Năm nhà tài trợ hàng đầu làNhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, UNIDO và Úc chiếm tổng số 13 triệu USD (hoặc 82,6% nguồn tàitrợ)

Chính phủ Hàn Quốc đã đồng ý đóng góp 5 triệu USD trong 5 năm để tài trợ cho các dự án IAI

Để thực hiện hiệu quả các dự án này, chính phủ Hàn Quốc đã ủy nhiệm cho Cơ quan hợp tácquốc tế của Hàn Quốc (KOICA) là cơ quan thực hiện các dự án Đến tháng 11/2004, nguồn camkết của các nước thành viên ASEAN-6 là: Brunei cam kết 1,5 triệu USD, Malaysia: 0,8 triệuUSD, Indonesia: 0,6 triệu USD, Singapore: 0,47 triệu USD, Thái Lan: 0,41 triệu USD

2 Tăng cường liên kết kinh tế với Đông Á:

Mặc dù có nhiều nỗ lực nhằm sớm hiện thực hóa liên kết thị trường khu vực và tiềm năng củathị trường Đông Nam Á, AFTA về cơ bản vẫn còn nhỏ về qui mô kinh tế so với EU và NAFTA vànhững hạn chế về cơ cấu liên quan tới hợp tác Nam-Nam AFTA cơ bản đại diện cho sự liên kếtchung giữa các nước đang phát triển và chưa đủ khả năng khẳng định sự đoàn kết kinh tế mạnh

mẽ do thiếu vắng nền kinh tế dẫn đầu cũng như sự đồng thuận và ổn định chính trị

Để giải quyết những yếu kém về cơ cấu, ASEAN đã cố gắng mở rộng hợp tác kinh tế với cácnước Đông Bắc Á, đưa ra nhiều thỏa thuận hợp tác vượt ra khỏi Đông Nam Á Điều này đã dẫnđến việc hình thành Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) nhằm cho phép ASEAN+3 bao gồmASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc có thể phát triển mối liên kết với các khu vực khác ví

dụ như Châu Âu

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã có sự chuyển động rõ rệt đối với sự hợp tác ởĐông Á Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 đầu tiên được tổ chức vào tháng 12/1997 và sự hợptác này phát triển mạnh nhất từ năm 1998 đến năm 2001 Hiện nay sự hợp tác này chủ yếu làđối thoại về liên kết kinh tế, các vấn đề về chính trị, văn hóa xã hội ở Đông Á

Cơ sở hợp tác ASEAN+3 là một nhân tố quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Á.Sau cuộc khủng hoảng tài chính, các nước Đông Á nhận ra yêu cầu phải liên kết kinh tế chặtchẽ hơn và phát triển lợi ích trong việc thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA) Đến nay,

đã có rất nhiều nghiên cứu và các cuộc đàm phán FTA song phương đang diễn ra giữa cácnước Châu Á nhằm tằng cường xung lực mới cho hội nhập kinh tế khu vực

Tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 tại Singapore vào năm 2000, Trung Quốc đã đưa ra đề nghịhình thành FTA với ASEAN và FTA ASEAN-Trung Quốc đã chính thức được thỏa thuận tại hộinghị Thượng đỉnh tại Campuchia vào tháng 11/2002 Nhằm phản ứng với thỏa thuận này, NhậtBản cũng muốn theo đuổi hợp tác với ASEAN và sau đó FTA giữa Nhật Bản và Singapore đãđược ký kết vào tháng 1/2002 và trong năm 2003, Nhật Bản đã thúc đẩy FTA với các nướcthành viên ASEAN và ký thỏa thuận khung về đối tác kinh tế toàn diện với ASEAN tại Hội nghịthượng định Bali, Indonesia

Trong thời gian gần đây, ngày càng có sự đồng thuận tăng lên giữa các nước ASEAN+3 về việcĐông Á cần tăng cường khối thương mại khu vực để đương đầu với các FTA ở các khu vựckhác Những cuộc thảo luận về FTA Đông Á thực tế đã được khởi xướng tại Hội nghị thượngđỉnh ASEAN+3 tại Manila vào tháng 11/1999 Tại cuộc họp thượng đỉnh tại Bandar SeriBegawan vào tháng 11/2001, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thúc đẩy liên kết kinh tế giữa

Trang 8

các nước Đông Á theo hướng liên kết khu vực ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Trong quá trình đàm phán FTA với Trung Quốc, ASEAN đã thuyết phục Nhật Bản, Hàn Quốc và

Ấn Độ hình thành đối tác kinh tế chặt chẽ hơn Liên kết kinh tế khu vực trong quá trìnhASEAN+1 có thể tạo ra một khối kinh tế quan trọng trong việc thiết lập thị trường liên kết Đông

Á Mặc dù các nước ASEAN+3 có những quan điểm khác nhau với khu vực mậu dịch tự do giữaASEAN và Đông Á (EAFTA) và có sự tin tưởng rằng EAFTA có thể giúp thúc đẩy thương mại vàđầu tư trong khu vực

3 Tiến triển các FTA song phương ở Đông Á:

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á, xu hướng của chủ nghĩa khu vực đã tăng lên ởĐông Á do nhiều FTA đang được thảo luận giữa các nước ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc, Mỹ, Mexico, Chilê, Úc, Niu zi lân Điều này cho thấy rằng các nền kinh tế Đông Áđang bắt đầu chú ý vào các FTA do sự mở rộng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới Tuy nhiên,sau cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng lên sự hiểu biết về tầm quan trọng của sự phụ thuộctrong khu vực và nỗ lực lớn hơn tập trung vào các khía cạnh chiến lược của liên kết kinh tếtrong khu vực Thực tế là khó có thể đạt được kết quả nhanh chóng từ việc tự do hóa thươngmại đa phương trong hệ thống WTO vì có quá nhiều nước tham gia Ngược lại, các FTA lại cókhả năng tự do hóa thương mại sâu rộng hơn nhờ có các cuộc đàm phán tương đối thuận lợi

Do đó, FTA trở thành vấn đề chính trong việc thúc đẩy xuất khẩu của các nền kinh tế Đông Á

ASEAN đã chuyển đổi thành một thực thể khu vực độc nhất cùng với việc mở rộng chủ nghĩakhu vực đã xảy ra ở Đông Á sau cuộc khủng hoảng tài chính Do các nước Đông Á bắt đầunhận ra tầm quan trọng của yêu cầu đối với chủ nghĩa khu vực, FTA đã trở thành vấn đề chính

Cụ thể là, thông qua các cuộc họp thường xuyên của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3, các nềnkinh tế Đông Á đang thúc đẩy mạnh mẽ các FTA và các nước ASEAN cũng đang thúc đẩy đàmphán FTA với các nước ngoài khu vực Đông Á bao gồm Úc, Ấn Độ và Mỹ

Trước cuộc khủng hoảng, hầu hết các nước ASEAN có suy nghĩ tiêu cực về việc thúc đẩy cácFTA song phương với các khu vực khác do e ngại rằng sự đoàn kết nội khối có thể bị tổnthương Mặc dù ASEAN đang thúc đẩy mục tiêu chiến lược mở rộng hợp tác kinh tế trong khuvực, mỗi thành viên đang có sự tiếp cận khác nhau với sự hợp tác này Malaysia và một sốnước thành viên khác đã chỉ trích các nước thành viên ASEAN việc hình thành các FTA songphương có thể làm suy yếu các thỏa thuận khu vực chẳng hạn như AFTA và cho phép các nềnkinh tế ngoài khu vực tham gia vào thị trường khu vực Tuy nhiên, Singapore và Thái Lan đãthông qua chiến lược bảo đảm các FTA song phương

Singapore đã ký Hiệp định thương mại tự do song phương với Niu zi lân, Nhật Bản, EFTA, Úc

và Mỹ và đang đàm phán để hình thành FTA với Mexico, Canada, Hàn Quốc và Ấn Độ Thái Lanđang xem xét FTA với Úc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ Trong khi đó Philippines đang xem xét FTA với

Mỹ và đang đàm phán để hình thành FTA với Nhật Bản Singapore đã tiết lộ chiến lược pháttriển quốc gia mới vào tháng 2/2003 về mong muốn khả năng trở thành thành phố dẫn đầu toàncầu

Thái Lan đã thúc đẩy FTA với các nền kinh tế lớn như Mỹ và Nhật Bản, chính phủ Thái Lan đãlựa chọn các đối tác FTA tiềm năng bao gồm Mỹ, Úc, Bahrain, Peru, Ấn Độ, Nhật Bản và HànQuốc

Các cuộc thảo luận FTA tích cực gần đây liên quan tới Ấn Độ, Thái Lan và Singapore và việcthúc đẩy FTA giữa Ấn Độ và ASEAN đang góp phần vào sự tăng lên của chủ nghĩa khu vực ởĐông Á, mở rộng xu hướng mới đối với quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN Năm 2001,

Trang 9

Trung Quốc và Nhật Bản đã tiến hành thảo luận FTA với ASEAN và các cuộc thảo luận này tănglên liên tục Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 tại Phnom Penh vào tháng 11/2002, ASEAN vàTrung Quốc đã thông qua thỏa thuận về việc thiết lập FTA vào năm 2010, ASEAN và Ấn Độ đạtđược thỏa thuận về việc xúc tiến hình thành FTA.

Một thỏa thuận hợp tác toàn diện đã được kết thúc tại Hội nghị thượng đỉnh giữa ASEAN – Ấn

Độ tại Bali vào tháng 10/2003 Đây là bước đầu tiên tiến tới việc tăng cường cơ sở hợp tác cơcấu đối với hiệp định thương mại khu vực Điều này cũng góp phần vào việc hình thành cơ sởhợp tác kinh tế ASEAN Mặc dù giới hạn về thời gian để hòan thành đàm phán về FTA đã đượckéo dài trong 10 năm, nếu Ấn Độ cố gắng đạt được FTA với Thái Lan và Singapore thì ảnhhưởng về kinh tế và chính trị sẽ rất có ý nghĩa đối với hợp tác khu vực và ở Đông Á nói chung

4 Sự phát triển của FTA giữa ASEAN – Hàn Quốc:

Trong nhịp bước hối hả nhằm đạt được các hiệp định thương mại tự do, Hàn Quốc đã hoànthành nghiên cứu chung về FTA với Nhật Bản và Singapore vào tháng 9/2003 và bắt đầu đàmphán chính thức với cả hai nước này vào đầu năm 2004 Hàn Quốc và Singapore đã tiến hành

10 vòng đàm phán từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2004 và kết thúc một thỏa thuận FTA toàn diệngồm 9 lĩnh vực về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, thỏa thuậncông nhận lẫn nhau (MRA), sở hữu trí tuệ

Ngoài hai hiệp định FTA song phương này, Hàn Quốc đang theo đuổi FTA với ASEAN như làmột thực thể Vì mục tiêu này, Hàn Quốc và ASEAN đã hình thành nhóm chuyên gia về ASEAN– Hàn Quốc nhằm chuẩn bị báo cáo về nghiên cứu chung về quan hệ kinh tế toàn diện và chặtchẽ hơn giữa ASEAN và Hàn Quốc Tại hội nghị tham vấn giữa các Bộ trưởng kinh tế ASEAN

và Hàn Quốc vào tháng 9/2004 tại Jakarta, Indonesia, các Bộ trưởng đã hoan nghênh đề xuấtthiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) Cuối cùng, các nhà lãnh đạo đãđưa ra Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và quyết định tiến hànhđàm phán AKFTA tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốc tại Lào vào tháng 11/2004

Các cuộc đàm phán hình thành khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) đã đượcbắt đầu từ tháng 2/2005 và hy vọng sẽ hoàn thành trong vòng 2 năm AKFTA hy vọng sẽ manglại mức độ tự do hóa cao với thời hạn nhanh hơn Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốcvào tháng 12/2005 tại Kuala Lumpur, Malaysia, các nhà lãnh đạo đã ký Hiệp định khung về hợptác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và cũng hoan nghênh việc ký kết Hiệp địnhthương mại hàng hóa và Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp địnhkhung về hợp tác kinh tế toàn diện

Theo FTA giữa ASEAN-Hàn Quốc, Hàn Quốc sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với ít nhất 95% dòngthuế trong danh mục thông thường vào năm 2008, trong khi ASEAN-6 sẽ loại bỏ tất cả thuế đốivới ít nhất 90% dòng thuế trong danh mục thông thường vào năm 2009 Vào năm 2010, HànQuốc sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với các dòng thuế trong danh mục thông thường và đối vớiASEAN-6 là 2012

Hiệp định về thương mại hàng hóa bao gồm các qui định về đối xử đặc biệt và khác biệt, sự linhhoạt bổ sung dành cho các thành viên mới của ASEAN (CLMV) AKFTA có khung thời gian khácnhau đối với Hàn Quốc, ASEAN-6 và các nước CLMV CLMV sẽ có đối xử ưu đãi do trình độphát triển kinh tế thấp với thời hạn giảm thuế trong danh mục thông thường, ví dụ vớiCampuchia vào 2018

Mặc dù hội nhập kinh tế sâu rộng hơn trong cộng đồng Đông Á thực sự có lợi thì điều cơ bản làphải đảm bảo câu trả lời gắn kết với những thách thức mới trong nền kinh tế toàn cầu để gặt háiđược lợi ích của tự do hóa Trong môi trường như vậy, điều quan trọng là Tuyên bố chung về

Trang 10

Đối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và nghiên cứu chung toàn diện về liên kếtkinh tế chặt chẽ hơn giữa hai bên sẽ tập trung không chỉ vào thúc đẩy hợp tác kinh tế mà cònmang lại hiểu biết sâu rộng hơn đối với nền tảng hợp tác ASEAN-Hàn Quốc trong thế kỷ 21.Hợp tác ASEAN+3 vẫn là động lực tin cậy và thực tế đối với hợp tác khu vực Đông Á và cácnước thành viên đều có lợi ích chiến lược trong hợp tác khu vực

UBQG (Tô Cẩn – theo nghiên cứu của Viện Chính sách kinh tế quốc tế của Hàn QuốcCHÍNH SÁCH FTA C A HÀN QU C: BÀI H C T HÀN QU C – CHI LÊ FTA ỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ỌC TỪ HÀN QUỐC – CHI LÊ FTA Ừ HÀN QUỐC – CHI LÊ FTA ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY

Ngày 24/10/2002, Hàn Quốc đã ký kết Hiệp định thành lập Khu vực Thương mại Tự do với Chi lê (KCFTA) sau gần 3 năm đàm phán với không ít khó khăn, trở ngại từ cả phía đối tác lẫn sự phản đối trong nước Quá trình đàm phán KCFTA đã cho thấy những khía cạnh quan trọng định hình chính sách FTA của Hàn Quốc trong tương lai.

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao một nước Đông Á vốn có truyền thống không mặn mà với chủ nghĩa khu vực như Hàn Quốc lại thay đổi để theo đuổi chính sách FTA Điều này có thể lý giải bởi 3 nguyên nhân Thứ nhất là sự bùng nổ của các FTA từ khi Tổ chức Thương mại (WTO) ra đời vào năm 1995 Theo thống kê của WTO, từ năm 1995 đến đầu năm 2003, 130 FTA được thành lập (con số này là 124 trong vài thập kỷ trước đó) Ước tính trong năm 2005, 51% thương mại thế giới được thực hiện trong khuôn khổ các FTA Thứ hai là phạm

vi, nội dung hợp tác của các FTA ngày càng mở rộng Không chỉ gói gọn trong việc cắt giảm thuế quan và loại bỏ các rào cản phi thuế quan, các FTA gần đây

đã mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các lĩnh vực khác như đầu tư, dịch vụ, mua sắm chính phủ, quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh… Điều này

đã khiến nội dung thoả thuận của các FTA ngày càng toàn diện Thứ ba là sự cạnh tranh của các nền kinh tế lớn trong chính sách FTA Trong bối cảnh chung

đó, các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU đều có chiến lược FTA Đặc biệt, tại Đông Á, Trung Quốc và Nhật Bản đã xúc tiến đàm phán thành lập FTA với ASEAN Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, trong đó thương mại quốc tế chiếm hơn 70% quy mô kinh tế, Hàn Quốc sẽ gặp phải khó khăn lớn nếu không

có những thoả thuận ưu đãi đối với các nước đã ký FTA với các đối thủ cạnh tranh của Hàn Quốc Có thể lấy trường hợp Chi lê làm ví dụ Ô tô Hàn Quốc chiếm khoảng 25% thị trường ô tô của Chi lê, chỉ đứng hàng thứ hai sau Nhật Bản (chiếm 35%) Các đối thủ cạnh tranh khác của Hàn Quốc tại đây là Hoa Kỳ, Mexico, EU, Brazil và Argentina Bắt đầu từ năm 2003, tất các các nước này ngoại trừ Nhật Bản đều xuất khẩu ô tô miễn thuế theo FTA ký với Chi lê Thuế nhập khẩu ô tô chiếm từ 8-10% giá tiêu dùng khiến các nước xuất khẩu ô tô vào Chi lê có lợi thế cạnh tranh lớn so với Hàn Quốc Điều này đã khiến các công ty Hàn Quốc gây sức ép buộc Chính phủ phải đàm phán FTA với Chi lê

Tiến trình đàm phán

Hàn Quốc bắt đầu đàm phán FTA với Chi Lê từ tháng 12/1999 và kết thúc vào tháng 10/2002 80% nội dung thoả thuận đạt được ngay trong năm đầu tiên.

Trang 11

20% còn lại phải mất 2 năm đàm phán chủ yếu do bất đồng giữa hai bên trong việc cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm nông nghiệp Chi Lê yêu cầu Hàn Quốc mở cửa thị trường nông sản vì Hàn Quốc có mức thuế suất trên 100% đối với nhiều hàng nông sản Hơn nữa, Chi Lê có khả năng cạnh tranh đối với một

số mặt hàng hoa quả Hàn Quốc duy trì bảo hộ rất cao như táo, lê và nho Ngược lại, Hàn Quốc yêu cầu Chi Lê mở cửa thị trường đối với các mặt hàng công nghiệp Đàm phán gần như bế tắc cho đến tháng 2/2002 khi Hàn Quốc nhượng bộ với việc đưa ra đề xuất mới: Hàn Quốc đồng ý mở cửa thị trường đối với một số nông sản ít bị tác động của FTA hơn, đối với một số sản phẩm sữa và bột ngọt, Hàn Quốc đồng ý về nguyên tắc sẽ cắt giảm thuế nhưng đàm phán sau khi vòng Doha kết thúc Đổi lại, Chi Lê phải cắt giảm thuế đối với các mặt hàng công nghiệp, đặc biệt là ô tô, điện thoại di động, máy tính và dầu diesel Hàn Quốc chấp nhận yêu cầu của Chi Lê về việc không cắt giảm thuế đối với 2 mặt hàng tủ lạnh và máy giặt để đổi lấy việc Hàn Quốc không cắt giảm thuế đối với táo, lê và gạo

Những nội dung chính của KCFTA

Hiệp định Thương mại tự do Hàn Quốc – Chi Lê (KCFTA) có 21 chương quy định các lĩnh vực hợp tác bao gồm: thương mại hàng hoá (mở cửa thị trường, quy tắc xuất xứ ưu đãi, thủ tục hải quan…), đầu tư, dịch vụ, các quy định thương mại (chống bán phá giá, tự vệ, chính sách cạnh tranh, giải quyết tranh chấp), quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, các biện pháp vệ sinh dịch tễ

và các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại Nội dung tóm tắt các quy định chính như sau:

1 Cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan:

Như trên đã trình bày, mục tiêu chính của Hàn Quốc trong FTA với Chi Lê là mở cửa thị trường Chi Lê cho các mặt hàng công nghiệp của Hàn Quốc, và ngược lại Chi Lê muốn Hàn Quốc mở cửa thị trường nông sản Nhìn vào danh mục cam kết, cả hai bên đều phần nào đạt được mục đích

Danh mục cắt giảm hàng nông sản của Hàn Quốc (gồm 1.432 dòng thuế) khá phức tạp, được chia thành 10 lộ trình cắt giảm Lộ trình cắt giảm ngay và sau 5 năm gồm các mặt hàng ít bị tác động như thức ăn cho gia súc, động vật thuần chủng, sợi tơ; cắt giảm sau từ 7-16 năm gồm hoa quả chế biến, lương thực và thực phẩm Thuế theo thời vụ (seasonal tariff) áp dụng đối với nho của Chi Lê trong thời gian từ tháng Mười đến tháng Tư khi không có vụ thu hoạch nho ở Hàn Quốc Sau 10 năm sẽ bãi bỏ loại thuế theo thời vụ này Các mặt hàng chịu hạn ngạch thuế quan và sẽ được tiếp tục đàm phán sau vòng Doha (TRQ+DDA) gồm thịt bò, gà, váng sữa (whey) và mận Các mặt hàng sẽ được đàm phán sau vòng Doha gồm tỏi, hành, hạt tiêu và một số sản phẩm sữa Các mặt hàng loại trừ hoàn toàn, nghĩa là không cắt giảm thuế mà giữ nguyên mức thuế suất hiện tại, gồm gạo, táo và lê

Trang 12

Danh mục cắt giảm thuế đối với hàng công nghiệp của Chi Lê đơn giản hơn, được chia thành 6 lộ trình Chi Lê đồng ý cắt giảm ngay đối với ô tô, điện thoại

di động, máy tính vốn chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Chi Lê Hai mặt hàng loại trừ hoàn toàn gồm máy giặt và tủ lạnh

Hai bên đồng ý bãi bỏ các hạn chế định lượng cũng như các rào cản phi thuế quan khác như giấy phép nhập khẩu Đối với các sản phẩm nông nghiệp sẽ áp dụng quy định theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO.

2 Khuyến khích đầu tư và mở rộng thương mại dịch vụ

Trong lĩnh vực đầu tư, hai bên dành cho nhau chế độ đối xử quốc gia và tối huệ quốc, đồng thời không đặt ra yêu cầu về quốc tịch đối với giám đốc điều hành nhằm thúc đẩy đầu tư Phạm vi đầu tư bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp Sau 4 năm kể từ khi FTA có hiệu lực, hai bên sẽ đàm phán về bảo hộ đầu tư đối với các thể chế tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, các công ty tài chính…

Trong lĩnh vực dịch vụ, hai bên sẽ xây dựng một hệ thống giám sát để đảm bảo đối xử quốc gia đối với các nhà cung cấp dịch vụ, cấm các biện pháp hạn chế

và tạo thuận lợi cho thương mại dịch vụ giữa hai nước Các lĩnh vực dịch vụ không cam kết gồm: dịch vụ công phi thương mại, tài chính, hàng không, mua sắm chính phủ và trợ cấp.

3 Các quy định thương mại khác

Hai bên chỉ áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng nông sản Hai bên sẽ hợp tác trong lĩnh vực chính sách cạnh tranh để ngăn ngừa các biện pháp chống cạnh tranh Hai bên cũng nhất trí thành lập Uỷ ban Thương mại Tự do để giám sát việc thực hiện Hiệp định, đánh giá tác động của FTA cũng như các vấn đề khác liên quan đến Hiệp định Khi một vấn đề tranh chấp nảy sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của cả FTA và Hiệp định về Giải quyết Tranh chấp của WTO, hai bên

có thể lựa chọn một trong hai cơ chế đó để giải quyết tranh chấp.

4 Mở cửa thị trường mua sắm chính phủ

Hai bên sẽ tự do hoá thị trường mua sắm chính phủ trừ một vài hạn chế nhất định Các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc sẽ được áp dụng; cấm các biện pháp phân biệt đối xử về ưu đãi mua sắm hàng hoá trong nước cũng như thực hiện đền bù

5 Tăng cường bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ

Hai bên sẽ thúc đẩy việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ, kể cả các nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng Hai bên cũng thoả thuận bảo hộ các chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm, gồm: nhân sâm Hàn Quốc (Korean Ginseng), kim chi Hàn Quốc (Korean Kimchi), chè Boseong, Pisco và các sản phẩm liên quan của Chi Lê.

Trang 13

6 Quy tắc xuất xứ

Các quy định về quy tắc xuất xứ của KCFTA chủ yếu dựa trên các quy định của FTA giữa EU và Chi Lê và NAFTA, có điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm thương mại và cơ cấu ngành của hai nước Đặc biệt quy tắc xuất xứ đối với các sản phẩm nông nghiệp được quy định rất chặt chẽ để tránh việc nhập khẩu thông qua một nước thứ ba.

Ý nghĩa của KCFTA đối với Hàn Quốc

Kết quả của đàm phán FTA với Chi Lê có ý nghĩa rất quan trọng đối với Hàn Quốc vì đây là thoả thuận FTA đầu tiên của Hàn Quốc

Thứ nhất, Hàn Quốc đã đạt được mục tiêu lợi ích kinh tế khi tiếp cận thị trường Chi Lê đối với nhiều mặt hàng chủ chốt như ô tô, điện thoại di động, máy tính và dầu diesel trong khi vẫn bảo hộ được đối với một số mặt hàng nông nghiệp có tính nhạy cảm cao

Thứ hai, là thoả thuận thương mại tự do đầu tiên của Hàn Quốc, KCFTA đã mở đường cho quá trình hội nhập khu vực của đất nước này Việc ký kết thoả thuận FTA với Chi Lê đã nâng cao nhận thức cũng như thu hút sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách FTA Đặc biệt, việc Hàn Quốc có thể đạt được một thoả thuận về hàng nông sản cho thấy cam kết mạnh mẽ của chính phủ đối với chính sách FTA Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc đàm phán FTA giữa Hàn Quốc với các đối tác thương mại tiềm năng trong tương lai như Mỹ, Nhật Bản

và ASEAN…

Thứ ba, Hàn Quốc đã tạo dựng một chỗ đứng thương mại tại thị trường Mỹ La tinh vì Chi Lê là một phần của thị trường chung Mỹ La tinh và ½ thặng dư thương mại của Chi Lê là từ thị trường này

Thực tế đàm phán KCFTA cho thấy khó khăn lớn nhất của Hàn Quốc chính là đàm phán liên quan đến một số lượng nhỏ các mặt hàng nông nghiệp Mặc dù Chi Lê không phải là một đối tác cạnh tranh lớn với Hàn Quốc trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng hai bên cũng đã phải mất tới hơn hai năm để đạt được thoả hiệp Điều đó cho thấy việc đàm phán FTA với các đối tác khác sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều

UBQG (Cẩm Thơ

T o đi u ki n t t h n cho các nhà đ u t ại Việt Nam-Hàn Quốc ều kiện tốt hơn cho các nhà đầu tư ệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc ốc ơng mại Việt Nam-Hàn Quốc ầu tư ư

Phỏng vấn ông Lee Sang Hak, Tham tán kinh tế Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam

Thưa ông, sau 12 năm thiết lập, quan hệ VN và Hàn Quốc đã đạt được những kết quả

gì, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, kinh tế?

Trang 14

Hai nước, đã đạt được nhiều thành tựu trong hợp tác song phương, cả về chính trị, văn hoá và kinh tế Năm 1992, quan hệ mậu dịch mới đạt 500.000 USD thì năm 2003 đã đạt 3,2 tỷ USD Hàn Quốc đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài vào VN đứng hàng thứ

4 Nếu như năm 1992, Hàn Quốc mới đầu tư vào VN 186 triệu USD thì đến nay đã đạt trên 4,4 tỷ USD, gấp 25 lần Tôi muốn nhấn mạnh rằng chỉ sau 12 năm thiết lập quan

hệ nhưng tốc độ phát triển quan hệ giữa hai nước rất nhanh Đó là đánh giá của các chuyên gia kinh tế VN.

Thế còn đánh giá của ông và các chuyên gia kinh tế Hàn Quốc về đầu tư của Hàn Quốc vào VN?

Vào thời điểm 2001, đầu tư của Hàn Quốc vào VN đứng thứ 8 trong tổng vốn đầu tư củaHàn Quốc ra nước ngoài và đến năm 2003 thì đứng thứ 2 VN là nước được nhận nhiềunhất vốn ODA của Hàn Quốc Tháng 9/2003, trong chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướngPhan Văn Khải, Chính phủ Hàn Quốc đã hứa sẽ hỗ trợ VN xây dựng trường Đại học IT ĐàNẵng 10 triệu USD Như vậy, Chính phủ Hàn Quốc rất quan tâm tới VN

Còn quan hệ mậu dịch thì thế nào, thưa ông? Được biết hiện cán cân thương mại giữa VN

và Hàn Quốc đang chênh lệch rất lớn, VN nhập siêu từ Hàn Quốc?

Năm 2003, Hàn Quốc XK sang VN 2.624 triệu USD, chủ yếu là vải kiện, phụ tùng ôtô, máymóc thiết bị phục vụ cho ngành dệt may của các DN Hàn Quốc đang hoạt động tại VN HànQuốc nhập khẩu của VN 492 triệu USD, chủ yếu là hàng thuỷ sản, nông thổ sản Tôi chorằng do cơ cấu kinh tế của hai nước khác nhau nên đã tạo ra sự không cân bằng trong cáncân thương mại

Ông có thể cho biết về tình hình đầu tư của các DN Hàn Quốc tại VN?

Hiện tại có khoảng 700 DN Hàn Quốc đang hoạt động, với số lao động VN làm việc trên200.000 người Theo kết quả điều tra 224 DN Hàn Quốc từ tháng 3 đến tháng 8/2004 củaĐại sứ quán và Phòng XTTM & ĐT Hàn Quốc tại Hà Nội, thì số vốn đầu tư trung bình củamỗi DN tại VN là 3 triệu USD, tập trung vào các ngành công nghiệp chế tạo, dệt may Mụcđích đầu tư là XK sản phẩm sang nước thứ 3 hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa VN Đánglưu ý là có tới 55,6% nhà đầu tư Hàn Quốc đang hoạt động có lãi

Các nhà đầu tư đánh giá thế nào về môi trường đầu tư, theo ông làm thế nào để thu hút nhiều hơn vốn đầu tư?

Có tới 92,6% các nhà đầu tư Hàn Quốc đánh giá tích cực về môi trường đầu tư VN và 85,1%cho rằng nguồn nhân lực có năng lực là thế mạnh lớn nhất của VN Tuy nhiên, họ vẫn gặpphải một số khó khăn, lớn nhất là thiếu thông tin về những sửa đổi của văn bản pháp luật màchưa có một cơ quan nào hướng dẫn, khó khăn về nguyên liệu đầu vào, tình trạng quan liêu,tham nhũng phiền hà trong thủ tục hành chính Nếu hạn chế được, các nhà đầu tư sẽ tìmđến VN nhiều hơn

TBKTVN

H i nh p kinh t ASEAN và h p tác ASEAN - Hàn Qu c ội nhập kinh tế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ập kinh tế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ế ASEAN và hợp tác ASEAN - Hàn Quốc ợp tác ASEAN - Hàn Quốc ốc

Từ những năm 1990, ASEAN đã thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm hướng tới một thị trường chung Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thành lập từ năm 1992 nhằm loại bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước thành viên ASEAN và tạo ra một thị trường khu vực với 686,3 tỉ USD cho 541,9 triệu người thông qua việc tăng số lượng thành viên gồm cả Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia (CLMV) Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận loại bỏ tất cả thuế nhập khẩu vào năm 2010 đối với 6 nước thành

Trang 15

viên ban đầu của ASEAN và vào 2015 đối với 4 nước thành viên mới (CLMV)

Sau khủng hoảng tài chính, ASEAN đã có những bước đi quan trọng hướng tới hội nhập khuvực thông qua sáng kiến ASEAN cộng 3 nhằm tăng cường vị trí thông qua việc hiện thực hóaAFTA sớm hơn thông qua hình thức hợp tác kinh tế và chính trị Gần đây, ASEAN đang nỗ lực

để tăng cường hội nhập cùng với việc mở rộng và tăng cường liên kết kinh tế với các nướcĐông Bắc Á Hiện nay, có rất nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN và các nướcđang được thảo luận nhằm phản ánh rõ ràng xu hướng hội nhập kinh tế của ASEAN kể từ saucuộc khủng hoảng tài chính

Hàn Quốc cũng có sự quan tâm chặt chẽ với quá trình hội nhập kinh tế ASEAN cũng như nỗ lựccủa ASEAN nhằm xây dựng hợp tác kinh tế toàn diện với các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn

Độ Trong những thập kỷ qua, ASEAN và Hàn Quốc là những đối tác kinh tế quan trọng, thươngmại và đầu tư song phương giữa Hàn Quốc và ASEAN tăng lên vững chắc trong những nămvừa qua Hiện nay ASEAN đứng thứ 3 trong nguồn đầu tư FDI từ Hàn Quốc và đứng thứ 5 vềthương mại

Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế chặt chẽ, ASEAN và Hàn Quốc đã xây dựng thànhcông mối quan hệ đa dạng và toàn diện cũng như hệ thống đối thoại Kết quả là các nhà lãnhđạo ASEAN và Hàn Quốc đã thống nhất thông qua Tuyên bố chung về đối tác hợp tác toàn diện

và quyết định tiến hành đàm phán Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) tại Hộinghị Thượng đỉnh vào tháng 11/2004 tại Lào Các cuộc đàm phán AKFTA đã được khởi động từđầu năm 2005 và sẽ được hoàn tất trong vòng 2 năm

1 Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN:

Do hội nhập với nền kinh tế toàn cầu tăng lên, ASEAN đang phải đương đầu với các cơ hội vàthách thức quan trọng bao gồm yêu cầu về hội nhập tốt hơn của các thành viên mới vào nềnkinh tế khu vực và toàn cầu Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận sáng kiến về liên kếtASEAN (IAI) và lịch trình hội nhập của ASEAN (RIA), theo đó lợi ích của hội nhập ASEAN đượcchia sẻ Tuy nhiên, từ tháng 1/2002, ASEAN đã thông qua hệ thống liên kết ASEAN về chươngtrình ưu đãi mà theo đó thuế ưu đãi sẽ được các nước thành viên cũ của ASEAN dành cho cácthành viên mới trên cơ sở tự nguyện và thỏa thuận song phương dựa trên những sản phẩm docác nước CLMV đưa ra

Vào tháng 11/2000, các nhà lãnh đạo ASEAN thỏa thuận đưa ra sáng kiến liên kết ASEANnhằm định hướng và tập trung vào các nỗ lực chung của ASEAN trong việc thu hẹp khoảngcách phát triển giữa các thành viên cũ và thành viên mới của ASEAN Để hiện thực hóa mụctiêu này, các nhà lãnh đạo ASEAN tại cuộc họp Thượng đỉnh tại Phnom Penh vào tháng11/2002 đã thông qua Chương trình hành động nhằm đảm bảo sự tăng trưởng năng động vàbền vững của khu vực và sự thịnh vượng của người dân ASEAN

Kế hoạch hành động 6 năm hiện nay (từ tháng 7/2002 – tháng 6/2008) đối với các nước CLMV

đã được phát triển nhằm hỗ trợ những nước này theo kịp với các nước thành viên cũ với tốc độngày càng tăng Chương trình hợp tác này tập trung vào 4 lĩnh vực ưu tiên, chủ yếu là phát triển

cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin và viễn thông, thúc đẩy hội nhậpkinh tế khu vực về thương mại hàng hóa và dịch vụ, hải quan, tiêu chuẩn và đầu tư ở các nướcCLMV

Đến tháng 1/2005, đã có 84 dự án trong Kế hoạch hành động này ở các giai đoạn thực hiệnkhác nhau Nguồn tài trợ đã được đảm bảo cho 66 dự án chiếm 78,6%, trong đó 28 dự án đãđược hoàn thành, 14 dự án đang được thực hiện Ngoài việc đóng góp của các nước thành viênASEAN-6 đối với Kế hoạch hành động này, 11 bên đối thoại và các tổ chức phát triển cũng ủng

Trang 16

hộ các dự án thông qua việc tài trợ với tổng số 14,1 triệu USD Năm nhà tài trợ hàng đầu làNhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, UNIDO và Úc chiếm tổng số 13 triệu USD (hoặc 82,6% nguồn tàitrợ)

Chính phủ Hàn Quốc đã đồng ý đóng góp 5 triệu USD trong 5 năm để tài trợ cho các dự án IAI

Để thực hiện hiệu quả các dự án này, chính phủ Hàn Quốc đã ủy nhiệm cho Cơ quan hợp tácquốc tế của Hàn Quốc (KOICA) là cơ quan thực hiện các dự án Đến tháng 11/2004, nguồn camkết của các nước thành viên ASEAN-6 là: Brunei cam kết 1,5 triệu USD, Malaysia: 0,8 triệuUSD, Indonesia: 0,6 triệu USD, Singapore: 0,47 triệu USD, Thái Lan: 0,41 triệu USD

2 Tăng cường liên kết kinh tế với Đông Á:

Mặc dù có nhiều nỗ lực nhằm sớm hiện thực hóa liên kết thị trường khu vực và tiềm năng củathị trường Đông Nam Á, AFTA về cơ bản vẫn còn nhỏ về qui mô kinh tế so với EU và NAFTA vànhững hạn chế về cơ cấu liên quan tới hợp tác Nam-Nam AFTA cơ bản đại diện cho sự liên kếtchung giữa các nước đang phát triển và chưa đủ khả năng khẳng định sự đoàn kết kinh tế mạnh

mẽ do thiếu vắng nền kinh tế dẫn đầu cũng như sự đồng thuận và ổn định chính trị

Để giải quyết những yếu kém về cơ cấu, ASEAN đã cố gắng mở rộng hợp tác kinh tế với cácnước Đông Bắc Á, đưa ra nhiều thỏa thuận hợp tác vượt ra khỏi Đông Nam Á Điều này đã dẫnđến việc hình thành Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) nhằm cho phép ASEAN+3 bao gồmASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc có thể phát triển mối liên kết với các khu vực khác ví

dụ như Châu Âu

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã có sự chuyển động rõ rệt đối với sự hợp tác ởĐông Á Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 đầu tiên được tổ chức vào tháng 12/1997 và sự hợptác này phát triển mạnh nhất từ năm 1998 đến năm 2001 Hiện nay sự hợp tác này chủ yếu làđối thoại về liên kết kinh tế, các vấn đề về chính trị, văn hóa xã hội ở Đông Á

Cơ sở hợp tác ASEAN+3 là một nhân tố quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Á.Sau cuộc khủng hoảng tài chính, các nước Đông Á nhận ra yêu cầu phải liên kết kinh tế chặtchẽ hơn và phát triển lợi ích trong việc thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA) Đến nay,

đã có rất nhiều nghiên cứu và các cuộc đàm phán FTA song phương đang diễn ra giữa cácnước Châu Á nhằm tằng cường xung lực mới cho hội nhập kinh tế khu vực

Tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 tại Singapore vào năm 2000, Trung Quốc đã đưa ra đề nghịhình thành FTA với ASEAN và FTA ASEAN-Trung Quốc đã chính thức được thỏa thuận tại hộinghị Thượng đỉnh tại Campuchia vào tháng 11/2002 Nhằm phản ứng với thỏa thuận này, NhậtBản cũng muốn theo đuổi hợp tác với ASEAN và sau đó FTA giữa Nhật Bản và Singapore đãđược ký kết vào tháng 1/2002 và trong năm 2003, Nhật Bản đã thúc đẩy FTA với các nướcthành viên ASEAN và ký thỏa thuận khung về đối tác kinh tế toàn diện với ASEAN tại Hội nghịthượng định Bali, Indonesia

Trong thời gian gần đây, ngày càng có sự đồng thuận tăng lên giữa các nước ASEAN+3 về việcĐông Á cần tăng cường khối thương mại khu vực để đương đầu với các FTA ở các khu vựckhác Những cuộc thảo luận về FTA Đông Á thực tế đã được khởi xướng tại Hội nghị thượngđỉnh ASEAN+3 tại Manila vào tháng 11/1999 Tại cuộc họp thượng đỉnh tại Bandar SeriBegawan vào tháng 11/2001, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thúc đẩy liên kết kinh tế giữacác nước Đông Á theo hướng liên kết khu vực ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.Trong quá trình đàm phán FTA với Trung Quốc, ASEAN đã thuyết phục Nhật Bản, Hàn Quốc và

Ấn Độ hình thành đối tác kinh tế chặt chẽ hơn Liên kết kinh tế khu vực trong quá trình

Trang 17

ASEAN+1 có thể tạo ra một khối kinh tế quan trọng trong việc thiết lập thị trường liên kết Đông

Á Mặc dù các nước ASEAN+3 có những quan điểm khác nhau với khu vực mậu dịch tự do giữaASEAN và Đông Á (EAFTA) và có sự tin tưởng rằng EAFTA có thể giúp thúc đẩy thương mại vàđầu tư trong khu vực

3 Tiến triển các FTA song phương ở Đông Á:

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á, xu hướng của chủ nghĩa khu vực đã tăng lên ởĐông Á do nhiều FTA đang được thảo luận giữa các nước ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc, Mỹ, Mexico, Chilê, Úc, Niu zi lân Điều này cho thấy rằng các nền kinh tế Đông Áđang bắt đầu chú ý vào các FTA do sự mở rộng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới Tuy nhiên,sau cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng lên sự hiểu biết về tầm quan trọng của sự phụ thuộctrong khu vực và nỗ lực lớn hơn tập trung vào các khía cạnh chiến lược của liên kết kinh tếtrong khu vực Thực tế là khó có thể đạt được kết quả nhanh chóng từ việc tự do hóa thươngmại đa phương trong hệ thống WTO vì có quá nhiều nước tham gia Ngược lại, các FTA lại cókhả năng tự do hóa thương mại sâu rộng hơn nhờ có các cuộc đàm phán tương đối thuận lợi

Do đó, FTA trở thành vấn đề chính trong việc thúc đẩy xuất khẩu của các nền kinh tế Đông Á

ASEAN đã chuyển đổi thành một thực thể khu vực độc nhất cùng với việc mở rộng chủ nghĩakhu vực đã xảy ra ở Đông Á sau cuộc khủng hoảng tài chính Do các nước Đông Á bắt đầunhận ra tầm quan trọng của yêu cầu đối với chủ nghĩa khu vực, FTA đã trở thành vấn đề chính

Cụ thể là, thông qua các cuộc họp thường xuyên của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3, các nềnkinh tế Đông Á đang thúc đẩy mạnh mẽ các FTA và các nước ASEAN cũng đang thúc đẩy đàmphán FTA với các nước ngoài khu vực Đông Á bao gồm Úc, Ấn Độ và Mỹ

Trước cuộc khủng hoảng, hầu hết các nước ASEAN có suy nghĩ tiêu cực về việc thúc đẩy cácFTA song phương với các khu vực khác do e ngại rằng sự đoàn kết nội khối có thể bị tổnthương Mặc dù ASEAN đang thúc đẩy mục tiêu chiến lược mở rộng hợp tác kinh tế trong khuvực, mỗi thành viên đang có sự tiếp cận khác nhau với sự hợp tác này Malaysia và một sốnước thành viên khác đã chỉ trích các nước thành viên ASEAN việc hình thành các FTA songphương có thể làm suy yếu các thỏa thuận khu vực chẳng hạn như AFTA và cho phép các nềnkinh tế ngoài khu vực tham gia vào thị trường khu vực Tuy nhiên, Singapore và Thái Lan đãthông qua chiến lược bảo đảm các FTA song phương

Singapore đã ký Hiệp định thương mại tự do song phương với Niu zi lân, Nhật Bản, EFTA, Úc

và Mỹ và đang đàm phán để hình thành FTA với Mexico, Canada, Hàn Quốc và Ấn Độ Thái Lanđang xem xét FTA với Úc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ Trong khi đó Philippines đang xem xét FTA với

Mỹ và đang đàm phán để hình thành FTA với Nhật Bản Singapore đã tiết lộ chiến lược pháttriển quốc gia mới vào tháng 2/2003 về mong muốn khả năng trở thành thành phố dẫn đầu toàncầu

Thái Lan đã thúc đẩy FTA với các nền kinh tế lớn như Mỹ và Nhật Bản, chính phủ Thái Lan đãlựa chọn các đối tác FTA tiềm năng bao gồm Mỹ, Úc, Bahrain, Peru, Ấn Độ, Nhật Bản và HànQuốc

Các cuộc thảo luận FTA tích cực gần đây liên quan tới Ấn Độ, Thái Lan và Singapore và việcthúc đẩy FTA giữa Ấn Độ và ASEAN đang góp phần vào sự tăng lên của chủ nghĩa khu vực ởĐông Á, mở rộng xu hướng mới đối với quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN Năm 2001,Trung Quốc và Nhật Bản đã tiến hành thảo luận FTA với ASEAN và các cuộc thảo luận này tănglên liên tục Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 tại Phnom Penh vào tháng 11/2002, ASEAN vàTrung Quốc đã thông qua thỏa thuận về việc thiết lập FTA vào năm 2010, ASEAN và Ấn Độ đạtđược thỏa thuận về việc xúc tiến hình thành FTA

Trang 18

Một thỏa thuận hợp tác toàn diện đã được kết thúc tại Hội nghị thượng đỉnh giữa ASEAN – Ấn

Độ tại Bali vào tháng 10/2003 Đây là bước đầu tiên tiến tới việc tăng cường cơ sở hợp tác cơcấu đối với hiệp định thương mại khu vực Điều này cũng góp phần vào việc hình thành cơ sởhợp tác kinh tế ASEAN Mặc dù giới hạn về thời gian để hòan thành đàm phán về FTA đã đượckéo dài trong 10 năm, nếu Ấn Độ cố gắng đạt được FTA với Thái Lan và Singapore thì ảnhhưởng về kinh tế và chính trị sẽ rất có ý nghĩa đối với hợp tác khu vực và ở Đông Á nói chung

4 Sự phát triển của FTA giữa ASEAN – Hàn Quốc:

Trong nhịp bước hối hả nhằm đạt được các hiệp định thương mại tự do, Hàn Quốc đã hoànthành nghiên cứu chung về FTA với Nhật Bản và Singapore vào tháng 9/2003 và bắt đầu đàmphán chính thức với cả hai nước này vào đầu năm 2004 Hàn Quốc và Singapore đã tiến hành

10 vòng đàm phán từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2004 và kết thúc một thỏa thuận FTA toàn diệngồm 9 lĩnh vực về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, thỏa thuậncông nhận lẫn nhau (MRA), sở hữu trí tuệ

Ngoài hai hiệp định FTA song phương này, Hàn Quốc đang theo đuổi FTA với ASEAN như làmột thực thể Vì mục tiêu này, Hàn Quốc và ASEAN đã hình thành nhóm chuyên gia về ASEAN– Hàn Quốc nhằm chuẩn bị báo cáo về nghiên cứu chung về quan hệ kinh tế toàn diện và chặtchẽ hơn giữa ASEAN và Hàn Quốc Tại hội nghị tham vấn giữa các Bộ trưởng kinh tế ASEAN

và Hàn Quốc vào tháng 9/2004 tại Jakarta, Indonesia, các Bộ trưởng đã hoan nghênh đề xuấtthiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) Cuối cùng, các nhà lãnh đạo đãđưa ra Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và quyết định tiến hànhđàm phán AKFTA tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốc tại Lào vào tháng 11/2004

Các cuộc đàm phán hình thành khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) đã đượcbắt đầu từ tháng 2/2005 và hy vọng sẽ hoàn thành trong vòng 2 năm AKFTA hy vọng sẽ manglại mức độ tự do hóa cao với thời hạn nhanh hơn Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốcvào tháng 12/2005 tại Kuala Lumpur, Malaysia, các nhà lãnh đạo đã ký Hiệp định khung về hợptác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và cũng hoan nghênh việc ký kết Hiệp địnhthương mại hàng hóa và Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp địnhkhung về hợp tác kinh tế toàn diện

Theo FTA giữa ASEAN-Hàn Quốc, Hàn Quốc sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với ít nhất 95% dòngthuế trong danh mục thông thường vào năm 2008, trong khi ASEAN-6 sẽ loại bỏ tất cả thuế đốivới ít nhất 90% dòng thuế trong danh mục thông thường vào năm 2009 Vào năm 2010, HànQuốc sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với các dòng thuế trong danh mục thông thường và đối vớiASEAN-6 là 2012

Hiệp định về thương mại hàng hóa bao gồm các qui định về đối xử đặc biệt và khác biệt, sự linhhoạt bổ sung dành cho các thành viên mới của ASEAN (CLMV) AKFTA có khung thời gian khácnhau đối với Hàn Quốc, ASEAN-6 và các nước CLMV CLMV sẽ có đối xử ưu đãi do trình độphát triển kinh tế thấp với thời hạn giảm thuế trong danh mục thông thường, ví dụ vớiCampuchia vào 2018

Mặc dù hội nhập kinh tế sâu rộng hơn trong cộng đồng Đông Á thực sự có lợi thì điều cơ bản làphải đảm bảo câu trả lời gắn kết với những thách thức mới trong nền kinh tế toàn cầu để gặt háiđược lợi ích của tự do hóa Trong môi trường như vậy, điều quan trọng là Tuyên bố chung vềĐối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và nghiên cứu chung toàn diện về liên kếtkinh tế chặt chẽ hơn giữa hai bên sẽ tập trung không chỉ vào thúc đẩy hợp tác kinh tế mà cònmang lại hiểu biết sâu rộng hơn đối với nền tảng hợp tác ASEAN-Hàn Quốc trong thế kỷ 21.Hợp tác ASEAN+3 vẫn là động lực tin cậy và thực tế đối với hợp tác khu vực Đông Á và cácnước thành viên đều có lợi ích chiến lược trong hợp tác khu vực

Trang 19

UBQG (Tô Cẩn – theo nghiên cứu của Viện Chính sách kinh tế quốc tế của Hàn Quốc

HI P NH TH ỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA HÀN QUỐC ĐỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ƯƠNG MẠI TỰ DO DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA HÀN QUỐC NG M I T DO D ẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA HÀN QUỐC ỰC MẬU DỊCH TỰ DO CỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY ƯỚI GÓC ĐỘ CỦA HÀN QUỐC I GÓC ĐỘ CỦA HÀN QUỐC ỦA HÀN QUỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY C A HÀN QU C ỐC VÀ NỖ LỰC ĐẨY

Trong khuôn khổ khoá đào tạo về xây dựng năng lực thương mại hàng hoá và dịch vụ dành cho các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam (CLMV) tại Seoul, nhiều vấn đề phức tạp đã được các chuyên gia của Tổ chức hợp tác quốc tế (KOICA), Viện nghiên cứu chính sách kinh tế quốc tế (KIEP), Đại học tổng hợp của Hàn Quốc đề cập tới như về các hiệp định thương mại tự do, xúc tiến thương mại, hội nhập kinh tế ASEAN và hợp tác Hàn Quốc – ASEAN, đàm phán nông nghiệp trong vòng Doha, các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), thương mại dịch vụ v.v Sự phát triển kinh tế Hàn Quốc trong những năm qua được các chuyên gia xem như là một sự phát triển thần kỳ và một đất nước bắt đầu từ nghèo đói, không có tài nguyên và bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh trên bán đảo Triều tiên vào đầu những năm 1950 đã vươn lên thành một cường quốc công nghiệp hoá ở châu Á Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia đóng tàu đứng đầu thế giới với khả năng đóng tàu có trọng tải 500.000 tấn, sản lượng ô tô xuất xưởng khoảng

10 triệu chiếc/năm như theo các chuyên gia Hàn Quốc với số dân hiện nay của Hàn Quốc thì trong 5 năm chính phủ Hàn Quốc có thể sản xuất đủ cho mỗi người dân được một chiếc ô tô Các nội dung nghiên cứu của các chuyên gia Hàn Quốc sẽ phần nào được giới thiệu lần lượt trong các tài liệu nghiên cứu dưới đây và tiếp theo Nội dung nghiên cứu đầu tiên sẽ đề cập tới hiệp định thương mại tự do dưới góc độ của Hàn Quốc

Chủ nghĩa khu vực thường được diễn tả dưới hình thức các thỏa thuận liên kết khu vực (RIA)hoặc các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) nhằm hình thành khu vực thương mại tự dohoặc các liên minh thuế quan Chủ nghĩa khu vực hoặc liên kết kinh tế được xem như là cáchoạt động kinh tế, chính trị dẫn đến việc giảm hoặc loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuếquan của các nước thành viên nhằm cho phép các hoạt động kinh tế hiệu quả hơn và tối ưu.Trong bối cảnh của hệ thống thương mại đa phương của GATT 1947-1994 và WTO từ 1995,chủ nghĩa khu vực trở thành một trong những vấn đề chính sách thương mại quan trọng

Liên kết kinh tế giữa các nước tham gia mang lại hiệu quả kinh tế có ý nghĩa Các ảnh hưởngtrực tiếp liên quan tới luồng thương mại thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và liênminh thuế quan Sự đa dạng thương mại được hiểu như là việc thay thế sản phẩm hiệu quả hơncủa nước không phải là thành viên bằng sản phẩm kém hiệu quả hơn của nước thành viên Sự

đa dạng thương mại được thực hiện thông qua đối xử ưu đãi thuế quan dành cho sản phẩm củanước thành viên do có sự đối xử phân biệt đối với sản phẩm của nước không phải là thành viênthông qua việc giảm thuế hoặc hàng rào thương mại đối với hàng nhập khẩu Ngược lại, ảnhhưởng về cơ hội thương mại được xem như là việc thay thế sản phẩm kém hiệu quả hơn củanước không phải thành viên bằng sản phẩm hiệu quả hơn của nước thành viên vì điều này cólợi đối với nước nhập khẩu về mặt phúc lợi quốc gia

Nghiên cứu của OECD (1995) và WTO (1995) cho thấy sự liên hệ giữa chủ nghĩa khu vực và đaphương, chủ nghĩa khu vực có tác dụng hỗ trợ đối với chủ nghĩa đa phương và chủ nghĩa khuvực cần được giám sát việc không phù hợp với các mục tiêu đa phương

1 Cơ sở hình thành ngày càng tăng các FTA:

Các nước tìm kiếm tới chủ nghĩa khu vực vì nhiều lý do Đầu tiên chủ nghĩa khu vực có thể trởthành một lựa chọn chiến lược đối với bất kỳ nước nào phải đối mặt với sự bất lợi tiềm tàng dochủ nghĩa khu vực được giải quyết bằng đối thủ cạnh tranh của các nước thành viên Loại hìnhkhu vực này được hiểu như là chủ nghĩa khu vực bảo hộ Hai là, các nước có thể thông qua khuvực như là một lựa chọn chính sách để đối mặt với khó khăn trong quá trình tự do hóa đaphương Các nước thường muốn gặt hái được lợi ích của tự do hóa với số lượng thành viênhạn chế trước khi thấy kết quả thành công của đàm phán thương mại đa phương Nhiều sángkiến khu vực kiểu này đã được hình thành từ những năm 1990 Ba là, các nước thường kết thúcFTA hoặc thỏa thuận liên minh thuế quan với các nước khác được xem như là đối tác chiến

Trang 20

lược về kinh tế, ngoại giao hoặc an ninh Thỏa thuận FTA giữa Mỹ và Israel là một ví dụ điểnhình về loại hình hợp tác này.

Trong 15 năm qua, chủ nghĩa khu vực có xu hướng ngày càng tăng trong nền kinh tế toàn cầu.Sau làn sóng đầu tiên về xu hướng khu vực trong những năm 1960 – 1970, nhiều thỏa thuậnliên kết khu vực đã tăng lên từ những năm 1990 Đặc biệt từ năm 1995, năm chính thức hìnhthành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xu hướng khu vực trong nền kinh tế toàn cầu tănglên hết sức mạnh mẽ, dẫn đến sự quan ngại về khả năng xung đột tiềm tàng đối với hệ thống đaphương của WTO WTO cho biết, từ khi thành lập GATT năm 1947 đã có 250 thông báo về cácRTA và đến 1/1/2005 có khoảng 162 hiệp định vẫn còn hiệu lực Điều này hoàn toàn công bằngcho thấy không nước thành viên nào là không tham gia vào một thỏa thuận khu vực

Tuy nhiên, khu vực Đông Á đến nay cũng không ngoại lệ khỏi xu hướng thế giới về chủ nghĩakhu vực: Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) gồm 10 nước thành viên ở Đông Nam Á,Hiệp hội Nam Á về hợp tác khu vực (SAARC) gồm bảy nước ở Nam Á vẫn là hai RTA tồn tạiduy nhất ở khu vực Châu Á Mặc dù nhiều nước Châu Á là thành viên của Tổ chức hợp tác kinh

tế Châu Á Thái bình dương (APEC) và APEC vẫn còn lâu mới phát triển thành một khu vựcthương mại tự do hoặc một liên minh thuế quan Ngoài ra các nước lớn ở Châu Á như NhậtBản, Hàn Quốc, Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn sơ khai về tiến hành các thỏa thuận liênkết khu vực So với lịch sử lâu đời, sự đa dạng và phức tạp về các thỏa thuận liên kết khu vực ởChâu Âu, Bắc Mỹ và Mỹ la tinh, liên kết kinh tế ở châu Á vẫn còn là hiện tượng khá mới

Sự quan tâm ngày càng tăng lên của các nước Châu Á trong việc hình thành các thỏa thuận liênkết khu vực đang được chú ý nhiều hơn Ví dụ, Hàn Quốc đã tiến hành đàm phán FTA với Chi

Lê năm 1999 mà đã được thông qua chính thức song phương tại Hội nghị Thượng đỉnh APECtại Kuala Lumpur năm 2001 và hiệp định này đã chính thức có hiệu lực năm 2004 Nhật Bảncũng bắt đầu xem xét một FTA các đối tác thương mại Đông Á như là một lựa chọn chính sáchtrong thế kỷ 21 và thực hiện thỏa thuận FTA với Singapore gần đây Thỏa thuận song phươnghoặc ba bên giữa Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc gần đây đã được thảo luận trong giới chínhkhách và các học giả Sau một thời gian im hơi lặng tiếng, Châu Á giờ đây trở nên rất quan tâmtới chủ nghĩa khu vực và những sáng kiến về RTA trong khu vực ngày càng tăng lên trong mộtvài năm trở lại đây

Trong bối cảnh APEC, chúng ta đã chứng kiến nhiều hệ thống phức tạp các FTA trong năm nămvừa qua Trong số 21 nền kinh tế thành viên APEC, không một nước nào không tham gia vàobất kỳ loại hình thỏa thuận thương mại khu vực Đây là một trong những đặc trưng chính mà cácnước Đông Nam Á đang muốn tham gia FTA với nhiều nước thành viên APEC

Như đã nhắc đến ở trên, các nước tìm kiếm tới các FTA không chỉ vì lý do kinh tế mà còn vì việccân nhắc các lý do địa chính trị, ngoại giao hoặc an ninh Các nước muốn có FTA nhằm gópphần điều chỉnh tăng trưởng kinh tế tiềm năng thông qua việc cung cấp cho nền kinh tế với tácnhân bổ sung cho thương mại quốc tế và cho phép phân bổ các nhân tố tốt hơn mà chỉ đạtđược bằng việc mở rộng thị trường cho các sản phẩm Các nước cũng thường xem chủ nghĩakhu vực như là một công cụ chính sách ngoại giao để đảm bảo yêu cầu ngoại giao và an ninhkhu vực ví dụ như việc mở rộng của EU sang các nước Đông Âu, và cũng sử dụng FTA như làmột đòn bẩy trong việc tiến hành chiến lược ngoại giao Ngoài ra các nước còn sử dụng FTAnhư là cơ hội để cải thiện và hiện đại hóa các tổ chức trong nước như Hàn Quốc là một ví dụ Tuy nhiên, không phải tất cả các sáng kiến khu vực đều thành công Nhiều sáng kiến đã thất bại

vì nhiều lý do Đặc biệt nhiều thỏa thuận RTA ở Mỹ La tinh vào những năm 1960 không mang lạikết quả có ý nghĩa và hậu quả là không trở thành trụ cột của hợp tác kinh tế khu vực Việc thiếunền kinh tế dẫn đầu và các cam kết mang tính hình thức của các nước thành viên thường đượccoi như là nhân tố không thành công Trên thực tế, nhiều FTA cũng đã thành công do có sựquan tâm và cam kết mạnh mẽ của các nước thành viên và việc thực hiện nghiêm chỉnh cácthỏa thuận

Trang 21

2 Các qui định của WTO đối với các hiệp định thương mại khu vực:

Tổ chức thương mại thế giới được xem như là người bảo vệ của hệ thống thương mại đaphương Xem xét tới các nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại đa phương: không phânbiệt đối xử, thương mại tự do và công bằng hơn, hỗ trợ phát triển và cải cách kinh tế, WTO quản

lý sự phù hợp của các RTA theo các qui định của hệ thống thương mại đa phương Uỷ ban vềRTA của WTO xem xét sự phù hợp của các qui định về RTA nhằm hạn chế khả năng các RTAgây cản trở cho các thoả thuận đa phương

- Không phân biệt đối xử: nguyên tắc không phân biệt đối xử là nhân tố quan trọng nhất trongviệc duy trì và tăng cường hệ thống thương mại đa phương, qui định rằng thương mại giữa cácnước thành viên cần được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, đòi hỏi tất cả cácnước thành viên phải dành đối xử đãi ngộ quốc gia (MFN) hoặc đối xử bình đẳng đối với cácnước khác, ngoại trừ trong một số trường hợp qui định trong GATT

- Mở cửa thị trường: nguyên tắc mở cửa thị trường sẽ được tăng cường theo nhiều cách để gópphần bảo vệ tiếp cận có thể và tăng lên đối với thị trường thông qua việc ngăn cấm tất cả cáchình thức bảo vệ ngoại trừ thuế quan Trong vòng Uruguay, việc giảm thuế cơ bản hơn đã đượcthoả thuận và quan trọng hơn các hạn chế số lượng nhìn chung cũng không ngoại lệ trong đàmphán vòng Uruguay

- Thương mại bình đẳng: Để tăng cường nguyên tắc thương mại bình đẳng và thúc đẩy cạnhtranh bình đẳng giữa các sản phẩm có xuất xứ khác nhau, đàm phán Vòng Uruguay đã đưa ramột số biện pháp bao gồm việc gia hạn và phân biệt rõ các qui định trước đây của GATT vềchống bán phá giá và các biện pháp đối kháng, đưa các vấn đề thương mại nông nghiệp, dịch

vụ, sở hữu trí tuệ vào phạm vi của hệ thống thương mại đa phương mới trong khuôn khổ WTO

- Hỗ trợ phát triển và cải cách kinh tế: Các qui định của GATT có xu hướng dành ưu đãi sự pháttriển và cải cách kinh tế của các nước đang phát triển trong khuôn khổ WTO, cho phép nhữngnước này có thời kỳ quá độ để điều chỉnh theo các qui định khó khăn của WTO Trong quá trìnhđàm phán Vòng Uruguay, cách tiếp cận theo lĩnh vực cũng đã được thông qua đối với một sốsản phẩm nhạy cảm như lúa gạo Ngoài ra, các nước kém phát triển nhất được dành sự linhhoạt hơn và được lợi hơn từ việc thực hiện nhượng bộ về tiếp cận thị trường đối với hàng hoácủa những nước này

- Điều XXIV của GATT: theo tinh thần của điều này cho phép các thỏa thuận hình thành các liênminh thuế quan và khu vực thương mại tự do không có ngoại trừ theo nguyên tắc không phânbiệt đối xử “các thỏa thuận có tiềm năng cho việc hội nhập kinh tế hơn nữa mà không có ảnhhưởng trái ngược tới lợi ích của các nước thứ ba mục đích của liên minh thuế quan và khuvực thương mại tự do nhằm tạo thuận lợi cho thương mại giữa các nước thành viên và khôngtạo ra các hàng rào đối với thương mại của các nước tham gia khác” Theo đó đối với các liênminh thuế quan và khu vực thương mại tự do, thuế và các qui định mới ở những nước tham giakhông được cao hơn hoặc hạn chế hơn so với các biện pháp hiện tại

- Điều XXV của GATT: các nước thành viên được phép tham gia chung theo điều XXV với 2/3

đa số phiếu nhằm cho phép được miễn trừ khỏi nghĩa vụ theo qui định của GATT Trong một sốtrường hợp, qui định này được thông qua nhằm cho phép các thỏa thuận khu vực, chẳng hạnnhư liên minh thuế quan của Pháp với Ý năm 1948 và hiệp định giữa Mỹ và Canada về thươngmại tự do đối với ô tô

- Điều XXVIII của GATT: Điều này qui định các kế hoạch bồi thường trong trường hợp mà bất kỳbên nào sửa đổi hoặc rút lui khỏi nhượng bộ trước đây đã được đàm phán với các bên khác.Những hành động này xảy ra khi một liên minh thuế quan mới được hình thành hoặc khi mộtbên ký kết muốn tham gia các liên minh thuế quan hiện tại Có khả năng là thuế hoặc các biệnpháp cao hơn hoặc hạn chế hơn sẽ thay thế những qui định hiện có Trong trường hợp này,đàm phán sẽ được tiến hành với các đối tác thương mại chính có quyền đàm phán ban đầu

Trang 22

nhằm đi đến thỏa thuận về kế hoạch bồi thường nhằm duy trì mức độ nhượng bộ có đi có lại và

có lợi chung không kém ưu đãi hơn so với thương mại đã được dành cho trước khi đàm phán

3 Chính sách FTA của Hàn Quốc:

Cho đến gần đây, Hàn Quốc là một trong số rất ít nước thành viên WTO không tham gia bất kỳmột Hiệp định thương mại khu vực nào FTA giữa Hàn Quốc và Chi Lê có hiệu lực năm 2004 đãđánh dấu một sự khởi đầu tham vọng trong chiến lược FTA của Hàn Quốc Hiện nay, Hàn Quốcđang tham gia nhiều hoạt động khu vực Ngoài FTA giữa Hàn Quốc và Chi Lê, Hàn Quốc đã bắtđầu đàm phán với Nhật Bản năm 2003, ASEAN năm 2005, tiến hành nghiên cứu chung vớiMexico và Ấn Độ, tham vấn chính thức với Canada Hiện nay, Hàn Quốc đang theo đuổi chínhsách FTA đa luồng với hầu hết các nước

Để theo đuổi chiến lược FTA này, Hàn Quốc đang lựa chọn các đối tác FTA dựa trên các cânnhắc thận trọng Chính phủ Hàn Quốc mong muốn tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu các tổn thấtcủa FTA thông qua việc chú ý tới các lợi ích kinh tế và công nghiệp đối với các nước tiềm năng.Những lĩnh vực nhạy cảm như là nông nghiệp và thủy sản được xem là những lĩnh vực có phạm

vi cho phép tự do hóa tối thiểu Chi Lê, Nhật Bản, ASEAN được xem là nhóm có thỏa thuận FTAngay tức thì trong khi Mỹ, EU, Trung Quốc được xem là nhóm nước có thỏa thuận trung và dàihạn

Hàn Quốc có một số lợi ích kinh tế và một số lợi ích khác nảy sinh từ chính sách FTA đa luồng.Cũng như nhiều nước khác, Hàn Quốc hy vọng có tăng trưởng kinh tế bổ sung nhờ việc tăngkim ngạch thương mại trong các thỏa thuận FTA Xem xét tới chiến lược phát triển truyền thốngcủa nền kinh tế Hàn Quốc, mục tiêu này là dễ hiểu Các thỏa thuận FTA cũng hứa hẹn tăngcường việc phân bổ các nhân tố của nền kinh tế Hàn Quốc và cải thiện hiệu quả tổng thể củanền kinh tế FTA cũng sẽ đóng góp vào việc tăng cường cạnh tranh và làm tăng thêm hiệu quả,tăng đầu tư nước ngoài và tích lũy vốn

4 Triển vọng tương lai của Hiệp định thương mại khu vực trong WTO:

Xu hướng ngày càng gia tăng các Hiệp định thương mại khu vực đang đặt ra nhiều vấn đề đốivới chủ nghĩa khu vực trên thế giới Do sự tăng lên nhanh chóng số lượng các RTA, điều khẩnthiết là phải xem xét lại các qui định của WTO đã được thay đổi phù hợp chưa Chủ nghĩa khuvực có khả năng ảnh hưởng tới chủ nghĩa đa phương, các qui định hiện nay của WTO liệu có

đủ hiệu quả để giảm thiểu sự tăng lên của xu hướng khu vực hoặc là có khoảng trống mà cácnước có thể lạm dụng mà không bị trừng phạt Thực tế là hiện nay không có thoả thuận RTAnào chính thức bị ngăn cấm qua quá trình giám sát của hệ thống đa phương Các qui định trong

ba điều khoản chính (điều XXIV, điều V và điều khoản cho phép của GATT) dường như không

đủ hiệu quả để ngăn cản các nước kết thúc các FTA mới Có khả năng khái niệm không rõ ràngtrong điều XXIV của GATT về “yêu cầu cơ bản về mọi hoạt động thương mại” dường như có tácdụng ngược lại

Các nước châu Á hiện đối mặt với câu trả lời liệu chủ nghĩa khu vực ở Châu Á có thực sự cầnthiết Thực tế là, châu Á là khu vực có mức độ mở cửa và hướng ra bên ngoài cao nhất Nhưngnhững sáng kiến khu vực gần đây có thể làm cho châu Á có khuynh hướng hướng nội và sự mởcửa của khu vực có thể giảm xuống Do đó, châu Á và các nước trong khu vực sẽ phải cónghiên cứu toàn diện hơn về lợi ích và chi phí trong các thoả thuận thương mại khu vực Đặcbiệt, họ phải phân tích liệu sự tăng trưởng và phát triển truyền thống và quá trình công nghiệphoá hướng vào xuất khẩu có thể thực hiện được trong một môi trường kinh tế mới

Tuy nhiên, chủ nghĩa khu vực của châu Á là cần thiết dưới một số điều kiện nhất định như cácđối tác châu Âu và Bắc Mỹ không phải là duy nhất vì được nhắc đến như là đối tác quan trọngnhất Nếu như quá trình tự do hoá đa phương có đủ khả năng thành công trong việc giúp Châu

Á mở rộng thị trường thì Châu Á không nên trở thành một thực thể kinh tế khép kín Do vậy,đàm phán tự do hoá thương mại đa phương hiện nay theo chương trình nghị sự Doha là hết

Trang 23

sức quan trọng Các nước Châu Á cần phải tham gia tích cực hơn trong quá trình đàm phán đểmang lại kết quả tốt hơn trong mục tiêu phát triển của quốc gia

UBQG (Tô Cẩn - theo tài liệu nghiên cứu của KOICA

http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns070703081321 Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ với Hàn Quốc

(TTXVN) - Tại cuộc hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki ngày 15/1 ở Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nêu rõ Việt Nam coi trọng và đánh giá cao vai trò, vị trí của Hàn Quốc trong khu vực và chủ trương tăng cường quan hệ với Hàn Quốc, cùng nhau xây dựng hòa bình, ổn định và phát triển vì lợi ích của nhân dân mỗi nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhấn mạnh trải qua chiến đấu trường kỳ, gian khổ mới giành được độc lập, tự do, thống nhất đất nước nên nhân dân Việt Nam mong muốn và sẽ làm hết sức mình vì hòa bình, ổn định, phát triển và thống nhất trên bán đảo Triều Tiên

Chủ tịch Nguyễn Văn An cho rằng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thời gian qua đã đạt những kết quả tốt đẹp, nhưng yêu cầu và tiềm lực của hai bên còn rất lớn Trong thời gian tới, quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước cần tiếp tục tăng cường và mở rộng, vì lợi ích của nhân dân hai nước Quan hệ giữa hai Quốc hội cần được thúc đẩy mạnh mẽ, nhằm ủng hộ hai Chính phủ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước phát triển hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư

Chủ tịch Nguyễn Văn An hoan nghênh sáng kiến của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc về việc ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội và nhất trí nội dung bản thỏa thuận, tạo cơ sở thúc đẩy sựgiao lưu, hiểu biết giữa hai Quốc hội, từ đó góp phần vào việc tăng cường quan hệ hợp tác chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cảm ơn Hàn Quốc đã ủng hộ Việt Nam trong việc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và bày tỏ mong muốn Hàn Quốc chia sẻ kinh nghiệm, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị APEC 2006

Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 và nêu rõ Chính phủ, nhân dân và các doanh nghiệp Hàn Quốc luôn quan tâm đến Việt Nam, mong muốn được tham gia các dự án lớn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Hiện Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn thứ tư tại Việt Nam Hai nước đã hợp tác chặt chẽ và thành công trên nhiều lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên

Chủ tịch Kim Won Ki cho rằng quan hệ giao lưu hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp cần được tăng cường và thúc đẩy hơn nữa, góp phần phát triển mối quan hệ chung giữa hai quốc gia Việc

ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội lần này sẽ tạo điều kiện để hai bên giao lưu, gặp gỡ một cách thường xuyên, có hệ thống hơn Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki cũng bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trên phương diện đa phương; nhấn mạnh việc tăng cường quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ phù hợp với mong muốn và lợi ích của hai quốc gia, mà còn góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở châu Á

Kết thúc hội đàm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An và Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki đã ký Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội hai nước và chứng kiến lễ ký cam kết về việc Tập đoàn Boo

Trang 24

Young (Hàn Quốc) tài trợ 10 triệu USD để trang bị 200.000 chiếc bảng chống lóa cho học sinh tiểu học Việt Nam và tài trợ 2 triệu USD để xây dựng bến xe buýt tại thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây).

Tiếp đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An và Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki đã đến dự và cắt băng khai mạc Triển lãm thư pháp tác phẩm thơ "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh./

Quan hệ giữa hai Quốc hội Việt Nam-Hàn Quốc ngày càng hiệu quả

Chiều 17/7, tại buổi tiếp đoàn Ủy ban Đối ngoại, Thương mại và Thống nhất của Quốc hội Hàn Quốc, do Chủ nhiệm Ủy ban Kim Wor Wung làm Trưởng đoàn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nói rằng quan hệ giữa hai Quốc hội hai nước ngày càng thực chất và hiệu quả hơn

Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cho biết thực hiện thỏa thuận tăng cường hợp tác giữa hai Quốc hội,các ủy ban, các nhóm nghị sỹ hữu nghị của Quốc hội hai nước thường xuyên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm Hai bên cũng tăng cường phối hợp trên các diễn đàn nghị viện đa phương Việt Nam luôn ủng hộ hòa bình, ổn định, phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên

Ngài Kim Wor Wung cũng nhất trí rằng quan hệ Hàn Quốc-Việt Nam đang trong thời điểm phát triển tốt đẹp trên nhiều phương diện, đồng thời cho rằng trong thời gian tới, hai bên cần quan tâm phát triển sâu rộng hơn nữa quan hệ giao lưu, hợp tác ở tất cả các ủy ban của hai Quốc hội

Cùng ngày, trong buổi tiếp đoàn, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh cùng với sự tăng cường giao lưu, hợp tác ở cấp cao, giữa hai Quốc hội, hai Chính phủ, hai bên cần thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa các doanh nghiệp và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc tiếp tục phát triển./.(TTXVN)

Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ với Hàn Quốc

(TTXVN) - Tại cuộc hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki ngày 15/1 ở Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nêu rõ Việt Nam coi trọng và đánh giá cao vai trò, vị trí của Hàn Quốc trong khu vực và chủ trương tăng cường quan hệ với Hàn Quốc, cùng nhau xây dựng hòa bình, ổn định và phát triển vì lợi ích của nhân dân mỗi nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhấn mạnh trải qua chiến đấu trường kỳ, gian khổ mới giành được độc lập, tự do, thống nhất đất nước nên nhân dân Việt Nam mong muốn và sẽ làm hết sức mình vì hòa bình, ổn định, phát triển và thống nhất trên bán đảo Triều Tiên

Chủ tịch Nguyễn Văn An cho rằng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thời gian qua đã đạt những kết quả tốt đẹp, nhưng yêu cầu và tiềm lực của hai bên còn rất lớn Trong thời gian tới, quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước cần tiếp tục tăng cường và mở rộng, vì lợi ích của nhân dân hai nước Quan hệ giữa hai Quốc hội cần được thúc đẩy mạnh mẽ, nhằm ủng hộ hai Chính phủ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước phát triển hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư

Trang 25

Chủ tịch Nguyễn Văn An hoan nghênh sáng kiến của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc về việc ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội và nhất trí nội dung bản thỏa thuận, tạo cơ sở thúc đẩy sựgiao lưu, hiểu biết giữa hai Quốc hội, từ đó góp phần vào việc tăng cường quan hệ hợp tác chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cảm ơn Hàn Quốc đã ủng hộ Việt Nam trong việc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và bày tỏ mong muốn Hàn Quốc chia sẻ kinh nghiệm, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị APEC 2006

Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 và nêu rõ Chính phủ, nhân dân và các doanh nghiệp Hàn Quốc luôn quan tâm đến Việt Nam, mong muốn được tham gia các dự án lớn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Hiện Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn thứ tư tại Việt Nam Hai nước đã hợp tác chặt chẽ và thành công trên nhiều lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên

Chủ tịch Kim Won Ki cho rằng quan hệ giao lưu hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp cần được tăng cường và thúc đẩy hơn nữa, góp phần phát triển mối quan hệ chung giữa hai quốc gia Việc

ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội lần này sẽ tạo điều kiện để hai bên giao lưu, gặp gỡ một cách thường xuyên, có hệ thống hơn Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki cũng bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trên phương diện đa phương; nhấn mạnh việc tăng cường quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ phù hợp với mong muốn và lợi ích của hai quốc gia, mà còn góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở châu Á

Kết thúc hội đàm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An và Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki đã ký Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội hai nước và chứng kiến lễ ký cam kết về việc Tập đoàn Boo Young (Hàn Quốc) tài trợ 10 triệu USD để trang bị 200.000 chiếc bảng chống lóa cho học sinh tiểu học Việt Nam và tài trợ 2 triệu USD để xây dựng bến xe buýt tại thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây)

Tiếp đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An và Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki đã đến dự và cắt băng khai mạc Triển lãm thư pháp tác phẩm thơ "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh./

Việt Nam, Hàn Quốc lập nhóm công tác hỗ trợ hợp tác đầu tư

Ngày 3/7, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc và Bộ

trưởng Bộ Công, Thương và Năng lượng Hàn Quốc Kim Young Ju đã ký biên bản ghi nhớ về việc thành lập "Nhóm công tác hỗ trợ hợp tác kinh tế và đầu tư" giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Theo biên bản ghi nhớ, Nhóm công tác bao gồm đại diện của Chính phủ hai nước và những đơn

vị có liên quan như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc, cộng đồng doanh nghiệp hai bên nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Hàn Quốc đẩy mạnh đầu tư tư vào Việt Nam và ngược lạ

Cụ thể, nhóm sẽ thường xuyên thảo luận về những khó khăn hiện tại mà những nhà đầu tư đanggặp phải; cung cấp thông tin cho Chính phủ hai nước về các xu hướng đầu tư và cơ hội đầu tư; trao đổi các thông tin liên quan đến luật, quy chế cũng như các nghiên cứu về sự hợp tác trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Trang 26

Nhóm công tác này sẽ tập trung vào những lĩnh vực chính như thương mại và đầu tư; nông nghiệp và dịch vụ; xây dựng và hậ tầng; công nghệ thông tin và công nghiệp quốc phòng; công nghiệp và năng lượng Cuộc họp nhóm sẽ được tổ chức thường niên tại Việt Nam h

oặc Hàn Quốc Kết quả của các cuộc họp này được đánh giá và trình Chính phủ hai nước./.(TTXVN)

Việt Nam sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Hàn Quốc

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Chính phủ và chính quyền các địa

phương của Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư lâu dài tại Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng, năng lượng và giao thông vận tải.

Tại buổi tiếp ngài Kim Young-Ju, Bộ trưởng Thương mại-Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc, chiều 2/7 ở Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc do ngài Kim Young-Ju dẫn đầu sang tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Việt Nam

Ngài Kim Young-Ju bày tỏ ấn tượng trước sự phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây

và cho rằng Việt Nam là đất nước có môi trường đầu tư thuận lợi, do vậy

Hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc về báo chí và du lịch

Chiều 28-6, tại Hà Nội, diễn ra cuộc tọa đàm báo chí với chủ đề "Vai trò của báo chí trong việc thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc"

Cuộc tọa đàm do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp báo Ðầu tư tổ chức nhân kỷ niệm 15 năm thiếtlập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc (12-1992 - 12-2007)

Dự tọa đàm có Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam Lê Quốc Trung, Tổng biên tập báo Ðầu tư Nguyễn Anh Tuấn, đại diện nhiều cơ quan báo chí ở trung ương và Hà Nội Ông Won Yung Chun, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Hàn Quốc, Trưởng đoàn Hội Nhà báo Hàn Quốc đang ở thăm nước ta và các thành viên trong đoàn cùng đại diện Ðại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam đã dự tọa đàm

Sau khi điểm lại những bước phát triển nhanh chóng và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của mốiquan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong 15 năm qua, các đại biểu dự tọa đàm nêu rõ, báo chí hai nước đã, đang và sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của mối

"quan hệ đối tác toàn diện" giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong thế kỷ 21, đồng thời khẳng định báo chí còn là cầu nối hữu nghị giúp nhân dân hai nước ngày càng hiểu biết lẫn nhau

Các đại biểu đã trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ, thảo luận về cách thông tin, tuyên truyền, góp phần thúc đẩy sự phát triển hợp tác kinh tế, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước nói chung cũng như giới báo chí hai nước nói riêng

* Kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc, Ðại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam tổ chức Triển lãm ảnh du lịch Việt Nam-Hàn Quốc với chủ đề "Tiềm ẩn và tỏa sáng" tại Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam, số 49Nguyễn Du (Hà Nội), từ ngày 29-6 đến 14-7

Trang 27

Triển lãm trưng bày 35 tác phẩm nhiếp ảnh của 30 nghệ sĩ Việt Nam và Hàn Quốc thể hiện vẻ đẹp riêng về đất nước và con người của hai quốc gia Việt Nam - Hàn Quốc Năm qua có tới hơn

400 nghìn lượt khách Hàn Quốc đến du lịch Việt Nam Triển lãm lần này là cơ hội để hai nước giới thiệu và quảng bá du lịch.(ND)

Uỷ ban hợp tác kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc họp tại Hà Nội

Kỳ họp lần thứ 9 của Ủy ban Hợp tác kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc đã khai mạc ngày 2/7 tại Hà Nội để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp hai nước trong hợp tác kinh doanh và đầu tư

Kỳ họp lần thứ 9 của Ủy ban Hợp tác kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc đã khai mạc ngày 2/7 tại Hà Nội để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp hai nước trong hợp tác kinh doanh và đầu tư

Kỳ họp đã tập trung thảo luận về 6 vấn đề gồm đầu tư và thương mại; chính sách ODA, nông nghiệp và dịch vụ; năng lượng và tài nguyên; xây dựng và cơ sở hạ tầng; công nghệ thông tin; công nghiệp quốc phòng

Phát biểu tại hội nghị, ông Kim Young Ju - Bộ trưởng Bộ Công, Thương và Năng lượng Hàn Quốc, nói Việt Nam có nền chính trị ổn định, nguồn nhân lực và khoáng sản tự nhiên phong phú

và ngày càng tạo được môi trường đầu tư ổn định và thuận lợi Chính vì vậy, sang Việt Nam lần này còn có 120 lãnh đạo các tập đoàn, công ty hàng đầu của Hàn Quốc, hoạt động trong các lĩnhvực như công nghệ thông tin, viễn thông, năng lượng, xây dựng, giao thông vận tải, đầu tư, tài chính, bất động sản, thương mại tổng hợp, dịch vụ Theo ông Kim Young Ju, đây là cơ hội để hình thành một làn sóng đầu tư mới từ Hàn Quốc vào Việt Nam

Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải cho biết, hầu hết các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Posco, Daewoo, Dosan, Huyndai đều làm ăn có hiệu quả tại Việt Nam Ông Hải hy vọng, trong thời gian tới, các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ đầu tư nhiều vào lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam

Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những đối tác đầu tư, thương mại quan trọng của Việt Nam Kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước năm 2006 đạt 4 tỷ USD

Tính đến nay, Hàn Quốc có 1.458 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 9,3

tỷ USD, đứng thứ nhất trong số 78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam./.(

Việt Nam hợp tác với Hàn Quốc phát triển thành phố thông minh

Ngày 27/5 tại một hội thảo diễn ra ở Hà Nội, Viện Quy hoạch Đô thị-Nông thôn đã

ký biên bản hợp tác với Tập đoàn SK của Hàn Quốc về phát triển u-City (thành phố thông minh) tại Việt Nam.

Ông Kyu Kwan Lim, Phó Chủ tịch tập đoàn SK cho biết, ý tưởng xây dựng đô thị thông minh đã được Chủ tịch Tập đoàn SK, ông Chey Tea-won đề xuất với Thủ tướng Chính phủ Việt Nam hồi cuối năm ngoái

Bản ghi nhớ này sẽ giúp chuyên gia của hai bên làm quen với khái niệm về thành phố thông minh tại các thành phố lớn của Hàn Quốc và Việt Nam để tạo ra một khuôn khổ thuận lợi cho việc xây dựng "thành phố thông minh" ở Việt Nam; đặt nền tảng quan trọng cho sự hợp tác nhằmđưa ý tưởng này trở thành hiện thực tại Việt Nam

Trang 28

Các chuyên gia Hàn Quốc cho rằng u-City ra đời để giải quyết các vấn đề của đô thị ngày nay với mục đích phát triển công nghệ thông tin ở khắp nơi Đây cũng được xem là cách phát triển đôthị có hiệu quả nhất

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Liên cho biết hiện Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ nhất từ trước đến nay Tỷ lệ đô thị hóa đã đạt đến 28% với 725 thành phố và thị trấn, trong đó có 93 thành phố và thị trấn cấp tỉnh

Theo Thứ trưởng, hàng năm vẫn có khoảng 1 triệu người dân tiếp tục di cư về những thành phố lớn và sinh sống tại các khu đô thị mới Những khu đô thị mới được xây dựng đang góp phần đáng kể vào việc cải thiện chất lượng sống ở đô thị, tạo hình ảnh mới cho các thành phố lớn của Việt Nam./

Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-HÀN QUỐC

I- KHÁI QUÁT CHUNG:

- Tên nước: Đại Hàn Dân Quốc, gọi tắt là Hàn Quốc (Republic of Korea)

- Thủ đô: Xơ Un (Seoul - 12 triệu người)

- Các thành phố lớn: Busan, Taegu, Taejon, Kwangju, Inchon, Ulsan

- Vị trí địa lý: Ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, Đông, Tây, Nam giáp biển, Bắc giáp Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 380 Bắc

- Diện tích: 99.392 km2 (toàn bán đảo: 222.154 km2)

- Khí hậu: Khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt

- Dân số: Năm 2002 có 47, 640 triệu người

- Dân tộc: Chỉ có 1 dân tộc là dân tộc Hàn (Triều Tiên)

- Tôn giáo: Theo đạo Tin lành, Thiên chúa, Phật giáo,…

- Ngôn ngữ: Tiếng Hàn Quốc Chỉ một tiếng nói, một chữ viết

- Tiền tệ: Đồng Won (W)

- Quốc khánh:

Trang 29

1) Ngày 15/8/1945: Ngày Giải phóng (của bán đảo Triều Tiên khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản).Nội bộ kỷ niệm long trọng, Tổng thống đọc diễn văn ở mít tinh trung ương Tổng thống, Chính phủ nhận điện mừng của Lãnh đạo các nước

2) Ngày 03/10/2333 Trước Công nguyên: Ngày Lập quốc, còn gọi là lễ Khai thiên Cơ quan đại diện ở ngoài nước tổ chức chiêu đãi

- Các nhà lãnh đạo chủ chốt hiện nay:

+ Tổng thống: Rô Mu Hiên (Roh Moo Hyun), từ 25/2/2003

+ Thủ tướng: Han Tớc Su (Han Duck Soo), (được Quốc hội thông qua 2/4/2007)

+ Chủ tịch Quốc hội: Lim Che Châng (Lim Chae Jung), từ tháng 6/2006

+ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại: Sông Min Sun (Song Min Soon), từ 1/12/2006

II- LỊCH SỬ, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI :

Bán đảo Triều Tiên có khoảng 5.000 năm lịch sử

Năm 2333 trước Công nguyên, nước Cổ Triều Tiên (Ko Choson) ra đời, bao gồm cả vùng Mãn Châu, Hoa Đông (Trung Quốc) và bán đảo Triều Tiên Nhà nước này tồn tại khoảng 1000 năm, liên tiếp bị nhà Chu, nhà Hán xâm lược

Từ năm 57 trước công nguyên, 3 nhà nước phong kiến mới lần lượt hình thành là Koguryo (bao gồm phía bắc bán đảo và vùng Mãn Châu Trung Quốc), Paekche và Shilla (phía nam bán đảo) Năm 668, Shilla thôn tính Kokuryo và Paekche, lập nên triều đại Shilla thống nhất bán đảo, kéo dài gần 3 thế kỷ (668-918) Từ 918-1392 vua Wang Kon lập ra nước Koryo (Cao Ly, nhà Vương),lấy Thủ đô là Kaeseong Từ 1392-1910 vua Ly Song Gye lập ra nước Choson (Triều Tiên, nhà Lý), rời đô về Seoul (1394), vua Sejong (triều vua thứ tư) đã sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng TriềuTiên mà ngày nay vẫn đang dùng

Nước Triều Tiên được thế giới biết đến từ triều đại Koryo Tên nước Koryo được phiên âm quốc

tế thành KOREA

Năm 1910, Nhật Bản thôn tính Bán đảo Triều Tiên Năm 1945, Bán đảo Triều Tiên được giải phóng và bị chia cắt, hình thành hai nhà nước theo hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau: Phía Nam gọi là Đại Hàn Dân Quốc, tên tiếng Anh là Republic of Korea (ngày 15 tháng 8 năm 1948, Tổng thống là Lý Thừa Vãn) và CHDCND Triều Tiên ở phía Bắc (ngày 09 tháng 9 năm 1948, Chủ tịch nước là Kim Nhật Thành), tên tiếng Anh là Democratic People’s Republic of Korea lấy vĩtuyến 38 o Bắc làm ranh giới Cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 kết thúc, Mỹ và CHDCND Triều Tiên ký Hiệp định đình chiến

III- CHÍNH TRỊ :

Thể chế nhà nước: Hiến pháp Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên ngày 17/7/1948 quy định Hàn

Quốc theo chế độ Cộng hoà, tam quyền phân lập Quốc hội và Tổng thống do dân bầu trực tiếp, Thủ tướng và Chánh án Toà án tối cao do Tổng thống chỉ định và Quốc hội thông qua (trong vòng 20 ngày)

Trang 30

Sau khi thành lập, các tướng lĩnh quân sự lần lượt nắm quyền lãnh đạo đất nước Ngày

25/02/1993, lần đầu tiên nhân vật dân sự (Kim Young Sam) lên làm Tổng thống Hàn Quốc, bắt đầu thời kỳ chính phủ dân sự nắm quyền tại Hàn Quốc

- Quyền Hành pháp: Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng hành pháp Tổng thống chỉ giữ một nhiệm kỳ 5 năm

- Quyền Lập pháp: Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện, gồm

299 ghế Nghị sỹ Quốc hội Hàn Quốc được bầu theo nguyên tắc đầu phiếu phổ thông, có nhiệm

kỳ 04 năm

- Quyền Tư pháp: Hàn Quốc thực hiện chế độ tư pháp ba cấp gồm Toà án Tối cao, ba toà Thượng thẩm và các Toà án Quận ở các thành phố lớn Toà án Tối cao xem xét và thông qua những quyết định cuối cùng những sự chống án đối với các quyết định của các Toà Thượng thẩm, quyết định của Toà án Tối cao là cuối cùng không được kháng án

Một số chính đảng chủ yếu hiện nay:

Đảng Uri: Đảng cầm quyền, thân Tổng thống Rô Mu Hiên

Đảng đối lập Đại dân tộc (GNP): Đảng đối lập chính

Thế mạnh của Hàn Quốc là công nghiệp nặng Dự trữ ngoại tệ đạt hơn 300 tỷ USD Các thị trường chính của Hàn Quốc là Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản

Kinh tế Hàn Quốc những năm gần đây phát triển tương đối thuận lợi Tốc độ phát triển kinh tế năm 2004 đạt 4,7%, năm 2005: 4% và năm 2006 đạt 5.05%

GDP năm 2004: 680 tỷ USD và năm 2005: 793.1 tỷ USD

GDP tính theo đầu người năm 2004: 14.193 USD; 2005: 17.000 USD; 2006: 20.000 USD.Kim ngạch mậu dịch năm 2004 đạt 478,69 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 254,22 tỷ USD, nhập khẩu 224,47, thặng dư gần 30 tỷ USD; năm 2005 đạt 545,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 284,7

tỷ USD, nhập khẩu 261,2 thặng dư 23,5 tỷ USD; năm 2006, Hàn Quốc vươn lên trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 11 thế giới với 326 tỷ USD xuất khẩu và 309 tỷ USD nhập khẩu

Hiện nay, Hàn Quốc đang phấn đấu để trở thành Trung tâm trung chuyển Đông Bắc Á

Trang 31

V- CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI :

Hàn Quốc là thành viên Liên Hợp Quốc (tháng 9/1991), tham gia Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD năm 1996), là thành viên của WTO, ASEM, APEC Đến nay, Hàn Quốc đã có quan hệ ngoại giao với 186 nước trong số 191 nước trên thế giới Hàn Quốc coi trọng quan hệ với các nước đồng minh (Mỹ, Nhật Bản…), quan hệ với các đối tác lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn

Độ, đồng thời thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế

- Với Mỹ: Là quan hệ đồng minh Năm 1954, ký Hiệp ước An ninh chung Hàn - Mỹ Hiện nay, Mỹ duy trì 27 nghìn quân đóng tại Hàn Quốc, đang có kế hoạch giảm xuống còn 25 nghìn quân trongvài năm tới

- Với Nhật Bản: Hai nước bình thường hoá quan hệ năm 1965 (Nhật Bản bồi thường cho Hàn Quốc 500 triệu USD); Nhật Bản là bạn hàng và hợp tác kinh tế số 3 của Hàn Quốc Hai bên nhất trí phát triển quan hệ trong khuôn khổ "hợp tác hướng tới tương lai"

- Với Trung Quốc: Thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 8/1992 Hiện nay, Trung Quốc đã trở thànhđối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc Hàn Quốc coi trọng vai trò của Trung Quốc đối với khu vực, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề Bán đảo Triều Tiên

- Với Nga: Năm 1991, Hàn Quốc và Nga thiết lập quan hệ ngoại giao Hai bên tăng cường phát triển quan hệ "đối tác toàn diện tin cậy lẫn nhau", đã ký thoả thuận mở rộng hợp tác kinh tế, khoahọc kỹ thuật trong các lĩnh vực quan trọng như dầu khí, hàng không, vũ trụ, quân sự,…

- Với ASEAN: Hàn Quốc coi trọng quan hệ với tổ chức ASEAN và các nước Đông Nam Á, hoạt động tích cực trong khuôn khổ cơ chế ASEAN + 1, ASEAN + 3, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF)

và Cấp cao Đông Á

Ngày 21/10/1996, Hàn Quốc trở thành thành viên thứ 29 của OECD (tổ chức của các nước công nghiệp tiên tiến) Hàn Quốc đăng cai Hội nghị thượng đỉnh ASEM III năm 2000, được bầu làm Chủ tịch Đại hội đồng LHQ khoá 56 (9/2001-9/2002), đăng cai chung với Nhật Bản World Cup

2002, đăng cai ASIAD-14 Busan 2002, tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2005

Năm 2007, Ngoại trưởng Hàn Quốc Ban Ki Mun nhậm chức Tổng Thư ký LHQ

VI- QUAN HỆ VỚI CHDCND TRIỀU TIÊN:

Chính phủ Hàn Quốc hiện nay chủ trương thực hiện thống nhất Bán đảo Triều Tiên thành một quốc gia, một chế độ theo từng giai đoạn: xây dựng lòng tin, hoà giải hợp tác tiến tới thống nhất đất nước (trong khi đó, từ 1980 Triều Tiên nêu phương án thống nhất là thành lập Liên bang Cao

Ly gồm một dân tộc, một quốc gia, hai chế độ, hai chính phủ)

Tổng thống Kim Te Chung lên cầm quyền (ngày 25/2/1998) đưa ra và tích cực thực hiện "Chính sách ánh Dương", chủ trương cùng tồn tại, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác kinh tế và giao lưu nhiều mặt giữa hai miền trên cơ sở duy trì sức mạnh quốc phòng và an ninh của Hàn Quốc

Từ ngày 13-15/6/2000, Tổng thống Kim Te Chung thăm Bình Nhưỡng, gặp gỡ thượng đỉnh với Tổng Bí thư Kim Châng In Hai miền ra Tuyên bố chung 5 điểm, thoả thuận vấn đề thống nhất đất nước phải do chính người Triều Tiên giải quyết, thống nhất theo hướng lập Liên bang, giải quyết ngay các vấn đề nhân đạo, tạo sự phát triển cân bằng kinh tế hai miền, tăng cường hợp tác giao lưu trong nhiều lĩnh vực, tiếp xúc thường xuyên giữa các quan chức hai miền Hai bên

Trang 32

đang tích cực thực hiện những thoả thuận này Đây là cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa hai miền

Tháng 02/2003, Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên đưa ra chính sách "Hoà bình - Thịnh vượng" đối với Triều Tiên, kế tục và phát huy "Chính sách Ánh dương" của người tiền nhiệm 4 nguyên tắc cơ bản của chính sách "hoà bình-thịnh vượng" là : Giải quyết tồn tại thông qua đối thoại, hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau và có đi có lại, thúc đẩy hợp tác quốc tế trên nguyên tắc hai miền Triều Tiên đóng vai trò chủ đạo, nâng cao tính minh bạch, mở rộng sự tham dự của nhân dân và tranh thủ sự ủng hộ của các đảng phái

VII- QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM :

1) Ngày thành lập quan hệ ngoại giao : 22/12/1992

2) Quá trình phát triển quan hệ (những mốc lớn) :

Trong chiến tranh Việt Nam, Hàn Quốc đưa 3 vạn quân sang Việt Nam tham gia chiến tranh xâm lược của Mỹ, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam

Từ 1975-1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian; từ

1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ

Ngày 20/4/1992, ký thoả thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước

Ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ Cùng ngày, Hàn Quốc khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội

Ngày 19/11/1993 Hàn Quốc khai trương Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh

Các đoàn Việt Nam thăm Hàn Quốc:

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (tháng 02/1993),

Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 5/1993),

Tổng Bí thư Đỗ Mười (tháng 4/1995),

Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (tháng 3/1998),

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tháng 8/2000),

Chủ tịch nước Trần Đức Lương (từ 22-25/8/2001), cùng Tổng thống Hàn Quốc Kim Te Chung ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới là "Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế

kỷ 21",

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (từ 29/8-02/9/2002),

Thủ tướng Phan Văn Khải (từ 15-19/9/2003),

Đồng chí Phan Diễn (từ 27/10-01/11/2003),

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 12/2003),

Trang 33

Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (tháng 6/2004),

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (21-25/7/2004)

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (2-5/5/2005),

Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị APEC-13 tại Hàn Quốc tháng 11/2005, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Tổng thống Rô Mu Hiên

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng thăm làm việc tại Hàn Quốc (21-24/5/2007)

Các đoàn Hàn Quốc thăm Việt Nam:

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lee Sang Ok (ngày 22/12/1992, cùng Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm kýTuyên bố chung thiết lập Quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ),

Bộ trưởng Ngoại giao Han Sung Joo (tháng 5/1994),

Thủ tướng Lee Young Dug (tháng 8/1994),

Bộ trưởng Ngoại giao Gong Ro Myong (tháng 7/1996),

Chủ tịch Quốc hội Kim Soo Han (tháng 8/1996),

Tổng thống Kim Young Sam (tháng 11/1996),

Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park Chung Soo (tháng 7/1998),

Tổng thống Kim Te Chung (tháng 12/1998, thăm chính thức Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao ASEAN-6),

Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hong Soon Young (tháng 7/1999),

Thủ tướng Ly Han Dong (từ 08-11/4/2002),

Chủ tịch Quốc hội Pac Quan Yêng (từ 30/9-04/10/2003),

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Yun Yêng Quan (từ 24-26/12/2003),

Chủ nhiệm Uỷ ban Ngoại giao Quốc hội Sơ Châng Hoa (từ 10-14/02/2004),

Tổng thống Rô Mu Hiên (10-12/10/2004),

Thủ tướng Li He Chan (19-21/4/2005),

Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki (14-18/1/2006)

Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên dự Hội nghị APEC-14 tại Hà Nội, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 17/11/2006

3) Tình hình quan hệ hiện nay:

Trang 34

- Về chính trị: Việc hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp, các ngành đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác song phương

- Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam Trong 15 năm qua (1992-2007), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam

+ Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về Hợp tác Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Việt Nam - Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương

+ Hai bên đã ký nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp tác kinh tế-khoa học kỹ thuật (02/1993), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư-sửa đổi (9/2003), Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thương mại (5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994), Hiệp định Văn hoá (8/1994), Hiệp định Vận tải biển (4/1995), Hiệp định Hải quan (3/1995), Hiệp định về hợp tác du lịch (8/2002), Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm (9/2003), Hiệp định tương trợ tư pháp về hình

sự ( 9/2003), Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)…

+ Về hợp tác phát triển, đến nay, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp 188 triệu USD tín dụng ưu đãi

và viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; quyết định trong giai đoạn 2006-2009 tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam lên 100 triệu USD/năm, viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu USD/năm

+ Về hợp tác đầu tư, tính đến tháng 5/2007, Hàn Quốc là nước đứng thứ 2 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 1365 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký trên 8,54 tỷ USD

+ Về thương mại, năm 2006, kim ngạch buôn bán giữa hai nước ước đạt gần 5 tỷ USD, gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1992 Hiện nay, hai bên đang nỗ lực tìm các giải pháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam

- Về hợp tác lao động: Hiện nay, Việt Nam có gần 40 nghìn lao động đang làm việc tại Hàn Quốc.Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) của Hàn Quốc

- Hợp tác du lịch: Trong vài năm gần đây, Hàn Quốc đã trở thành 1 thị trường cung cấp khách dulịch trọng điểm của Việt Nam với lượng khách du lịch Hàn Quốc vào Việt Nam tăng trung bình 30%/năm, với 13 vạn lượt khách năm 2003, hơn 20 vạn năm 2004, hơn 40 vạn năm 2006 Từ ngày 01/7/2004, Việt Nam đã đơn phương miễn visa cho công dân Hàn Quốc

- Hợp tác văn hoá - giáo dục: Hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994 cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh và công diễn Nhiều người Việt Nam đã tốt nghiệp đại học, cao học tại Hàn Quốc

- Các tổ chức hữu nghị:

Tháng 9/1994 Việt Nam thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc Năm 2001 Hàn Quốc thành lập Hội Giao lưu Hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam Tháng 5/1993 Hàn Quốc thành lập Hội Nghị sỹ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam Tháng 5/1995 Việt Nam thành lập Hội

Việt Nam và Hàn Quốc trao đổi thường kỳ cấp thứ trưởng ngoại giao

Trang 35

Ngày 11/6, tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phú Bình và Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc Chô Chung Piêu đã tiến hành cuộc họp trao đổi chính sách thường niên cấp thứ trưởng ngoại giao lần thứ 2

Hai bên đã thông báo cho nhau tình hình mỗi nước, trao đổi ý kiến về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, thảo luận các biện pháp tăng cường hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao, thúc đẩy quan hệ "đối tác toàn diện trong thế kỷ 21 " giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Cùng ngày, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã tiếp Thứ trưởng ChôChung Piêu./.(TTXVN)

Việt Nam-Hàn Quốc quyết tâm phát triển quan hệ đối tác toàn diện

Thủ tướng Hàn Quốc Han Duck Soo và Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đều khẳng định quyết tâm phát triển quan hệ "Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21" giữa hai nước lên tầm cao mới.

Tại cuộc gặp chiều 21/5 ở thủ đô Xơun, hai nhà lãnh đạo cũng đã nhất trí cho rằng việc Việt Nam

và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 12/1992 là sự kiện trọng đại, mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ hai nước, đồng thời bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển nhanh chóng và hiệu quả của mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong 15 năm qua trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đầu tư, thương mại, văn hóa, giáo dục, lao động, dulịch

Thủ tướng Han Duck Soo khẳng định Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam, ưu tiên cung cấp tín dụng và khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư, hợp tác với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực mà Việt Nam quan tâm

Qua Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Han Duck Soo chuyển lời mời của Chính phủ Hàn Quốc mời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sớm thăm Hàn Quốc

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng, đang dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam thăm làm việc và tham dự chương trình "Những ngày Việt Nam tại Hàn Quốc" từ 21-24/5, nhấn mạnh việc phát triển quan hệ hợp tác với Hàn Quốc là chính sách nhất quán, lâu dài của Chính phủ Việt Nam

Phó Thủ tướng bày tỏ mong muốn Chính phủ và các nhà doanh nghiệp Hàn Quốc tiếp tục mở rộng đầu tư và hợp tác với Việt Nam, đặc biệt tích cực tham gia các dự án trọng điểm quốc gia của Việt Nam trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, năng lượng, cơ sở hạ tầng, công nghệ thôngtin , tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực lao động, du lịch, văn hóa, giáo dục - đào tạo

Cùng ngày, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã tham dự buổi chiêu đãi trọng thể

do cựu Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki tổ chức chào mừng đoàn Việt Nam; gặp gỡ Hộigiao lưu hữu nghị Hàn - Việt; thăm các tập đoàn SK, Kumho, là những tập đoàn kinh tế hàng đầucủa Hàn Quốc đang có nhiều dự án lớn ở Việt Nam./.(TTXVN)

Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Trang 36

Hàng Việt Nam thêm nhiều cơ hội vào Hàn Quốc

Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hàn Quốc Bùi Quang Hào nhận định từ năm nay hàng hóa Việt Nam có thêm nhiều cơ hội xuất khẩu sang Hàn Quốc do hai bên thực thi cam kết FTA giữa ASEAN - Hàn Quốc, miễn thuế đối với 70% mặt hàng nhập khẩu.

Đồng thời, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam được hưởng quy chế thuế theo quy định và có điều kiện thuận lợi để xúc tiến đàm phán song phương giải quyết một số vấn đề liên quan đến hàng rào phi thuế quan của Hàn Quốc như kiểm dịch động, thực vật

Theo ông Hào, cơ hội được mở rộng nhưng hàng hóa Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các nước khác trong ASEAN và đặc biệt là Trung Quốc về chất lượng, giá cả, mẫu mã, khả nănggiao hàng nhanh và ổn định Do đó, Việt Nam cần có quy hoạch chiến lược các mặt hàng xuất khẩu, đầu tư một cách có hệ thống, chuyên nghiệp và biết cách quảng bá sản phẩm

Ông Hào cho biết, giữa năm nay, vào dịp Hội chợ hàng nhập khẩu của Hàn Quốc, Bộ Thương mại dự định sẽ tổ chức Tuần thương mại Việt Nam tại Hàn Quốc nhằm đẩy mạnh xúc tiến thương mại, cân đối thị trường xuất khẩu trên thế giới Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ tham dự các hoạt động về xúc tiến thương mại, đầu tư trong Tuần Việt Nam tại Hàn Quốc đầu tháng 5 tới

Về tình trạng nhập siêu lớn của Việt Nam trong thương mại với Hàn Quốc, ông Hào cho rằng với điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay, việc nhập siêu là tất yếu do cơ cấu mặt hàng khác nhau.Xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu sản xuất cho công ty Việt Nam và công ty Hàn Quốc ở Việt Nam Trong khi đó, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng nông, thủy sản, giá trị kim ngạch thấp./.(TTXVN)

Chương trình xúc tiến đầu tư vào VN tại Hàn Quốc, Malaixia

(TTXVN) - Hai chương trình xúc tiến đầu tư vào Việt Nam sẽ được tổ chức tại Xơun, Hàn Quốc từ ngày 12-14/6 và tại Cuala Lămpơ, Malaixia từ ngày 6-10/9

Theo chương trình, tại Hàn Quốc và Malaixia sẽ diễn ra Hội nghị xúc tiến đầu tư cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế của Việt Nam với những nội dung liên quan đến cơ hội

mở rộng kinh doanh tại các khu vực này

Trong dịp này, phái đoàn Việt Nam sẽ đi thăm Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn Quốc, chi nhánhdoanh nghiệp Xơun, Khu liên hợp công nghiệp quốc gia Banweol/Sihwa tại Hàn Quốc và Khu công nghiệp tại Malaixia để kết nối kinh doanh, chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề thu hút các nhà

Báo Hàn Quốc: VN - bệ phóng cho các công ty toàn cầu

Tờ Thời báo Hàn Quốc số ra ngày 22/1 đăng bài nhận định Việt Nam đang là điểm đến đầu tư hấp dẫn, "bệ phóng tăng trưởng" đối với nhiều công ty toàn cầu, sau khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Theo tác giả bài viết, quốc gia đông dân thứ 2 ở Đông Nam Á này hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có nhà đầu tư Hàn Quốc, vì kinh tế phát triển nhanh với sức tiêu thụ nội địa không ngừng tăng; Chính phủ tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, châu Âu, ASEAN, và có lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ

Trang 37

Bài viết cho biết nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã nhanh chân triển khai hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam như nhà sản xuất thép POSCO đang xây dựng nhà máy cán thép nguội và dự kiến cuối năm 2009 nhà máy sẽ đi vào hoạt động Hãng bán lẻ Lotte Shopping

sẽ mở bước đột phá tại thị trường Việt Nam bằng việc khai trương hệ thống siêu thị Lotte Mart vào đầu năm 2008

Bày tỏ hài lòng về công việc làm ăn tại Việt Nam, hầu hết các công ty Hàn Quốc đều mong muốn có thêm nhiều thông tin về Việt Nam, trong đó có các chính sách của Chính phủ đối với các công ty nước ngoài (VNA)./

Hàn Quốc sẽ mở rộng chương trình đào tạo cán bộ VN

Phát biểu tại "Đêm Hữu nghị Hàn-Việt", diễn ra tối 28/12 tại Hà Nội, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Kim Eui-ki khẳng định Hàn Quốc sẽ mở rộng chương trình đào tạo dành cho cán bộ Việt Nam.

Đại sứ Kim Eui-ki cho biết Chính phủ Hàn Quốc đã lựa chọn Việt Nam là quốc gia hợp tác trọng điểm ở khu vực Đông Nam Á và quyết định tới năm 2009 sẽ tăng qui mô viện trợ phát triển chínhthức (ODA) cho Việt Nam

Đại sứ cũng cho biết Hàn Quốc đang hỗ trợ Việt Nam qua nhiều dự án ODA, bao gồm cả các chương trình đào tạo, giúp Việt Nam phát triển nguồn nhân lực

Kể từ năm 1991 tới nay, thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA), Chính phủ HànQuốc đã mời hơn 2.000 cán bộ, viên chức Việt Nam tham dự các chương trình đào tạo

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp cấp cao song phương với Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên (Roh Moo Hyun)

Chiều ngày 17/11/2006, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gặp cấp cao song phương với Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên sang Việt Nam tham

dự Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tổ chức tại Hà Nội

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh và đánh giá cao việc Tổng thống Rô Mu Hiên đếnViệt Nam dự Hội nghị cấp cao APEC 14 là một đóng góp quan trọng cho thành công của Hội nghị

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhiệt liệt chúc mừng những thành tựu to lớn của Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua, đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia có đóng góp ngày càng quan trọng vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới

Tổng thống Rô Mu Hiên bày tỏ vui mừng sâu sắc được thăm lại Việt Nam và tham dự Hội nghị cấp cao APEC, cũng như những ấn tượng sâu sắc về sự phát triển nhanh chóng về kinh tế-xã hội ở Việt Nam; chân thành chúc mừng thành công của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

10 và những thành quả của nhân dân Việt Nam trong công cuộc đổi mới, chúc mừng Việt Nam trở thành thành viên WTO

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Rô Mu Hiên bày tỏ hài lòng nhận thấy rằng, trong 14 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được phát triển nhanh chóng, có hiệu

Trang 38

quả và mở rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là hợp tác kinh tế Hai vị Lãnh đạo khẳng định tiếp tục

nỗ lực để phát triển hơn nữa quan hệ « đối tác toàn diện trong thế kỷ 21 » giữa hai nước theo hướng tin cậy, ổn định lâu dài Hai bên nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các dự án hợp tác kinh tế song phương, khuyến khích các cơ quan và doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi thương mại, hợp tác lao động, du lịch và giao lưu văn hóa, phối hợp tổ chức các hoạt động có nội dung phong phú và thiết thực kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong năm 2007

Tổng thống Hàn Quốc bày tỏ lòng mong muốn của các doanh nghiệp Hàn Quốc tham gia vào các lĩnh vực phát triển của Việt Nam và khẳng định Chính phủ Hàn Quốc sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam thông qua việc tăng quy mô viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi EDCF

Hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường hợp tác trên các diễn đàn quốc tế và khu vực như ASEAN+3, ASEAN+1, ASEM, ARF, cấp cao Đông Á, Liên Hợp Quốc vì lợi ích của mỗi nước và hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bày tỏ ủng hộ việc giải quyết các vấn đề tồn tại trên bán đảo Triều Tiên bằng biện pháp hoà bình thông qua đối thoại và mong muốn đàm phán 6 bên sớm được nối lại

Tổng thống Hàn Quốc đã trân trọng mời Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang thăm chính thức Hàn Quốc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã vui vẻ nhận lời mời

Cuộc gặp đã diễn ra trong không khí hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau

Sau cuộc gặp, Hai vị Lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký Thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc về Dự án xây dựng bệnh viện cấp trung ương tại tỉnh Quảng Nam trị giá 35triệu USD bằng viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Hàn Quốc./

Việt Nam-Hàn Quốc ký Bản ghi nhớ về xuất khẩu lao động

Ngày 24/7, Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng và Bộ trưởng Bộ Lao động Hàn Quốc Li Sang Xu đã ký Bản ghi nhớ về việc đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc

Theo đó, hàng năm, Việt Nam có thể gửi khoảng 15.000 ứng viên đăng ký dự tuyển làm việc tại Hàn Quốc Các ứng viên phải trải qua kỳ kiểm tra trình độ tiếng Hàn trong nước nhằm hỗ trợ giao tiếp trong thời gian lao động 3 năm theo hợp đồng Người lao động được hưởng lương, các chế độ bảo hiểm và tiền làm ngoài giờ trong trường hợp chủ sử dụng lao động yêu cầu

Văn kiện này dựa trên cơ sở thỏa thuận ký năm 2004 giữa chính phủ hai nước nhằm hợp tác laođộng theo hình thức cấp phép lao động (EPS)

Phía Hàn Quốc khẳng định sẽ áp dụng các biện pháp mạnh để hạn chế tình trạng lao động cư trú bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng hoặc tự ý bỏ hợp đồng Nếu số lao động Việt Nam cưtrú bất hợp pháp vượt tỷ lệ quy định, Bộ Lao động Hàn Quốc có thể giảm số lượng lao động phân bổ cho Việt Nam, tạm ngừng nhận lao động hoặc chấm dứt thực hiện thoả thuận Người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng lao động, về nước đúng thời hạn và được chủ sử dụng lao động đồng ý tiếp nhận có thể trở lại Hàn Quốc

Từ khi thực hiện chương trình cấp phép lao động năm 2004, Việt Nam đã đưa gần 13.000 lao

Trang 39

động sang Hàn Quốc Từ đầu năm đến nay, khoảng 4.000 lao động Việt Nam đã sang Hàn Quốc

so với chỉ tiêu được phân bổ là 9.000 người

Hiện nay Việt Nam là một trong 10 nước tham gia chương trình hợp tác cấp phép lao động với Hàn Quốc./.(TTXVN)

Báo Hàn Quốc Chôxơn Inbô xin lỗi độc giả Việt Nam

Ngày 9/5, thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, đại diện báo Chôxơn Inbô

đã gửi thư tới Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Hà Thị Khiết lời giải thích

và xin lỗi về bài viết "Các cô gái Việt Nam đến miền đất hứa Hàn Quốc" đăng trên báo này ngày 21/4, gây phản ứng tiêu cực trong dư luận hai nước

Báo này cũng bày tỏ mong muốn cơ quan đại diện TTXVN tại Hàn Quốc thông báo tới đông đảo

cơ quan báo chí, độc giả Việt Nam lời xin lỗi của báo

Báo Chôxơn Inbô giải thích rằng bài viết của báo mong muốn cho độc giả thấy thực trạng hiện tượng kết hôn đang tăng lên giữa người Hàn Quốc và người Việt Nam, từ trước hết phía đàn ông Hàn Quốc và phụ nữ Việt Nam; hoàn toàn không có ý định bôi nhọ phụ nữ Việt Nam Với những đàn ông Hàn Quốc có ý định lấy vợ Việt Nam, báo muốn nhắc nhở họ cần chuẩn bị đầy

đủ để hiểu rõ hơn về phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh khác biệt ngôn ngữ và văn hóa

Bức thư viết: "Nếu như phóng viên bản báo có gây hậu quả tiêu cực dù không cố ý, làm tổn hại lòng tự trọng của người Việt Nam, báo Chôxơn trịnh trọng xin lỗi tất cả" Báo Chôxơn cũng bày

tỏ hy vọng rằng Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc sẽ quan tâm hơn đến vấn đề kết

Thủ tướng: Hàn Quốc là đối tác rất quan trọng của Việt Nam

Chiều 31/5, tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Yoon Kwang Ung tại Hà Nội, Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định Hàn Quốc là đối tác rất quan trọng của Việt Nam, là mô hình tốt cho Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác và học tập, trao đổi kinh nghiệm trong quá trình phát triển

Nhân dịp này, Thủ tướng cảm ơn Chính phủ Hàn Quốc đã dành khoản viện trợ không hoàn lại giúp Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục, y tế và xoá đói, giảm nghèo

Thủ tướng tin tưởng chuyến thăm Việt Nam lần này của đoàn sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung và Bộ Quốc phòng của hai nước nói riêng, góp phần vào việc giữ gìn hoà bình ở khu vực và thế giới

Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Yoon Kwang Ung nhấn mạnh những tình cảm đặc biệt của cácnhà lãnh đạo Hàn Quốc đối với Việt Nam Bộ trưởng cho rằng Hàn Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá và đây là những điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác giữa hai nước đi tới tương lai tươi sáng

Sáng cùng ngày, đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Đại tướng Phạm Văn Trà làm trưởng đoàn đã hội đàm với Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Hàn Quốc do Ngài Yoon Kwang Ung, Bộ trưởng Quốc phòng làm trưởng đoàn

Trang 40

Đại tướng Phạm Văn Trà hoan nghênh đoàn đại biểu quân sự cấp cao Hàn Quốc sang thăm hữunghị chính thức Việt Nam, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, trên cơ sở đó tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa nhân dân và lực lượng vũ trang hai nước

Hai bên đã thông báo cho nhau tình hình phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang của mỗi nước và những vấn đề cùng quan tâm nhằm tăng cường sự, hợp tác giữa quân đội và nhân dân hai nước, vì mục tiêu hoà bình, ổn định, phát triển, thịnh vượng trong khu vực và trên

Tập đoàn Hyundai sẵn sàng hợp tác với Việt Nam

(TTXVN) - Chiều 13/3, tại cuộc gặp Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Choi Han Young, Chủ tịch Tập đoàn ôtô Hyundai thương dụng của Hàn Quốc đang ở thăm Việt Nam, cho biết Hyundai đã chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để hợp tác với phía Việt Nam và khẳng định Hyundai là đối tác tin cậy, lâu dài tại Việt Nam.

Ông Choi Han Young đánh giá Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ, huy động chất xám tốt và là một trong bốn thị trường triển vọng trong khu vực ASEAN

Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao việc Tập đoàn ôtô Hyundai vừa ký kết thỏa thuận hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất động cơ ôtô Hyundai với Tổng Công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam (Vinamotor)

Phó Thủ tướng nhấn mạnh Chính phủ Việt Nam khuyến khích phát triển công nghệ phụ trợ cho ngành sản xuất ôtô, nên trong tương lai, sự hợp tác này sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với lợi ích của hai bên./

Tổng Bí thư: Việt Nam muốn thúc đẩy hợp tác với Hàn Quốc

(TTXVN) - Ngày 16/1, tiếp Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki đang ở thăm chính thức Việt Nam, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định Việt Nam coi trọng

và mong muốn thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hữu nghị với Hàn Quốc.

Tổng Bí thư bày tỏ hài lòng trước sự phát triển trong quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước trong thời gian qua, nhất là quan hệ giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học kỹ thuật và

du lịch Tổng Bí thư cũng bày tỏ hy vọng ngày càng có nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đến hợp tác sản xuất kinh doanh tại Việt Nam

Tổng Bí thư đánh giá cao kết quả cuộc hội đàm giữa Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki và Chủ tịch Nguyễn Văn An cùng các vị lãnh đạo khác của Việt Nam, cho rằng các cuộc trao đổi cấp cao sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ giữa hai nước không ngừng phát triển

Chủ tịch Quốc hội Kim Won Ki nhấn mạnh Hàn Quốc sẽ làm hết sức để thúc đẩy quan hệ hai nước, nhất là sự giao lưu hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và du lịch

Cùng ngày, tại cuộc gặp Chủ tịch Kim Won Ki, Thủ tướng Phan Văn Khải cho biết Việt Nam đangtiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút doanh nghiệp của các nước, trong đó có doanh nghiệp của Hàn Quốc đến đầu tư tại Việt Nam Thủ tướng tin tưởng trong thời gian tới, các

Ngày đăng: 30/01/2013, 16:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trong thời gian qua là đáng hoan nghênh. - Quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc
Hình trong thời gian qua là đáng hoan nghênh (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w