Lý luân chủ nghĩa Mác- Lenin về giai cấp và đấu tranh giai cấp 1.1 Giai cấp Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, V.I.Lênin định nghĩa : “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm n
Trang 1TIÊU LUẬN
Quan điểm mới của Đảng ta về đấu tranh giai cấp và động lực chủ yếu
để phát triển đất nước hiện nay Nêu nhận thức bản thân khi nghiên cứu quan điểm này của Đảng với tư cách là sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân,cầnlàmgì?
1
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống nhận thức triết học Mác về lịch sử, “học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp” chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Những nội dung, hình thức và ý nghĩa của học thuyết luôn luôn được nêu lên căn cứ vào những đòi hỏi khách quan và thực tiễn cụ thể, do đó chúng vừa có tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù Có thể nói học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác chỉ được thể hiện với tư cách một hệ thống có đầy đủ nội dung rõ ràng, chính xác
và toàn diện trong tác phẩm ”Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” do C.Mác và Ph.Ăngghen viết năm 1848 Với tác phẩm này, các ông đã luận chứng một cách khoa học về mặt lý luận và thực tiễn để chỉ ra bản chất thực sự của cuộc đấu tranh giai cấp do giai cấp vô sản tiến hành và cũng chỉ khi xây dựng hoàn chỉnh và đầy đủ học thuyết về đấu tranh thì các ông mới hoàn thành được
sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng giai cấp vô sản đồng thời giải phóng toàn thể xã hội Trong tiến trình lịch sử, sự ra đời của chế độ tư hữu đã dẫn đến sự xuất hiện giai cấp trong
xã hội và sự phân cấp về địa vị trong hệ thống sản xuất xã hội đó Trong xã hội có giai cấp , giai cấp thống trị người nắm giữ toàn bộ TLSX của xã hội, sẽ chiếm đoạt lao động của các giai cấp
và tầng lớp bị trị, chiếm đoạt lao động mà còn bị áp bức về chính trị, xã hội, tinh thần Không có
sự bình đẳng giữa hai giai cấp: thống trị và bị trị Giai cấp bóc lột bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện để bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố kinh tế xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp Công cụ chủ yếu là quyền lực nhà nước Lợi ích
cơ bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến đấu tranh giai cấp Có áp bức thì có đấu tranh chống áp bức Vì vậy đấu tranh giai cấp không do một lý thuyết xã hội nào tạo ra mà là hiện tượng tất yếu
Ở Việt Nam, đấu tranh giai cấp trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH hiện nay cũng là một tất yếu trong xã hội có giai cấp
I Cơ sở khoa học
Trang 31 Lý luân chủ nghĩa Mác- Lenin về giai cấp và đấu tranh giai cấp
1.1 Giai cấp
Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, V.I.Lênin định nghĩa : “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
1.2 Đấu tranh giai cấp
Trong XH có giai cấp tất yêu nảy sinh đấu tranh giai cấp V.I Lênin đã định nghĩa đấu tranh giai cấp là: “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám; cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống lại những hữu sản hay giai cấp tư sản” Thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị
áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, những
kẻ đi áp bức bóc lột Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi XH có giai cấp, là động lực cơ bản của sự phát triển XH có các giai cấp đối kháng Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính XH hóa ngày càng sâu rộng của LLSX với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự đối lập về địa vị và lợi ích giữa các giai cấp Đấu tranh giai cấp xảy ra khi có mâu thuẫn giữa LLSX mới với QHSX lỗi thời, từ đó thúc đẩy sự phát triển của LLSX
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến CMXH, xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, CSKT cũ, kiến trúc thượng tầng cũ, đưa XH phát triển lên một hình thái kinh tế-xã hội mới cao hơn đó là XH không còn giai cấp Dựa vào tiến trình phát triển lịch sử C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chứng minh rằng đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là CMXH CMXH là đòn bẩy thay đổi các hình thái
KT-XH Đấu tranh giai cấp góp phần xóa bỏ các thế lực phản động, lạc hậu, đồng thời góp phần cải tạo cả bản thân giai cấp CM Giai cấp nào đại biểu cho phương thức sản xuất mới, giai cấp đó sẽ lãnh đạo CM
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân
“Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình
Trang 4công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay” Trong mỗi thời kỳ chuyển biến cách mạng lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn luôn có một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, đóng vai trò là động lực chủ yếu và là lực lượng lãnh đạo quá trình cách mạng đó Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, lực lượng sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất tiên tiến, đại biểu cho xu hướng phát triển của xã hội tương lai, do vậy về mặt khách quan nó có nhiệm vụ xoá bỏ xã hội cũ, tổ chức, lãnh đạo, xây dựng xã hội mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Nhiệm vụ này do chính địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó quyết định Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là: Xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và tiền
tư bản chủ nghĩa; từng bước xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa; xoá bỏ áp bức bóc lột; giải phóng mình đồng thời giải phóng toàn nhân loại Đó là nội dung cơ bản bao trùm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản phát triển của lịch sử Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động xung quanh mình, tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng nhằm xoá bỏ xã hội cũ
và xây dựng xã hội mới về mọi mặt Con đường để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình đó chính là phải tiến hành cuộc cách mạng không ngừng và triệt để qua hai giai đoạn: Một là, lật đổ giai cấp tư sản giành lấy chính quyền, thiết lập nền chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân Hai là, sử dụng chính quyền mới làm công cụ cải tạo xã hội cũ, tập hợp quần chúng nhân dân lao động xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản
Địa vị kinh tế - xã hội khách quan còn tạo ra những đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân Chính những đặc điểm này đã tạo ra khả năng để giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình Những đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân gồm:
- Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng
- Thứ hai, giai cấp công nhân là giai cấp có tính cách mạng triệt để Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng, tất cả các giai cấp khác đều là những tầng lớp trung đẳng Đó là do giai cấp công nhân không gắn với tư hữu, do vậy, họ kiên định trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới”
- Thứ ba, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao
- Thứ tư, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đều có chung một mục đích là giải phóng mình đồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà chúng
Trang 5đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vì vậy mà giai cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình Dựa vào đặc điểm này, C.Mác - Ph.Ăngghen nhấn mạnh: trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” V.I Lênin sau này cũng khẳng định: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”
3. Quan điểm HCM về giai cấp và quan hệ giai cấp-dân tộc
Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp
là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn là sự phát triển sáng tạo và có giá trị định hướng rất cơ bản Qua thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn bám sát đặc điểm thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm các nước khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin; đó cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng nước ta trong suốt bảy thập kỷ qua Bởi lẽ:
- Một là, cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công triệt để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng
vô sản Cuộc cách mạng đó phải đưa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ, nếu chỉ đưa vào lực lượng của riêng giai cấp công nhân, thậm chí cả giai cấp nông dân là hoàn toàn không đủ, mà theo Người, chỉ có phát động cả dân tộc tham gia mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch
- Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu thuẫn địa chủ - nông dân, mâu thuẫn tư sản - vô sản) không tách rời cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm lược Ở giai đoạn đầu của cách mạng, cần đặt vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc lên trên hết ''Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của
bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được'' ''Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc''
- Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc như ''hai cánh của một con chim'', phải thực hiện sự liên minh giữa vô sản ở chính quốc với vô sản và nhân dân các nước thuộc địa thì cách mạng mới thắng lợi Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng
vô sản ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản
Trang 6- Bốn là, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang, khỏi chế độ thuộc địa, dân tộc vừa được giải phóng phải quá độ lên CNXH và trong bước quá độ
ấy phải tự mình tìm tòi con đường, phương thức riêng phù hợp với tình hình và đặc điểm đất nước, tránh giáo điều, dập khuôn những hình thức, bước đi, biện pháp của nước khác
Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn
về vấn đề này
4/ Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh không chỉ truyền bá, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất cho toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết dân tộc:
4.1.Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược
Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước đã không đoàn kết được thành một khối thống nhất Vì vậy, Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm coi sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của nhân dân: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"
4.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng
Đối với Hồ Chí Minh, yêu nước phải thể hiện thành thương dân, không thương dân thì không thể có tinh thần yêu nước Dân ở đây là số đông, phải làm cho số đông đó ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống tự do, hạnh phúc Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Trang 74.3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm Dân, có nội hàm rất rộng Người dùng các khái niệm này để chỉ "mọi con dân nước Việt", "con Rồng cháu Tiên", không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu, nghèo Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung
4.4 Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ chức là Mặt trận dân
tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta
Chưa hết, tư tưởng về đoàn kết còn được Bác nhắc nhở trước lúc đi xa Trong di chúc của
mình nội dung đầu tiên Người đề cập, trước hết nói về Đảng và Người khẳng định:“nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, cho nên từ ngày tháng lập Đảng đến nay Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” .Tiếp theo của đoàn kết trong Đảng, Người nói
về đoàn kết quốc tế: “ Quan san muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”
Sự đoàn kết này phải được xây dựng trên một cơ sở nền tảng đó là, chủ nghĩa Mác-Lênin
và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, thuỷ chung, có lý có tình Tất cả giai cấp vô sản thế giới đoàn kết một lòng ắt đưa cách mạng đi đến thắng lợi
II Cơ sở thực tiễn
1 Thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới
Năm 1776, từ một nước vốn là thuộc địa của Anh, nước Mỹ giành được độc lập và nhanh chóng tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa Đến nửa cuối thế kỉ XIX, nước Mỹ phát triển mạnh
mẽ, kéo theo sự xuất hiện của nhiều thành phố lớn, nổi bật là thành phố Chi-ca-gô Với vai trò là trung tâm công nghiệp của Mỹ, tốc độ và thời gian lao động của công nhân Chi-ca-gô luôn được đẩy tới mức cao nhất Công nhân thường phải làm việc từ 14 đến 18 giờ trong một ngày, bất kể
là nam hay nữ Không những thế, trẻ em cũng phải làm việc tới 12 giờ một ngày v.v Đó là nguyên nhân chủ yếu nổ ra các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giới chủ
Trang 8Với tinh thần đấu tranh bền bỉ, đến trước thời điểm ngày 1-5-1886, công nhân nhiều nơi trên nước Mỹ đã được hưởng chế độ ngày làm việc 8 giờ Đến ngày 1-5-1886, do yêu cầu ngày làm việc 8 giờ không được giới chủ thực hiện một cách đầy đủ, ngay lập tức, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tiến hành bãi công gây áp lực buộc giới chủ phải thực hiện yêu sách của mình Khắp nơi, công nhân biểu tình mang theo khẩu hiệu: “Từ hôm nay trở đi, không người thợ nào phải làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ học tập!” Ngọn lửa đấu tranh của giai cấp công nhân lan truyền nhanh chóng làm cho xã hội Mỹ rơi vào tình trạng hỗn loạn Nhưng mạnh mẽ nhất, sôi động nhất là cuộc đấu tranh của công nhân ở thành phố Chi-ca-gô Trong ngày 1-5-1886, khoảng 40.000 công nhân Chi-ca-gô đã nghỉ việc ra đường biểu tình, đòi ngày làm việc 8 giờ Nhằm ngăn chặn làn sóng đấu tranh của công nhân Chi-ca-gô, giới chủ Mỹ đã cho báo chí đưa tin đe dọa: “Nhà tù và lao động khổ sai mới là biện pháp duy nhất có thể dùng được để giải quyết vấn đề xã hội” Nhưng hành động đó không thể dập tắt được khí thế đấu tranh của giai cấp công nhân, mà ngược lại càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giới chủ
Chiều ngày 3-5-1886, khoảng 8.000 công nhân bãi công đã đứng chờ ở cửa nhà máy Mắc-coóc-ních, để phản đối những kẻ chiếm gỗ của công nhân Đối phó với cuộc biểu tình, giới chủ nhà máy đã câu kết với cảnh sát đàn áp công nhân làm 6 người bị chết và hơn 50 người bị thương Hành động đàn áp dã man của giới chủ càng làm cho lòng căm phẫn của giai cấp công nhân dâng lên cao độ Theo lời kêu gọi của các thủ lĩnh công đoàn, 15.000 công nhân đã tiến hành cuộc mít-tinh phản đối sự khủng bố của thế lực cầm quyền và giới chủ Lợi dụng cơ hội này, giới chủ đã ném một quả bom vào lực lượng cảnh sát làm bị chết và bị thương một số người; đồng thời, hạ lệnh xả súng vào đoàn biểu tình, gây ra một trong những thảm kịch đau lòng nhất trong lịch sử giai cấp công nhân thế giới Nhiều công nhân đã bị chết và bị thương, một số thủ lĩnh công đoàn bị bắt và xử tử
Mặc dù chịu nhiều đau thương, mất mát, nhưng cuộc đấu tranh ngày 1-5-1886 mang lại nhiều
ý nghĩa to lớn Sau sự kiện này, 185.000 công nhân, đặc biệt là công nhân ngành xây dựng được thực hiện chế độ ngày làm việc 8 giờ Thắng lợi đó không chỉ động viên phong trào đấu tranh của công nhân Mỹ mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào công nhân toàn thế giới Ngày 20-6-1889, ba năm sau “thảm kịch” Chi-ca-gô, dưới sự chủ trì của Ph.Ăng-ghen, Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Cộng sản lần thứ II nhóm họp tại thủ đô Pa-ri (Pháp) nhân kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tư sản Pháp (ngày 14-7), đã quyết định lấy ngày 1-5 hàng năm là ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của giai cấp vô sản các nước Từ đó, ngày 1-5 trở thành ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới
Năm 1890, nhiều nước trên thế giới đã tổ chức kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động đầu tiên với khí thế rất sôi nổi Tại thủ đô Viên của nước Áo đã có hơn 90 cuộc họp của giai cấp công nhân được tổ chức Tại thủ đô Bu-đa-pét của Hung-ga-ri, hơn 50.000 người đã tham gia cuộc biểu tình, tuyến bố tổng đình công và mang theo những lá cờ đỏ Tại Ru-ma-ni, hơn 3.000 người biểu tình đã tham gia tuần hành Tại Thụy Sĩ, có tới 4.000 người tuần hành thị uy ở thành phố Duy-rích và thành phố Bơn-nơ Tại Hà Lan, nhiều cuộc hội họp của giai cấp công nhân đã diễn ra ngay tại các thành phố lớn như La Hay, Rốt-téc-đam Ở Bồ Đào Nha, 2.000 người đã tụ tập tại
Trang 9mộ Giô-sê Phông-ta-na, người tổ chức ra phong trào đấu tranh xã hội chủ nghĩa Ở các nước Bắc
Âu, 3 tổ chức xã hội chủ nghĩa của Thụy Điển đã nêu ra tuyên bố đòi ngày làm việc 8 tiếng Tại Đan Mạch, cuộc mít-tinh lớn tại Cô-pen-ha-gen thu hút 3.000 người tham dự v.v
2 Thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam 2.1 Khái quát về sự hình thành phong trào công nhân Việt Nam
- Công nhân Việt Nam ra đời tương đối sớm (trước tư sản) đây là nét độc đáo Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ngày càng tăng về số lượng năm 1929
là 22 vạn, sống tập trung trong các thành phố, các đồn điền
- Trong cuộc khai thác thuộc địa lần 2 điều kiện làm việc và đời sống công nhân càng bấp bênh và cơ cực, chính vì điều này cùng với lòng yêu nước khiến cho phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ
2.2 Quá trình phát triển từ “tự phát” lên “tự giác”
Quá trình phát triển từ “tự phát” lên “tự giác” có thể được chia thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: Các phong trào đấu tranh lẻ tẻ, rời rạc và thường đòi quyền lợi kinh tế với các hình thức đấu tranh: phá máy móc, đánh quản lý, bỏ trốn tập thể…
- Từ sau 1919 phong trào có một số nét mới, đánh dấu bằng các sự kiện sau:
• 1919 công nhân Hải Phòng đòi tăng lương, phản đối việc đưa binh lính sang đàn áp cách mạng
• 1920 công nhân Bắc kỳ đòi nghĩ ngày chủ nhật có lương
• 11/1922 bãi công của công nhân nhuộm Chợ Lớn
• 1923 nhiều cuộc bãi công ở HN, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định
• Đáng chú ý nhất công nhân dần được tổ chức với việc xuất hiện “công hội đỏ” do Tôn Đức Thắng lãnh đạo và cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925) đã tạo tiếng vang lớn đánh dấu “thời đại mới” của phong trào công nhân Việt Nam Phong trào này không chỉ nhằm vào quyền lợi kinh tế mà có ý thức chính trị: ngăn cản tàu chiến Pháp sang đàn áp cách mạng Trung Quốc
Trang 10Nhìn chung phong trào công nhân từ 1919 – 1925 có nhiều bước tiến mới, song vẫn có 1 số hạn chế (phân tán, nặng về đấu tranh kinh tế, chưa thấy vị trí và vai trò của giai cấp mình…)
- Thời kỳ 1925 – 1929
• Do tác động của cách mạng TQ, đại hội V của Quôc tế cộng sản đã thúc đẩy phong trào công nhân trong nước
• 1926 – 1927 có nhiều cuộc bãi công của công nhân lớn nhất là phong tròa ở Nam Định, ở đồn điền cao su Phú Riềng, Cam Tiên…
• 1928 – 1929 đánh dấu bước phát triển về số lượng và chất lượng, có hơn 40 cuộc bãi công của công nhân từ Nam – Bắc: bãi công ở nhà máy sợi Hải Phòng, nhà máy ôtô Hà Nội, nhà máy cưa Bến Thủy, nhà máy Bason, …
Nhìn chung phong trào công nhân 1925 – 1929 nổ ra liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ, các khẩu hiệu nâng lên từ đòi quyền lợi kinh tế có ý thức về chính trị Trước sự phát triển của phong trào cần có 1 chính đảng đủ sức lãnh đạo cách mạng đặt ra cấp thiết Đó là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa đảng “Tân Việt”, cùng với sự ra đời của 3 tổ chức Đảng (cuối 1929) Cuối cùng 3 tổ chức cộng sản hợp nhất lại thành Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930) Sự kiện Đảng Cộng Sản ra đời đánh dấu bước phát triển của phong trào công nhân từ “tự phát” lên “tự giác” Công nhân đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng
III/ Phân tích những quan điểm mới của Đảng ta về đấu tranh giai cấp và động lực chủ yếu để phát triển đất nước
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 đã phác họa mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng với sáu đặc trưng Đại hội lần thứ X bổ sung, phát triển, làm cho mô hình CNXH đang được xây dựng ở nước ta toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn Đó là:
"Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công,
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triểntoàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới"
Mô hình CNXH nêu trên thể hiện quan điểm Mác - Lê-nin về CNXH Một mặt, lấy phục vụ con người làm mục đích, tức là "tất cả vì con người" Mặt khác, lấy việc phát huy sức mạnh của con người làm động lực chủ yếu để xây dựng thành công CNXH, tức là "tất cả do con người" Đồng thời, mô hình trên cũng thể hiện sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH
Mô hình ấy biểu hiện như một kết cấu tổng thể, ổn định tương đối, nó không phải là một mô hình