QUAN ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HỆN ĐẠI HÓA GẮN LIỀN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.. Bêncạnh đó, nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,c
Trang 1QUAN ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HỆN ĐẠI HÓA GẮN LIỀN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I KHÁI NIỆM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA , KINH TẾ TRI THỨC.
Trong những năm 1986-1988, nước ta xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, khi lạm phát lên tới mức “phi mã”(3 con số) 700%, nhữngcơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầmchừng, thậm chí phải đóng cửa; bội chi ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt;tiền lương thực tế giảm khiến cho đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng,khó khăn chồng chất khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua Trong khi đó, công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô- người anh của chủ nghĩa xã hộitrên thế giới- đang ngày càng đi vào con đường
bế tắc Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta Bêncạnh đó, nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,cơ sở vật chất- kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, chưa được hoàn thiện, sản xuất nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ yếu.Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại chính
là con đường duy nhất để đất nước ta có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại Có tiến hành công nghiệp hóa thì chúng ta mới:xây dựng được cơ sở vật- chất kỹ thuật chochur nghĩa xã hội
1 Công nghiệp hoá
- công nghiệp hóa là quá trình biến đổi xã hội và kinh tế từ một xã hội nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), trong đó tích lũy tư bản trên đầu người rất thấp, lên xã hội công nghiệp Đó là một bộ phận của quá trình hiện đại hóa rộng lớn hơn Quá trình biến đổi xã hội và kinh tế đó gắn liền với quá trình đổi mới công nghệ, nhất là các cuộc cách mạng kỹ thuật
Quá trình đó liên quan với quá trình biến đổi hành chính, chính trị, ý thức
tư tưởng và mọi mặt của đời sống xã hội loài người
Trang 2Công nghiệp hóa bắt đầu ở Anh vào cuối thế kỉ 18, tiếp theo là Pháp vào đầu thế kỉ 19 Sau đó tới giữa thế kỉ 19, là Đức và Hoa kì Tiếp đến là Nhật bản vào thập niên 70 thế kỉ 19 Nga và nhiều nước châu âu khác vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20
Còn ở nước ta thì tới tháng 9-1960, trong đại hội III của Đảng thì đường lối công nghiệp ở nước ta được hình thành
Hiện đại hóa (modernization) là một quá trình thường được hiểu là quá trình biến đổi xã hội thông qua công nghiệp hóa, đô thị hóa và những biến đổi xá hội khác nhằm làm thay đổi cuộc sống con người Đó là quá trình biến đổi xã hội từ trình độ nguyên sơ lên trình độ phát triển và văn minh ngày càng cao Hội nghị trung ương lần 7 khóa tháng 1- 1994) đã có bước VII (đột phá mới trong quá trình nhận thức về khái niệm CNH, HĐH :” CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động dản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và quản lí kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo ra năng suất lao đông xã hội cao.”
-mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa: cải biến nước ta thành một nước có cơ sở vật chất – kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng-an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công băng, văn minh
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, Đại hội XI còn đề ra những mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường đến năm 2020: GDP năm
2020 bằng khoảng 2,2 lần so với 2010, GDP bình quân đầu người khoảng 3,5 lần so với năm 2010, tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng
85 % trong GDP, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 30 - 35 % lao động xã hội, chỉ số phát triển con người HDI đạt nhóm trung bình của thế giới, tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, lao động qua đào tạo đạt từ 70 %, đào tạo nghề đạt 55 % tổng lao động xã hội, số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân Điểm mới
Trang 3trong văn kiện Đại hội XI là Đảng đã đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu về bảo vệ môi trường: Đến năm 2020 tỉ lệ che phủ rừng đạt 45 %, hầu hết dân cư ở cả thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch, trên 80 % các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường
-quan điểm công ghiệp hóa hện đại hóa:
+ một là, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
+ hai là công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
+ba là lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
+ bốn là khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa hiện đại hóa
+ năm là phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn
đa dạng sinh học
Quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh: Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, trong đấu tranh giành chính quyền cần trí thức, kháng chiến, kiến quốc cần trí thức, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội càng cần trí thức hơn, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định'' Đội ngũ cán bộ khoa học, đặc biệt là cán bộ có trình
độ khoa học cao là vốn quý báu của dân tộc”9
Ngay từ Đại hội VIII - Đại hội xác định nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng đã chỉ rõ: Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa Văn kiện Đại hội III yêu cầu: Phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học phục vụ việc xác định phương hướng, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình kinh
tế xã hội
Trang 4Trong văn kiện Đại hội XI từ đổi mới mô hình tăng trưởng đến phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững Đảng ta đều chú trọng làm nổi bật vị trí, vai trò của trí thức Đảng ta khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước10
Vậy h chúng ta sẽ xem xét xem kinh tế tri thức là gì, là như thế nào mà quan trọng như vậy
2 Kinh tế tri thức
- kinh tế tri thức là gì?
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) : Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn đến sự phát triển là các ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa nhiều vào các thành tựu mới của khoa học công nghệ Đó là các ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao như công nghệ thông tin( với đại diện tiêu biểu là công ty cổ phần viễn thông FPT trực thuộc tập đoàn FPT), công nghệ sinh học và các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng công nghệ cao -nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức:
+ phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại
+ Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế xã hội
Trang 5+ Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lí theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ
+ giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là những ngành lĩnh vực có sức cạnh tranh cao
-Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức:
+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Một là về công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Hai là về quy hoạch và phát triển nông thôn
Ba là về giải quyết lao động việc làm ở nông thôn
+ Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Một là đối với công nghiệp và xây dựng
Hai là đối dịch vụ
+ Phát triển kinh tế biển
+ chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ
Một là phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm đến năm 2010 có nguồn nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao, tỷ lệ lao động trong khu vực lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm dưới 50%
Hai là phát triển khoa học công nghệ phù hợp với xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ
Ba là kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo
Bốn là đổi mới cơ bản cơ chế quản lí khoa học và công ngệ
+ Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên
Một là tăng cường quản lí tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất nước, khoáng sản, rừng
Hai là từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn
Trang 6Ba là xủ lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững
Bốn là mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, chú trọng lĩnh vực quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước
Tri thức rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Bởi vì mọi việc mà chúng ta làm đều phụ thuộc vào tri thức một cách đơn giản là để sống, chúng ta phải biến đổi nhũng nguồn lực mà chúng ta có thành đồ vật mà chúng ta cần và điều đó cần phải có tri thức
+Trong lao động sản xuất, con người phải nắm bắt, nhận thức được đối tượng lao động và công cụ lao động để dùng những tri thức đó tạo ra vật chất, những tri thức về xã hội sẽ giúp con người phát triển quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất từ đó tạo ra sự phát triển về phương thức sản xuất
+ trong chính trị- xã hội, con người sử dụng những tri thức của mình để tạo
ra một xã hội ổn định hòa bình, văn minh, đời sống văn hóa tinh thần, không ngừng được nâng cao
Tóm lại, xã hội muốn phát triển được thì cần phải có tri thức, tri thức là chìa khóa để phát triển sản xuất, phát triển xã hội
II KẾT QUẢ, Ý NGHĨA, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1 Kết quả và ý nghĩa
-Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn của công nghiệp hóa , hiện đại hóa như sau :
+ Một là cơ sở vật chất – kỹ thuật của đất nước tăng cường đáng kể, khả năng độc lập tự chủ được nâng cao
năm 2010 nước ta đã vượt qua ngưỡng nước nghèo, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình
Ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản, khai thác và hóa dầu đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ
Trang 7ngành xây dựng tăng trưởng nhanh, bình quân thời kì 2001-2005 đạt 16,7%/ năm
Nhiều công trình quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng theo hướng hiện đại như sân bay, cảng biển, đường bộ, cầu cống,… và đặc biệt nước nước ta đã thông qua dự án xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân là nhà máy điện hạt nhân Ninh thuận I với sự giúp đỡ hợp tác của Nga và nhà máy điện hạt nhân Ninh thuận II với sự thỏa thuận hợp tác của Nhật Bản công trình dự tính sẽ khởi công vào thang 12 năm 2014 và hoàn thanh năm 2022, phát điện vào vào cuối năm 2020 Nhà máy đi vào vận hành sẽ góp 4000MW điện vào lưới điên quốc gia, khắc phục đáng kể tình trạng thiếu điện hiện nay
Ngoài ra nước ta đã phóng được 2 vệ tinh là vinasat 1 và 2 2 vệ tinh đã cung cấp dịch vụ đường truyền vệ tinh để phát triển các dịch vụ ứng dụng như dịch vụ thoại, truyền hình, thông tin di động, truyền số liệu, Internet, các dịch vụ đào tạo và y tế từ xa, truyền tin cho ngư dân trên biển, dự báo thời tiết, đảm bảo
an ninh quốc phòng Đặc biệt cung cấp đường truyền thông tin cho các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, bão lụt, đường truyền cho các vùng sâu, vùng xa, hải đảo mà các phương thức truyền dẫn khác khó vươn tới được
Ngoài ý nghĩa kinh tế, việc phóng vệ tinh Vinasat-1 còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong không gian vào nâng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Nhờ đó, Việt nam trở thành nước thứ 93 trên thế giới và nước thứ 6 trong khu vực đông nam Á có vệ tinh riêng bay vào quỹ đạo[2]
+ Hai là cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những kết quả nhất định :
2000-2010, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,7% lên 41,1%
Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 24,5% xuống 21,6%
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân 5%/năm thời
kỳ 2006-2010, trong đó nông nghiệp tăng 4,2%; lâm nghiệp tăng 3,1%; thuỷ sản tăng 8% Kết quả sản xuất một số sản phẩm chủ yếu thời kỳ 2006-2010 như sau:
Trang 8- Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 44,6 triệu tấn, tăng 12,3% so với năm 2006, tương đương 4,9 triệu tấn Bình quân mỗi năm thời kỳ 2006-2010 sản lượng lương thực tăng 2,4% (trong đó sản lượng lúa tăng 2,2%/năm) Sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và nâng cao lượng xuất khẩu
- Diện tích lúa năm 2010 ước tính đạt 7513,7 nghìn ha, tăng 2,6% so với năm
2006, tương đương 188,9 nghìn ha Bình quân thời kỳ 2006-2010, diện tích lúa tăng 0,5%
- Thời kỳ 2006 -2010, mô hình chăn nuôi quy mô lớn theo hướng sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao được phát triển mạnh Tại thời điểm 01/7/2010, cả nước có 23558 trang trại chăn nuôi, tăng 42% so với năm 2006 Tại thời điểm 01/10/2010, đàn lợn cả nước tăng 1,9% so với cùng thời điểm năm 2006; đàn trâu giảm 0,3%; đàn bò giảm 9,1%; đàn gia cầm tăng 40% Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010, đàn lợn giảm 0,04%; đàn trâu giảm 0,06%; đàn bò tăng 1,32%; đàn gia cầm tăng 6,4%
- Sản xuất lâm nghiệp đã có sự phát triển nhanh theo hướng chuyển từ khai thác sang xây dựng vốn rừng là chủ yếu và đầu tư theo các chương trình, dự án, giao đất lâm nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình Trong thời kỳ 2006- 2010, bình quân mỗi năm diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 215 nghìn ha, tốc độ tăng đạt 7,3%/năm Sản lượng gỗ khai thác giai đoạn 2006-2010 bình quân đạt
tự nhiên sang khai thác từ rừng trồng là chủ yếu
- Sản xuất thủy sản tuy gặp không ít khó khăn trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO và việc áp dụng thuế chống bán phá giá hàng thủy sản của Mỹ Nhưng đây vẫn là sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của nước ta Sản lượng thủy sản năm 2010 ước tính tăng 37,8% so với năm 2006, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010, sản lượng thủy sản tăng 8,1% Cơ cấu sản lượng thủy sản thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng sản lượng nuôi trồng từ 45,5% năm 2006 lên 52,8% năm 2010
Trang 9Cơ cấu kinh tế vùng đã có sự điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu
cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực : 2001-2005, tỷ trọng lao động trong công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% lên 17,9% ; dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3% ;
2 Dân số, lao động
Dân số trung bình cả nước năm 2010 tăng 4,34% so với năm 2006, tương đương 3,62 triệu người Bình quân thời kỳ 2006-2010, mỗi năm dân số trung bình tăng 1,08% Tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 27,66% năm 2006 lên 29,92% năm 2010 Tỷ lệ giới tính khi sinh năm 2006 là 109,8 trẻ em trai/100 trẻ em gái; năm 2007 là 111,6/100; năm 2008 là 112,1/100; năm 2009 là 110,5/100 và năm
2010 là 111,2/100 Tỷ lệ giới tính năm 2006 là 96,89 nam/100 nữ, tỷ lệ này tăng lên 97,7 nam/100 nữ trong năm 2010
Cơ cấu lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các khu vực kinh tế có
sự chuyển dịch đáng kể và theo hướng tích cực từ năm 2006 đến 2010, trong đó
cơ cấu lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 55,4% năm 2006 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 19,3% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng từ 25,3% lên 29,4% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị giảm từ 4,82% năm 2006 xuống 4,43% năm 2010
+Ba là góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân từ 2000-2005 đạt trên 7,51%/năm, các năm 2010
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2006 đạt 8,23%, năm
2007 đạt 8,46%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32% và năm 2010 ước tính đạt 6,78% Bình quân thời kỳ 2006-2010, tăng trưởng kinh tế đạt 7,01%/năm, trong đó bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; bình quân giai
Trang 10đoạn 2008-2010 đạt 6,14% do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế thế giới Tăng trưởng ba khu vực kinh tế như sau:
- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,34%/năm thời kỳ
2006-2010, trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 3,72%; giai đoạn 2008-2010 tăng 3,09%
- Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,94%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 10,30%; giai đoạn 2008-2010 tăng 6,40%
- Khu vực dịch vụ tăng 7,73%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 8,57%; giai đoạn 2008-2010 tăng 7,17%
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tăng từ 11694 nghìn đồng năm 2006 lên 22778 nghìn đồng năm 2010, gấp gần 2 lần, tương đương 11084 nghìn đồng Nếu tính theo USD (Theo tỷ giá hối đoái bình quân năm), tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tăng từ 730 USD năm 2006 lên 1168 USD năm 2010, gấp 1,6 lần, tương đương 438 USD
3 Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 năm 2010 tăng 63,2%
so với năm 2006 Bình quân trong thời kỳ 2006-2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 tăng 13,8%/năm (Công nghiệp khai thác mỏ tăng 0,3%; công nghiệp chế biến tăng 15%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 12,1%), trong đó giai đoạn 2006-2007 tăng 16,8%/năm (Công nghiệp khai thác mỏ giảm 1,7%; công nghiệp chế biến tăng 19%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 11,1%); giai đoạn
2008-2010 tăng 11,8%/năm (Công nghiệp khai thác mỏ tăng 1,6%; công nghiệp chế biến tăng 12,4%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 12,8%)
4 Giáo dục phổ thông
Số trường phổ thông năm học 2010-2011 tăng 4% so với năm học
2006-2007 Bình quân mỗi năm giai đoạn 2006-2010, số trường phổ thông tăng