Từ việc luận giải một cách khoa học vấn đề dân tộc, Mác - Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, từ đó nêu lên những tư tưởng về đoàn kết
Trang 1BÀI TẬP LỚN
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH PHÂN TÍCH LUẬN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH:
“ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT – DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT, SÔNG CÓ THỂ CẠN NÚI CÓ THỂ MÒN, SONG HÂN LÝ ẤY KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Đức
MSV: CQ530916
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
A CHỦ NGHĨA MÁC:
B CHỦ NGHĨA LÊNIN
PHẦN II: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
A KINH TẾ
B CHÍNH TRỊ
C VĂN HÓA – XÃ HỘI
PHẦN III: THỰC TIỄN VIỆT NAM
A THỰC TIỄN THẾ GIỚI
B THỰC TIỄN VIỆT NAM
PHẦN IV: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT PHẦN V: TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CÂU NÓI
Trang 3NỘI DUNG PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
A CHỦ NGHĨA MÁC:
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ nhất cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII đã chính thức đưa thế giới bước vào thời kỳ tư bản chủ nghĩa Lúc này, chế độ phong kiến với những lãnh địa cát cứ vốn là đặc trưng của các quốc gia thời Trung cổ không còn phù hợp để tồn tại nữa Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã khiến cho nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho các quốc gia dân tộc xuất hiện
Bằng những tài liệu khảo cổ học của Moocgan, Mác - Ăngghen đã nghiên cứu xã hội cổ đại cũng như chỉ ra tiến trình hình thành của các dân tộc nói chung
Đối với các ông, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Nếu như trong cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ), quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ), những quan hệ tộc người xen với những quan hệ chính trị - xã hội Khi xã hội bước vào thời kỳ có sự phân chia rõ rệt hơn về giai cấp và kế đó là sự xuất hiện của nhà nước thì cộng đồng bộ tộc ra đời Ở cộng đồng bộ tộc có sự gắn bó chặt chẽ giữa sự
cố kết bộ tộc với sự hình thành, củng cố quốc gia Đến khi dân tộc ra đời thì mối quan
hệ giữa dân tộc và quốc gia đã chuyển lên một hình thức cao hơn Thông thường, những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia - chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau
Từ việc luận giải một cách khoa học vấn đề dân tộc, Mác - Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, từ đó nêu lên những
tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong việc tập hợp lực lượng cách mạng để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội mới - xã hội
xã hội chủ nghĩa
Trước hết, Mác - Ăngghen cho rằng chỉ có dựa trên lập trường của giai cấp công nhân, vấn đề dân tộc và các quan hệ dân tộc mới được giải quyết đúng đắn Bởi vì xét
về nguồn gốc thì “các dân tộc hiện nay cũng là sản phẩm của những giai cấp bị áp bức”1 Ăngghen nói: “Không một dân tộc nào có thể trở thành tự do trong khi còn tiếp tục áp bức những dân tộc khác”2
Vì thế, giải quyết vấn đề giai cấp gắn bó chặt chẽ với vấn đề dân tộc trong công cuộc thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mác và Ăngghen từng nêu luận điểm nổi tiếng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (năm 1848): “Hãy xóa bỏ tình trạng
Trang 4người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”3 và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”4
Do đó, các ông đã khẳng định đoàn kết giữa giai cấp vô sản và những giai tầng bị áp bức, bị bóc lột là tất yếu để tập hợp lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và các thế lực áp bức, bóc lột Đặc biệt, khi
giai cấp tư sản và các thế lực áp bức, bóc lột liên minh, liên kết với nhau chống phong trào cách mạng, các giai cấp, tầng lớp lao động bị áp bức muốn giải phóng được cho mình thì phải đoàn kết, liên minh lại với nhau, đoàn kết với giai cấp vô sản, tạo nên một mặt trận cách mạng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Bởi vì, “thắng lợi của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản đồng thời còn là dấu hiệu giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức”5 Thêm vào đó, trong phạm vi một quốc gia thì đoàn kết giữa các giai cấp cũng sẽ là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề dân tộc Các ông chứng minh: “Cuộc cách mạng Cra-cốp đã nêu một tấm gương chói lọi cho toàn thể châu Âu
vì nó đã coi sự nghiệp dân tộc và sự nghiệp dân chủ cũng như công cuộc giải phóng giai cấp áp bức là một”6
“Sự liên minh ấy là một tất yếu không tránh khỏi, bắt nguồn từ những lợi ích chung của cả hai dân tộc”7 Các ông nói rõ sự thống nhất về lợi ích chính là cơ sở để làm nên sự thống nhất giữa vấn đề đoàn kết dân tộc và đoàn kết giai cấp: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có những lợi ích chung Muốn cho những lợi ích của họ trở thành lợi ích chung thì những quan hệ sở hữu hiện có phải bị thủ tiêu, bởi lẽ những quan hệ sở hữu hiện tạo điều kiện cho một số dân tộc này bóc lột một số dân tộc khác; chỉ có giai cấp công nhân là thiết tha với việc thủ tiêu những quan hệ sở hữu hiện tồn Duy chỉ có mình nó mới có thể làm được việc này Giai cấp
vô sản chiến thắng giai cấp tư sản đồng thời còn có nghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột dân tộc và xung đột công nghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc”8
Ăngghen còn cho rằng sự đoàn kết này trước hết phải dựa trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc: “Bởi lẽ t ình cảnh của công nhân tất cả các nước đều giống nhau, bởi lẽ lợi ích của họ thống nhất, những
kẻ thù của họ cùng là một, cho nên họ cần hiệp lực đấu tranh chung và họ cần đem liên minh anh em của công nhân tất cả các dân tộc đối lập với cái liên minh anh em của giai cấp tư sản tất cả các dân tộc”9
Bên cạnh đó, đoàn kết phải dựa trên cơ sở hiểu biết và tương trợ lẫn nhau: “Ngoài việc trao đổi ý kiến và đạt tới một sự hiểu biết lẫn nhau về các nguyên tắc sẽ có thể phục vụ cho việc đoàn kết và tình hữu ái giữa các dân tộc”10 Hơn nữa, “Việc đoàn kết những người dân chủ thuộc các dân tộc khác nhau không loại trừ sự phê bình lẫn nhau Không thể có đoàn kết nếu không có sự phê bình như vậy Không có phê bình thì không có sự hiểu biết lẫn nhau, và do đó cũng không có sự đoàn kết”11
Mục đích cao nhất của đoàn kết dân tộc đã được các ông khẳng định trong Thông báo của Ban Tổ chức về việc triệu tập Đại hội Công nhân xã hội chủ nghĩa quốc tế là
Trang 5“Mong muốn giải phóng lao động, tiêu diệt chế độ nô lệ làm thuê và thiết lập một chế
độ xã hội trong đó toàn thể công nhân, không phân biệt nam, nữ và dân tộc, đều có quyền hưởng những của cải do lao động chung của họ làm ra”12 Ở đoạn khác, các ông viết: “Mục đích của chúng tôi là thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ sẽ đem lại cho mọi người công ăn việc làm lành mạnh và có ích, sự bảo đảm về vật chất, thời giờ nhàn rỗi và tự do đầy đủ thật sự”13
C.Mác, Ph.Ăngghen cũng cho rằng vấn đề đoàn kết, t.hợp lực lượng cách mạng, liên minh các giai cấp, các dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cách mạng Lực lượng của công cuộc cách mạng ấy chính là mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt nam nữ, dân tộc, quốc gia, “đoàn kết, mọi công nhân trong toàn xã hội, tất cả mọi thành viên trong xã hội vào hiệp hội dựa trên sự hiệp tác”
Sức mạnh của khối đoàn kết ấy không chỉ bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản trong giai đoạn giành chính quyền, mà nó còn bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp
vô sản trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Mác viết: “Đứng trước giai cấp phản cách mạng đã liên minh lại thì dĩ nhiên những phần từ đã được cách mạng hóa của giai cấp tiểu tư sản và giai cấp nông dân phải liên minh với người đại biểu cho những lợi ích cách mạng, tức giai cấp vô sản cách mạng”
Trong liên minh ấy, C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ giai cấp vô sản là giai cấp tiên phong có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Bởi vì, đó là giai cấp “trở nên đủ mạnh
để đặt sự vươn mình của toàn dân tộc lệ thuộc vào sự vươn mình của nó, sự tăng cường lợi ích của mọi giai cấp khác lệ thuộc vào sự tiến bộ và sự tăng cường các lợi ích của nó Lợi ích của một giai cấp đó lúc này phải trở thành lợi ích dân tộc, bản thân giai cấp đó lúc này phải trở thành người đại biểu cho dân tộc” Trong đó, “những người cộng sản chiến đấu cho những mục đích và những lợi ích trước mắt của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào”, “về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn hẳn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”17
Điều đó đòi hỏi giai cấp vô sản trong mỗi nước, cũng như giai cấp vô sản ở tất cả các nước phải đoàn kết lại mới có thể giành được thắng lợi C.Mác, Ph.Ăngghen đã
nêu ra khẩu hiệu chỉ đạo chiến lược: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.
Dân tộc là một vấn đề rộng lớn Các Mác, Ph.Ăngghen không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc, vì thời đó ở Tây Âu vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản; hơn nữa, các ông chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về vấn
đề dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh
Tóm lại, những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen trên cả phương diện lý luận và thực tiễn của vấn đề đoàn kết dân tộc là rất quan trọng Các ông đã đặt nền tảng để xây dựng khối liên minh công nông, đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị
áp bức, t.hợp lực lượng, đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới thắng lợi Đó là
Trang 6cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành và xây dựng nên chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
B CHỦ NGHĨA LÊNIN
Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới đã xuất hiện những đặc điểm mới: Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc Sự phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc tạo tiền đề cho cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi
ở một số nước, thậm chí ở một nước
Trong hoàn cảnh đó, Lênin (1870–1924) đã vận dụng sáng tạo và phát triển toàn diện học thuyết của Mác-Ăngghen để giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng
vô sản Lênin đã ra sức bảo vệ lý luận Mác, phê phán không khoan nhượng với mọi loại kẻ thù tư tưởng: Xét lại, cơ hội… Đồng thời, ông chú trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân thế giới, dựa trên những kết quả mới của khoa học, bổ sung, phát triển cơ sở lý luận của Mác-Ăngghen với tinh thần biện chứng duy vật
Trên cơ sở phân tích sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa đế quốc và thực tiễn phong trào của giai cấp công nhân Nga, Lênin đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở ra thời đại mới: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
Những cống hiến vĩ đại của Lênin cả về lý luận và thực tiễn đã góp phần làm cho hệ thống lý luận của Mác, Ăngghen ngày càng hoàn chỉnh Để ghi nhận công lao và những đóng góp to lớn của Lênin, những người cộng sản và giai cấp công nhân quốc
tế trân trọng gọi học thuyết đó là chủ nghĩa Mác-Lênin
Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” gồm 12 luận cương đã quyết định bước ngoặt cách mạng của Hồ Chí Minh Gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là vấn đề sống còn,
là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Nhận thức được nguyên tắc này, mà năm 1924, trong “Lênin và các dân tộc phương Đông” Hồ
Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được”
Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện lịch sử, mà dù thấy được vai trò quan trọng của của cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng Lênin vẫn khẳng định sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc bị lệ thuộc vào sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc: “Nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc
và tình trạng bất bình đẳng
Trang 7PHẦN II: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
A KINH TẾ
Dân tộc ta hình thành tồn tại và phát triển suốt bốn nghìn năm lịch sử, gắn liền với yếu tố đoàn kết cộng đồng dựng nước và giữ nước Để tồn tại và phát triển dân ta phải chống lại thiên tai thường xuyên và liên tục trị thủy các con sông lớn cải tạo và xây dựng đồng ruộng, trồng lúa nước Với nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước chính là văn hóa tạo ra yếu tố đoàn kết cộng động, của những người cùng sống trên một dải đất, có chung một kiểu sinh hoạt và kinh tế
B CHÍNH TRỊ
Do vị trí địa lý - chính trị của mình, nét nổi bật của lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời dựng nước cho đến nay là biết lợi dụng những ưu đãi của thiên nhiên khắc phục những khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời đấu tranh liên tục kiên cường chống ngoại xâm, giành độc lập và bảo vệ độc lập dân tộc Việt Nam là một nước đã chịu đựng nhiều cuộc chiến tranh dai dẳng, dài nhất qua nhiều thời kỳ chống lại kẻ xâm lược mạnh hơn mình nhiều lần Ngày nay, tuy sống trong hòa bình, Việt Nam vẫn phải đối phó trên nhiều mặt
để bảo vệ độc lập, chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ của mình
Đặc điểm địa lý - chính trị đã tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, chí kiên cường, bất khuất, tạo nên một chủ nghĩa yêu nước nồng nàn hiến có của nhân dân, một biểu thị cao nhất của văn hóa truyền thống Việt Nam Nhưng mặt khác, tình hình chiến tranh kéo dài gây nên sự mất ổn định trong xã hội, mất cân bằng trong đời sống; mỗi cuộc chiến tranh
để lại những mất mát khôn nguôi trong các thế hệ, gây nhiều tổn thất về tâm lý của con người Việt Nam Thực tế lịch sử này làm cho con người Việt Nam luôn luôn phải tìm cách thích ứng với tình hình, phát huy chủ động sáng tạo trong cuộc sống và đối phó kịp thời chống lại những thủ đoạn của kẻ thù để tồn tại Do đó tinh thần cộng đồng và tình tương thân tương ái là những đặc điểm sâu đậm của xã hội Việt Nam, của văn hóa Việt Nam
C VĂN HÓA – XÃ HỘI
Việt Nam là một nước văn hiến, là một trong những cái nôi của nhân loại Trước khi bị đế chế phong kiến Trung Quốc đô hộ trên nghìn năm, Việt Nam đã có một nền văn hóa bản địa đặc sắc (Văn hóa đồng thau Đông Sơn) Học thuyết Khổng Tử, Phật giáo vào nước ta sớm nhất so với một số nước trong vùng, không tồn tại nguyên gốc, mà thông qua tập quán, lối sống truyền thống đã ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý Việt Nam Văn hóa bản địa tạo nên bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam
Việt Nam là một cộng đồng nhiều dân tộc sống xen kẽ với nhau từ những ngày đầu dựng nước Mỗi tộc người có nền văn hóa của mình Tuy sự phát triển của các nền văn hóa đó không đồng đều, nhưng không có sự thôn tính lẫn nhau, trái lại gắn bó với
Trang 8nhau trong quá trình chống xâm lược, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam là một nước đa văn hóa
Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thể hiện mạnh mẽ ở ý chí thống nhất đất nước "Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một" Chân lý mà Bác Hồ đã khẳng định đó bắt nguồn từ sức mạnh của một nền văn hóa sớm có bản sắc đã hình thành trên dải đất Việt Nam này Sức mạnh của văn hóa dân tộc đã làm cho những sự phân chia mang tính chất cắt cứ thời Trịnh - Nguyễn, chia để trị thời thực dân Pháp, và sự chia cắt thù địch hòng tạo nên hai "quốc gia" thời Mỹ - Ngụy, những sự phân chia dù thâm độc đến mấy không thể gây nên những dấu ấn chia rẽ trong tâm tư, tình cảm của cộng đồng dân tộc Việt Nam Mặt khác, quá trình hình thành quốc gia dọc theo sông Hồng và tiến về phía Nam cùng với điều kiện địa lý đã tạo nên những đặc điểm văn hóa mang tính chất "vùng" Việt Nam có những "vùng văn hóa" với một số sắc thái độc đáo làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm đa dạng Văn hóa Việt Nam như một vườn hoa có nhiều hương sắc, sinh
ra từ những vùng khác nhau Bảo tồn và phát huy những đặc điểm này làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc, hoàn toàn khác với tư tưởng địa phương, cục bộ do ảnh hưởng của sự chia cắt và nền kinh tế sản xuất nhỏ tạo nên Nằm trên các đầu mối giao thông, ở vào vị trí chiến lược vùng Đông Nam á là một ngã tư bên bờ Thái Bình Dương, Việt Nam từ xưa vốn là nơi giao tiếp của nhiều nền văn hóa lớn của thế giới Do đó nền văn hóa Việt Nam ngoài phần bản địa là cơ bản còn bao gồm những yếu tố tiếp thu từ bên ngoài, những yếu tố văn hóa cộng sinh trong nền văn hóa Việt Nam là phổ biến Do văn hóa Việt Nam có một bản sắc bền vững, nên văn hóa Việt Nam trong khi tiếp thu văn hóa thế giới, đã tỏa ra thế giới, đóng góp vào văn hóa thế giới Đặc điểm này đã bị kìm hãm nặng nề trong suốt những thời kỳ bị đô hộ, và sau này bị bao vây bởi các thế lực thù địch Chúng dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt nhằm phong tỏa Việt Nam về kinh tế
và văn hóa, cô lập Việt Nam, mặt khác thâm nhập văn hóa phải động và đồi trụy vào Việt Nam nhằm phá hoại tư tưởng và xã hội Việt Nam, chia rẽ Việt Nam và các nước trong khu vực
Cả một bề dày lịch sử dân tộc, cả một quá trình hình thành nền văn hóa dân tộc đã rèn luyện cho nhân dân ta những đức tính tiêu biểu: Yêu nước, cần cù lao động, thực tế, bình
dị, đôn hậu, nhân ái, trọng lẽ phải, biết yêu cái đẹp, không kỳ thị dân tộc
Xây dựng văn hóa là xây dựng con người, là "trồng người" như Bác Hồ nói
(Nguồn gốc của từ văn hóa là "trồng") Một nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là phải giữ gìn và phát huy cho được những đức tính của con người Việt Nam trong điều kiện mới của đất nước và thế giới Yêu nước nhân nghĩa trọng đạo lý làm người đề cao trách nhiệm cá nhân đối với
xã hội lấy dân làm gốc coi trọng lòng khoan dung độ lượng hòa hiếu không gây thù oán
cố kết cộng đồng đã trở thành tình cảm tự nhiên của mỗi con người Việt Nam
Khái quát tình cảm tự nhiên ca dao viết:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Trang 9Người trong một nước thì thương nhau cùng
Truyền thống đó được nhân lên thành triết lý nhân sinh khái quát thành tư duy chính trị phép ứng xử trong tình làng nghĩa nước:
Tình làng nghĩa nước Nước mất thì nhà tan Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh
Tất cả ghi đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình làng xã quốc gia và cũng trở thành sợi dây liên kết các dân tộc các giai tầng xã hội ở Việt Nam
PHẦN III: THỰC TIỄN VIỆT NAM
A THỰC TIỄN THẾ GIỚI
Thế giới trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX cũng đang có những biến chuyển to lớn:
Chủ nghĩa Tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa Đế quốc với bản chất của mình đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa
Thực tế lịch sử: trong quá trình xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân, tại các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫn được duy trì và bao trùm lên nó là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp xã hội mới, trong đó có công nhân và tư sản
Chiến tranh Thế giới I bùng nổ
Từ cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến một cao trào mới của cách mạng thế giới với đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917) Cuộc cách mạng vĩ đại này đã làm "Thức tỉnh các dân tộc châu Á", Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công đã nêu một tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức, mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc Từ 1911 đến 1941 Hồ Chí Minh đã đi đầu khắp hết các châu lục Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rông lớn và công phu đã giúp Người nhận thức một sự thực: “Các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa
có tổ chức và chưa biết tổ chức…”
Trang 10Cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, dân chủ cho nhân dân Từ chỗ chi tiết đến cách mạng tháng Mười Nga một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường cách mạng tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới đặc biệt là bài học cho sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng Điều này giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi” để chuẩn bị lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đừơng cách mạng những năm sau này
Quốc tế III được thành lập (1919) Phong trào công nhân trong các nước Tư bản Chủ nghĩa và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của họ là Chủ nghĩa Đế quốc
B THỰC TIỄN VIỆT NAM
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới Không phát huy được những thế mạnh của truyền thống dân tộc
và đất nước, không chống lại được âm mưu xâm lược của thực dân Pháp Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 và đến năm 1883, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Harmand với đế quốc Pháp, thừa nhận quyền bảo hộ của họ trên khắp An Nam Từ sau Hiệp ước Patenôtre năm 1884, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Trong suốt quá trình thực dân Pháp cai trị, từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đã
có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu "Cần vương" do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại Các cuộc khởi nghĩa vũ trang này mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù, nhưng đều dưới sự dẫn dắt của các tư tưởng phong kiến và tư sản, là các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời, lạc hậu trong sự phát triển của thế giới đương đại và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nên không tránh khỏi thất bại Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng khoảng sâu sắc về đường lối cứu nước
Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp-xã hội sâu sắc Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX Xã hội Việt Nam tồn tại nhiều mâu thuẫn Có thể kể ra các mâu thuẫn chính sau:
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp
Mâu thuẫn giữa người dân lao động và triều đình phong kiến
Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp tư sản