1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận cuối kì: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

26 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và vận dụng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Huỳnh Phú Vinh, Nguyễn Tuyên Hoàng, Hoàng Lê Nguyên, Hoàng Đình Thuận, Lê Tấn Lực, Huỳnh Lạc Thiên, Nguyễn Trung Kiên, Phan Huỳnh Quốc Mỹ, Nguyễn Quốc Trường
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Thảo
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. HCM
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 471,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn học Triết học Mác Lênin là môn học thuộc chương trình lý luận chính trị nhằm giới thiệu cho người học các kiến thức cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận triết học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể: + Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học + Phép biện chứng duy vật với tư cách “học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người” + Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng về xã hội, làm sáng tỏ nguồn gốc, động lực và những quy luật chung của sự vận động, phát triển của xã hội loài người.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BỘ MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MÃ MÔN HỌC: LLCT130105_29CLC

THỰC HIỆN: Nhóm 01 Thứ 3 tiết 7, 8, 9

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Trần Thị Thảo

Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2020

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM THAM GIA TIỂU LUẬN

HỌC KỲ II NĂM HỌC 2019 – 2020

Nhóm số: 01 (Lớp thứ 3 tiết 7, 8, 9)

Tên đề tài: Lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất phù

hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và vận dụng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Ghi chú:

- Tỷ lệ % = 100%

- Trưởng nhóm: Huỳnh Phú Vinh

Nhận xét của Giảng viên:

………

………

………

Ngày… tháng 5 năm 2020 Giáo viên chấm điểm

SINH VIÊN

MÃ SỐ SINH VIÊN

TỶ LỆ % HOÀN THÀNH

SỐ ĐIỆN THOẠI

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

PHẦN 2: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT 2

1.1 Một số khái niệm 2

1.1.1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là gì? 2

1.1.2 Quan hệ sản xuất là gì? 2

1.1.3 Lực lượng sản xuất là gì? 2

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 2

1.2.1 Lực lượng sản xuất ảnh hưởng như thế nào trong xã hội( nguồn lao động, đời sống của công nhân,….)? 2

1.2.2 Sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 5

1.2.3 Sự vận dụng của Đảng ta vào thực tiễn kinh tế xã hội ở nước ta 6

2.2 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với lực lượng sản xuất 9

2.2.1 Những thuận lợi khi có đủ nguồn nhân lực cho sản xuất: 9

2.2.2 Ảnh hưởng của việc thiếu đi nguồn nhân lực đối với việc phát triển kinh tế, xã hội 9

2.3 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay 10

2.4 Những thành công của Đảng ta trong việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay 11

2.5 Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. 15

PHẦN 3: KẾT LUẬN 18

3.1 Khẳng định lại tầm quan trọng của việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay 18

3.2 Ý nghĩa của đề tài 19

PHỤ LỤC 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và vận dụng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Từ khi con người xuất hiện trên trái đất này đã trải qua năm phương thức sản xuất đó là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô nệ, xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Qua mỗi thời kì tư duy và nhận thức của con người cũng không dừng lại ở một chỗ, mà theo thời gian tư duy của con người ngày càng phát triển hoàn thiện hơn Chính sự thay đổi về tư duy và nhận thức đã làm thay đổi về lực lượng sản xuất cũng như cơ sở sản xuất Từ khi sản xuất chủ yếu là hái lượm, săn bắt sử dụng những kỹ thuật lạc hậu thì nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đạt tới đỉnh cao dẫn tới sự phát triển vượt bậc về trình độ sản xuất Không

ít các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã đổ sức, bỏ công cho vấn đề này Nhưng

họ đều thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất như thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chính thể của nền sản xuất xã hội

Nghiên cứu về sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tạo cho chúng ta có một nhận thức về sản xuất xã hội Đồng thời giúp ta

mở mang được nhiều lĩnh vực về kinh tế, thấy được vị trí và ý nghĩa của nó Đây cũng là lý do cho nhóm quyết định chọn đề tài: “ Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay làm đề tài cho bài tiểu luận của nhóm

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở việt nam hiện nay

Luận án không nghiên cứu toàn bộ vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và toàn bộ vấn đề giáo dục - đào tạo, mà nghiên của vai trò của giáo dục đào tạo với nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta, tập trung nghiên cuuws vấn đề này ở các trường đại học của Việt Nam hiện nay

Khảo sát thực tiễn vai trò giáo dục- đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của đảng, chiến lược của nhà nước về phát triển giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn lực, nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin , tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẻ lý luận và thực tiễn, logic và lịch sử, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn là những phương pháp chủ đạo được áp dụng nghiên cứu trong đề tài luận án

Trang 5

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là gì?

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong ba bộ phận hợp thành triết học Marxist Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1.2.1 Lực lượng sản xuất ảnh hưởng như thế nào trong xã hội( nguồn lao động, đời sống của công nhân,….)?

Đi đôi với sự phát triển của khoa học, công nghệ và nước ta đang trong thời kì

“công nghiệp hóa-hiện đại hóa” đất nước, cần có một lực lượng sản xuất vô cùng đồ sộ,

có chuyên môn và tay nghề cao Theo Lênin, sau khi đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười ở nước Nga, cho rằng chỉ có lực lượng sản xuất hiện đại mới tạo ra năng suất lao động cao “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới” chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng lợi khi tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn chủ nghĩa cơ bản “Đó là

sự nghiệp rất khó khăn và rất lâu dài”

Trang 6

Ở Việt Nam, do điểm xuất phát rất thấp từ một nước nông nghiệp lạc hậu trong chế độ phong kiến hàng nghìn năm, bị chủ nghĩa thực dân cai trị hàng trăm năm, nên yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa càng bức thiết Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước vừa giành được độc lập lại phải tiến hành kháng chiến lâu dài chống xâm lược nên chưa có điều kiện để chuyển lên con đường xã hội chủ nghĩa Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải phát triển kỹ nghệ, tức là phát triển công nghiệp, khoa học, kỹ thuật

Và để làm được điều này, điều đầu tiên mà nước ta đã thực hiện đó là bắt đầu xây dựng lực lượng sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn và trình độ, không ngừng trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với Liên Xô và các nước khác để giúp cho nước

ta có một nguồn lao động hiện đại và dồi dào, góp phần vào quá trình đổi mới đất nước Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) nêu rõ:

“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp

và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” Đó là một quá trình lâu dài, “Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp

lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

Nhờ vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam Kết cấu hạ tầng kinh tế,

xã hội phát triển nhanh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực Gần 30 năm đổi mới, nhiều công trình lớn của đất nước được xây dựng và đi vào hoạt động Đó là nhà máy thủy điện Yaly, Sơn La, Tuyên Quang cùng với Hòa Bình, Trị An trước đó, hệ thống tải điện Bắc Nam, cùng với các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, nhiệt điện đã là thành

Trang 7

tựu lớn của điện khí hóa toàn quốc Công nghiệp dầu khí với khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau Hiện đại hóa ngành khai thác than và khoáng sản Tiếp tục phát triển công nghiệp gang thép, cơ khí Phát triển công nghệ thông tin và viễn thông Nâng cấp hệ thống đường giao thông Xây mới các cầu hiện đại: Mỹ Thuận, Cần Thơ, các cầu ở Đà Nẵng, cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy ở Hà Nội và nhiều cầu hiện đại khác Hiện đại hóa các sân bay, cảng biển Phát triển hàng trăm khu công nghiệp và chế xuất, hình thành những trung tâm công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước Đem lại nguồn thu nhập lớn cho đất nước, nâng cao đời sống của chính người lao động và nhân dân

Năng suất lao động là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tuy đã

có lực lượng sản xuất phất triển mạnh trong những năm gần đây nhưng năng suất lao động của nước ta vẫn ở mức thấp hơn so với các nước trong khu vực Từ năm 2000 đến

2010, năng suất lao động chỉ tăng hơn 4% So với các nước Inđônêxia, Malaysia và Thái Lan, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn hàng chục lần Nhận thức được

điều đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh việc nắm vững và giải quyết tốt các mối

quan hệ lớn, trong đó có quan hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”

Hiện nay, thực hiện quan điểm của Đại hội XI về cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng

cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới Xây dựng mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp khi kinh tế hộ manh mún, phân tán

đã hoàn thành vai trò, để thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng, hiệu quả cao Đổi mới và tái cơ cấu các ngành dịch vụ, nhất là tài chính, ngân hàng, thương mại,

du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao Thực hiện các đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại

Trang 8

Quá trình đổi mới, tái cơ cấu và thực hiện các đột phá đó cũng chính là thúc đẩy hơn nữa sự phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp

1.2.2 Sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phuowg thức sản xuất, chúng không tồn tại, không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau, hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phá triển của lực lượng sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người Sự tác động của

nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao hơn

*Những tác động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản xuất quyết định Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh xảo hơn Cùng với sự phát triển của công cụ lao odongjt hì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ Lực lượng sản xuất trở thành yếu tố cách mạng nhất Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, có khuynh hướng lạc hậu hơn là sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nộ dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thái

xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì hình thức phụ thuộc nội dung, nội dung quyết định hình thức, nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức mới biến đổi theo

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành

và biến đổi phù hợp với tính chất và trình độ của của lực lượng sản xuất Sự phù hợp

đó là động lực sản xuất phát triển mạnh mẽ Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới , quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nũa nên buộc phải thay thế bằng

Trang 9

mối quan hệ mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

1.2.3 Sự vận dụng của Đảng ta vào thực tiễn kinh tế xã hội ở nước ta

*Thời kỳ trước đổi mới:

Sau cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc kéo dài, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay lại càng gặp nhiều khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp kém và chưa có điều kiện phát triển.Trình độ người lao động rất thấp, hầu hết không có chuyên môn tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo Lao động Việt nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mà cha ông để lại Trường dạy nghề rất hiếm, chủ yếu chỉ xuất hiện ở Hà Nội, Sài Gòn,….Tại những đô thị lớn, trình

độ của người lao động cao hơn các vùng khác trong cả nước.Tư liệu sản xuất mà nhất

là công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu Là một nước nông nghiệp thế nhưng công cụ lao động chủ yếu là cày, cuốc, theo hình thức “ con trâu đi trước, cái cày theo sau”, sử dụng sức người là chủ yếu, trong công nghiệp máy móc thiết bị còn ít

và rất lạc hậu Phát triển công cụ lao động giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau.Nhìn chung trước trước Đổi Mới lực lượng sản xuất ở Việt nam thấp kém, lạc hậu

và phát triển không đồng đều.Trong hoàn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất xã hôi chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động.Nhà nước không thừa nhận yếu tố kinh tế tư bản như là các thành phần kinh tế cá thể, kinh

tế tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân, đã phân định tách bạch thuần khiết chế độ

sở hữu và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, phi xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vau trò của chế độ công hữu, dẫn đến chủ trương cải tạo, sớm xóa bỏ các thành phần kinh

tế phi xã hội chủ nghĩa

Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất Có những nơi nông dân bị bắt ép đi vào các hợp tác xã, mở rộng nông

Trang 10

trường quóc doanh mà không tính đến lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu Người lao động không được chú trọng về cả trình độ và thái độn lao động, đáng ra là chủ thể của sản xuất nhưng lại trở nên thụ động trong cơ chế quan liêu bao cấp Nước ta quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo hướng tập thể hóa, cho đó là nhân tố hàng đầu của quan hệ sản xuất mới, từ đó người lao động bị biệt lập với đối tượng lao động Quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời với lực lượng sản xuất Hậu quả là sản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân đi xuống nhanh chóng Đến cuối năm 1985( 12/1985, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845.3%), năng suất lao động quá thấp, kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng

*Thời kỳ sau đổi mới(1986)

Nhận thức được sai lầm trong thời kỳ trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986

đã thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, chủ trương Đổi mới phương thức quản lý kinh tế

và cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Người lao động nước ta đến năm

2005 là 44,3 triệu người, trong đo slao động đã qua đào tạo là 24,79 % Hệ thống trường dạy nghề các cấp được mở rộng Đội ngũ trí thức cũng tăng lên nhanh chóng, năm 2007-

2008, cả nước có 1 603 484 nghìn sinh viên.Năm 2008, nước ta có 160 trường đại học,

209 trường cao đẳng và 275 trường trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng được phần nào nhu cầu đào tạo lao động cho đất nước Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn bị phân mảng, tồn tại tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động, nhất là thiếu thợ” Nền kinh tế đang thiếu đi nguồn nhân lực có tay nghề, chất lượng nhân lực của Việt Nam còn thấp so với các nước lân cận.Máy móc và các trang thiết bị hiện đại ngày càng được

sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế Trong nông nghiệp là máy cày, máy bừa,…các giống cây trồng mới cũng được tìm ra và phổ biến Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân bắt đầu phát triển, đẩy mạnh sản xuất

Tuy nhiên nhìn chung so với nhiều quốc gia trên Thế giới thì tư liệu sản xuất nước

ta còn nghèo nàn, chậm cải tiến, hiệu quả chưa thật sự cao và còn phân hóa giữa các vùng trong cả nước.Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiểm năng của các thành phần kinh tế, các quan hệ sản xuất xã hôi chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản, manh mún của

Trang 11

quan hệ sản xuất phong kiến được công nhận.Như vậy, trong hoàn cảnh lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đa dạng các mối quan

hệ xã hội đã bước đầu vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và đx đạt hiều thành tựu đáng kể Năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta là 8,4 %, cao nhất khu vực Đông Nam Á Trong bối cảnh nhiều nước rơi vào khủng hoảng thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn cao,cụ thể là

45 tỷ USD vốn FDI từ 2005-2010, GDP trên người khoảng 1168 USD/người/năm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử nhân loại Sau chặng đường hai mươi bảy năm thực hiện Đổi mới vừa qua, Đảng ta đã không ngừng tìm tòi, phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trên tổng thể

và đối với từng yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất Thực tiễn cho thấy con đường chúng ta đang đi là đúng đắn và đạt nhiều thành tựu quan trọng, vượt qua nhiều giai đoạn lịch sử nhạy cảm Về con đường và cách thức đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta có nhiều vấn đề được làm sáng tỏ nhưng cũng có nhiều vấn đề cần phải phát triển thêm

Có thể nói việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một vấn đề như thế Mặt khác cần đi đôi với việc phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và đi tắt đón đầu, chú trọng các ngành nhiều thế mạnh trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, phù hợp với sự phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà Việc phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường phải được thực hiện đồng thời, thúc đẩy

hỗ trợ nhau cùng phát triển Bởi lẽ nếu công nghiệp hóa – hiện đại hóa tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho sự phát triển xã hội thì việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là

để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp Nước ta cần xác lập và hoàn thiện một quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với lực lượng sản xuất hiện nay để đất nước phát triển hơn nữa,mà trước hết là phát triển kinh tế một cách bền vững

Trang 12

2.2 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với lực lượng sản xuất

2.2.1 Những thuận lợi khi có đủ nguồn nhân lực cho sản xuất:

Trong sản xuất nếu có đủ nguồn nhân lực thì chắc chắn rằng sẽ có rất nhiều thuật lợi như về chất lượng sản phẩm,thời sản xuất sản phẩm,….Do đó nguồn nhân lực luôn đóng vai trò tất yếu trong sản xuất

VD: Một tổ chức sản xuất muốn thành công thì phải có 2 yếu tố quan trọng là sức lao động và tư liệu sản xuất, trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu Ph Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó Như vậy vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội

Ngoài ra có nguồn nhân lực dồi dào cũng là lợi thế lớn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài

môi trường đầu tư tiềm năng mà các nhà đầu tư nước ngoài nên chú trọng Việt Nam là nước có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động lớn (69%), việc tận dụng được nguồn lao động này có thể giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài tiết kiệm một phần rất lớn chi phí

Tuy nhiên việc có đủ nguồn nhân lực về mặt số lượng ta còn phải làm tốt về phần chất lượng cho nguồn nhân lực trong sản xuất góp phần tăng sự cạnh tranh với nhau giữa các tố chức sản xuất tương đồng về mặt sản phẩm trong thị trường

2.2.2 Ảnh hưởng của việc thiếu đi nguồn nhân lực đối với việc phát triển

kinh tế, xã hội

Như các bạn cũng đã biết sự quan trọng của nguồn nhân lực trong sản xuất quan trọng như thế nào nó tác động mạnh đến chất lượng sản phẩm cho ra thị trường, cho nên việc thiếu đi nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội là điều dễ dàng nhận thấy, nó làm giảm đi tính cạnh tranh trong thị trường, thời gian sản xuất tăng,chất lượng giảm, năng suất lao động bị suy giảm, nền kinh tế chậm lại tệ hơn là suy thoái

Trang 13

VD: Nếu một tổ chức sản xuất nào đó có nhập thật nhiều máy móc trang thiết bị tiên tiến,hiện đại đến đâu thì nó mãi mãi chỉ là tư liệu sản xuất không cách nào chiếm luôn

cả vai trò sức lao động,công nghệ mới nhưng lại thiếu đi nguồn nhân lực thì chúng cũng chỉ là những cổ máy vô tri vô giác

2.3 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Theo kết quả cuộc Tổng kết tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được Tổng cục Thống kê công bố sáng 19/12, Việt Nam có gần 88% dân số trong độ tuổi từ 25-

59 tham gia lực lượng lao động; trong đó tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29 (14,3%) và giảm nhẹ ở nhóm 30-34 (14,2%) Dân số ở nhóm tuổi trẻ (từ 15-24 tuổi) và nhóm tuổi già (từ 60 tuổi trở lên) đều chiếm tỷ trọng

tham gia lực lượng lao động thấp (dưới 10%)

Từ số liệu thống kê trên có thể thấy Việt Nam đang trong thời kì có cơ cấu dân

số vàng nhưng hiện nay, sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; còn yếu về ngoại ngữ và các

kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm , kỹ năng khởi nghiệp Chất lượng giáo dục đại học còn thấp và không đáp ứng nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động

Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018, Việt Nam xếp thứ 84/137 quốc gia về kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học và xếp thứ 79/134 về năng lực đổi mới sáng tạo; kết quả đầu ra của nghiên cứu còn đứng sau khá xa so với Thái Lan

và Malaysia

Tình trạng người lao động làm việc không phù hợp với ngành nghề được đào tạo, cũng như với trình độ chuyên môn và tay nghề được đào tạo Số liệu thống kê cho thấy 81,1% lao động có trình độ cao đẳng, 60,4% số lao động có trình độ trung cấp, 23,8% số lao động có trình độ đại học trở lên làm các công việc có yêu cầu trình

độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng thấp hơn so với trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo (theo bằng cấp/chứng chỉ)

Ngày đăng: 18/09/2023, 02:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w