1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Chuyên Đề - Kiến Trúc Mỹ Thuật - Đề Tài - Kiến Trúc Khách Sạn Sạn Du Lịch

121 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Trúc Khách Sạn Sạn Du Lịch
Trường học Trường Đại Học Kiến Trúc
Chuyên ngành Kiến Trúc Mỹ Thuật
Thể loại Bài Giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 6,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Slide 1 LÔØI NOÙI ÑAÀU I NHÖÕNG HIEÅU BIEÁT VEÀ THEÅ LOAÏI ÑEÀ TAØI 1 Khaùi nieäm chung a Khaùi nieäm veà du lòch b Chöùc naêng du lòch c Caùc loaïi hình du lòch d Hieän traïng veà du lòch treân theá[.]

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

I NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ THỂ LOẠI ĐỀ TÀI

1 Khái niệm chung

a Khái niệm về du lịch

b Chức năng du lịch

c Các loại hình du lịch

d Hiện trạng về du lịch trên thế giới và ở Việt Nam

2 Lý do chọn đề tài

a Sự cần thiết của đề tài

b Tầm quan trọng của khách sạn trong thiết kế kiến trúc công trình công cộng

II KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHÁCH SẠN

1 Sự ra đời và phát triển của khách sạn

2 Khách sạn ở Việt Nam

3 Định nghĩa khách sạn

4 Ý nghĩa của khách sạn

5 Các loại hình khách sạn

a Phân loại khách sạn

b Phân cấp khách sạn

6 Mô hình tổ chức của một khách sạn

7 So sánh khách sạn du lịch với các loại hình khách sạn khác

a Khái niệm về khách sạn du lịch

b Sự giống và khác nhau giữa khách sạn và nhà ở

c Sự giống và khác nhau giữa khách sạn du lịch và các loại hình khách sạn khác

8 Khu đất xây dựng khách sạn

III CÁC THÀNH PHẦN CHỨC NĂNG TRONG CÔNG TRÌNH KHÁCH SẠN

1 Khối phòng ngủ

2 Khối phòng phục vụ công cộng

3 Khối cung cấp, quản lý, phục vụ

Trang 2

IV CƠ SỞ TẠO HÌNH

1 Ngôn ngữ tạo hình kiến trúc:

2 Các yếu tố tạo hình kiến trúc:

3 Khả năng biểu hiện nghệ thuật tạo hình của hình khối không gian:

4 Một số hình thức biểu hiện "Trật tự” trong “Tổ họp không gian kiến trúc”

V BỐ CỤC MẶT BẰNG HÌNH KHỐI, MẶT ĐỨNG KHÁCH SẠN

1 Mở đầu

2 Các loại bố cục mặt bằng, hình khối mặt đứng khách sạn

VI XU HƯỚNG THIẾT KẾ KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH HIỆN NAY

1 Kiến trúc xanh

2 Kiến trúc sinh thái

3 Kiến trúc bền vững

4 Sử dụng vật liệu mới, vật liệu than thiện với môi trường

VII CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THẨM MỸ, HÌNH THỨC

1 Tính bản địa, địa phương

2 Tính dân tộc

3 Tính toàn cầu:

4 Trình độ công nghệ và kỹ thuật thi công

VIII KỸ THUẬT, KINH TẾ VÀ AN TOÀN TRONG KHÁCH SẠN

1 Mở đầu

2 Thiết kế kỹ thuật trong khách sạn

3 Rác, chất thải, phế liệu

4 Vấn đề an ninh, an toàn trong khách sạn

5 Vấn đề kinh tế trong công trình khách sạn

IX NGHIÊN CỨU CÁC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC - KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG

X TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ + TIÊU CHUẨN XẾP HẠNG CÔNG TRÌNH

KẾT LUẬN

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một nước trải dài, đa phần lục địa tiếp xúc với biển Đông Với câu

“Rừng vàng biển bạc” cũng đủ cho con người đánh giá về tiềm lực của thiên nhiên ban tặng cho người dân ở đây Khi trên thế giới, các nước phát triển tìm kiếm những nguồn lực cho ngành công nghiệp không khói thì chính biển, rừng, môi trường thiên nhiên quyết định sự sống còn của của ngành công nghiệp này Du lịch là hình thức đại diện cho ngành công nghiệp này, là một ngành tổng hợp bởi nhiều yếu tố - trong đó thiên nhiên đóng vai trò tiên quyết cho ngành này – có tác dụng tích cực hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế của xã hội và tương hỗ cho các ngành kinh tế khác

Với tiềm năng và chiến lược về kinh tế như vậy, chính phủ đã quyết định kêu gọi các nguồn lực của nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, chính họ đã mang những sinh khí mới cho ngành du lịch thông qua việc đầu tư những khu du lịch ven biển để thu hút du khách trong và ngoài nước, xây dựng những nguồn lao động tại chỗ mang lại một diện mạo mới cho địa phương có tiềm năng về

du lịch

Xuất phát từ những lý do trên, những khu nghỉ ven biển hình thành với những sắc thái khác nhau, dựa vào những tài sản quý giá mà thiên nhiên ban tặng, con người với khối óc, bàn tay khéo léo đã kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên hoang sơ và điều kiện tiện nghi của cuộc sống hiện đại, chan hoà giữa hai thực thể con người và tự nhiên

Trang 4

NỘI DUNG

I NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ THỂ LOẠI ĐỀ TÀI

1 Khái niệm chung

a Khái niệm về du lịch

- Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức(

International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú

thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống

- Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma _ Italia ( 21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghiã về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ

- Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Trang 5

- Theo I.I pirôgionic, 1985 thì; Du lịch là một dạng hoạt động cuả dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá

- Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: khách du lịch là laọi khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế

- Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc

- Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Trang 6

b Chức năng du lịch

- Nhìn từ góc độ nhu cầu cuả du khách

Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ cuả khoa học – công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch cuả con người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao

- Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lịch

Dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch để hoạch định chiến lược phát triển du lịch, định hướng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn lựa chọn các sản phẩm du lịch độc đáo

- Xét từ góc độ sản phẩm du lịch

sản phẩm đặc trưng cuả du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu cuả nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật như

cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển

- Xét từ góc độ thị trường du lịch

Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du lịch là tìm kiếm thị trường

du lịch, tìm kiếm nhu cầu cuả du khách để “ mua chương trình du lịch”

Trang 7

c Các loại hình du lịch

- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa

- Căn cứ vào nhu cầu của khách du lịch, có các thể loại sau:

+ Du lịch văn hóa + Du lịch điền dã + Du lịch thể thao + Du lịch chữa bệnh + Du lịch công vụ + Du lịch tôn giáo + Du lịch thăm hỏi + Du lịch quá cảnh + Du lịch sinh thái

- Căn cứ vào nhu cầu vận chuyển:

+ Du lịch bằng phương tiện hiện đại: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay, xe đạp

+ Du lịch bằng các phương tiện truyền thống: xe ngựa, voi, thuyền…

Trang 8

- Căn cứ vào thời gian:

+ Du lịch ngắn ngày: thời gian kéo dài ngắn từ 1-3 ngày như

đi du lịch vào các dịp cuối tuần, lễ tết…

+ Du lịch dài ngày: từ một đến hai tuần trở lên: như du lịch dưỡng bệnh, du lịch thể thao…

- Xét theo phương thức ký hợp đồng: du lịch trọn gói và du lịch không trọn gói

- Xét theo thành phần du lịch: du lịch thượng lưu, du lịch bình dân…

- Căn cứ vào hình thức tổ chức: du lịch theo đoàn, du lịch theo gia đình, du lịch cá nhân…

Hoạt động du lịch mang tính liên tục, cùng với các lễ hội và văn hóa truyền thốnggiu1p cho con người trên thế giới xích lại gần nhau, hiểu biết nhau làm cho cuộc sống trở nên thú vị và sinh động nhiều hơn

Trang 9

d Thực trạng về du lịch trên thế giới và ở Việt Nam

* Thực trạng du lịch thế giới

Theo tổ chức UNWTO cho biết tổng số khách du lịch toàn cầu trong sáu tháng đầu năm 2010 lên tới hơn 420 triệu người, thấp hơn 2% so với cùng kỳ năm 2008

Việc tăng lượng du khách được xác nhận bắt đầu từ quý 4/2009 và

xu hướng tăng này sẽ tiếp tục trong sáu tháng cuối năm dù với một nhịp độ chậm hơn Nếu như tháng Tư vừa qua bị tác động của núi lửa Iceland phun trào làm tê liệt vận tải hàng không châu Âu, thì tháng Năm và Sáu đều có chỉ số tốt, tăng 10 và 8%

Tăng trưởng du lịch diễn ra đặc biệt tại các thị trường mới nổi như Trung Đông tăng 20%, châu Á-Thái Bình Dương tăng 14% Một số nước có mức tăng mạnh là Sri Lanka tăng tới 49%, Nhật Bản tăng 36% và Việt Nam tăng 35% Châu Mỹ và châu Phi đều có mức tăng trưởng là 7%; trong khi châu Âu chỉ tăng khoảng 2%

Năm 2009 là một khoảng thời gian đen tối nhất đối với ngành du lịch thế giới vì ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới Lượng du khách và thu nhập lần lượt giảm 4,2% và 5,7%

Năm 2010, UNWTO duy trì mức dự báo du lịch tăng khoảng hơn 3% Nhưng với tỷ lệ tăng trưởng như hiện nay và tình hình kinh tế thế giới được cải thiện, có thể du lịch thế giới sẽ đạt mức tăng trưởng 4% cả năm 2010./

Trang 10

Thực trạng du lịch ở Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ước tính tổng số khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng đầu năm 2011 đạt 4.312.127 lượt khách, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2010 Hầu hết các thị trường khách đều tăng, cụ thể tăng nhiều nhất là thị trường khách Campuchia với 59,2%, tiếp đến là Trung Quốc 44,9%, Malaysia 12,2%, Nhật Bản 8,2%, Pháp 6,0%, Đài Loan 5,7%, Hàn Quốc 4,2%, Australia 2,5%, Mỹ 1,2% so với cùng kỳ năm 2010, chỉ duy nhất thị trường khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam giảm 20,6% so với cùng kỳ năm 2010

Trong 9 tháng đầu năm 2011, nếu chia theo mục đích chuyển đi, lượng khách du lịch quốc tế đến nghỉ ngơi là 2.603.764 lượt người, thăm thân là 722.160 lượt người, đến vì các mục đích khác là 268.412 lượt người đều tăng so với cùng kỳ năm 2010 (tăng 10,9%; 70,1%; 32,5%) Tuy nhiên, khách đến vì công việc giảm 5,2% so với cùng kỳ năm 2010 đạt khoảng 717.791 lượt người

Ước tính tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 9/2011 đạt 286.618 lượt khách, giảm 48,1% so với tháng 8/2011 và 25,3%

so với tháng 9/2010 Trong đó, du khách đến bằng phương tiện đường không đạt 208.654 lượt người, chiếm 72,8% (giảm 31,2% so với cùng kỳ năm 2010); khách đến bằng phương tiện đường biển đạt 2.011 lượt khách, chiếm 0,7% (giảm 59,8% so với cùng kỳ năm 2010); khách đến bằng phương tiện đường bộ đạt 75.964 lượt khách, chiếm 26,5% (tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2010)

Trang 11

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM

Mục tiêu là đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế

mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có thương hiệu và chất lượng cao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển

Đến năm 2015 thu hút 7-7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, phục vụ 35-37 triệu lượt khách nội địa Đạt mức tăng trưởng khách quốc tế 7,6% năm và nội địa 5,7% năm

Năm 2020 thu hút 10-10,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 47-48 triệu lượt khách nội địa Tăng trưởng khách quốc tế là 7,2% năm, nội địa là 5,3% năm Phấn đấu đến năm 2020 cả nước có tổng số 580.000 buồng lưu trú, năm 2030 sẽ có khoảng 900.000 buồng lưu trú

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính toán nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 10 năm tới để đầu tư phát triển du lịch ước khoảng 42,5 tỷ USD Phấn đấu tỷ trọng GDP đến năm 2015, du lịch đóng góp 5,5%-6% GDP cả nước, năm 2020, du lịch đóng góp 6,5% -7% GDP cả nước, tăng trung bình 11-11,5%

Trang 12

2 Xu hướng du lịch trong tương lai

Cuộc khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến mọi ngành nghề và mọi người dân, cũng chính vì vậy mà việc đi du lịch của người dân trong trong thời gian tới cũng có xu hướng thay đổi Những kỳ nghỉ sẽ vẫn bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế nhưng khách hàng sẽ yêu cầu một phong cách mang tính cá nhân hơn khi đặt tour Mọi người vẫn quyết định đi du lịch nhưng sẽ lựa chọn tiêu tiền như thế nào và ở đâu một cách cẩn thận hơn rất nhiều

Dưới đây là những xu hướng du lịch phổ biến trong tương lai

- Căn hộ và nhà nghỉ sang trọng nhưng giá rẻ

- Khách sạn boutique

- Dịch vụ trọn gói cao cấp

- Sinh thái và sang trọng

- Kết hợp kinh doanh với du lịch

- Những chuyến phiêu lưu Latin

- Du lịch tàu hỏa

- Du lịch balô sang trọng

- Sang trọng mà gần gũi

- Khách sạn kiểu gia đình hợp thời

- Du lịch "bụi" lên ngôi

Trang 13

3 Lý do chọn đề tài

a Sự cần thiết của đề tài

Trong những năm gần đây ngành du lịch nước ta phát triển mạnh mẽ, đây là một ngành được xem là ngành công nghiệp không khói, ngành du lịch góp phần đưa nền kinh tế của nước ta phát triển, tạo công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người dân, góp phần giới thiệu nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đến với bạn bè thế giới Một trong những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam phải kể đến một loạt các nguyên nhân như Việt Nam có những ưu thế từ thiên nhiên có nhiều danh lam tháng cảnh, khí hậu ôn hòa quanh năm có nắng mặt trời, con người Việt Nam còn được biết đến với tính hiếu khách, cởi mở Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ qua sự khéo léo cần cù và óc sáng tạo của các nghệ nhân đã tạo được những ấn tượng khó quên đối với du khách quốc tế Ngoài những nguyên nhân trên còn phải nói đến như: sức hấp dẫn về đầu tư tại Việt Nam đối với các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO

Theo Khảo sát của Hội đồng Du lịch thế giới (WTTC), Việt Nam là nước đứng thứ tư trong danh sách các nước có lượng khách du lịch tăng nhiều nhất Việt Nam sẽ là một trong 10 điểm đến du lịch năng động nhất trong thập kỷ tới Năm 2007, Việt Nam đã đón 4,2 triệu lượt khách du lịch nước ngoài, mục tiêu của năm 2010 là hơn 6 triệu lượt người

Trang 14

Theo khảo sát của Công ty Tư vấn và quản lý bất động sản CB Richard Eliss (CBRE Việt Nam), từ nay đến năm 2020, nhu cầu về phòng khách sạn của cả nước sẽ rất cao trong khi nguồn cung lại rất hạn chế Hiện lượng phòng khách sạn tiêu chuẩn 3 - 5 sao chỉ đạt khoảng gần 5.000 phòng và khách sạn tiêu chuẩn 1 - 2 sao gần 6.300 phòng Trong khi đó, theo khảo sát của CBRE, nhu cầu về phòng khách sạn 3 - 5 sao đến năm 2020 sẽ vào khoảng 11.100 phòng và khách sạn 1 - 2 sao khoảng hơn 20.000 phòng

Tính đến hết quý 4/2006, hiệu suất sử dụng phòng đã đạt mức cao với 84,28% với khách sạn 5 sao, xấp xỉ 90% với khách sạn 4 sao và xấp xỉ 80% với khách sạn 3 sao

Từ những số liệu thống kê ở trên cho thấy nhu cầu phát triển và xây dựng các công trình khách sạn là vô cùng quan trọng đặc biệt là những công trình khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành du lịch nước ta nói riêng và công cuộc phát triển đất nước nói chung Đây là lý do mà em chọn đề tài khách sạn cho đồ án tốt nghiệp của mình

Trang 15

II KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHÁCH SẠN

1 Sự ra đời và phát triển của khách sạn

Có thể nói rằng khách sạn, trong một dạng thô sơ có từ rất lâu đời khoảng 1200 năm về trước, từ khi con người cần có một chỗ ở trong quá trình di chuyển của mình Tuy nhiên nhà trọ theo kiểu mà chúng ta thấy ngày nay chỉ có được từ khi đồng tiền xuất hiện và được sử dụng như

một phương tiện để trao đổi

Với sự xuất hiện của tiền tệ vào thế kỷ 16 trước Công Nguyên, người

ta có cớ hội để trao đổi ngoại thương và du lịch Khi vùng du lịch được mở rộng, nhu cầu về chổ ở ngày càng lớn, cung cấp những phương tiện tối thiểu, yếu kém về dịch vụ và lòng hiếu khách, không được vệ sinh và

điều khiển bởi những người không chuyên và chủ nhà lạc hậu

Cho đến khi cuộc Cách mạng kỹ nghệ ở Anh năm 1790 mới có những dấu hiệu của sự tiến bộ và những ý tưởng mới về kinh doanh nhà trọ Năm 1794, ở Mỹ khách sạn New York city là khách sạn đầu tiên với

quy mô 73 phòng

Vào năm 1800, nước Mỹ được xem là dẫn đầu về sự phát triển kỹ nghệ

khách sạn vì họ là người tích cực bành trướng

Năm 1829 có khách sạn TREMONT HOUSE BOSTON với 170 phòng là khách sạn có quy mô lớn nhất, có nhiều cải tiến nhất Tính cách nhà trọ tập thể trước đã được thay thế bởi 1 khách sạn thực thụ với những phòng riêng biệt, có khoá Có loại 1 giường, 2 giường, có những loại

phòng mang nhiều tính cách khác nhau

Trang 16

Quan điểm phục vụ cá nhân như là những cá thể riêng biệt đã thể hiện ở cách bài trí thiết kế và tổ chức của toàn khách sạn và ở từng phòng ngủ Đây là nơi đầu tiên có đặt xà phòng, nới có toilet riêng trong phòng ngủ Đồng thời 1 đội ngũ nhân viên quản lý và phục vụ cũng được đào tạo

Những năm từ 1900 đến 1930, các nhà doanh nghiệp về khách sạn đã biết nghiên cứu thị trường, nắm bắt thị hiếu cảu khách Khách sạn BUFFALO STATLER được xây dựng năm 1908 do một gia đình có đầu ốc kinh doanh khách sạn Khách sạn này có nhiều cải tiến thêm như bắt contac đèn ở cưara vào, có gương lớn để khách soi toàn thân, có hệ thóng phòng cháy… Ở Buffalo statler, báo chí cũng đã được cung cấp hằng ngày cho khách Đội ngũ phục vụ cũng đã được huấn luyện tốt hơn Khách sạn này đã được coi là một kiểu trúc kiểu mẫu thời bấy giờ

Cuộc khũng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng nặng nề đến nghề kinh doanh khách sạn Năm 1930, khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, phòng khách sạn vắng khách và công suất phòng luôn luôn thấp Các khách sạn phải giảm giá phòng để hấp dẫn khách, nhưng cũng không hiệu quả Ảnh hưởng trầm trọng đến nỗi 85% khách sạn phãi cầm cố tài sản, đem bán rẻ để dùng vào mục đích khác

Trang 17

3 Định nghĩa khách sạn

Khách sạn là một tổ hợp công trình bao gồm: khối ngủ-dạng nhà ở đặc biệt – kết hợp với các chức năng công cộng, đáp ứng ( thỏa mãn ) các nhu cầu của khách ( đến ở, thuê )

Khách ở, thuê khách sạn rất đa dạng, có các loại sau:

a Khách san đặc biệt: các nguyên thủ quốc gia, và đoàn tùy

tùng, các nhà ngoại giao, chính khách, các nhân vật nổi tiếng trong các lĩnh vực xã hội, lịch sử, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghệ sĩ nổi tiếng v.v…

b Khách sang trọng: có thể là cá nhân hay một tập thể như:

thương gia, đoàn nghệ thuật, đoàn thể thao, các đoàn khách du lịch

đi theo “tour” ( tua ) các đoàn khoa học kỹ thuật, đoàn phóng viên phát thanh truyền hình Báo chí, các tổ chức tôn giáo…

c Khách tự do: cá nhân, gia đình đi tham quan, du lịch, thăm

viếng bạn bè, người thân và những cán bộ đi công tác

Toám lại các đối tượng khách đến lưu trú tại khách sạn rất đa dạng về thành phần xã hội, kinh tế, tuổi tác, giới tính cho nên rất nhiều người nghiên cứu về công tác khách sạn

Trang 18

4 Ý nghĩa của khách sạn

Ngay từ thủa ban đầu phát sinh khách sạn người ta coi nó như một công trình thương mại ( thương điếm ) nghĩa là ý nghĩa chủ đạo của nó là kinh doanh Sau đó, càng ngày văn minh của con người càng tăng tiến, nhu cầu sử dụng khách sạn ngày càng tăng không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng cuộc sống trong khách sạn Hãy thử tưởng tượng một ngôi nhà ở riêng của bạn nếu hông có phòng dự trữ để thi thoảng có người nhà, người thân đến thăm gia đình bạn, chắc chắn gia đình bạn sẽ thấy sự phiền hà, bất tiện với lòng hiếu khách vốn có của bạn Suy ra nếu một đô thị lớn, một quốc gia thiếu những công trình khách sạn thì đô thị ấy quốc gia ấy sẽ ra sao ? Nó thiệt thòi về kinh tế, về chính trị xã hội, về quan hệ ngoại giao, tự trói mình lại trong cái vỏ cứng “ bế quan tỏa cảng “ mình chỉ vì mình Còn đâu là sự phát triển xã hội, và cũng chẳng còn văn minh con người nữa

Vì thế, khách sạn ( thông qua công trình khách sạn ) có những lợi ích cơ bản sau đây:

Trang 19

a Lợi ích về kinh tế:

Thông qua việc phục vụ hiệu quả cao với từng loại nhu cầu của khách mà kinh doanh có lãi thể hiện rõ:

- Cho thuê phòng ngủ;

- Phục vụ ăn uống;

- Phục vụ các nhu cầu sinh hoạt vui chơi giải trí, thư giãn khác ( thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của khách )

b Lợi ích về chính trị, văn hóa, ngoại giao:

Thông qua việc sinh sống trong khách sạn, khách hiểu được những chủ trương đường lối, chính sách của nhà nước, nền văn hóa ( thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách vở, báo chí, các buổi thuyết trình, biểu diễn văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, đặc thù dân tộc v.v…) Thông qua thái độ ứng xử: lời hay ý đẹp của nhân viên khách sạn, biểu thị lòng tôn trọng, lòng hiếu khách mà tăng cường các mối quan hệ giữa con người với con người Vì chính trong môi trường sinh hoạt riêng, chung trong khách sạn sẽ bằng con đường gián tiếp để hiểu biết nhau, cung cố tình thân thiện của các cộng đồng dân tộc…

Trang 20

c Lợi ích về trật tự xã hội, trật tự an ninh:

Đối tượng khách thuê ở trong các khách sạn thường rất đa dạng và phức tạp, việc nghiên cứu về đối tượng đến khách sạn, lịch trình của họ, thời gian, nhu cầu sử dụng có tác động tốt đến công tác quản lý; đảm bảo trật tự xã hội không chỉ với khách ở khách sạn mà còn với xã hội xung quanh Quản lý tốt được khách sạn, hiểu dược đối tượng khách, nắm các quy trình, chương trình hoạt động của họ là góp phần lợi ích tổ chức xã hội văn minh, trật tự xã hội lành mạnh và an ninh tốt cho khu vực, quốc gia

Tuy nhiên, đằng sau những lợi ích nêu trên còn có những vấn đề mà người quản lý, người thiết kế khách sạn phải lưu ý:

+ Đừng vì lợi ích kinh tế mà bỏ qua những quy trình bắt buộc; + Để tạo được uy tín của khách sạn, cuốn hút được khách lạ, khách quen ( giữ chân khách ) không phải chỉ cần thái độ phục vụ của nhân viên, không phải chỉ cần đến các món ăn ngon, lạ, đặc sắc mà không gian kiến trúc, đồ đạc trang thiết bị nội ngoại thất đóng góp một phần đáng kể cho lợi ích của khách sạn Người thiết kế – kiến trúc sư – kỹ sư phải đầu tư suy nghĩ để tạo nên những khách sạn có nội dung sử dụng tốt, và phải đẹp, thanh nhã, hấp dẫn vì đó không chỉ làm đẹp cho công trình khách sạn về mặt kiến trúc không thôi mà nó còn đóng góp vào nền kiến trúc nói chung của một quốc gia

Trang 21

5 Các loại hình khách sạn

a Phân loại khách sạn

* Phân loại theo quy mô

Về phương diện quản lý và điều hành các khách sạn được phân loại theo quy mô và tiện nghi như sau:

Loại nhỏ: 5-40 buồng

Loại vừa: 40-50 buồng

Loại lớn: trên 150 buồng

* Phân loại theo chức năng sử dụng,sự quản lý, phục vụ

- Khách sạn đặc biệt:

- Khách sạn cao cấp:

- Khách sạn tổng hợp: phục vụ thỏa mãn mọi nhu cầu tùy theo

sự phân cấp ( khách sạn có quy cách quốc tế thường phân loại “sao”

 ) Khách sạn nội phân cấp riêng theo từng quốc gia, thí dụ ở Việt Nam phân cấp I, II, III, IV mức độ thấp dần, theo số tăng dần; cấp II là loại nhà trọ ) Khách đến lưu trú tại khách sạn tự thanh toán tiền thuê phòng và các dịch vụ công cộng khác tùy theo nhu cầu của họ

- Khách sạn nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch.- Khách sạn chuyên ngành

- Khách sạn du lịch cho người có ô tô riêng ( Motel ) nhà nghỉ cuối tuần ( Vacance và Weekend ) và khu Camping

Trang 22

* Phân loại theo trọng tâm kinh doanh hay vị trí của khách sạn

Cuối cùng, có thể nhóm các khách sạn hoặc theo công việc kin doanh chính hay theo trọng tâm thị trường hoặc theo vị trí của chúng, những vấn đề đó ảnh hưởng tới đặc điểm hoạt động và quản lý khách sạn

-• Khách sạn thương nhân

Những khách sạn này chủ yếu phục vụ khách thương nhân, nhưng thường được các nhóm khách hội nghị, khách du lịch và khách riêng lẻ thuê

- Khách sạn sân bay

Nằm gần sân bay, các khách sạn này thường hoạt động gần hết công suất vì nó thuận lợi cho lữ khách Khách hàng bao gồm các hành khách đi máy bay, phi hành đoàn và các du khách thương nhân

-• Khách sạn bình dân

Những khách sạn này dành cho những nguồi có mức thu nhập không cao, chúng có chất lượng được tiêu chuẩn hoá cao, nhưng với các phưong tiện, ăn, ở có thể có hoặc không dịch vụ ăn uống

- Khách sạn căn hộ

Loại hình khác sạn căn hộ mới phát triển, chúng cung cấp chỗ ăn ở rộng rãi, một phòng khách riêng và các đồ dùng thiết yếu cho nhà bếp ( bếp nhỏ) trong phạm vi một căn hộ, khách sạn bao gồm những nguời trọ lâu, những người đi nghỉ hoặc thương nhân

-• Khách sạn sòng bạc Casino

Trong các khách sạn casino, các phòng ở và hoạt động ăn uống chủ yếu phục vụ cho việc đánh bạc

-• Khách sạn nghỉ dưỡng

Những khách sạn này dành cho những người đi nghỉ thư giãn, hoạt động theo mùa hoặc quanh năm, tùy theo các hoạt động gải trí có thể có Khách sạn nghỉ dưỡng thường ở xa thành phố nhưng dễ tìm

Trang 23

b Phân cấp khách sạn

Theo quyết định Số:02/2001/QĐ-TCDL của Tổng cục trưởng

Tổng cục du lịch “ Về việc bổ sung, sửa đổi Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn “ ban hành ngày 27 tháng 4 năm 2001 thì việc phân cấp khách sạn được dựa trên các tiêu chí sau:

- Vị trí, kiến trúc

- Trang thiết bị, tiện nghi phục vụ

- Dịch vụ và mức độ phục vụ

- Nhân viên phục vụ

- Vệ sinh Khách sạn hạng càng cao, yêu cầu chất lượng phục vụ, trang thiết bị tiện nghi, số lượng các dịch vụ càng phải đầy đủ, hoàn hảo, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách

YÊU CẦU CHUNG

1 Vị trí, kiến trúc

2 Trang thiết bị, tiện nghi phục vụ:

3 Dịch vụ và mức độ phục vụ

4 Nhân viên phục vụ

5 Thực hiện các biện pháp để bảo đảm yêu cầu về vệ sinh trong các lĩnh vực sau :

Trang 24

c Sự khác biệt giữa phân loại và phân cấp khách sạn

Sự khác biệt giữa phân loại (classification) và phân cấp (grading) có thể được hiểu như sau (Lawson, Hotels & Resorts: Planning, Design and Refurbishment, 1997):

Phân loại (Classification) có thể được định nghĩa như sự phân loại các khách sạn theo một thứ hạng đánh giá (defined as the assignment

of hotels to a categorical rating) tùy thuộc vào loại khách sạn (property), cơ sở vật chất (facilities) và tiện nghi vật chất (amenities) cung cấp cho khách hàng Đây là cách xem xét truyền thống của hầu hết các hệ thống

Phân cấp (Grading), ngược lại, nhấn mạnh phương diện chất lượng Thực tế, hầu hết các hoạt động lưu trú được điều hành với mục đích thương mại chỉ tập trung vào phân loại (classification), với chỉ tiêu chất lượng như là một giá trị tăng thêm (quality as an add-on) và không tác động lên việc xếp hạng sao (star rating) của cơ sở kinh doanh

Trang 25

d Ý nghĩa của việc phân loại, phân cấp khách sạn

Mục đích của việc phân loại, phân cấp cơ sở lưu trú rất đa dạng và bao gồm:

- Tiêu chuẩn hóa nhằm thiết lập một hệ thống về chất lượng đồng nhất của dịch vụ và sản phẩm, giúp tạo lập một hệ thống phân phối thị trường du lịch có trật tự cho người mua và người bán

- Tiếp thị nhằm cung cấp thông tin cho khách du lịch về các hạng mục và kiểu loại lưu trú hiện có tại một địa danh du lịch như là phương tiện để quảng bá cho địa danh đó và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trên thị trường

- Bảo vệ người tiêu dùng nhằm đảm bảo sản phẩm dịch vụ lưu trú đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu về hoạt động lưu trú, cơ sở vật chất, và các dịch vụ trong phạm vi các định nghĩa phân loại và phân cấp (xếp hạng)

- Tạo doanh thu từ licensing, bán các sách hướng dẫn, v.v

- Quản lý để cung cấp một hệ thống quản lý chất lượng công nghiệp chung, và

- Khuyến khích đầu tư, tạo động cơ cho các nhà điều hành nâng cấp cơ sở vật chất và dịch vụ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại/phân cấp

Trang 26

6 Mô hình tổ chức của một khách sạn

Khách sạn được chia theo chức năng thành 5 bộ phận riêng biệt: phòng, các nhà hàng & quầy uống, kế toán, tiếp thị thương mại và nhân sự Các trưởng bộ phận này báo cáo trực tiếp trên GM Mỗi bộ phận được chia ra thành các tổ chuyên trách nhỏ Việc phân nhỏ 5 bộ phận lớn thể hiện sự chuyên môn hóa công việc cao hơn do đó kiến thức các kỹ năng của nhân viên trong mỗi đơn vị nhỏ cũng sâu hơn

a Bộ phận phòng:

Bộ phận phòng thực hiện chức năng cho

thuê phòng của khách sạn Khách đăng

ký phòng phải được tiếp nhận, tình hình

phòng trống, phòng có khách phải được

cập nhật hằng ngày Khách phải được

trả lời ngay qua thư từ hoặc qua điện

thoại Khi khách ở khách sạn, vệ sinh sạch

sẽ các khu vực công cộng cũng như khu

vực tiền sảnh phải được bảo đảm Nếu

khách có thắc mắc gì, phải được giải

quyết ngay Đây là một số chức năng

quan trọng của các bộ phận phòng

Trang 27

b Các nhà hàng và quầy uống

Nhớ rằng bộ phận phục vụ thức ăn đóng một vai trò rất lớn đối với nguồn lợi nhuận của khách sạn và người quản lý thành công có thể được xem là một nhân tố đi đầu quyết định các bước tiếp theo trong sự nghiệp Khi nhà hàng khách sạn có quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu cho thực khách thì có sự chuyên môn hoá nhân viên sẽ tăng thành quả lao động Nhưng khi phác hoạ phương cách tốt nhất để chuyên môn hoá đội ngũ công nhân của mình thì vấn đề chia ra thành bộ phận

Hầu hết các nhà hàng chọn việc phân bộ phận như sau: chuẩn bị thức ăn và phục vụ thức ăn là hai bộ phận chức năng riêng biệt Đây là phương pháp rất hợp lý và thiết thực cho vấn đề tổ chức

Có nhiều công việc khác nhau được thực hiện khi sửa soạn và phục vụ thức ăn, hay có thể nói chức năng của hai hoạt động này có quá trình thực hiện khác nhau

Trang 28

c Thương mại & Tiếp thị:

Bộ phận này thường nhỏ nên việc điều phối trong nội bộ dễ dàng hơn Bộ phận này lại ít quan hệ với hoạt động hàng ngày của các bộ phận khác Tuy nhiên, sự phân công cho các nhân viên điều hành tổ tiếp thị thường dựa trên các loại khách hàng mà khách sạn đang cố gắng chào mời thu hút Các trưởng điều hành thương mại đôi khi cũng được chia thành các tổ nhỏ dựa trên các vùng địa lý quốc gia Tuy vậy, các nhân viên tiếp thị và thương mại làm việc độc lập trong phần thị trường được phân công, do đó ít có vấn đề trong nội bộ

Trang 29

Bộ phận nhân sự:

Bộ phận nhân sự không phụ thuộc khách hàng, không dính dáng

gì đến kinh doanh nhưng nó đóng một vai trò quan trọng để khách sạn hoạt động có hiệu quả Bộ phận nhân sự được chia thành ba bộ phận chức năng nhỏ hơn: khâu tuyển mộ nhân viên, khâu đào tạo và khâu quản lý phúc lợi Giám đốc nhân sự được xem như chuyên gia về luật lao động của Nhà nước, có thể làm công tác cố vấn cho giám đốc các bộ phận khác về vấn đề này Mặc dù ba đơn vị chức năng nhỏ trên có mối liên hệ với nhau, nhưng không có vấn đề nan giải trong các hình thái phụ thuộc dây chuyền Khó khăn của bộ phận nhân sự nảy sinh khi nó tác động vào các bộ phận khác trong khách sạn

Chẳng hạn mặc dù bộ phận nhân sự tuyển mộ, phỏng vấn và sàng

lọc các nhân viên có triển vọng, nhưng

quyết định thuê nhân viên lại nằm trong

các bộ phận tiếp nhận Cũng giống như

vậy quyết định thăng cấp hoặc kỷ luật,

sự đóng góp của bộ phận nhân sự chỉ

được giới hạn trong phạm vi cố vấn

hoặc diễn giải các vấn đề mang tính

pháp lý Hiệu quả của bộ phận nhân sự

tùy thuộc phần lớn vào khả năng của

Giám đốc các bộ phận khác

Trang 30

e Bộ phận kế toán:

Ở một số khách sạn, bộ phận kế toán thực hiện hai chức năng

“Cố vấn” và “Điều hành” trực tiếp Vai trò truyền thống của bộ phận kế toán ghi chép lại các giao dịch về tài chính, chuẩn bị và diễn giải các bản báo cáo định kỳ về các kết quả hoạt động đạt được Nhiệm vụ thường xuyên bao gồm việc chuẩn bảng lương, kế toán thu và kế toán chi Chức năng này là nhiệm vụ của người trưởng phụ tá kiểm soát tài chánh Ngoài ra bộ phận kế toán còn có chức năng liên quan đến các lĩnh vực khác của khách sạn: Đó là kế toán giá thành và kiểm soát các chi phí của toàn bộ hoạt động trong khách sạn Thực tế, công việc này là của bộ phận kiểm soát chi phí & giá thành hơn là bộ phận kế toán Hai khu vực mà bộ phận nhà hàng & quầy uống

Bộ phận kế toán cũng có mối quan hệ với các hoạt động của bộ phận nhà hàng & quầy uống Trong nhiều trường hợp, bộ phận kế toán cũng chịu trách nhiệm thiết kế hệ thống kiểm soát và bố trí khắp khách sạn

Hai điểm cuối về trách nhiệm của kế toán cần được nêu là:

- Bộ phận kế toán đảm nhiệm việc thu nhập và báo cáo hầu hết các bản thống kê tài chính và hoạt động doanh thu của khách sạn

- Người đứng đầu của bộ phận kế toán có nhiệm vụ kép: không chỉ chịu trách nhiệm với Tổng Giám Đốc của khách sạn mà còn chịu trách nhiệm với phó chủ tịch về tài chính của tập đoàn khách sạn hay với chủ đầu tư

Trang 31

7 So sánh khách sạn du lịch nghỉ dưỡng với các loại hình khách sạn khác

a Khái niệm về khách sạn du lịch

Du lịch xét về bản chất là hoạt động văn hóa Thông qua du lịch giúp con người tìm hiểu những tinh hoa văn hoá của nhân loại và qua đó sự hiểu biết của con người được tăng lên

Nghỉ dưỡng xét về bản chất là sự kết hợp 2 yếu tố hoạt động văn hoá với phục hồi và bồi dưỡng sức khoẻ

Khách sạn là cơ sở lưu trú cơ bản của hoạt động du lịch, tại đây đáp ứng nhu cầu về chổ ăn ở, nơi sinh hoạt giao lưu văn hoá có các cơ sở vui chơi giải trí, thể dục thể thao…

Khách sạn Nghỉ Dưỡng ngoài việc phải đáp ứng tốt các chức năng của một khách sạn du lịch còn đảm bảo chức năng chăm sóc và bồi dưỡng sức khoẻ Đối tượng phục vụ là người có thu nhập, vì thế phần lớn Khách sạn đều nhắm hướng bãi biển, cảnh quan, bơi lội, các môn thể thao dưới nước cộng thêm tiện nghi phòng ốc tốt

Thiết kế Khách sạn Nghỉ Dưỡng còn tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề sinh thái, bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên

Thiết kế khách sạn phải sáng tạo mang tính địa phương Các ý thức về các giá trị lịch sử cần được tôn trọng và phát huy bằng các giải pháp thiết kế hài hoà với cảnh quan chung của khu vực

Trang 32

c Sự giống và khác nhau giữa khách sạn du lịch và các loại hình khách sạn khác

Khách sạn là khách sạn du lịch đón tiếp và phục vụ khách đến nghỉ ngơi, sử dụng những tài nguyên du lịch như : tắm biển, leo núi, dưỡng bệnh,… Những địa danh có thắng cảnh đẹp như : đồi núi, bãi biển,…luôn luôn là nơi thu hút được khách du lịch tới nghỉ Trong đó thì vùng biển có sức thu hút lớn nhất đối với du khách và từ đó những khách sạn biển là lựa chọn hàng đầu cho nhu cầu lưu trú của khách

Khách sạn có hình thức kiến trúc nhẹ nhàng, đa dạng, tôn trọng cảnh quan tự nhiên xung quanh Công trình luôn có xu hướng gắn chặt với địa hình tự nhiên, phù hợp với khí hậu để đạt được sự hòa nhập với thiên nhiên Tận dụng cảnh đẹp thiên nhiên để làm chủ cho thiết kế khách sạn, bởi du khách bị thu hút đến những khung cảnh sở chuộng của họ: chẳng hạn đến vùng biển vì bãi tắm, ánh nắng và thiên nhiên yên bình khoáng đạt của vùng ven biển Những điểm hấp dẫn thiên nhiên này phải được củng cố bằng thiết kế kiến trúc và nội thất thông qua cách sử dụng hình thể, vật liệu và màu sắc Không gian rộng lớn bên ngoài thường được đưa vào khách sạn thông qua sảnh chính, với những diện tích lợp kính của vỏ bao che, vườn nội thất, cây cối bản xứ, vận dụng nước, màu sắc nhẹ nhàng và điêu khắc, ngoài ra còn sử dụng mô tuýp trang trí và nghệ thuật địa phương

Trang 33

Trong khách sạn, những khu vực che nắng và tạo cảnh phải được bố trí dọc theo bến sông, gắn bó với những tiện nghi thể thao dưới nước, hồ xoáy nước, quầy rượu và khu phục vụ giải khát

Tất cả các phòng cho khách phải có góc nhìn ra sông ít nhất là 90o Nếu chỉ bố trí phòng của khách về một phía của hành lang thì góc nhìn ra biển có thể đạt được 180o nhưng giá thành xây dựng tăng thêm 15% và tốn kém hơn về kỹ thuật và phục vụ

Phải được thiết kế những khu vực ăn uống, giải trí ngoài trời hướng

ra phía biển để tận hưởng cảnh quan và khí hậu đặc trưng của sông Hàn Có những dịch vụ để phục vụ cho nhũng nhu cầu đặc trưng ở vùng biển

Kết cấu công trình có những điểm đặc biệt phù hợp với đặc điểm địa chất khu vực, phải có khả năng chịu tải trọng ngang tốt vì gió

ở vùng này là khá mạnh

Vật liệu xây dựng công trình cũng cần đặc biệt chú ý vì hàm lượng muối ở trong không khí của vùng này rất cao do gần cửa sông

Màu sắc sử dụng ở cả nội thất và ngoại thất công trình đều phải lựa chọn kỹ để phù hợp với những màu sắc đã có sẵn của thiên nhiên vùng biển

Trang 34

8 Khu đất xây dựng khách sạn

Hiệu quả phục vụ và kinh doanh của công trình khách san phụ thuộc vào nhiêu yếu tố: một trong những yếu tố khá quan trọng là vị trí và địa điểm của khu đất cụ thể để xây dựng khách sạn Khu đất xây dựng khách sạn có thể chủ động lựa chọn theo những điều kiện thuận lợi nhất của người chủ khách sạn hoặc cũng có thể bị động bởi người chủ khách sạn không được quyền lựa chọn khu đất theo ý tưởng của mình, mà phải chịu sự chỉ định, buộc phải tuân theo những quy định của pháp luật, thể chế, của quy hoạch đô thị mà những quy định đó chưa hẳn đã phù hợp với sự mong muốn chủ quan của người chủ khách sạn tương lai

Công trình khách sạn luôn gắn liền với yếu tố thương mại Hoạt động của khách sạn là điều kiện có lãi suất cao, thông qua việc phục vụ tốt cho khách các loại, nên nhiều khi những người chủ khách sạn coi trọng yếu tố tâm linh, nghĩa là người ta phải xem “ hướng đất

“ và xem “ thế đất “ dựa theo thuyết phong thủy, thuyết “ âm dương ngũ hành “ rồi mới đưa ra quyết định mua đất để xây dựng khách sạn – chúng ta thường thấy ( gặp ) ở các nước Á Đông

Trang 35

Nói chung, khu đất xây dựng khách sạn cần thỏa mãn ( đáp ứng ) các yêu cầu ( điều kiện ) sau:

- Đáp ứng các yêu cầu trước mắt và tương lai ( lâu dài ) về quy hoạch tại khu vực xây dựng khách sạn, cụ thể như: các quy định về chỉ giới xây dựng, các yêu cầu về hạ tầng cơ sở kỹ thuật đô thị các yêu cầu về an toàn giao thông , phòng cứu hỏa cũng như các yêu cầu về cảnh quan dựa trên các tiêu chí về phát triển bền vững của khu vực xây dựng khách sạn

- Khu đất xây dựng khách sạn có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc đưa đón khách, nằm kề bên trục đường chính, có đường phụ, liên quan đến cửa ra vào chính cho khách và có cửa phụ cho việc cung cấp nguyên liệu, vật tư cần thiết Có bãi đỗ xe của khách và bãi đỗ xe của càn bộ – công nhân viên khách sạn Có đường nội bộ phục vụ cho các khối chức năng của khách sạn kết hợp với đường xe cứu hỏa, cấp cứu khi cần thiết

- Khu đất xây dựng khách sạn phù hợp với mạng lưới khách sạn và các công trình phúc lợi công cộng khác trong khu vục của đô thị, vùng miền, địa phương Phải có công tác điều tra về số lượng khách sử dụng khách sạn, kể cả số liệu dự kiến phát triển trong tương lai để quyết định quy mô, cấp, hạng của khách sạn, xác định phạm vi phục vụ, hoặc mật độ khách sạn, nhà nghỉ trong khu vực

Trang 36

- Khu vực xây dựng khách sạn phải đáp ứng được yêu cầu tiêu

chuẩn về diện tích, kích thước các chiều rộng, dài, có địa hình, địa mạo thuận lợi, và nhất là phải có những diện tích dự trữ dành cho sự phát triển trong tương lai

- Khu đất xây dựng khách sạn có điều kiện tự nhiên tốt như khí hậu tốt, không khí trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên phong phú không bị ô nhiễm bởi nguồn gây ồn, bụi bặm, phải đảm bảo

khoảng cách ly với các khu công nghiệp, nhà máy, bệnh viện…

- Khu đất xây dựng khách sạn phải đảm bảo về hướng bao gồm: + Hướng chiếu sáng, nắng tốt;

+ Hướng gió tự nhiên tốt;

+ Hướng nhìn, tầm nhìn tốt;

Trang 37

III CÁC THÀNH PHẦN CHỨC NĂNG TRONG CÔNG TRÌNH KHÁCH SẠN

Công trình khách sạn bao gồm các khối chức năng sử dụng như sau:

1 Khối phòng ngủ: các hạng buồng phòng ngủ của khách thuê

Thông thường khối phòng ngủ chiếm vị trí khá quan trọng trong bố cục mặt bằng tổng thể công trình, trong quy hoạch Nó phải thỏa mãn các yêu cầu chung như sau:

- Đáp ứng được quy định về tầng cao, trong quy hoạch đô thị, các chỉ giới, mốc giới

- Đáp ứng hướng nhìn đến các cảnh quan đẹp, có hướng gió tốt, tránh các hướng nắng ( hướng tây ) chiếu trục tiếp nhiều giờ trong ngày hè

- Đảm bảo thiết kế đẹp, hấp dẫn, độc đáo vì nó có hình khối to, cao so với toàn bộ công trình, có trang trí đẹp

a Hình dáng của khối ngủ

- Khối ngủ dạng hình chữ nhật

Nếu đất đai hạn chế, khối ngủ chọn hình chữ nhật

Trang 38

- Khối ngủ hình thước thợ ( chữ L )

Thường gặp trong các khu đất ở góc có hai đường phố chính Khi chọn khối ngủ hình chữ L phải chú ý tới các hướng thuận lọi, nếu gặp hướng xấu thì phải có các giải pháp kiến trúc để xử lý ( hướng Tây cần hệ thống tấm che chắn nắng …)

- Khối ngủ 3 cạnh

Ở một số nước có hệ số chiếu nắng mùa hè không cao có thể dùng loại 3 cạnh đều Với nước ta, gió một chiều nắng hướng Tây găy gắt có thể chọn loại 3 cạnh không đều Hướng xấu cho cạnh đó ngắn hơn hai cạnh ở phía kia

Trang 39

- Khối ngủ hình chữ T ( hoặc chữ H )

Các hướng gió, nắng có điều kiện thuận lợi, hoặc công trình nằm ở khu đất có thuận lợi về hướng nhìn, tầm nhìn cả bốn phía đường Người ta có thể điều chỉnh hoặc kết hợp loại hành lang giữa với loại hành lang bên cho phù hợp với những hướng khác nhau

Trang 40

- Loại phòng ngủ hình vuông và hình chữ nhật

Loại phòng ngủ hình vuông có sân trong ở giữa hoặc hình vành khăn thường dùng ở các quảng trường hay ô phố hẹp có 4 đường phố bao quanh Loại này có công suất ( quy mô ) buồng phòng khá lớn Ở Việt Nam do có hướng gió chủ đạo về mùa hè là gió Đông – Nam cho nên chọn các phòng chính ( ngủ ) quay về hướng Nam hoặc Đông – Nam Các hướng không tốt ( hướng Tây ) bố trí các phòng phụ: cầu thang, sảnh tầng, phòng sinh hoạt chung của tầng hay các phòng trực tầng, kho tầng hoặc các phòng ngủ tiêu chuẩn thấp

Ngày đăng: 15/09/2023, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w