Vì vây, em chọn để tài “Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bảo hộ lao động Safi”... Mặc dù mọi hoạt động củ
Trang 1Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và triết học Mác-Lênin nói riêng là môn khoa học cơ bản trang bị cho chúng em những kiến thức cơ bản trong nhận thức và hành động
Triết học là hạt nhân lý luận của Thế Giới, đóng vai trò định hướng sự hình thành và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo
Sự xuất hiện của triết học Mác – Lênin là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học Đó là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại, là kết kết quả của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Triết học Mác – Lênin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, đã chỉ ra các quy luật vận động, phát triển chung nhất của thế giới, đồng thời giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
Mối quan hệ biện chứng đó tác động rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh của
công ty cổ phần bảo hộ lao động Safi Vì vây, em chọn để tài “Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bảo hộ lao động Safi”.
Trang 2CHƯƠNG 1 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN
1.1 Điều kiện khách quan
Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giả cho con người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế giới vật chất) Trong tính lịch sử của nó, con người không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới bởi thực tiễn Thực tiễn của con người, một mặt do có sự tham gia hướng dẫn của ý thực, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy định Để đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của thế giới Trong quá trình nghiên cứu người ta tạm thời không chú ý đến mối liên hệ giữa khách thể đang nghiên cứu vớí các khách thể khác cũng như với thế giới nói chung, tạm thời cố định sự vật ở trạng thái hiện có mà không xem xét nó trong quá trình vận động và phát triển
Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó.
Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất Triết học Mác – Lê Nin luôn xác định khách quan và chủ quan căn cứ theo những chủ thể nhất định trong mối quan hệ xác định với khách thể Không phải mọi điều kiện, khả năng và quy luật khách quan bất kì, mà chỉ có những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan nào hợp thành một hoàn cảnh thực hiện thường xuyên tác động đến các hoạt động cảu một chủ thể xác định mới được coi là phạm trù khách quan đối với hoạt động của chủ thể ấy Chính vì thế, với những chủ thể khác nhau, quan hệ khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau thì phạm vi, tính chất cái khách quan không hoàn toàn như nhau Phạm trù khách quan luôn được đặt trong mối quan hệ với phạm trù chủ quan
Trang 31.2 Nhân tố chủ quan
Phạm trù “chủ quan” dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể.
Chủ quan, trước hết bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ phát triển về phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định Theo đó, phải kể đến phẩm chất tư duy, trình độ hiểu biết, đến tình cảm, ý chí, nguyện vọng và thể chất của chủ thể Nói đến chủ quan là nói đến sức mạnh, hiện thực bên trong của chủ thể Đến lượt nó, sức mạnh ấy lại luôn được biểu hiện ra ở năng lực tổ chức hoạt động (nhận thức và thực tiễn) của chủ thể mà tiêu thức cơ bản, quyết định để đánh giá năng lực ấy là sự phù hợp giữa hoạt động của chủ thể với điều kiên, khả năng và quy luật khách quan
Như vậy, phạm trù khách quan và chủ quan dùng để khái quát bản chất mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài hiện thực với sức mạnh bên trong của mọt chủ thể xác định ( một người, một tập thể, một tập đoàn, một giai cấp …) trong toàn bộ hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới đó Do đó, khách quan và chủ quan chỉ là nói trong những quan hệ xác định, ngoài quan hệ đố ra, sự phân biệt khách quan, chủ quan chỉ có ý nghĩa tương đối
Có hiện tượng trong quan hệ này thì thuộc về khách quan, nhưng trong quan hệ khách lại thuộc phạm trù chủ quan và ngược lại.Tuy nhiên, nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác – Lê Nin trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vẫn
là cơ sở khoa học để vận dụng vào việc giải quyết mối quan hệ khách quan và chủ quan
1.3 Quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau Vậy giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Nếu chúng tồn tại trong sự quan hệ qua lại, thì những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy định sự quan hệ đó
Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật và hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia; giữa chúng không có sự phụ thuộc, không
có sự ràng buộc lẫn nhau; có chăng chỉ là những quan hệ hời hợt bên ngoài mang tính ngẫu nhiên
Trang 4Ngược lại, những người theo quan điểm biện chứng coi thế giới như là một chỉnh thể thống nhất Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan vừa tách biệt nhau, vừa có sự quan hệ qua lại
Những người theo chủ nghĩa duy tâm tìm cơ sở của sự quan hệ, sự tác động qua lại giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan của con người Những người theo quan điểm duy vật biện chứng thì khẳng định rằng cơ sở của sự quan hệ qua lại giữa các nhân
tố khách quan và nhân tố chủ quan là tính thống nhất của thế giới Theo quan điểm này, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trên thế giới cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả tư tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
tổ chức cao là bộ óc người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan
Quan điểm duy vật biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, còn nêu rõ tính đa dạng của sự quan hệ qua lại đó Có mối quan hệ bên ngoài, có mối quan
hệ bên trong; có mối quan hệ chủ yếu, có mối quan hệ thứ yếu; có mối quan hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối quan hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó Có mối quan hệ trực tiếp, có mối quan hệ gián tiếp mà trong
đó sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối quan hệ bản chất và mối quan hệ không bản chất, quan hệ tất yếu và quan hệ ngẫu nhiên Khách quan và chủ quan là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động của mỗi chủ thể Nhưng tính chất của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới lại luôn đòi hỏi chủ thể phải giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan sao cho phù hợp với vai trò, vị trí thực sự của con người trong thế giới – nghĩa là phải phù hợp với lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Trong mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan thì suy đến cùng khách quan bao giờ cũng là cơ sở, tiền đề và giữ vai trò quyết định chủ quan Bởi vì, các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan, không những luôn tồn tại độc lập không lệ thuộc vào chủ thể, luôn luôn buộc chủ thể phải tính đến trước tiên trong mọi hoạt động, mà còn là cội nguồn làm nảy sinh mọi tri thức, tình cảm, ý chí và nguyện vọng của chủ thể Cả lý luận
và thực tiễn đều cho thấy, nếu chỉ bằng lỗ lực chủ quan của mình, con người chưa và không bao giờ xóa bổ được bất cứ một điều kiện, khả năng hay quy luật khách quan nào Trái lại, chính những điều kiện khách quan hợp thành hoàn cảnh, môi trường sống và hoạt động thực tiễn của con người và chính con người nhận thức được sự vận động, biến
Trang 5đổi của những khả năng và quy luật khách quan là điểm xuất phát, là tiền đề làm nảy sinh ở họ những dự kiến, những kế hoạch, hình thành nên trong họ ý chí, quyết tâm hành động cải biến hiện thực vì nhu cầu lợi ích của mình
Mặc dù mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào những điều kiện khách quan nhất định, nhưng con người không được thụ động chờ đợi sự chín muồi của điều kiện khách quan, mà trái lại, có thể dựa vào năng lực chủ quan của mình để phát huy các điều kiện khách quan và dựa vào các điều kiện đó để tổ chức, xúc tiến tạo ra những điều kiện khách quan khách cần thiết cho những nhiệm vụ cụ thể của mình Bằng cách đó, con người có thể thúc đẩy nhanh hơn tiến trình biến khả năng thành hiện thực Tương tự, trong một phạm vi, một sự vật hiện tượng cụ thể, tiến trình khách quan có thể có nhiều con đường, nhiều khả năng phát triển Ở đây, vai trò của con người không phải là ở chỗ dồn mọi nỗ lực cho bất kì con đường hay khả năng nào sẵn có mà trái lại, có thể dựa vào năng lực vốn có của mình để lựa chọn, tác động sao cho chỉ một con đường, một khả năng khách quan nào đó phù hợp nhất với tiến trình cụ thể và nhu cầu của mình phát triển thành hiện thực mà thôi Bằng cách nào đó, như thực tế lịch sử cho thấy, con người
có thể điều chỉnh hình thức tác động của quy luật khách quan và kết hợp một cách khéo léo sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật theo hướng phục vụ tốt nhất cho mục đích của mình Sở dĩ như vật là vì tính tất yếu về sự tác động của quy luật khách quan không mâu thuẫn với tính phong phú về hình thức và trật tự tác động của nó trong những điều kiện cụ thể khác nhau, mà việc làm biến đổi những điều kiện này lại nằm trong khả năng thực tế của con người
Như vậy, mối quan hệ biện chứng của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã quyết đinh sự tồn tại, qui định tính chất và xu hướng vận động phát triển của con người Mối quan hệ biện chứng của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan không chỉ diễn ra về mặt không gian mà còn diễn ra cả về mặt thời gian, có quan hệ giữa hiện tại với quá khứ và giữa hiện tại với tương lai
Mối quan hệ biện chứng của nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan còn mang tính nhiều vẻ có quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản…
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối quan hệ biện chứng của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan chúng ta cần rút ra trong nhận thức, xem xét các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan cũng như trong hoạt động thực tiễn của con người
Trang 6CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO
HỘ LAO ĐỘNG SAFI 2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hộ lao động Safi
Công ty cổ phần bảo hộ lao động Safi tiền thân là xưởng gia công quần áo được thành lập ngày 15 tháng 08 năm 2000 và được chuyển đổi thành công ty cổ phần ngày
29 tháng 04 năm 2011 Trụ sở chính đặt tại số 100 Nguyễn Ngọc Nại – Phường Khương Mai – Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất kinh doanh các trang thiết bị bảo hộ lao động như: quần áo, giày, mũ, găng tay, ; các thiết bị phòng cháy chữa cháy như: Bình cứu hỏa, vòi cứu hỏa … và các thiết bị an toàn giao thông như biển báo, đèn tín hiệu,…
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Công ty đã kiện toàn về tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực và trình độ tay nghề của người lao động để đáp ứng được mọi nhu cầu về sản phẩm Công ty được các đối tác đánh giá rất cao về kiểu dáng, chất lượng, tiến độ và giá cả
Trong những năm gần đây, Công ty đã cung cấp các sản phẩm bảo hộ lao động cho rất nhiều công ty, dự án trong nước kể cả các dự án có vốn đầu từ nước ngoài Tạo ra công ăn việc làm cho gần 100 người, trong đó có trên 80 người làm việc tại xưởng sản xuất Những sản phẩm công ty đã cung cấp đều được đảm bảo đúng chất lượng, tiến độ,
mỹ thuật đẹp với giá cả phải chăng
Trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lãnh đạo công ty luôn nắm vững mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, vận dụng vào việc xác định đường lối, mục tiêu, phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho đạt được hiệu quả cao
2.2 Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong qúa trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
Trang 7đó Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Các đại lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra cũng như trình độ lợi dụng các nguồn lực nó chịu tác động trực tiếp của rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với công ty cổ phần bảo hộ lao động nói riêng và đối với các doanh nghiệp nói chung ta có thể chia nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau :
2.2.1 Các nhân tố khách quan
Môi trường chính trị, luật pháp
Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của công ty Các hoạt động đầu tư đó lại tác động trở lại rất lớn tới các hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho công ty hoạt động, các hoạt động của công ty như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai ở đâu, nguồn đầu vào lấy ở đâu đều phải dựa vào các quy định của pháp luật Công ty phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người lao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong công ty ) Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của công ty, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Môi trường văn hoá xã hội
Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, có thể theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm thì chắc chắn chi phí sử dụng lao động của công ty sẽ cao do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty và ngược lại nếu tình trạng thất nghiệp là cao thì chi phí sử dụng lao động của công ty sẽ giảm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Môi trường kinh tế
Trang 8Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc
độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích công ty đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho công ty phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại
Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng
Các điều kiện tự nhiên như : các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thơi tiết khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết định sự phát triển của nền kinh tế cũng như
sự phát triển của công ty Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của công ty do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ
Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng dụng của khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cững như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của công ty do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Nhân tố môi trường ngành
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành
Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của mỗi doanh nghiệp
Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp
Trang 9Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề sản xuất kinh doanh có mức doanh lợi cao thì đều bị rất nhiều các doanh nghiệp khác nhóm ngó và sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực đó nếu như không có sự cản trở từ phía chính phủ Vì vậy buộc các doanh nghiệp trong các ngành có mức doanh lợi cao đều phải tạo ra cac hàng rào cản trở sự ra nhập mới bằng cách khai thác triệt để các lợi thế riêng có của doanh nghiệp, bằng cách định giá phù hợp (mức ngăn chặn sự gia nhập, mức giá này có thể làm giảm mức doanh lợi) và tăng cường mở rộng chiếm lĩnh thị trường Do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Sản phẩm thay thế
Hầu hết các sản phẩm của doanh nghiệp đều có sản phẩm thay thế, số lượng chất lượng, giá cả, mẫu mã bao bì của sản phẩm thay thế, các chính sách tiêu thụ của các sản phẩm thay thế ảnh hưởng rất lớn tới lượng cung cầu, chất lượng, giá cả và tốc độ tiêu thụ sản phẩm của công ty Do đó ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Người cung ứng
Các nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp được cung cấp chủ yếu bởi các doanh nghiệp khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân Việc đảm bảo chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào tính chất của người cung ứng và các hành vi của họ Nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là không có sự thay thế và do các nhà độc quyền cung cấp thì việc đảm bảo yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào sẽ cao hơn bình thường nên sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là sẵn có và có thể chuyển đổi thì việc đảm bảo về số lượng, chất lượng cũng như hạ chi phí về các yếu tố đầu vào là dễ dàng và không bị phụ thuộc vào người cung ứng thì sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh
Người mua
Khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và được công ty đặc biệt quan tâm chú ý Nếu như sản phẩm của công ty sản xuất ra mà không có người hoặc là không được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi thì công ty không thể tiến hành sản xuất được Mật độ dân cư, mức độ thu nhập, tâm lý và sở thích tiêu dùng… của khách hàng ảnh
Trang 10hưởng lớn tới sản lượng và giá cả sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của doanh nghiệp vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp
2.2.2 Các nhân tố chủ quan
Bộ máy quản trị công ty
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị công ty có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty, bộ máy quản trị công
ty phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau :
- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị là xây dựng cho công ty một chiến lược kinh doanh và phát triển Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của công ty) sẽ là cơ
sở, là định hướng tốt để công ty tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của công ty trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển đã xây dựng
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên
Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng
rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực
và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiểm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty không cao
Lao động tiền lương
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của công ty Trình độ, năng lực